Archive for Tháng Sáu 2007




CA Quận 6 đánh chết đồng bào Tiền Giang về biểu tình trước Trụ sở Văn Phòng Quốc Hội 2

Đồng bào Tiền Giang vẫn còn tiếp tục biểu tình trước Quốc Hội 2 sang ngày thứ 10: CA Quận 6 đánh chết đồng bào Tiền Giang về biểu tình trước Trụ sở Văn Phòng Quốc Hội 2

Như chúng tôi đã thông báo một số đồng bào Tiền Giang đã bị CA quận 6 lừa gạt cưỡng bức một số đồng bào về trụ sở CA phường 1, quận 6 (114 Phạm Văn Chí, Phường 1, quận 6, Sai Gòn) để làm việc. Sau khi ghi nhận CA đang bức bách 1 phụ nữ xuống xe làm rách áo quần của chị và ngăn cản chị không cho nghe điện thoại, sau đó, tất cả mọi liên lạc đã bị cắt không thể liên lạc được.

Chúng tôi nhận được thông báo của một đồng hương ở trên đường 3 tháng 2 cho biết lúc hơn 9 giờ tối có hai người khiêng xác 1 người và theo sau nhiều người vừa đàn ông vừa đàn bà họ la lên là “CA quận 6 đánh chết đồng bào Tiền Giang về biểu tình để khiếu kiện trước văn phòng Quốc Hội 2” và đoàn người nầy đi về hướng đường Điện Biên Phủ.

Sau khi kiểm nhận với đồng bào địa phương dọc theo đường từ Quận 6 về Phú Nhuận, chúng tôi được cho biết đoàn người nầy đã dùng võng khiêng một xác chết (?) đi từ CA Phường 1, Quận 6 về đến Trụ sở Văn Phòng Quốc Hội 2 khoảng hơn 10 giờ và sau đó bị CA bắt tất cả mọi người vào trong vòng rào của Trụ sở và cô lập hoàn toàn khu nầy.

Trước sự khốn cùng tột độ của đồng bào Tiền Giang, chúng tôi thiết tha kêu gọi đồng hương sống tại Sài Gòn hãy phản đối sự tàn ác, vô nhân của nhà nước CSVN và Quốc Hội, đòi hỏi họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả thương tâm của đồng bào Tiền Giang nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

Khẩn thiết đề nghị các cơ quan truyền thông, các đài phát thanh, các tổ chức đảng phái Việt Nam trên toàn thế giới khẩn dùng mọi khả năng của mình để can thiệp với các chính phủ tôn trọng nhân quyền, các cơ quan nhân quyền quốc tế khẩn đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải làm sáng tỏ việc nầy cũng như giải quyết các khiếu kiện của những đồng bào khốn khổ vì sự bức hại, cướp bóc của tham quan.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và thông báo diễn tiến

Người đưa tin từ Sài Gòn
Lúc 00:30 giờ sáng tại Sài Gòn ngày 01/07/2007

——————————————————————————–

Một bà cụ dân oan Tiền Giang chết trước đồn Công An?

Nghe tường trình của bà con dân oan:

http://www.hoamai.org/News/audio_news/TuongThuat_20070630.mp3

TiengDanKeu.net: Vào khoảng 7 giờ tối ngày 30/6/2007 (giờ Việt Nam), một bà cụ dân oan (khoảng 70 tuổi) quê ở huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) có lẽ đã bị thiệt mạng trước đồn Công an Phường 1 (114 đường Phạm văn Chí) Quận 6, Sài-gòn. Đoàn dân oan Tiền Giang đã đặt bà cụ trên một chiếc võng và cáng khiêng về địa điểm tụ họp khiếu kiện của trước trụ sở Quốc Hội 2.

Sự việc này xảy ra trong lúc bà con dân oan đang tụ tập trước đồn công an để quyết liệt đấu tranh đòi thả chị Cao Quế Hoa, chị Lê thị Nguyệt và một số người khiếu kiện đang bị công an giam giữ. Theo nhận xét của các bà con cùng đoàn thì lý do dẫn đến sự việc này có thể là do sự xúc động mạnh trong tình trạng bị kiệt lực sau 8 ngày vất vả biểu tình. Điều đáng nói là sau khi bà Cụ, và một ông Cụ dân oan khác bị ngất xỉu, thì công an đã không đáp ứng lời kêu gọi cho xe đưa đi cấp cứu.

Được biết là vào khoảng 3 giờ chiều cùng ngày, công an đã chận chuyến xe đò Tiền Giang để bắt giữ các đồng bào dân oan đang trên đường về nhà để lấy thêm quần áo. Các đồng bào trên xe đã gọi điện thoại về đoàn đang ở trước trụ sở Quốc Hội 2 để cầu cứu. Tại đây, bà con dân oan đã nhanh chóng kéo nhau đến và cùng nhau giăng tay biểu tình phản đối công an, lên tiếng đòi trả tự do cho những người đang bị bắt giữ. Tuy nhiên, sau khoảng 4 giờ đồng hồ, công an đã đưa hai chị Cao Quế Hoa và Lê thị Nguyệt ra khỏi đồn đi một nơi khác trước sự phản đối quyết liệt của các bà con dân oan. Chứng kiến cảnh đó, bà cụ dân oan Cai Lậy đã ngất xỉu và có thể đã chết luôn xảy ra ngay sau đó.

Theo thông tin báo cho TiengDanKeu.net vào lúc 10:30 tối ngày 30/6 (giờ Việt Nam ) thì ngay khi bà cụ được khiêng về tới địa điểm trước trụ sở Quốc Hội 2, công an đã chuẩn bị sẵn xe cứu thương và lập tức đem bà cụ đi nơi khác ngay để phi tang. Trong suốt thời gian cáng khiêng bà cụ từ đồn công an trên đường Phạm văn Chí (Quận 6) về đây, thân thể bà cụ đã lạnh và không có dấu hiệu sống sót nào.

Cho đến thời điểm này, đoàn khiếu kiện vẫn chưa biết được tên của bà cụ, ngoại trừ thông tin duy nhất là bà cụ quê ở huyện Cai Lậy.

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin về sự việc này

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Khối 8406: Lời kêu gọi hỗ trợ dân oan Tiền Giang biểu tình đòi công lý tại Sài Gòn

Khối 8406 Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006
Bloc 8406 of Manifesto on Freedom & Democracy for Viet Nam 2006

Lời kêu gọi hỗ trợ dân oan Tiền Giang biểu tình đòi công lý
trước Văn phòng 2 Quốc hội Cộng sản tại Sài Gòn

Việt Nam, ngày 30 tháng 06 năm 2007

Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
Kính thưa Liên Hiệp Quốc, các Chính phủ, các Quốc hội năm châu,
Kính thưa các Tổ chức Nhân quyền và các Cơ quan Truyền thông quốc tế.

Kể từ hôm 22-06-2007, đang lúc chủ tịch nhà nước Cộng sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết công du Hoa Kỳ, gặp gỡ chính giới Mỹ và đồng bào hải ngoại với những lời tuyên bố dối trá về thành tích nhân quyền tại Việt Nam, với những cam kết đầu môi chót lưỡi về việc phục vụ đất nước dân tộc, thì một số đồng bào ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Tiền Giang khoảng hơn 100 người đã tập trung lên Sài Gòn với rất nhiều trở ngại do công an gây ra, đến trước Văn phòng 2 Quốc hội Cộng sản, số 194 Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, để nhờ các tân “đại biểu” can thiệp, đòi hỏi chính quyền địa phương trả lại tài sản gồm đất đai nhà cửa đã cướp giật của họ.

Theo tin cho biết, đại diện đồng bào biểu tình đã xin gặp giới chức trong Quốc Hội, đặc biệt là vị chủ tịch, nhưng khi thì được cho biết QH nghỉ không làm việc cuối tuần, khi thì được bảo rằng các vị đại biểu bận họp chuyện quan trọng. Cho đến hôm nay, sau 8 ngày chờ đợi dưới nắng mưa, trong nỗi mong chờ vô vọng, hồi hộp lo âu, giữa cảnh đói khát và bất tiện tứ bề, chung quanh thì công an nườm nượp rình rập, mới chỉ có đại diện Cơ quan Thanh tra Chính phủ Liên ngành, đại diện chính quyền tỉnh Tiền Giang và đại diện chính quyền quận Phú Nhuận, đến gặp đồng bào. Họ đều yêu cầu bà con về lại địa phương để được giải quyết nỗi oan ức.

Biết rằng đây chỉ là những lời hứa suông cho qua chuyện như bao lần, với lại trở về cũng chẳng còn nhà cửa đất đai, vẫn phải ngủ bờ ngủ bụi, nên đồng bào cương quyết bám trụ, tiếp tục biểu tình trước Văn phòng 2 Quốc hội, cho đến khi được cái gọi là “cơ quan quyền lực cao nhất nước” này can thiệp để vấn đề của họ được giải quyết công bằng, cụ thể, dứt điểm. Tấm gương can đảm kiên trì của đồng bào Tiền Giang đã lôi kéo được thêm nhiều dân oan từ các địa phương khác như Bình Phước, Vũng Tàu, Bà Rịa, An Giang và Đồng Tháp. Đến hôm nay, số dân biểu tình đã lên đến hơn 300 người. Họ siết chặt hàng ngũ bên nhau, chia từng miếng cơm, sẻ từng ngụm nước, giăng biểu ngữ phản đối cường quyền nhưng vẫn trong trật tự và bất bạo động. Điều này đã khiến cho đồng bào địa phương hết sức cảm động, nên đã đến tiếp trợ tinh thần và cả vật chất, dù cách ít ỏi.

Đang khi đó thì hàng trăm công an và dân quân bao quanh trụ sở Quốc hội, nhằm ngăn cản bà con đến gần, kẻo khuấy động sự yên tĩnh của những con người mệnh danh là “đại biểu nhân dân” nhưng đã không do dân bầu ra và chẳng hề quan tâm giải quyết quyền lợi chính đáng của đồng bào ruột thịt. Đám công an và dân quân này cũng có số mặc thường phục trà trộn giữa đồng bào để nghe ngóng, dò xét, tìm cho ra các thủ lãnh biểu tình hầu bắt bớ hay kềm tỏa, phát hiện ai có điện thoại hay máy chụp hình để ngăn chặn không cho sử dụng, dùng dùi cui hăm dọa những khách qua đường dừng lại mục kích hay tỏ lòng thông cảm. Đây quả là những kẻ mang danh “bạn dân” nhưng coi dân như kẻ thù, sẵn sàng ra tay đàn áp, chỉ vì cung cúc, nô lệ và mù quáng phục vụ đám chủ bất lương và bạo tàn của họ. Lực lượng báo chí công cụ gồm hơn 600 tờ và rất nhiều đài truyền thanh truyền hình cũng im thin thít trước vụ việc động trời, nỗi oan dậy đất này, đang khi nếu có một cuộc biểu tình ở xó xỉnh nào trên thế giới, nhất là tại các nước tư bản, bên “đế quốc Mỹ”, thì lại sốt sắng loan tin. Các người là tiếng nói của ai, phản ảnh hiện thực xã hội nào?

Đứng trước tình cảnh khẩn trương đó, Khối 8406 chúng tôi long trọng tuyên bố:

1- Ủng hộ hoàn toàn cuộc biểu tình hết sức chính đáng của bà con Tiền Giang cùng Bình Phước, Vũng Tàu, Bà Rịa, An Giang và Đồng Tháp… Mong bà con tiếp tục kiên trì và cương quyết đấu tranh trong ôn hòa, bất bạo động, tôn trọng pháp luật chính đáng cho đến khi đạt được nguyện vọng. Sự thành công của bà con sẽ là tấm gương cho vô số dân oan, lên tới hàng triệu khắp cả nước, đang bị bạo quyền cộng sản ngang nhiên cướp giật đất đai nhà cửa từ mấy chục năm qua. Hỡi ngọn lửa Tiền Giang, hãy rực cháy!

2- Kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam khắp nơi, từ trong ra tới ngoài nước, các cơ quan truyền thông người Việt và ngoại quốc hãy báo động toàn thế giới về nỗi oan ức ngất trời đang đến hồi bùng nổ nhưng có nguy cơ bị đè bẹp của đồng bào dân oan thân yêu, hãy vui lòng đến tận nơi để yểm trợ những nhà đấu tranh chân đất, hãy chuyển tải về lại đồng bào những lời động viên, khích lệ qua các phương tiện truyền thông, để đồng bào khỏi cảm thấy mình cô đơn và bị ruồng bỏ.

3- Kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các Chính phủ và Quốc hội thế giới hãy nhìn về Việt Nam để thấy thêm một lần nữa thành tích đàn áp nhân dân của bạo quyền Cộng sản, một bạo quyền vừa mới huyênh hoang tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tại nhiều thành phố Hoa Kỳ rằng Việt Nam đang tiến bộ về nhiều mặt, trong đó có mặt nhân quyền, xã hội. Xin nhìn cho rõ số phận nhân dân chúng tôi để quyết tâm áp lực và giúp chúng tôi giải thể cái chế độ dối gian và tàn bạo này.

4- Kêu gọi những ai mang danh “đầy tớ nhân dân”, “đại biểu nhân dân”, “bạn hữu nhân dân”, “tiếng nói nhân dân” đừng làm sỉ nhục các danh hiệu cao quý này, đừng làm khổ thêm nữa cuộc sống của đồng bào vốn đã trở nên điêu linh cơ cực kể từ ngày chế độ CS hoành hành lên đất nước Việt Nam, đừng nhân danh “sự ổn định chính trị ” để gây mất ổn định xã hội, ổn định cuộc sống của đại đa số đồng bào. Những kẻ vỗ ngực coi mình là “của dân, do dân, vì dân” đó nhưng đang cướp dân, dọa dân, ví bắt dân hãy nhớ rằng lịch sử rất công bằng và công lý của toàn dân rất nghiêm thẳng, để đừng dại dột gây thêm tội ác nữa cho đồng bào ruột thịt.

Làm tại Việt Nam ngày 30-06-2007
Đại diện lâm thời Khối 8406
– Đỗ Nam Hải, kỹ sư, Sài Gòn
– Trần Anh Kim, cựu sĩ quan, Thái Bình
– Phan Văn Lợi, linh mục, Huế.

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Nhiều billboard nhỏ hình cha Lý bị bịt miệng đã được LTCG dựng khắp San Jose


Nhóm người dựng bảng hình ngày 27-6





Tin của Mỹ Phương
San Jose, ngày 27-6-2007

Trong thời gian qua, để phát huy tinh thần tranh đấu kiên cường của Linh Muc Nguyễn Văn Lý, với sự hợp tác của một số đồng hương, Tổ chức Lương Tâm Công Giáo (LTCG) đã bắt đầu chiến dịch dựng những bức hình biết nói, tức là hình cha Lý bị bịt miệng trong phiên tòa rừng rú ngày 30-03-2007.

Khác với tấm billboard lớn được dựng lên trên xa lộ 101, những tấm hình này nhỏ hơn, khoảng 1.25m x 1.85m, tức là cở hình chúng ta vẫn sử dụng trong những cuộc biểu tình, và dựng cũng thấp hơn. Đây là khoảng kich thước mà thành phố cho phép dựng bản trong phạm vi sân nhà của mỗi cư dân mà không cần xin giấy phép. Mục tiêu là với sự hưởng ứng của các đồng hương Việt Nam, LTCG sẽ dựng nhiều tấm hình như thế lên khắp mọi nơi, từ sân nhà, trước hoặc sau, của người Việt tỵ nạn cộng sản chúng ta. Tính đến nay, LTCG đã dựng được 4 tấm hình, một ở trên đường Tully, khoảng giữa đường Senter và thư viện (ngày 19-05), một ở Phở Bằng (ngày 20-06), một ở gốc đường Senter & Southside, đối diện nhà thờ Saint Maria Goretti (ngày 23-06) và một tại góc đường Tully và Brahms Ave., ngày 27-6-2007. Sắp tới đây, với sự cộng tác của một đồng hương đầy nhiệt tình, sẽ có thêm một tấm bảng nữa được dựng lên ở gần ngõ ra vào của xa lộ 101 tại đường Story.

LTCG kêu gọi những đồng hương có nhà mà sân trước hay sân sau hướng ra các ngõ ra vào của các xa lộ lớn, hay các đường chính trong các thành phố nơi quý vị cư ngụ, hãy tiếp tay với LTCG, để dựng một tấm hình biết nói này tại sân nhà của quý vị, nhằm truyền một thông điệp đến với người dân bản xứ, cũng như là thế hệ thứ hai của người Việt lớn lên trên nước Mỹ này, về sự đàn áp nhân quyền trắng trợn tại việt nam hôm nay. Hồn thiêng sông núi đã giúp chúng ta có được vũ khí quý báu này, xin hãy cùng nhau sử dụng nó một cách hiệu quả nhất trong công cuộc tranh đấu cho một Việt Nam thực sự tự do, dân chủ và phú cường.

Xin liên lạc vói LTCG tại số (408) 979-9298 hay (408) 265-5752.

Tin của Mỹ Phương.
http://luongtamconggiao.com/

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Nhà Nước Khích Lệ Ngành Báo Chí Ðể Làm Công Cụ Cho Ðảng

Tin Saigon – Thông tín viên SB-TN từ trong nước vừa gởi ra bản tin cho biết các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam đã hết lời khen ngợi và khích lệ giới báo chí trong nước, nhưng cũng liên tục nhắc lại là báo chí là công cụ cho đảng và nhà nước mà không được đi ra ngoài những điều luật này. Mời quý vị cùng theo dõi phóng sự từ trong nước về việc này như sau (video 3 phút).

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Ăn Tết Đoan Ngọ, Nhớ Khuất Nguyên Nghe và Thấy Nguyễn Cao Kỳ

Ngày mùng năm tháng năm Âm lịch là ngày tết Đoan ngọ của Trung hoa, với thời gian ròng rã cả ngàn năm, hết triều đại này tới thời đại khác, người Tàu và Việt nam đánh nhau,biểu hiện một tinh thần bất khuất của người Việt. Những Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt danh tướng lẫy lừng không chỉ trong sử sách Việt nam, mà cả sử sách Tàu cũng phải ghi lại để nhớ như những mối cựu thù. Bên cạnh những nam nhi ấy thì phụ nữ Việt nam cũng anh thư không kém như bà Trưng, bà Triệu,nhưng không chỉ đánh nhau nơi chiến trận không thôi, ngay trong văn hóa, ứng xử của những quan văn nhiều thời kỳ cũng làm cho Tàu phải lắm phen nhượng bộ, những Trạng Quỳnh, Đoàn thị Điểm có những trang sử mà cả hai nước không quên.

Một bên ghi nhớ với lòng tự hào, thì bên ngược lại ghi nhớ như một món nợ có ngày phải trả.Nhưng…không tránh khỏi sự ảnh hưởng tiệm tiến bằng nhiều con đường,ngày tết, ngày lễ,những tư tưởng như Khổng giáo,ăn sâu vào nếp sống người Việt nhiều đời cho tới bây giờ, có lúc người Việt không xem đó là những thứ của nước láng giềng với một lịch sử thù hận, mà lại chan hòa nó như của chính dân tộc Việt.Tết Đoan ngọ là một ví dụ,tết của cây trái nhiệt đới( miền Bắc còn gọi là tết sâu bọ)là ngày kỷ niệm quan Đại phu của Tàu, một vị quan thanh liêm, và có một cách nhìn đời dù cực đoan , nhưng có hẳn một ngày kỷ niệm, được cúng kính một cách trân trọng ở cả hai dân tộc Việt nam và Trung hoa, để hiểu rằng đời nào, cái đạo làm người chân chính cũng được trọng vọng, trỡ thành những thánh nhân.

Khuất Nguyên làm quan đại phu đời Sở Hoài Vương,bị kẻ sàm báng mà phải phóng khí, mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo. Khuất Nguyên vừa đi vừa hát trên bờ đầm.

Có ông lão đánh cá trông thấy hỏi rằng:

“ Ông có phải là Tam lư đại phu đó không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy?”

Khuất Nguyên nói:”Cà đời đục cả, mình ta trong, mọi người say cả mình ta tỉnh, bỡi vậy nên ta phải phóng khí.”

Ông lão đánh cá nói:”Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải đời đục cả, sao không khuấy thêm bùn, vỗ thêm song cho đục một thể; loài người say cả, sao ông không ăn cả hèm, húp cả bã cho say một thể?Việc gì phải lo xa, nghĩ sâu, để cho đến nỗi phải phóng khí?”.

Khuất Nguyên nói:” Tôi nghe mới gội đầu tất phải chải mũ, mới tắm ra tất phải thay áo; có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Chẳng thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào trong bụng cá,chớ sao đang trắng lôm lốp, lại để dây phải bụi dơ.”( Trích Cổ học tinh hoa)

Chuyện trên đây, chính là lời của mình Khuất Nguyên, nói và trả lời để an ủi thử mình trước khi nhảy xuống sông Tương chịu chết để giữ thanh danh, của…người khác( đời say cả, mình ta tỉnh). Và người đời kính trọng ông nên có ngày tết Đoan ngọ, chiếc bánh ú tro người Việt chúng ta dùng cúng lễ Mùng năm, rồi ăn với đường, là chiếc bánh người Tàu cúng Khuất Nguyên rồi trút xuống sông để dành riêng cho ông với lòng trân trọng, chất tro để cá không ăn được bánh.

Đó là chuyện đời xưa,còn chuyện đời nay thì sao? Từ những ngày ông Thiếu tướng Tư lệnh không quân Việt nam Cộng Hòa,mệnh danh là “Người râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ chuyển từ một quân nhân sang làm chính trị, đứng chung liên danh mang tên Dân chủ, biểu tượng cổ động là lá cờ vàng ba sọc đỏ nỗi hình bản đồ Việt nam, cùng với ông Thiệu tranh cử chánh phó tổng thống, và trúng cử luôn sau đó, thay bộ đồ bay có vẻ chịu chơi sang bộ vét-ton thắt cà –ra-vát, chân luôn chơi giày quya thay cho giày đinh cao cổ người lính. Và dường như cũng chỉ có vậy, chẳng có câu nói nào mang tư tưởng nhà chính trị cho ra hồn, chỉ khác đi chút đỉnh là cái chuyện người ta đặt cho ông là ”tướng cao bồi” và những phi vụ ngoạn mục để săn gái như ngừng hẵn. Cho tới thời điểm trước tháng 4/1975,do tình hình chiến sự sôi động khắp nơi trên lãnh thổ Nam Việt nam, ông ta có lên tuyên bố cố thủ nơi nầy, quyết tử nơi kia, lời mà ai cũng nói ra được khi chiến trường và sự hy sinh còn ở tận Tây nguyên, hay địa đầu quân khu I, nơi tướng Ngô Quang Trưởng không động tay, động chân mà bó gối ngồi chờ lệnh của Tổng thống.

Phải cố thủ, thậm chí ông Kỳ còn đôn đốc bằng mồm về vành đai Xuân lộc, những bom CPU, chỉ để an tâm thu vén gia đình và mọi thứ chuồn êm qua Mỹ ngày 29/4/1975, ông ta không thấy lá cờ Mặt trận giải phóng nó hình thù thế nào nữa , nói chi tới chuyện đắng cay phải gánh chịu mà những người lính “do tôi chỉ huy” đã trãi sau ngày miền Nam bị toàn chiếm, có kẻ một đi không trở lại nơi rừng thiêng nước độc với tất cả những gì tồi tệ nhất trong xã hội loài người còn không đáng có, huống hồ là những con người dù trước đó từ hai phía, nhưng vẫn là con “một mẹ Việt nam”.

Qua Mỹ, ông làm gì, sống ra sao, người trong nước chỉ biết lõm bõm từ lời hỏi thăm qua câu chuyện với những người về thăm quê sau ngày cỡi mỡ, người nói ông mỡ nhà hàng, quán rượu, bán phở .v.v…, những thông tin không có gì tin cậy, và cả người hỏi lẫn người trả lời nghe qua rồi bỏ, vì nó cũng chẳng có gì gắn bó hay cần thiết, mà chỉ là vốn ngày xưa, cái ngày xưa ấy ông ta làm phó tổng thống, và là một ông tướng chịu chơi nên nhiều người biết… vậy thôi. Câu chuyện làm quà để có chuyện với người về từ nước Mỹ.

Cũng không tránh khỏi những thông tin rằng trong thời gian ông Kỳ định cư bên kia bờ đại dương, cũng có lúc huy động, bàn bạc cho những việc gọi là “ phục hồi lại thời oanh liệt” về nước trong một tư thế khác chứ không chỉ là anh bán phở, nhưng rồi cái lý tưởng ấy. “ với người đàn bà thì không dài hơn sợi tóc của họ” còn với ông Kỳ thì không dài hơn cái hàm râu tỉa tót gọn gàng của ông. Có những đổ bể, tiếng chì tiếng bấc, có những cú phone của ông ta mà bạn ông cắt ngang, vì…nhảm nhí, không cùng suy nghĩ, họ là những người cũng có một địa vị của một thời vang bóng, cái ngôn từ trong câu chuyện giữa họ với nhau, là Toa, là Moa…ắt phải có sự thân mật một thời.

Cho tới ba năm trước, ông về nước, ông đi khắp miền và luôn miệng hoan hô , thán phục, mà dư luận đâu đó nói rằng bên cạnh chuyện thăm lại cố hương miền Bắc, mà từ lúc ông “đuổi Pháp quá đà” không được thăm lại vì hai bên chiến tuyến. Ông còn tìm đường làm ăn ở Việt nam, chính yếu là phu nhơn đương thời của ông, một vài vụ hời, mà cả đôi bên cùng” có lợi”. Con người, hay một nhóm, một phe, một đảng nào cũng chỉ hai mục đích. Hoặc là cái lợi, hai là cái danh, trường hợp ông Kỳ, quên cái danh cũ không bỏ nồi nấu trừ bữa, đổi lấy cái lợi, để phu nhơn khỏi chì chiết rằng một thời đình đám, mà nay chẳng tích sự gì, để gia đình hạnh phúc, hai là cũng có rũng rĩnh đồng tiền áp phe. Phía nhà nước Cọng sản, thì được tiếng là hòa giải hòa hợp dân tộc. Tới cỡ ông Kỳ mà đối xử như vậy huống hồ những ai đó từ nước ngoài về, là thường dân.

Tuyên bố lung tung, rằng ông từng tiếp xúc với giới lãnh đạo Cộng sản trong nước, nào là theo ông nên có hai đảng song hành như kiểu Mỹ và đổi mới nhiều mặt hơn nữa, họ nói là đồng ý với ông (đây là ông tự nói dùm họ, hoặc để làm bóng như bộ râu kẽm phải tỉa tót, hoặc nhuộm cho khỏi màu muối tiêu vì tuổi tác, hoặc là để …chữa thẹn trước bàng dân thiên hạ) coi như ông là nhân vật quan trọng cùng mình , đã từng là nhân vật số hai của một quốc gia của cơ chế thị trường, nơi ông ngồi là một cái Dinh, ở vùng đất Sài gòn, hòn ngọc Viễn Đông, thời oanh liệt của nó còn vang tới bây giờ là Trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước. Con người, có thể cả đời mày mò không tìm ra cho mình một cơ hội, dù chỉ đủ nuôi miệng vừa đủ. Với ông, từng có cơ hội to lớn mà nói như thầy bói là chân mệnh đế vương,nói như thầy địa lý là mã phát Công khanh, ông đã từng mã phát, làm tới không phải đầu con gà mà đầu con phụng, tướng tư lệnh không quân, rồi phát đế vương, ngặt như lời ông mới nói ra gần đây là học ít, nên chỉ làm phó vương, hay do mã mồ bị chặn long mạch nên tới đó rồi bỏ chạy, mà chạy xa tới Huê kỳ. Tưởng là biệt ly nhớ nhung từ đây, nhưng không phải vậy, thầy bói nói là đậm về hậu vận, với ai kia họa vô đơn chí, phước bất trùng lai. Không ,với ông phước trùng dài dài, vì bên cạnh những phi vụ béo bỡ do phu nhơn ông đong đếm, thì nghe đồn ông làm sui với một ông VIP đương thời, quả là phúc lộc trùng phùng.

Hai thứ sức mạnh quyện vào người ông, một là tiếng tăm của một thời… đã cũ, hai là ông VIP tạo ra, vì vốn dĩ xã hội Việt nam đương thời, mà tiếng nói anh Ba, anh Sáu, chú Năm thì không cần văn tự, cứ nước bọt là chạy ào ào.Tuổi già của ông như được hồi xuân, sang Mỹ, về quê như đi chợ, không biết ông bây giờ có vai trò gì nữa, người Việt quốc gia. Cũng đúng, cầu nối trung gian hòa hợp, hòa giải dân tộc, cũng phải, mà “anh sui” của ông lớn Cộng sản cũng chẳng ngoa. Ông Kỳ sống bềnh bồng như mơ như tỉnh.

Cái sự thật sung sướng ấy của ông “râu kẽm” rõ ràng nhất là chuyến anh Sáu sang Huê kỳ,anh dẫn đoàn tới hai trăm mà hầu hết là ” Doanh nhân” chuyện chính của chuyến đi là giao thương kinh tế, cũng là gồng mình lên chịu chuyện trước đó em út ảnh gây ra, làm ồn ào khắp thế giới. ” Chuyện ấy là chuyện nhỏ thôi” (lời anh Sáu). Cái thành phần mà anh Sáu dẫn đi, và mục đích chuyến đi, nói theo “đêm trước đổi mới” là đám con phe, vì ngày ấy không có doanh nhân doanh nhiếc gì cả. Cứ chuyện làm ăn buôn bán cá thể, tư lợi là ” con phe” tất tần tật.

Chuyện mà người viết bài này cần nói là chuyện ông Cao Cờ, có lẽ Cao cờ nên ông ta ba chân bốn cẳng từ Việt đi Mỹ cho kịp chuyến đò vào buổi tiệc anh Sáu tổ chức cho “ Việt kìu” ( không hề nói sai vì thông tấn trong và ngoài nước đưa tin, ông Kỳ tới tiệc vừa kịp là từ sân bay tới, các thực khách hôm đó nghe hơi thở ông dồn dập, vì quyết cho kịp). Ông bắt tay anh Sáu một cách hãnh diện, từng thớ thịt trên khuôn mặt ông giựt giựt biểu lộ sự mừng rỡ trước cơ hội ngàn năm có một, vì chắc ông cũng gần về với các cụ Mác- Lê.nên không thể bỏ lỡ phen nầy được thực khách nhận định là trẻ lâu ( có nhà báo nhận định là nhờ không suy nghĩ gì) có lẽ quả bóng trong người ông được bơm hết cỡ, vì đó là bữa cuối trước khi đoàn anh Sáu rời Huê kỳ về xứ, sau năm ngày, vui ít mà buồn nhiều, dù thông tấn trong nước ngợi ca là thành công tốt đẹp. Tận dụng cơ hội nơi đây, có rượu, có mồi, cọng với sự căng phồng lâng lâng vì phước lộc trùng phùng, ông “ giựt mic” tuyên bố nghe rất chi là lãnh đạo.

“Bài nói của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gây xúc động lớn đối với tôi.

Tôi trước đây đã từng đứng ở bên kia đấu trường với Chủ tịch. Những gì tôi được nghe hôm nay được xuất phát từ tình cảm, trái tim của một người dân Việt. Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên và có thể nói rất cảm động. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nói về dân tộc, về đất nước. Tôi nghĩ, tôi không thể nói thêm gì hơn là tôi hoàn toàn chấp nhận tiếng nói của một dân tộc, một người Việt Nam.

Dù muốn dù không, đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt đối với người Mỹ, tôi là một thứ biểu tượng của một bộ phận khác bên này của người Việt. Vì vậy, sự hiện diện của tôi ngày hôm nay, sau khi trở về Việt Nam, tôi muốn nói với đồng bào Việt Nam, đặc biệt những người từng dưới sự chỉ huy của tôi là: Ngày hôm nay, mọi bất hòa đã chấm dứt.

“Ngày hôm nay, chúng ta kỷ niệm sự kiện này nhân dịp Chủ tịch nước đến Mỹ, cùng nhìn về tương lai. Ở đây không có vấn đề Quốc – Cộng. Ở đây chỉ có vấn đề Việt Nam và dân tộc Việt.

Tôi muốn nhắn lời cảm ơn chân thành đến anh em trong nước 3 năm nay đã đón tiếp tôi. Tôi biết ơn những lời nói từ tâm hồn một người lãnh đạo của đất nước Việt Nam, một sự nâng niu gắn bó dân tộc. Xin cám ơn mọi người và xin cám ơn Chủ tịch, một người yêu nước”. (Trích lời ông Kỳ” hậu tạ” khi trước đó anh Sáu nhắc tới ông.)

“Đến đây, tôi thực sự xúc động được gặp bà con, trong không khí cởi mở, thân mật như thế này. Anh Nguyễn Cao Kỳ đang ở Việt Nam nhưng khi nghe chuyến thăm của Đoàn có cuộc gặp gỡ ở đây đã bay về Mỹ và có mặt ở đây hôm nay.

Điều đó nói lên cái gì? Điều đó nói lên rằng chúng ta là người Việt Nam, dù quá khứ thế nào đi nữa, bây giờ hãy yêu thương nhau, đoàn kết với nhau vì chúng ta cùng một mẹ hiền Việt Nam, cùng hướng về Việt Nam. Có phải như vậy không?”, Chủ tịch hỏi. Cả hội trường vang tiếng vỗ tay ủng hộ. (trích lời anh Sáu trong buổi dạ tiệc)

Khi Chủ tịch nước tay giơ cao ly rượu mời, trong tiếng pháo tay vang mãi, một số bà con đã rút khăn tay chấm vội lên khoé mắt. ( tường thuật của Nguyễn Anh Tuấn từ Quận Cam)

Có lẽ, theo lời ông Nguyễn Anh Tuấn tường thuật mà khả tín, thì ông Kỳ cũng ướt chiếc mu-xoa, vì những giọt nước mắt “cá cơm” bỡi ba năm qua, ơn Đảng, ơn chính phủ ông ta có một cõi đi về, còn gặp gỡ được với những nhân vật, ở một xứ sở, mà theo tích xưa ghi lại “ Củi đun như quế, thóc gạo như châu ngọc, và gặp quan khó như ma quỉ” và chiếm được cung ” Đại lợi” thì một chiếc mu-xoa có khi còn ít.

Nhưng vấn đề làm sản sinh ra bài viết nầy không phải chuyện đời tư ông Kỳ, ” vớ bỡ” trong mấy năm gần đây, mặc kệ ông ấy. Ông Kỳ có quyền ăn cây nào rào cây ấy theo từng thời , khi ông ấy thích như thế, ông ta có thể xun xoe, bợ đỡ người nào, nhóm lợi ích nào mang lại cho ông ta thuận lợi, nhân sinh quí thích chí cơ mà. Nhưng… ông Kỳ không chịu gói gọn mình trong phạm vi cá nhân ông ta, khi ông sống tới hai nhà nước pháp quyền là Việt Nam Cộng Hòa và Huê Kỳ. Và, có ba năm chung chạ, tới lui với một “ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “ nữa mà ông, hoặc vì: ”tôi không thích vì tôi chưa thích” đã tự ý lấn sân, có thể vì quá vui trong men rượu, mồi ngon, hãy muốn vừa lòng anh Sáu để rồi sau đây lại gặp và “ liên hệ” anh Sáu chuyện làm ăn ở xứ ” cùng một mẹ Việt nam”. Ở cái thời mà người giám hộ hợp pháp còn phải làm bao nhiêu thứ thủ tục nhiêu khê, phiền phức, chồng không có quyền thay vợ nếu không có giấy ủy quyền, ịn con mộc rõ ràng. Vậy mà ông Kỳ quả cao bồi hơn thời làm tướng cao bồi, dám ra tuyên bố:

“Tôi nghĩ, tôi không thể nói thêm gì hơn là tôi hoàn toàn chấp nhận tiếng nói của một dân tộc, một người Việt Nam.

Dù muốn dù không, đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt đối với người Mỹ, tôi là một thứ biểu tượng của một bộ phận khác bên này của người Việt. Vì vậy, sự hiện diện của tôi ngày hôm nay, sau khi trở về Việt Nam, tôi muốn nói với đồng bào Việt Nam, đặc biệt những người từng dưới sự chỉ huy của tôi là: Ngày hôm nay, mọi bất hòa đã chấm dứt “.

Không nói ra thì e không tiện, mà nói ra thì có phủ phàng vì nói ra sự thật. Là, không hiểu trong một triệu rưỡi con người là “khúc ruột ngàn dặm”cả những người vì xã hội phân công thuở ấy dưới trướng ông Kỳ, tới con hay cháu nội ngoại của họ đang tồn tại nơi xứ Huê kỳ, có ứot khăn mu-xoa mừng rỡ khi nghe ông Kỳ nói dùm như vậy không?

Với dân tộc, ông Kỳ là ai? Mà có quyền dám nói rằng ”Tôi chấp nhận tiếng nói của một dân tộc” hình như ông ta quên là dân Việt nam không cử ông lần nào nữa sau vụ liên danh với ông Thiệu trúng cữ, nhất là ông ta ” xén váy tháo chạy” ngày 29/4/1975, và sau 30/4/75, những người chiến thắng ông ta gọi ông là “ bọn thằng Thiệu, Kỳ”. Cái ảo tưởng hào quang thuở ấy chẳng lẻ dư hương tới hôm nay? Để ông ta tuyên bố xanh rờn như vậy? Có lẽ. người sắm ra bài nầy cũng phải ẩu tả hỏi một cách vô phép rằng ”Tôi nói như vậy về ông Kỳ khúc ruột ngàn dặm nghe rõ không” để nghe câu trả lời cũng là xác minh của họ về nhân vật Nguyễn Cao Kỳ trong lòng họ hôm nay :

” đặc biệt những người từng dưới sự chỉ huy của tôi là: Ngày hôm nay, mọi bất hòa đã chấm dứt. “

Nếu, hỏi cũng là trả lời thì có lẽ ông Kỳ hơi bị vô duyên, vì hình như báo đài nước ngoài có thông tin là ngoài đó không xa, có đoàn người biểu tình bất đồng đang ồn ào phản đối, và điều nầy cũng được anh Sáu xác nhận chắc chắn:

“Trên đường đến đây hôm nay, tôi thấy một số ít bà con người Việt tụ tập, phản đối. Nói thật, tôi muốn xuống bắt tay họ, tôi muốn mời họ dự cuộc gặp hôm nay, để chúng ta cùng nói với nhau những lời chân thành, thẳng thắn. ( lời chủ tịch Nguyễn Minh Triết)

Những đồng bào nào có may mắn bị ông Kỳ đại diện nói giùm?

Trong vụ nầy, kể cả ông ta mượn chuyện để mạ lại nước xi-mạ đã tróc từ khuya là: ” Dù muốn dù không, đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt đối với người Mỹ, tôi là một thứ biểu tượng của một bộ phận khác bên này của người Việt.”

Càng vô duyên hơn khi người Mỹ đang nói chuyện nhân quyền trong chuyến đi nầy, ông ta mượn Mỹ để hù dọa ai đây khi người Việt với nhau đang nói chuyện chung tay xây dựng đất nước ( dù không đúng lúc và chưa đúng nghĩa vì còn nhiều bất hòa, bất đồng)

Chuyện bên Huê kỳ hôm ấy nghe lõm bõm vì sóng phát thanh bị rò rò mỗi khi đài ngoài nói tin Việt nam,nhưng chắc cũng không sai mấy vì báo điện tử Vietnamnet đăng rõ ràng như vậy. Chỉ có chuyện báo không đăng, đài không đọc là ý nghĩ của mỗi con người quan tâm tới đời sống khá hơn lên, hay có chút lòng muốn dân tộc Việt nam cất cánh, nghĩ gì về chuyến đi nầy, và chuyện bên lề là ông Kỳ chạy marathon cho… kịp, rồi “giựt mic” nói vậy? ( ngôn ngữ các diễn đàn)

Nhân vật chính và hội đủ nhiều yêu cầu nhất là ngài chủ tịch Nguyễn Minh Triết, được Mỹ mời, đi có công có chuyện, vậy mà theo lời ông kỹ sư Đỗ Nam Hải qua sóng phát thanh RFA thì ” Ông Triết không đại diện cho nguyện vọng của Dân tộc Việt nam, vì ông ấy không do dân bầu” thì ông Kỳ ở đâu trong chốn này mà lời tuyên bố nghe hoành tráng tới vậy?

Thật là xin lỗi trước ông, kính lão có đắc thọ thật đi chăng nữa thì cũng khó mà kính ông, vì tất cả những gì có thể coi là

Trãi qua những cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Chính vì ông, tại ông , thà rằng ông cứ an tâm ở xứ Huê kỳ lãnh wây-fe, chiều chiều mang vợt đánh ten-nis, hay bán phở, thì có lẽ tự nhiên người ta “ bỏ qua và quên quá khứ”. Đằng này, ông lấy hơi tàn đã bốc mùi mà chơi trội, làm, buộc, người ta phải không chỉ nhớ, mà rà soát lại quá khứ của ông” từ ngày đuổi Pháp quá đà” vào tận miền Nam rồi leo lên tới phó Tổng thống , cho tới ngày… leo lên máy bay dông thẳng. Lịch sử dân tộc sẽ nói gì, về ông? Ông từng làm vương làm tướng, hét ra lửa, còn chẳng lợi gì cho dân tộc, nay tuổi già xế bóng, có vào ra đất Việt cũng chỉ giõi lắm là vinh thân, phì da cho ông, có khi vì những vụ áp phe của ông mà làm hư thêm cán bộ của nhà nước, và sự thất thoát nếu có là mồ hôi của tám chục triệu dân Việt è cổ ra gánh. Tôi không biết, vì tôi chưa biết, nhưng người Việt nam khắp mọi miền trong và ngoài nước sẽ nói gì, về ông? Thì, ông cũng nên biết trước khi lên Ca-nô đỏ sang đò. Nghe lõm bõm, đọc lõm bõm, nghĩ và viết cũng lõm bõm. Nhưng sự xác quyết thì chưa chắc lõm bõm lắm, nên cũng cố gắng vài chữ , kính ông. Giống như có lần thằng dân quèn nầy tiễn đưa một Phạm Duy dù còn sống nhăn răn, cưới bồ nhí ở đất Sề- ghềnh với lời Vĩnh biệt.

Lời dẫn chuyện có hơi dài dòng, từ tết Mùng năm, tới ông Khuất Nguyên thời tu-huýt, ông ta nhảy sông Tương vì đời say cả mình ông ta tỉnh, ngần ấy thôi mà thẹn dùm rồi nhảy sông “ chết nước” mà tới đời nầy khuấy cả hèm, húp cả bả, say quắc cần câu, sống nhăn răng, cười hề hề, còn lên sân khấu ca bài ca dâng đảng thì quả là cao siêu, sức khỏe và tài trí xưa nay hiếm.

Du Lam

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Đoàn múa rối Ba Đình về nước


Tranh: Babui

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Tinh thần tự do sáng tác trong giới làm văn học miền Nam

Nguyễn Văn Lục

Mai Thảo (1927-1998)Nguồn: vietbay.com

Muốn đánh giá đúng mức văn học miền Nam, nguời ta không thể bỏ qua yếu tố chính trị đã phân ly hai miền Nam Bắc. Miền Nam và mảng văn học ấy mang sắc thái đặc thù cá biệt dựa trên một chính thể pháp định, có tự do của con nguời. Tự do dân chủ, tự do tư tưởng dẫn đường đưa đến có tự do sáng tác.

Tôi muốn khẳng định điều ấy trong bài viết này.

Chế độ dân chủ miền Nam, dù là thứ dân chủ còn chập chững do còn những giới hạn, nó vẫn khác hẳn một chế độ độc tài toàn trị.

Nguời ta vẫn có thể viện cớ miền Nam có chế độ kiểm duyệt báo chí, nhất là ở duới thời đệ nhị cộng hòa để phản bác cho rằng rằng đó là một chế độ độc tài. Cũng không hẳn là không đúng, nhung xét cho cùng đó là một thứ tự do có giới hạn, một thứ dân chủ còn vỡ lòng, một thứ “độc tài êm dịu”.

Thứ độc tài êm dịu đó, sống chung thì khó chịu. Nhưng nay nhìn lại, so sánh thì chỉ cho thấy những dấu hiệu tích cực, tiêu biểu mà có thể nhiều người, ngay chính người viết trước đây đã không nhìn thấy được .

Thật vậy, khi nhìn lại nền văn học ấy cho thấy phần lớn các nhà văn đều có gốc công chức hay quân đội và nhất là giáo chức Trung Học và Đại Học.

Thử hỏi họ đã viết và sáng tác trong hoàn cảnh nào? Điều gì đã thúc đẩy họ để lại một di sản văn học tầm cỡ như thế? Một thế hệ nhà văn, một dòng văn học đa dạng, đa nguyên và đầy tính nhân bản? Đã đến lúc cần xới lại lòng tự hào, niềm kiêu hãnh nơi họ vốn đã bị phủ bởi một lớp bụi mù chính trị áp đặt oan uổng. Họ mất niềm tin nơi họ. Nói chi đến lớp độc giả dần dần cũng quên họ.

Các nhà văn quân đội như Thế Uyên, Lê Tất Điều, Thảo Trường, Phan Lạc Tiếp, Phan Nhật Nam sáng tác trong hoàn cảnh nào? Có bao giờ đơn vị truởng hạch hỏi, phê phán về việc viết lách của họ không? Họ có bị trù ếm không cho lên lon, lên chức chăng chỉ vì việc sáng tác không đúng đuờng lối, chính sách?

Chúng ta vẫn biết rằng viết một cuốn truyện là chấp nhận những điều rủi ro, rủi ro vì viết chưa tới, rủi ro vì chủ quan của tác giả, ngay cả vì đời chưa nhận ra mình. Cộng với những rủi ro vì bị kiểm duyệt, cắt xén? Nhưng khi Thế Uyên viết truyện Những hạt cát, cuốn truyện đầu tay rồi Những đoạn đuờng chiến binh, anh đã gặp những rủi ro nào về kiểm duyệt? Thảo Truờng với Thử lửa, Chạy trốn, Nguời đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Vuốt Mắt, Chung Cuộc, Lá xanh, Nguời khách lạ trên quê hương. Đã có truyện nào trong số những truyện trên bị cắt mắt, sẻo tai? Mà những truyện anh viết phần lớn mang tính tiêu cực, phản chiến hay trăn trở.

Nói cho cùng ở sở, các anh là sĩ quan, là công chức. Về nhà, các anh đóng vai nhà văn tự do viết, tự do sáng tác? Chúng ta có thể đòi hỏi gì hơn nữa.

Phải thừa nhận sự tự do tư tưởng, tự do sáng tác là điều có thật ở miền Nam. Và chính điều ấy như lực đẩy giúp các nhà văn hình thành được tác phẩm văn học.

Sự tự do sáng tác đã tạo cho mỗi nhà văn một thế giới riêng, chẳng ai giống ai. Văn tùy bút của Võ phiến là bút pháp Võ Phiến không giống với văn phong của Mai Thảo. Cái làm nên Võ Phiến là Võ Phiến, là nhân dạng Võ Phiến không ai bắt chước đuợc. Có cái hồn của Võ Phiến trong đó. Ngay cả nếu có cái dở cũng là cái dở của riêng Võ Phiến.

Mỗi nhà văn là một thế giới, một cõi riêng.

Cái làm nên nhà văn, chính là chỗ ấy. Hay nói như Kafka, sách vở nhà văn phải giống như con tàu phá băng. Nó phá vỡ bên trong, phá vỡ những lối mòn suy tuởng, những cảm nghiệm suy tuởng đã đông cứng. Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại đều ít nhiều cho thấy tính khai phá, tinh thần tự do sáng tạo như thế.

Nhà văn phải có tầm vuợt chính mình để vươn lên, để đi xa. Không thể có cao vọng, tầm nhìn xa nếu tự do sáng tạo không có?

Đó là uớc vọng của nguời làm văn học, lúc nào cũng như thể lên đuờng (en route) biết tự không bằng lòng và phủ nhận chính mình. Như thể sắp ra đi. Như thể muốn làm một cái gì mới, cái chưa có mặt, cái chưa định hình, cái en devenir, cái sắp là.

Chưa đuợc thì băn khoăn và trăn trở. Đó là kinh nghiệm sáng tác, làm văn học .

Thao thức trong cuộc hành trình nhân thế, với niềm hy vọng và chán chuờng. Cũng là một kinh nghiệm sáng tác nữa.

Một kinh nghiệm sống (expériences vécues) của việc thai nghén chữ nghĩa. Và ở một lúc nào đó. Bất ngờ. Như một bước nhảy. Chữ nghĩa như một dòng chảy, như suối nguồn, như dọi nắng, như tìm về cội nguồn.

Cho nên cảm nghiệm văn chương mỗi nhà văn, mỗi khác. Mỗi nhà văn, một lối nhìn, một nhân sinh quan.

Đối với nhà văn Mai Thảo, sau những năn tháng ăn nằm với chữ nghĩa thì cảm nghiệm có phần khinh bạc: Hừm, ra cái đếch gì với “Thế giới có triệu điều không hiểu, càng hiểu không ra lúc cuối đời”. Đó là kinh nghiệm cao ngạo. Còn đối với những nhà văn trẻ “nhìn thấy đủ”, “nếm đủ”, “chơi đủ” nên đã thất lạc khi vào đời, nhìn thấy tan vỡ truớc khi nhìn thấy hình thành một cái gì. Đó là kinh nghiệm nếm đủ. Trần Vũ tàn bạo, phung phá, nói đến phát vãng trinh tiết cho bất cứ ai muốn khởi sự là nhà văn. Đó là kinh nghiệm khinh bạc.

Dù là kinh nghiệm gì thì đó cũng là chất liệu như men trong bột, như cánh buớm đập cánh đủ làm nên trận bão, như giọt nuớc làm nên biển cả để nhà văn hình thành thai nghén ra một tác phẩm.

Cho nên, nói như Vũ Hạnh, gọi Dương Nghiễm Mậu là phản động thì tội cho nhà văn quá. Các nhà văn miền Nam, làm gì thì làm, nhưng kỵ nhất làm kẻ tuyên truyền cho bất cứ ý thức hệ nào. Họ “không biết hèn”. Họ khác nguời Cộng Sản và bọn theo đuôi. Chỉ những ai đeo đuổi một chủ nghĩa giáo điều thì mới có thể gán cho nguời khác hai chữ phản động.

Chính vì có tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo mà tôi có thể nhìn ra đuợc diện mạo của từng nhà văn, nhà thơ, từng hoạ si, nhạc si và ngay cả tiếng hát của từng ca sĩ. Nguời ta nói đến tiếng hát Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hoàng Oanh, Mai Hương đến Anh Ngọc, Lê Uyên Phương, Elvis Phương và cả Chế Linh.

Chẳng ai giống ai cả, vì không sản sinh từ một lò, một khuôn đúc. Tiếng hát Chế Linh có người chê, nhưng Chế Linh là Chế Linh.

Khác biệt và đa dạng. Đó chính là diện mạo văn học miền Nam. Hay dở, hãy khoan tính. Và nhiều khi không thể đem ra so sánh đuợc. Không ai ngu dại gì đem Chú Tư Cầu hay Nguyệt Đồng Xoài của nhà văn Lê Xuyên so sánh với tác phẩm Cũng Đành, hay Tuổi nước độc của Dương Nghiễm Mậu. Chúng khác xa nhau một trời một vực từ thế giới truyện, nhân vật truyện, văn phong, nội dung truyện và dự phóng của tác giả.

Cho nên dung mạo Văn học miền Nam mang tính ĐA DẠNG. Đa dạng về tác giả, về đề tài, về xu huớng sáng tác, về nguồn cảm hứng, về thể loại.

Chúng ta có thể tự hào về những điều ấy, vì chúng ta không có thứ văn nghệ đồng phục.

Và cái nền văn học ấy đã có một thời trải qua những thử thách về quyền tự do báo chí ở miền Nam vào những ngày tháng chót của VNCH.

Càng thử thách, càng chứng tỏ miền Nam có được tự do sáng tạo bằng chính sự phấn đấu của mình. Không có điều gì cho không, dù đó là dân chủ hay tự do.

Đây một lần nữa chứng minh hùng hồn, mảnh đất miền Nam là đất của tự do.

Vào những năm tháng chót của miền Nam Việt Nam, có 301 linh mục ký tên vào tuyên ngôn 18/6/1974, tuyên ngôn chống tham nhũng, bất công và tệ đoan xã hội để cảnh cáo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Rồi đến ngày 8/9 cuộc mít tinh của 5000 giáo dân ở Huế để đáp lại lời kêu gọi và đưa ra bản Cáo trạng số 1 tố cáo đích danh TT Nguyễn Văn Thiệu như một người tham nhũng số 1 với 6 truờng hợp điển hình cụ thể, đuợc đọc tại nhà thờ Phủ Cam Huế. Tờ Tin Mừng Hôm nay đua tin nhu sau, LM Nguyễn Kim Bính, quản xứ Phú Cam đa lớn tiếng tuyên bố:” Giờ lịch sử của nguời công giáo đã điểm hôm nay …Trong khuôn viên này, đã có hằng trăm thánh Tử đạo. Đã đến lúc chúng ta không sợ”

là … Chế Linh Nguồn: chelinh.com
Bộ Dân Vận chiêu hồi buộc các báo không được đăng bản cáo trạng số 1.

Ngày 12/9, Khoảng 200 đại diện giới báo chí, luật su, văn nghệ sĩ, trí thức đã họp bàn về:” Chính sách bóp nghẹt báo chí của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu”. Sau buổi Hội thảo này, nghị viên Hà Thế Ruyệt, một nguời năng nổ, xông xáo, chỗ nào ững có mặt, đại diện cho tờ Sóng Thần đã đốt luật 19/69 và sắc luật 007/72 để tuyên dương quyền tự do ngôn luận.

Sau đó, chỉ có 3 tờ báo Sóng Thần, Điện Tín, Đại Dân Tộc đăng nguyên văn Bản cáo trạng số 1. Báo bị tich thu và truy tố ra tòa.

Ngày 10/10/1974: Ngày ký giả đi ăn mày.

Để chống lại kiểm duyệt và bóp nghẹt báo chí nên cùng với Ủy ban chống tham nhũng của cha Thanh tổ chức ngày ký giả đi ăn mày. Chúng tôi có đầy đủ những tấm hình này của báo Sóng Thần mà may mắn nay chúng ta còn nguyên vẹn những số báo ấy. Phải ghi nhận các anh chị báo Sóng Thần như Uyên Thao, Lẽ Văn Thiệp, giáo sư Đặng Thị Tám, nhà văn Trùng Dương, ký giả Trần Phong Vũ đã biên tập lại. Những tài liệu ghi lại ở đây đều lấy từ nguồn tài liệu quý báu đó may măn thoát cảnh phần thư 1975.

Chẳng hạn hình Hà Thế Ruyệt đốt báo, hình hàng chục ngàn người biểu tình từ Quốc Hội ra chợ Bến Thành. Hình ảnh Lm Nguyễn Quang Lãm đội nón chống gậy cùng Lm Thanh Lãng và ông Hồ Hữu Tuờng tham gia biểu tình. Cảnh sô sát giữa cảnh sát và dân chúng.

Xem những bức hình đó, không khỏi xúc động về một miền Nam sáp sửa mất vào tay Cộng Sản. Hình như chúng ta đang làm một cuộc tự sát tập thể trước khi chết?

Ngày 31/10/1975: Ngày báo chí và công lý thọ nạn

Có thể nói trong suốt gần 20 năm miền Nam VN, chưa bao giờ có cuộc vận động nhiều giới, nhiều thành phần, tôn giáo, đảng phái đề huề và “vui vẻ” đến như thế. Đây là một cuộc đối đầu giữa đám đông trí thức và một ông Tổng Thống ngang ngạnh và tỏ ra yếu thế, mặc dù có đầy đủ lực luợng Cảnh sát dã chiến.

Trong phiên xử ngày 31/10/1974, có đến 205 luật sư tình nguyện đứng ra biện hộ cho báo Sóng Thần .. Họ ra kháng thư phản đối ông Thiệu ngăn chặn luật sư đến tòa, rồi bị xô đẩy, ném đá như các truờng hợp luật sư Vũ Văn Mẫu, Phan Tấn Chức, Đinh Thạch Bích, Nguyễn Văn Tấn. LM Thanh, một nhân chứng quan trọng nhất thì bị đánh trọng thương khi trên đuờng đến tòa .. Rồi kháng thư đủ loại của Nghiệp đoàn ký giả, tuyên ngôn của luật sư đoàn, kháng thư của LM Thanh với bộ nội vụ, thư của luật sư Hồ Tri Châu gửi ông chủ tịch Tối cao pháp viện. Thanh Lãng viết bài: Mọi giới đều đi tù. Nhật Tiến viết bài: cảm nghĩ của một nguời viết văn về vụ án báo chí .. Trùng Dương, Nguyễn Thị Thái, chủ bút Sóng Thần viết: Viết cho các con tôi. Nhật Báo Sóng Thần truớc khi ra tòa viết: thư tạ từ mọi giới. Rồi Tuyên cáo số 1, số 2 của Hội chủ báo.

Thông điệp của Hòa Thuợng Thích Trí Thủ, viện truởng viện hóa đạo, GHPGVNTN. Chủ tịch Văn bút Thanh Lãng lên án chế độ kiểm duyệt và tảy chay tham dự giải thuởng của chính phủ .. Hội chủ báo ra Quyết định, ký tên Nghị sĩ Tôn Thất Đính.. Tất cả cộng lại là 2, 3 bản công bố. Tuyên cáo của Hội Bảo vệ nhân quyền do Hội Truởng Phan Bá Cầm và Tổng Thư Ký Thái Lăng Nghiêm đồng ký tên. Hội đồng giáo sư Đại học luật khoa với với một lô tên tuổi như Vũ Quốc Thông, Vũ Văn Mẫu, Vũ Quốc Thúc, tất cả 19 vị.

Cảm tưởng chung của tôi khi đọc tập tài liệu này là Công lý giữa vòng kẽm gai, bạo lực phải nhuờng buớc truớc lương tri, lẽ phải. Đó là mặt trái của công lý, sự thật đuợc dàn cảnh bằng hàng rào kẽm gai, bằng lựu đạn cay, bằng dùi cui. Nhưng đó vẫn chỉ là những phương tiện “đuợc coi là hợp pháp” mà chính phủ có quyền xử dụng ..Mặt khác nó cũng nói lên rằng, chỉ có ở miền Nam, mảnh đất tự do, nguời dân mới có quyền đòi công lý, dám đòi và dám làm, vì biết chắc chắn rằng: sẽ không bị ám sát, thủ tiêu.

Ít ra, nguời dân có quyền bầy tỏ, quyền đòi. Có quyền đòi hỏi tranh đấu cho tự do, dân chủ thì tự nó, sự đòi hỏi ấy là bằng cớ cho tự do tiềm ẩn.

Tất cả hàng vạn dân chúng đã xuống đuờng, đã đả đảo Nguyễn Văn Thiệu mà không sợ, vì biết chắc chắn rằng đêm nay ngủ yên và không có công an mật vụ bắt đi mất tích .

Đây là điểm mấu chốt khác biệt giữa chế độ miền Nam và chế độ miền Bắc.

Tôi nhìn lại hình ảnh anh Hà Thế Ruyệt, áo chemise trắng cravate hẳn hoi, bình tinh và tươi cười đốt luật 19/69 và sắc luật 007172. Và cạnh đó giới báo chi thản nhiên đứng coi những tờ báo bị hỏa thiêu. Hàng chồng báo đủ loại đa bị đốt như thế. Con số chính xác là 10 ngàn tờ. Cảnh sô sát có. Nhưng cũng khá là cảm động cảnh một cụ già mặc Pyjama, nắm tay một cậu bé chừng 9, 10 tuổi, rồi một bà đội nón, áo bà ba, mấy cô gái trẻ nắm tay nhau làm hàng rào ngăn chặn cảnh sát ..

Chẳng ai bảo ai mà họ đã làm nhu thế. Một cảnh như thế, có thể nào xảy ra trong chế độ CS toàn trị không? Khổng là không.

Hình ảnh Nguyễn Quang Lãm, nón lá, bị gậy cùng với Thanh Lãng, Hồ Hữu Tường trông không giống ăn mày tý nào cả, cho dù chỉ là ăn mày một buổi. Bởi vì, mặt ông nào cũng trang bị một cái kính râm tổ chảng. Chẳng thế mà những bức hình này sau đó đã đuợcThanh Lãng lộng kính, trịnh trọng treo giữa phòng khách nhà ông về một ngày đáng ghi nhớ, vì đã đuợc đi ăn mày.

Hình ảnh các em học sinh lấy ngay các rào cản kẽm gai của cánh sát làm chuớng ngại vật thật sinh động. Rồi bên kia Cảnh sát dã chiến, bên này thanh niên gậy và đá đáp lễ. Ít ra thì cũng là một cuộc tranh đấu sòng phẳng và công bằng, khá là sạch, khá là chơi đẹp. Hình ảnh ông cha Nguyễn ngọc Lan, nằm bất tỉnh chỉ là sự cố bất ngờ quá tay mà không phải do một sự đàn áp dã man quá độ. Đến hình ảnh các ông luật sư ăn mặc trịnh trọng hiên ngang tiến buớc không một chút sợ sệt, trái lại không dấu nổi niềm hãnh diện ứa tràn ra trên mặt. Nhiều ông mặt non chọet còn búng ra sữa, phải chăng đây là cơ hội bằng vàng được xuất hiện truớc công chúng và báo chí? Bởi vì đây là ngày trọng đại, mang nhiều ý nghĩa trong suốt cuộc đời làm luật sư của họ mà có nhiều khi phải đút lót, luồn lọt. Dễ thương là hình ảnh bà luật sư Nguyễn Phước Đại thay vì lo cãi thì lo cắt chanh phòng hờ lựu đạn cay.

Đặc biệt không thể nào quên đuợc hình ảnh bà chủ báo, khá xinh đẹp, áo dài trắng, vành khăn tang, không lộ một chút đau thương bi lụy, nửa nữ sinh, nửa đan bà. Nốt ruồi bên phải má, khá đậm trên đôi mắt kính to vành, chẳng lộ nét buồn hay vui? Chiếc áo dài may cắt khéo bó lấy nguời, như đi dự một party, vây quanh một đám đông đảo luật sư coi tuồng như muốn tranh nhau bảo vệ nguời đẹp.

Ảo tưởng của trí thức miền NamNguồn: crobertwang.com
Quang cảnh như ngày hội: Hội biểu dương tự do và công lý. Có nét đẹp quyến rũ giữa hàng rào kẽm gai và khói lựu đạn cay. Giữa rừng nguời khát tự do và công lý.

Tà áo trắng của Trùng Dương giữa rừng đàn ông. Tự hỏi họ khát gì?

Lá thư mà chị đã viết cho con như lời giã biệt có thể đã là thừa, vì sự việc đã không diễn ra một cách bi thảm nhu thế.

Mọi người bất kể. Tham dự Ngày ký giả đi ăn mày . Quả thực, họ quả có quyền hãnh diện như thế.

Cuối cùng thì tôi nghi rằng miền Nam thua miền Bắc vì những thứ ấy. Thua là phải. Trò chơi dân chủ phải trả một giá đắt. Nhưng mặt khác thì bất cứ nguời miền Nam nào dù có thua, cũng không vì thế mà không hãnh diện. Chúng ta chơi đẹp và thua cũng đẹp, vẫn có quyền ngửng đầu lên. Vẫn có quyền khinh nguời khác chơi bẩn, chơi xấu. Và không quên khinh những bọn theo đuôi bây giờ. Tôi sẽ không dùng từ Thân Cộng, vì quen quá rồi. Tôi gọi bọn họ là bọn theo đuôi cái đuôi CS dãy chết. Và xin tặng những bọn theo đuôi đang về nịnh Cộng Sản câu thơ của Nguyễn Duy:

Xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Miền Nam tự do là như thế ấy. Làm gì có ai phản động. Chỉ có những người chống đối, phản kháng, bất đồng. Nay thì cả những người đà từng chống đối dưới bất cứ danh nghĩa gì như trí thức thiên tả, phản chiến, thành phần thứ ba trên các báo chí như Hành Trình, Thái Độ, Lập Trường, Đối Diện. Và trên các báo ngày như Đại Dân Tộc, Điện tín… Đa số trong bọn họ biết mình đã lầm lẫn, lợi dụng hai chữ tự do để nhân danh nó đòi hỏi một điều mà thực sự họ đang có trong tay.

Và nhạc phản chiến, thơ văn phản chiến đủ loại, sáng tác đủ loại tung tăng bay nhảy, len lỏi khắp miền Nam đến nỗi có thể nói đến một dòng văn học phản chiến. Tất cả chỉ là trò chơi ảo tưởng chính trị.

Cao trào đòi hõi tự do dân chủ dâng cao. Cùng nhịp là sụ hăng say nhiệt cuồng trong những sáng tác đủ loại đã ra đời. Cái mà ta gọi là từ bỏ một nền văn học hưởng thụ, văn học lãng mạn, văn học hiện sinh để đẩy cao một nền văn học dấn thân và nhập cuộc.

Tất cả những nhà văn, nhà báo miền Nam đã từng hoạt động, từng tranh đấu cho tự do, dân chủ mới vỡ lẽ ra rằng, chúng ta đã một thời tranh đấu cho một điều đã có sẵn trong tay.

Cái mà tôi bẽ bàng gọi tên nó là: ảo tưởng của trí thức miền Nam và chúng ta tất cả đã vẽ đường cho hươu chạy.

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Việt Weekly phỏng vấn Nguyễn Minh Triết

Ô Quan Hạ thực hiện

Lời giới thiệu của Việt Weekly: Việt Weekly ngỏ ý muốn được phỏng vấn ông Nguyễn Minh Triết trong dịp ông ta công du Hoa Kỳ. Phía tòa đại sứ Việt Nam tại Washington D.C. yêu cầu làm đơn xin và kèm theo những câu hỏi hay đề tài muốn hỏi. Việt Weekly làm đúng thủ tục này và đã gởi vào 15 câu hỏi, bao gồm 3 lãnh vực quan hệ Việt Mỹ, tình hình Việt Nam và quan hệ với cộng đồng. Việc được tiếp xúc với ông Nguyễn Minh Triết để thực hiện cuộc phỏng vấn đã không được xác nhận cho tới giờ chót, vào lúc gần trưa ngày 23 tháng 6, trước lúc ông lên đường trở lại Việt Nam. Khi được gặp, ông Triết giải thích vì vấn đề thì giờ bị giới hạn của chuyến đi cho nên đã trả lời trước 12 trong 15 câu hỏi đã được đặt ra. Và đồng thời, trong thời gian ngắn ngủi của buổi gặp mặt, ông cho phép phóng viên của Việt Weekly được đặt thêm một câu hỏi trực tiếp và ông sẽ trả lời ngay tại chỗ. Sau đây, câu hỏi đầu tiên được trả lời trực tiếp. Tiếp theo đó là 12 câu hỏi được trả lời qua văn bản soạn trước, được trao cho phóng viên Việt Weekly trong dịp gặp mặt.

VW: Hiện nay, sản phẩm báo chí từ phía Việt Nam được tự do phát hành tại hải ngoại, trong khi đó sản phẩm báo chí của cộng đồng hải ngoại lại bị cấm phát hành tại Việt Nam, ông nghĩ sao về vấn đề này?

NMT: Vấn đề báo chí rồi cũng sẽ thông thương thôi. Bởi vì, hiện tại, báo chí nước ngoài tại Việt Nam cũng tương đối phong phú chứ không phải là không có đâu. Nhưng mà cũng phải nói rằng có những bài báo, thậm chí có những tờ báo nữa, thiếu thiện chí, cho nên, có khi cũng phải sàng lọc lại một tí. Cho nên tôi nghĩ rằng về lâu về dài thì cái chuyện thông thương, báo trong nước ra ngoài, báo ngoài nước về Việt Nam là chuyện bình thường.

VW: Ông nghĩ rằng thời gian để chuyện đó xảy ra là bao lâu? Vài năm hay nhiều năm nữa?

NMT: Mọi chuyện không thể nói được, nhưng mà cái xu hướng nó là như thế. Gia nhập vào WTO, mình đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới rồi. Không phải chỉ hội nhập về kinh tế thôi đâu. Mọi việc có những cái bước đi theo đó thôi. Tôi mong là quý anh em cũng vậy. Bởi vì có những thông tin, tôi nói thật là không khách quan. Không khách quan mà đương nhiên là đưa về phổ biến trong nước thì nó sẽ gây một cái tác hại không hay.

VW: Nhiều người cho rằng một nền chính trị đa đảng và một xã hội có tự do ngôn luận sẽ phát triển tiềm năng dân tộc Việt Nam tốt hơn. Đây cũng là mô hình mà rất nhiều nước khác trên thế giới đã áp dụng để đưa nước họ trở nên hùng mạnh. Ông có đồng ý với suy nghĩ đó không?

NMT: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết thể chế chính trị của mình, mỗi nước có quyền lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với hoàn canûn văn hóa, lịch sử, kinh tế xã hội của mình. Nói cách khác, việc lựa chọn chế độ một Đảng hay nhiều Đảng lãnh đạo là sự lựa chọn của mỗi dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam, từ nhân dân mà ra, Đảng đã lãnh đạo, dìu dắt nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Vì vậy, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và lựa chọn theo Đảng. Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng trong hơn 20 năm qua đã thực sự làm thay đổi diện mạo đất nước, tăng cường cả thế và lực cho Việt Nam cả ở trong nước và trên trường quốc tế. Các quyền tự do dân chủ cơ bản của nhân dân Việt Nam, trong đó có quyền tự do ngôn luận, được qui định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật và được tôn trọng trên thực tế. Với đường lối đúng đắn của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự huy động được sức mạnh toàn dân, đồng lòng nhất trí hướng mục tiêu xây dựng một đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

VW: Đối với những người ở bên trong Việt Nam lên tiếng đòi dân chủ, ông nghĩ gì về họ và sẽ đối xử với họ ra sao?

NMT: Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân về mọi lĩnh vực, kể cả những vấn đề còn tồn tại trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

Điều tôi muốn nói ở đây là, Việt Nam có đủ cơ chế, chính sách đảm bảo các quyền tự do dân chủ của người dân. Các quyền đó được ghi trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp quy. Nhà nước cũng thực thi nhiều chính sách nhằm bảo đảm và phát huy các quyền tự do, dân chủ của người dân với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để người dân thực hiện tốt quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tham gia công việc chung của đất nước. Ơ Việt Nam không có ai bị bắt giữ vì lý do chính kiến, chỉ có những người vi phạm luật pháp sẽ bị xét xử theo đúng qui định của pháp luật.

VW: Nền công lý của Việt Nam có bị điều khiển bởi chính quyền hay đảng Cộng sản Việt Nam không? Làm sao để người dân và giới đầu tư yên tâm rằng nếu có tranh tụng, họ sẽ được xét xử một cách công bằng?

NMT: Pháp luật Việt Nam có những qui định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như vai trò của các cơ quan này trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Trong quá trình tố tụng, các cơ quan thực thi pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của pháp luật về trình tự thủ tục điều tra, giam giữ, xét xử, bảo đảm quyền lợi cho những người bị truy tố và xét xử.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình cải cách tư pháp, hoàn thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, thiết lập môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, cạnh tranh cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Việc các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng tăng đầu tư vào Việt Nam đã cho thấy sự tin tưởng của họ của môi trường làm ăn, kinh doanh ở Việt Nam.

VW: Về mặt cơ cấu chính trị, Việt Nam sẽ đi theo khuynh hướng nào? Nếu tiếp tục đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, có nguy cơ xảy ra bạo động lật đổ chính quyền như đã xảy ra ở Đông Âu không?

NMT: Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại. Điều đó thể hiện sự đúng đắn trong việc lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đã được toàn thể nhân dân Việt Nam ủng hộ. Việc hơn 99% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua đã cho thấy lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Nhà nước Việt Nam và con đường phát triển của Việt Nam. Con số biết nói này là câu trả lời rõ ràng nhất cho câu hỏi này.

VW: Tham nhũng có phải là một nguy cơ trầm trọng hiện nay không? Làm sao để có thể giải quyết được vấn đề này mà không có một cơ chế chính trị thực sự có khả năng giám sát và phân quyền?

NMT: Tham nhũng là vấn đề mà hầu hết mọi quốc gia đều gặp phải. Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm chống và đẩy lùi tham nhũng. Chống tham nhũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và giữ vững ổn định chính trị. Nếu không chống tham nhũng sẽ không thể huy động được nguồn lực cho phát triển và làm xói mòn lòng tin của nhân dân.

Việt Nam hiện có hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế để thực hiện phòng chống tham nhũng như Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương… Chúng tôi chủ trương điều tra, xử lý nghiêm minh và công khai các vụ tham nhũng đã được phát hiện.

Bên cạnh đó, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, nhà nước khuyến khích nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng tham gia tích cực giám sát, phát hiện và ngăn ngừa các hành động tham nhũng.

VW: Mỹ là siêu cường duy nhất còn của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời cũng từng là một đối thủ của Việt Nam trong chiến tranh. Tính chất quan hệ Việt – Mỹ hiện nay như thế nào? Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam được lợi và hại gì?

NMT: Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Trong thời gian qua, quan hệ giữa hai nước đã phát triển tốt đẹp và đạt được những kết quả to lớn. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, tôi và ngài Tổng thống Bush đã thảo luận các biện pháp phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước, đưa quan hệ hai nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới trên nền tảng sâu rộng, ổn định và hiệu quả.

Việt Nam và Hoa Kỳ có những lợi ích và quan tâm chung từ những lợi ích kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục – đào tạo… đến lợi ích trong hợp tác duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, chống khủng bố, ngăn chặn vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoạt động mang tính nhân đạo nhằm phòng chống các bệnh thế kỷ HIV/AIDS, dịch cúm gia cầm và khắc phục hậu quả chiến tranh. Việc phát triển hơn nữa quan hệ song phương là phù hợp với lợi ích của cả hai nước và có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Việc thiết lập quan hệ mà nhiều người cho là có tính cách chiến lược với Mỹ có làm cho Trung Quốc khó chịu không?

NMT: Việt Nam thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, việc phát triển quan hệ với một nước này sẽ không làm ảnh hưởng đến quan hệ của Việt Nam với nước khác.

Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai nước lớn, có ảnh hưởng quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế. Việt Nam mong muốn có quan hệ hữu nghị và hợp tác với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ vì lợi ích của hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Trong quan hệ với Trung Quốc, vấn đề biên giới đất liền và lãnh hải có phải là một việc khó giải quyết hay không? Và còn có những vấn đề khó khăn nào khác nữa?

NMT: Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững với Trung Quốc. Quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt – Trung thời gian qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả thiết thực cho cả hai nước.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, hai nước thống nhất về nguyên tắc giải quyết những khác biệt một cách hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

Thời gian qua, việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ đã đạt được kết quả tích cực. Hai nước tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, quyết tâm hoàn thành toàn bộ việc phân giới cắm mốc trên biên giới Việt – Trung và ký văn kiện mới về quy chế quản lý biên giới chậm nhất vào năm 2008. Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ đã đi vào cuộc sống và được các bên tuân thủ, thực hiện tương đối tốt. Hai bên thỏa thuận cùng nhau giữ gìn ổn định tình hình biển Đông, tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều chấp nhận được.

VW: Trong môi trường cạnh tranh sau khi gia nhập WTO, làm thế nào để các công ty trong nước có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả với các công ty lớn trên thế giới có nhiều ưu thế về kỹ thuật, nhân sự và tài chính?

NMT: Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đem lại những cơ hội lớn đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam. Một trong những thách thức đó là môi trường kinh doanh sẽ trở nên cạnh tranh hơn, gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của nhà nước.

Bên cạnh những chính sách hỗ trợ của nhà nước để giúp các doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải biết nắm bắt những cơ hội do WTO mang lại như thu hút đầu tư, mở rộng thị trường để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần phát huy những lợi thế so sánh của mình so với doanh nghiệp nước ngoài như sự hiểu biết về thị trường nội địa, khả năng tiếp cận các nguồn nguyên liệu và phân phối… để cạnh tranh. Tôi cũng rất vui khi thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã rất năng động, sáng tạo, tranh thủ được những cơ hội do WTO mang lại và phát huy được lợi thế của mình. Những doanh nghiệp này không những cạnh tranh có hiệu quả với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa mà còn mở rộng được hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình ra thị trường bên ngoài.

VW: Thử thách lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm tới và 10 năm tới là gì?

NMT: Thách thức lớn nhất với Việt Nam trong 5 và 10 năm tới là làm sao tiếp tục duy trì phát triển nhanh và bền vững nhằm đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực.

20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử nhưng vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực. Vì vậy, điều quan trọng là làm thế nào để phát triển nhanh, mạnh hơn nữa, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt nam cơ bản thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020, xây dựng thành công một nước Việt nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Một nước Việt Nam như vậy là mục tiêu và khát vọng chung của toàn thể dân tộc Việt Nam trong đó có cá nhân tôi.

VW: Chuyến viếng thăm Mỹ lần đầu tiên của một chủ tịch nhà nước Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt gì đối với Việt Nam? Ông có nhận xét gì về nước Mỹ?

NMT: Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ George Bush, tôi đã thăm chính thức Hoa Kỳ từ 18 đến 23/06/2007. Chuyến thăm này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước, đưa sự họp tác nhiều mặt giữa hai nước sang một giai đoạn mới, trên một nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Trong chuyến thăm lần này, tôi đã có nhiều gặp gỡ tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ, gửi đến bà con những thông tin mới nhất tình hình trong nước, thúc đẩy mối liên hệ gắn bó giữa bà con Việt kiều ở Hoa Kỳ với quê hương đất nước.

Như những người Việt Nam khác, tôi rất ấn tượng trước sự năng động, sáng tạo và sự cởi mở của người dân Mỹ.

VW: Ông nghĩ sao về tập thể cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đa số ra đi từ miền Nam Việt Nam, đã từng đứng bên kia chiến tuyến và vẫn còn đang có chính kiến khác biệt với ông? Quan hệ Việt Nam muốn có với những cộng đồng này như thế nào?

NMT: Tôi muốn khẳng định là bà con ta ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đa số đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nói chung và ở Mỹ nói riêng, luôn hướng về quê hương đất nước, mong muốn chung lòng góp sức cùng nhau xây dựng quê hương.
Tuy nhiên, tôi cũng lấy làm tiếc là do hệ quả của lịch sử, một số rất ít kiều bào vẫn có sự chia rẽ về chính trị, và một số nhóm người vẫn còn giữ thái độ cực đoan không chấp nhận những chuyển biến to lớn đang diễn ra ở trong nước.

Tôi muốn nói thế này, những ai còn có những suy nghĩ băn khoăn, ngờ vực hãy về thăm đất nước, tận mắt chứng kiến thực tế của nước nhà, gặp gỡ, trao đổi với những người dân trong nước. Hãy đến với nhau, chúng ta sẽ hiểu nhau hơn, thu hẹp được sự cách biệt.

Tổ quốc Việt Nam là quê hương thân yêu của mọi người Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ luôn luôn thực hiện trách nhiệm của mình đối với mọi người Việt Nam. Đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và nhà nước cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đổi mới các chủ trương, chính sách liên quan đến kiều bào, đáp ứng mong muốn của bà con và yêu cầu phát triển của đất nước.

————————-
Nguồn: Việt Weekly

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Việt Weekly phỏng vấn Nguyễn Minh Triết

Ô Quan Hạ thực hiện

Lời giới thiệu của Việt Weekly: Việt Weekly ngỏ ý muốn được phỏng vấn ông Nguyễn Minh Triết trong dịp ông ta công du Hoa Kỳ. Phía tòa đại sứ Việt Nam tại Washington D.C. yêu cầu làm đơn xin và kèm theo những câu hỏi hay đề tài muốn hỏi. Việt Weekly làm đúng thủ tục này và đã gởi vào 15 câu hỏi, bao gồm 3 lãnh vực quan hệ Việt Mỹ, tình hình Việt Nam và quan hệ với cộng đồng. Việc được tiếp xúc với ông Nguyễn Minh Triết để thực hiện cuộc phỏng vấn đã không được xác nhận cho tới giờ chót, vào lúc gần trưa ngày 23 tháng 6, trước lúc ông lên đường trở lại Việt Nam. Khi được gặp, ông Triết giải thích vì vấn đề thì giờ bị giới hạn của chuyến đi cho nên đã trả lời trước 12 trong 15 câu hỏi đã được đặt ra. Và đồng thời, trong thời gian ngắn ngủi của buổi gặp mặt, ông cho phép phóng viên của Việt Weekly được đặt thêm một câu hỏi trực tiếp và ông sẽ trả lời ngay tại chỗ. Sau đây, câu hỏi đầu tiên được trả lời trực tiếp. Tiếp theo đó là 12 câu hỏi được trả lời qua văn bản soạn trước, được trao cho phóng viên Việt Weekly trong dịp gặp mặt.

VW: Hiện nay, sản phẩm báo chí từ phía Việt Nam được tự do phát hành tại hải ngoại, trong khi đó sản phẩm báo chí của cộng đồng hải ngoại lại bị cấm phát hành tại Việt Nam, ông nghĩ sao về vấn đề này?

NMT: Vấn đề báo chí rồi cũng sẽ thông thương thôi. Bởi vì, hiện tại, báo chí nước ngoài tại Việt Nam cũng tương đối phong phú chứ không phải là không có đâu. Nhưng mà cũng phải nói rằng có những bài báo, thậm chí có những tờ báo nữa, thiếu thiện chí, cho nên, có khi cũng phải sàng lọc lại một tí. Cho nên tôi nghĩ rằng về lâu về dài thì cái chuyện thông thương, báo trong nước ra ngoài, báo ngoài nước về Việt Nam là chuyện bình thường.

VW: Ông nghĩ rằng thời gian để chuyện đó xảy ra là bao lâu? Vài năm hay nhiều năm nữa?

NMT: Mọi chuyện không thể nói được, nhưng mà cái xu hướng nó là như thế. Gia nhập vào WTO, mình đã hội nhập vào nền kinh tế thế giới rồi. Không phải chỉ hội nhập về kinh tế thôi đâu. Mọi việc có những cái bước đi theo đó thôi. Tôi mong là quý anh em cũng vậy. Bởi vì có những thông tin, tôi nói thật là không khách quan. Không khách quan mà đương nhiên là đưa về phổ biến trong nước thì nó sẽ gây một cái tác hại không hay.

VW: Nhiều người cho rằng một nền chính trị đa đảng và một xã hội có tự do ngôn luận sẽ phát triển tiềm năng dân tộc Việt Nam tốt hơn. Đây cũng là mô hình mà rất nhiều nước khác trên thế giới đã áp dụng để đưa nước họ trở nên hùng mạnh. Ông có đồng ý với suy nghĩ đó không?

NMT: Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết thể chế chính trị của mình, mỗi nước có quyền lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với hoàn canûn văn hóa, lịch sử, kinh tế xã hội của mình. Nói cách khác, việc lựa chọn chế độ một Đảng hay nhiều Đảng lãnh đạo là sự lựa chọn của mỗi dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam, từ nhân dân mà ra, Đảng đã lãnh đạo, dìu dắt nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Vì vậy, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận và lựa chọn theo Đảng. Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam. Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản khởi xướng trong hơn 20 năm qua đã thực sự làm thay đổi diện mạo đất nước, tăng cường cả thế và lực cho Việt Nam cả ở trong nước và trên trường quốc tế. Các quyền tự do dân chủ cơ bản của nhân dân Việt Nam, trong đó có quyền tự do ngôn luận, được qui định trong hiến pháp và các văn bản pháp luật và được tôn trọng trên thực tế. Với đường lối đúng đắn của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thực sự huy động được sức mạnh toàn dân, đồng lòng nhất trí hướng mục tiêu xây dựng một đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

VW: Đối với những người ở bên trong Việt Nam lên tiếng đòi dân chủ, ông nghĩ gì về họ và sẽ đối xử với họ ra sao?

NMT: Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp của người dân về mọi lĩnh vực, kể cả những vấn đề còn tồn tại trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.

Điều tôi muốn nói ở đây là, Việt Nam có đủ cơ chế, chính sách đảm bảo các quyền tự do dân chủ của người dân. Các quyền đó được ghi trong Hiến pháp và nhiều văn bản pháp quy. Nhà nước cũng thực thi nhiều chính sách nhằm bảo đảm và phát huy các quyền tự do, dân chủ của người dân với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để người dân thực hiện tốt quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tham gia công việc chung của đất nước. Ơ Việt Nam không có ai bị bắt giữ vì lý do chính kiến, chỉ có những người vi phạm luật pháp sẽ bị xét xử theo đúng qui định của pháp luật.

VW: Nền công lý của Việt Nam có bị điều khiển bởi chính quyền hay đảng Cộng sản Việt Nam không? Làm sao để người dân và giới đầu tư yên tâm rằng nếu có tranh tụng, họ sẽ được xét xử một cách công bằng?

NMT: Pháp luật Việt Nam có những qui định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như vai trò của các cơ quan này trong hệ thống chính trị Việt Nam.

Trong quá trình tố tụng, các cơ quan thực thi pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của pháp luật về trình tự thủ tục điều tra, giam giữ, xét xử, bảo đảm quyền lợi cho những người bị truy tố và xét xử.

Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục quá trình cải cách tư pháp, hoàn thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, thiết lập môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng, cạnh tranh cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Việc các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng tăng đầu tư vào Việt Nam đã cho thấy sự tin tưởng của họ của môi trường làm ăn, kinh doanh ở Việt Nam.

VW: Về mặt cơ cấu chính trị, Việt Nam sẽ đi theo khuynh hướng nào? Nếu tiếp tục đi theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, có nguy cơ xảy ra bạo động lật đổ chính quyền như đã xảy ra ở Đông Âu không?

NMT: Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại. Điều đó thể hiện sự đúng đắn trong việc lựa chọn con đường phát triển tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa đã được toàn thể nhân dân Việt Nam ủng hộ. Việc hơn 99% cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua đã cho thấy lòng tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Nhà nước Việt Nam và con đường phát triển của Việt Nam. Con số biết nói này là câu trả lời rõ ràng nhất cho câu hỏi này.

VW: Tham nhũng có phải là một nguy cơ trầm trọng hiện nay không? Làm sao để có thể giải quyết được vấn đề này mà không có một cơ chế chính trị thực sự có khả năng giám sát và phân quyền?

NMT: Tham nhũng là vấn đề mà hầu hết mọi quốc gia đều gặp phải. Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm chống và đẩy lùi tham nhũng. Chống tham nhũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và giữ vững ổn định chính trị. Nếu không chống tham nhũng sẽ không thể huy động được nguồn lực cho phát triển và làm xói mòn lòng tin của nhân dân.

Việt Nam hiện có hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế để thực hiện phòng chống tham nhũng như Luật phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở Trung ương và các địa phương… Chúng tôi chủ trương điều tra, xử lý nghiêm minh và công khai các vụ tham nhũng đã được phát hiện.

Bên cạnh đó, để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, nhà nước khuyến khích nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng tham gia tích cực giám sát, phát hiện và ngăn ngừa các hành động tham nhũng.

VW: Mỹ là siêu cường duy nhất còn của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời cũng từng là một đối thủ của Việt Nam trong chiến tranh. Tính chất quan hệ Việt – Mỹ hiện nay như thế nào? Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam được lợi và hại gì?

NMT: Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là mối quan hệ hai bên cùng có lợi. Trong thời gian qua, quan hệ giữa hai nước đã phát triển tốt đẹp và đạt được những kết quả to lớn. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ lần này, tôi và ngài Tổng thống Bush đã thảo luận các biện pháp phát triển quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước, đưa quan hệ hai nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới trên nền tảng sâu rộng, ổn định và hiệu quả.

Việt Nam và Hoa Kỳ có những lợi ích và quan tâm chung từ những lợi ích kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, công nghệ, giáo dục – đào tạo… đến lợi ích trong hợp tác duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực, chống khủng bố, ngăn chặn vũ khí hủy diệt hàng loạt, hoạt động mang tính nhân đạo nhằm phòng chống các bệnh thế kỷ HIV/AIDS, dịch cúm gia cầm và khắc phục hậu quả chiến tranh. Việc phát triển hơn nữa quan hệ song phương là phù hợp với lợi ích của cả hai nước và có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Việc thiết lập quan hệ mà nhiều người cho là có tính cách chiến lược với Mỹ có làm cho Trung Quốc khó chịu không?

NMT: Việt Nam thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, việc phát triển quan hệ với một nước này sẽ không làm ảnh hưởng đến quan hệ của Việt Nam với nước khác.

Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai nước lớn, có ảnh hưởng quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế. Việt Nam mong muốn có quan hệ hữu nghị và hợp tác với cả Trung Quốc và Hoa Kỳ vì lợi ích của hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

VW: Trong quan hệ với Trung Quốc, vấn đề biên giới đất liền và lãnh hải có phải là một việc khó giải quyết hay không? Và còn có những vấn đề khó khăn nào khác nữa?

NMT: Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững với Trung Quốc. Quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt – Trung thời gian qua tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả thiết thực cho cả hai nước.

Về vấn đề biên giới lãnh thổ, hai nước thống nhất về nguyên tắc giải quyết những khác biệt một cách hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

Thời gian qua, việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ đã đạt được kết quả tích cực. Hai nước tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, quyết tâm hoàn thành toàn bộ việc phân giới cắm mốc trên biên giới Việt – Trung và ký văn kiện mới về quy chế quản lý biên giới chậm nhất vào năm 2008. Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ đã đi vào cuộc sống và được các bên tuân thủ, thực hiện tương đối tốt. Hai bên thỏa thuận cùng nhau giữ gìn ổn định tình hình biển Đông, tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều chấp nhận được.

VW: Trong môi trường cạnh tranh sau khi gia nhập WTO, làm thế nào để các công ty trong nước có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả với các công ty lớn trên thế giới có nhiều ưu thế về kỹ thuật, nhân sự và tài chính?

NMT: Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đem lại những cơ hội lớn đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam. Một trong những thách thức đó là môi trường kinh doanh sẽ trở nên cạnh tranh hơn, gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của nhà nước.

Bên cạnh những chính sách hỗ trợ của nhà nước để giúp các doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải biết nắm bắt những cơ hội do WTO mang lại như thu hút đầu tư, mở rộng thị trường để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần phát huy những lợi thế so sánh của mình so với doanh nghiệp nước ngoài như sự hiểu biết về thị trường nội địa, khả năng tiếp cận các nguồn nguyên liệu và phân phối… để cạnh tranh. Tôi cũng rất vui khi thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã rất năng động, sáng tạo, tranh thủ được những cơ hội do WTO mang lại và phát huy được lợi thế của mình. Những doanh nghiệp này không những cạnh tranh có hiệu quả với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa mà còn mở rộng được hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình ra thị trường bên ngoài.

VW: Thử thách lớn nhất của Việt Nam trong 5 năm tới và 10 năm tới là gì?

NMT: Thách thức lớn nhất với Việt Nam trong 5 và 10 năm tới là làm sao tiếp tục duy trì phát triển nhanh và bền vững nhằm đuổi kịp trình độ phát triển của các nước trong khu vực.

20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất to lớn, có ý nghĩa lịch sử nhưng vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực. Vì vậy, điều quan trọng là làm thế nào để phát triển nhanh, mạnh hơn nữa, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa Việt nam cơ bản thành một nước công nghiệp phát triển vào năm 2020, xây dựng thành công một nước Việt nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Một nước Việt Nam như vậy là mục tiêu và khát vọng chung của toàn thể dân tộc Việt Nam trong đó có cá nhân tôi.

VW: Chuyến viếng thăm Mỹ lần đầu tiên của một chủ tịch nhà nước Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt gì đối với Việt Nam? Ông có nhận xét gì về nước Mỹ?

NMT: Nhận lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ George Bush, tôi đã thăm chính thức Hoa Kỳ từ 18 đến 23/06/2007. Chuyến thăm này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đáp ứng lợi ích của nhân dân hai nước, đưa sự họp tác nhiều mặt giữa hai nước sang một giai đoạn mới, trên một nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Trong chuyến thăm lần này, tôi đã có nhiều gặp gỡ tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ, gửi đến bà con những thông tin mới nhất tình hình trong nước, thúc đẩy mối liên hệ gắn bó giữa bà con Việt kiều ở Hoa Kỳ với quê hương đất nước.

Như những người Việt Nam khác, tôi rất ấn tượng trước sự năng động, sáng tạo và sự cởi mở của người dân Mỹ.

VW: Ông nghĩ sao về tập thể cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đa số ra đi từ miền Nam Việt Nam, đã từng đứng bên kia chiến tuyến và vẫn còn đang có chính kiến khác biệt với ông? Quan hệ Việt Nam muốn có với những cộng đồng này như thế nào?

NMT: Tôi muốn khẳng định là bà con ta ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đa số đồng bào Việt Nam ở nước ngoài nói chung và ở Mỹ nói riêng, luôn hướng về quê hương đất nước, mong muốn chung lòng góp sức cùng nhau xây dựng quê hương.
Tuy nhiên, tôi cũng lấy làm tiếc là do hệ quả của lịch sử, một số rất ít kiều bào vẫn có sự chia rẽ về chính trị, và một số nhóm người vẫn còn giữ thái độ cực đoan không chấp nhận những chuyển biến to lớn đang diễn ra ở trong nước.

Tôi muốn nói thế này, những ai còn có những suy nghĩ băn khoăn, ngờ vực hãy về thăm đất nước, tận mắt chứng kiến thực tế của nước nhà, gặp gỡ, trao đổi với những người dân trong nước. Hãy đến với nhau, chúng ta sẽ hiểu nhau hơn, thu hẹp được sự cách biệt.

Tổ quốc Việt Nam là quê hương thân yêu của mọi người Việt Nam. Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ luôn luôn thực hiện trách nhiệm của mình đối với mọi người Việt Nam. Đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và nhà nước cũng đã, đang và sẽ tiếp tục đổi mới các chủ trương, chính sách liên quan đến kiều bào, đáp ứng mong muốn của bà con và yêu cầu phát triển của đất nước.

————————-
Nguồn: Việt Weekly

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

NHỮNG BÀI HỌC ĐÍCH ĐÁNG !!!


Xin bấm vào để tải xuống Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận số 30

NHỮNG BÀI HỌC ĐÍCH ĐÁNG !!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 30, ngày 01-07-2007

Chủ tịch nước CSVN Nguyễn Minh Triết đã chuẩn bị khá kỹ chuyến viếng thăm Hoa Kỳ. Trước đó mấy tuần, khi nghe tin “người bạn lớn của nhân dân Việt Nam”, Dân Biểu Earl Blumenauer, Chủ tịch Nhóm Tham vấn Mỹ-Việt, đã từ chức chủ tịch nhóm này để phản đối CSVN đàn áp dân chủ, ông Triết liền cho thứ trưởng ngoại giao Lê Văn Bàng sang dụ khị là sẽ thả 3 tù nhân chính trị nhân chuyến Mỹ du (nhưng rồi chỉ thả hai, kiểu ăn quịt). Song song đó, để lấy lòng tư bản Mỹ, ông cũng nhét cặp khoảng một tỷ đô-la (tiền ông vay mượn, dân nai lưng trả) sang mua hàng của các đại công ty như Boeing, Microsoft… nhưng đồng thời lại kêu gọi sự trợ giúp tài lực và nhân lực về nhiều mặt khác như giáo dục chẳng hạn, theo kiểu ăn xin… Để khơi gợi lòng thương cảm của quần chúng Mỹ, ông cũng phái đi trước một nhóm người mệnh danh “nạn nhân chất độc da cam” sang đó để kiện cáo các công ty hóa chất và chính quyền Mỹ theo kiểu ăn vạ. Và biết thế nào cũng bị chất vấn về ý niệm và thành tích nhân quyền, nên trước đó, ông đã tuyên bố những câu thật hách: “Việt Nam đã trải nghiệm chiến tranh và hiểu rõ việc mất nhân quyền và không có tự do. Vì thế chúng tôi cực kỳ yêu chuộng những quyền căn bản của con người”, đồng thời cũng thủ sẵn trong đầu nhiều lối lập luận tựa như: “quan niệm nhân quyền tùy thuộc văn hóa và hoàn cảnh lịch sử từng nước”, hoặc “hành động kết án ông Lý được sự ủng hộ của Giáo Hội Công Giáo, vì chưa có giám mục nào lên tiếng phản đối cả.” Quả là ông quyết ăn thua với thiên hạ!!

Thế nhưng, khi vừa đặt chân xuống đất Mỹ, vị chủ tịch nhà ta đã được dạy cho nhiều bài học đích đáng mà chắc ông sẽ nhớ suốt đời, nếu còn một chút liêm sỉ và tự trọng, những bài học -dưới nhiều dạng ngôn hành- xuất phát từ các hạng người mà ông và đảng ông mong muốn lấy lòng hơn cả.

1- Dốt nát về lịch sử và chính trị: Tại New York, ngày 20-06-2007, trước báo giới quốc tế, khi tìm cách biện minh cho chế độ độc tài đang áp đặt trên nhân dân Việt Nam, ông Triết nói: “Mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử khác nhau. Từ đặc điểm của mình, mình sẽ chọn mô hình nào cho thích hợp.” Đồng ý! Nhưng từ cái tiền đề chung chung đó mà biện hộ cho chế độ cộng sản rằng: “Tại sao lại bắt Việt Nam phải theo một khuôn khổ cố định nào đó?” thì quả là dốt nát và cười không nổi! Chả ai hay chính phủ nào lại muốn “bắt Việt Nam phải theo một khuôn khổ cố định” Dân chủ là một khái niệm có thể được áp dụng theo nhiều khuôn khổ khác nhau và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Nhưng ai cũng phân biệt được chế độ dân chủ khác hẳn chế độ độc tài, chế độ đa nguyên khác hẳn chế độ độc đảng. Ông Triết còn để lộ thêm cái dốt nữa, khi nói với một nhà báo Mỹ rằng: “Tôi không bao giờ thấy một tổng thống Pháp nói với tổng thống Mỹ: Ông nên có nhiều đảng hơn, chứ không phải chỉ có hai đảng!” Dẫn chứng như thế quả là lố bịch, lý do đơn giản là tại Hoa Kỳ, ngoài hai đảng lớn nhất là Cộng Hòa và Dân Chủ, còn nhiều chính đảng khác nữa.

Ông còn lý giải rằng: có nhiều cách quan niệm về nhân quyền, vì nhân quyền tùy thuộc văn hóa, lịch sử, tâm tính, hoàn cảnh xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Xin ông chủ tịch đọc lại lời mở đầu Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) mà Việt Nam đã xin tham gia ngày 24-9-1982: “Việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh cùng những quyền bình đẳng và bất khả nhượng của mọi phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới… những quyền ấy xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người”. Xin ông nhớ cho: nền tảng của nhân quyền chính là nhân tính, là bản tính con người vốn như nhau trên mọi quốc gia, đại lục, chế độ. Dĩ nhiên dù không nói ra, báo giới tại New York chỉ có thể coi chủ tịch nhà ta là kẻ dốt nát và lưỡi gỗ, lại còn dám lên mặt dạy đời.

2- Tránh né ngụy biện về nhân quyền: Chiều ngày 21-06 tại Washington, thay vì đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ (như danh dự dành cho mọi nguyên thủ quốc gia), chủ tịch Triết chỉ được gặp sáu nhà lập pháp liên bang trong phòng họp riêng của bà Chủ tịch Hạ viện. Tại đó, ông đã phải đối diện hàng loạt câu hỏi về vấn đề nhân quyền, mặc dù ông và phái đoàn liên tục cố gắng đổi sang nói chuyện thương mại. Tất cả các dân biểu có mặt đều đặt vấn đề với ông về vụ đàn áp các nhà tranh đấu, dành gần hết thời giờ cho đề tài nhân quyền vì đó là mối quan tâm chính của họ. Trong khi hầu hết thế giới đều đi theo hướng ngày càng dân chủ hóa, thì nhà cầm quyền CSVN chơi ngông đi ngược lại, đàn áp những nhà bất đồng chính kiến và siết chặt thông tin ra vào Việt Nam. Hết dân biểu này tới dân biểu khác đặt vấn đề về vụ xử Linh mục Nguyễn Văn Lý, nêu trường hợp nhiều thanh niên chỉ vì lên Internet hay Paltalk mà bị bắt giam, trường hợp các luật sư bị xử tù vì cổ vũ cho tự do dân chủ, trường hợp các lãnh tụ tôn giáo bị tiếp tục đàn áp hay sách nhiễu, trường hợp 18 nhà bất đồng chính kiến bị giam từ tháng Tám năm ngoái tới nay chưa được thả mà cũng không được xử. Vị chủ tịch nhà ta đã trả lời những câu hỏi của các dân biểu theo kiểu né tránh vấn đề và chà đạp sự thật, không biện minh được lý do Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo và nhân quyền. Ông còn giải thích lếu láo trường hợp Lm Lý là: “Hành động của chính quyền Việt Nam được sự ủng hộ của Giáo Hội Công Giáo, bằng chứng là chưa có giám mục nào lên tiếng phản đối cả” !?! Thế là bị dân biểu Ed Royce đốp lại: “Không giám mục nào phản đối chẳng có nghĩa là Giáo hội đồng tình và ủng hộ. Chúng ta cũng cần nhìn việc không có giám mục phản đối trong bối cảnh những người lên tiếng nói sự thật đều có thể bị bắt giữ, bị bịt miệng. Việc thiếu sự phản đối công khai của các giám mục chẳng bào chữa được cho hành động của chính quyền Việt Nam!”

Hậu quả chua cay của cuộc họp mặt này là Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam, từng được Hạ viện thông qua hai lần với tỷ số rất cao nhưng rồi bị khựng lại ở Thượng viện, nay rất có thể sẽ chẳng còn bị chặn nữa. Bởi lẽ các nhà lập pháp đã biết nhiều hơn về tình trạng nhân quyền tại VN. Cuộc đàn áp nặng tay và quy mô bắt đầu từ tháng 8-2006 đã gây ấn tượng mạnh lên họ. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng đã đưa nhiều thông tin tới các nhà lập pháp hơn.

3- Không xứng là nguyên thủ quốc gia. Đau nhất cho chủ tịch ta là việc chính quyền Tổng thống Bush đã cắt giảm phần lễ nghi khi tiếp đón phái đoàn CSVN ngày 22-06 tại tòa Bạch ốc, do âm hưởng các vụ bắt giữ và xử tù các nhà đối kháng trước đó. Tổng thống Hoa Kỳ đã tiếp lãnh đạo Cộng sản tại phòng Bầu dục chứ không tại tư gia như bao nguyên thủ, và sau cuộc gặp gỡ đã chẳng có tuyên bố chung nào, chứng tỏ hai bên còn rất nhiều xung khắc dị biệt. Hoa Kỳ cũng đã không tổ chức bắn 21 phát đại bác chào mừng, trải thảm đỏ đón tiếp, mời duyệt hàng quân danh dự, mở đại yến thết đãi. Chủ tịch nước ta cũng đã chẳng được mời ở lại Blair House trong khuôn viên Tòa Bạch Ốc, vốn là nhà khách chính thức chính phủ Mỹ dùng đón tiếp các nguyên thủ thế giới.

Một điều cũng đáng nói là vị chủ tịch oai phong, hét ra lửa trong nước, và đòan tùy tùng phải đi lối sau, lòn cửa hậu để vào tòa Bạch ốc, hầu tránh mấy ngàn bà con hải ngoại đứng “dàn chào” ông phía mặt tiền. Trước và sau đó cũng thế, như lời tường thuật của phóng viên Nguyễn Hùng đài BBC: “Để vào khách sạn ở New York, ông Nguyễn Minh Triết đã phải đi nhanh vào một con đường nhỏ được phủ kín bởi nhiều lớp vải, giống như ông đương chui ống cống để vào khách sạn. Tôi chỉ chụp được một tấm hình với cái lưng của ông thôi”. Trong tư cách “nguyên thủ quốc gia”, điều ấy quả là ô nhục. Tiếc thay, đó lại là hình ảnh của ông Triết và phái đoàn CSVN suốt mấy ngày viếng thăm nước Mỹ. Việc ông và phái đoàn đến các nơi sinh hoạt, hội họp bằng đường dành riêng cho xe đổ rác, xe vệ sinh, rồi vào những nơi đó bằng cửa hông, cửa hậu, là điều đã được dự trù. Sự lẩn lút của phái đoàn ông Triết khiến người ta không khỏi liên tưởng đến hành tung của những kẻ tội phạm.

4- Chẳng phải là đại diện của dân tộc. Trước khi chủ tịch nhà nước ta đến Hoa Kỳ, thì đồng bào hải ngoại, đặc biệt tại Mỹ, đã chuẩn bị “dàn chào” ông thật kỹ lưỡng, rầm rộ chưa từng thấy. Ngày 18-6-07, bước xuống phi trường JFK, chỉ có mấy chục người Việt & Mỹ thân cộng cầm cờ Mỹ và cờ Máu để đón ông. Rồi lẽ ra phải tới thẳng Tòa kháng cáo của HK tại Foley Square để yểm trợ cho phiên tòa phúc thẩm vụ chất Da Cam, nhưng đối diện với cuộc biểu tình của cộng đồng người Việt tại đây, ông Triết đã phải huỷ dự tính tham gia phiên toà. Sáng 22-06, tại công viên La Fayette, trước tòa Bạch ốc, đồng bào hải ngoại từ nhiều vùng nước Mỹ, với cờ vàng thay cho thảm đỏ, với tiếng hô đả đảo thế tiếng đại bác chào mừng, với 3000 con người lố nhố thay hàng quân danh dự, đã nồng nhiệt và khí thế “dàn chào” kẻ tự xưng là thay mặt nhân dân Việt Nam. May mà ông đã rất “minh triết” (sáng suốt khôn ngoan) chui lòn cửa hậu vào gặp Tổng thống Mỹ, khiến đồng bào phải chưng hửng ra về.

Chiều ngày 22-06, đồng bào quận Cam đã tận tình dàn chào kẻ có gan đến thủ đô của người Việt tỵ nạn. Gần 5000 người đã rầm rộ biểu tình trước khu khách sạn nghỉ mát ven biển St. Regis Monarch Beach thuộc thành phố Dana Point, tiểu bang California. Trái với buổi sáng tại tòa Bạch ốc, chủ tịch nhà nước ta chiều nay phải đi cửa chính vì không còn con đường nào để vào khu nghỉ mát này cả. Thế là mọi cờ quạt đều bị dẹp bỏ, các ô-tô của phái đoàn để gương mờ, còn đích thân vị chủ tịch ngồi kín trong xe cảnh sát. Dĩ nhiên tiếng hô đả đảo vang trời dậy đất thì không thể không lọt tai, từ trong xe nhìn ra thì hình cờ vàng, ảnh cha Lý bị bịt miệng vẫn thấy rõ mồn một. Quả là không như lòng mong đợi của chủ tịch: “Sau khi hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ, tôi và phái đoàn đã đến Los Angeles, đến với quận Cam, lý do là vì có rất nhiều người Việt Nam sống ở quận này. Chúng tôi tới đây để bày tỏ tình cảm với bà con mình”.

Chính vì thế mà con số vài chục người Việt chọn mời từ nhiều vùng nước Mỹ (theo điều tra của báo Vietland) trong đó có vài kẻ nổi tiếng kiểu tai tiếng, hiện diện trong phòng khánh tiết để tham dự buổi chiêu đãi chào mừng phái đoàn CS, đã được báo chí công cụ chấy lên thành cả ngàn người. Chủ tịch nước ta cũng phải nén lòng phát biểu kiểu đãi bôi: “Tất cả người VN, dù trong hay ngoài nước, giờ cũng nên hướng về đất mẹ, về Tổ quốc VN và đóng góp sức mình xây dựng nước ta thành một quốc gia hùng cường, vững mạnh… Nếu có ai còn ngại ngần, chưa hiểu hoặc hiểu lầm, xin các bạn ở đây hãy về nói lại rằng mẹ hiền VN lúc nào cũng giang rộng vòng tay đón bất cứ người con nào muốn quay về”. Mẹ hiền VN thì thế nhưng đảng CSVN thì không. Hàng chục kiều bào về nước đầu tư bị lột sạch, hàng trăm nhà dân chủ bị cầm tù, hàng ngàn tín đồ thiểu số bị bách hại, hàng vạn thiếu nữ bị đẩy vào đường mãi dâm, hàng ức thanh niên bị bán làm nô lệ lao công cho nước ngoài, hàng triệu nông dân và thị dân bị cướp lấy đất đai nhà cửa, hơn 80 triệu người đang rên siết trong nhà tù vĩ đại mang tên CHXHCNVN, có thấy hình ảnh mẹ hiền Tổ quốc nơi đảng CS chăng? Năm ngàn đồng bào đang đứng ngoài khu nghỉ mát có xem chủ tịch nhà ta là đại diện của dân tộc chăng? Điều này thì ông Triết, nếu còn có chút liêm sỉ và tự trọng, có thể trả lời. Hay là ông và đảng ông đã quen thói chịu đấm ăn xôi?

BAN BIÊN TẬP

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Chuyến Đi Mỹ Của Ông Nguyễn Minh Triết Thành Công Hay Thất Bại?

DB Rohrabacher: “Nguyễn Minh Triết là đầu trộm đuôi cướp, không ai bầu lên”

Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết trong tuần vừa qua đã được giới truyền thông do nhà cầm quyền Việt Nam kiểm soát mô tả là thành công tốt đẹp. Chính ông Nguyễn Minh Triết cũng tỏ ý hài lòng đối với những thành quả đạt được. Tuy nhiên, đối với hầu hết các nhân vật tranh đấu cho dân chủ Việt Nam thì chuyến đi này là một thất bại lớn cho ông Nguyễn Minh Triết và chính phủ ở Hà Nội.

Nhiều nhà quan sát tình hình chính trị Việt Nam cho rằng cuộc gặp gỡ tại Tòa Bạch Ốc hôm thứ Sáu 22-6 vừa qua giữa Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush và Chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết là một dấu hiệu cho thấy quyết tâm của đôi bên trong việc tăng cường các mối quan hệ song phương về kinh tế nhưng Washington muốn Hà Nội thực hiện các cam kết về nhân quyền và tự do tôn giáo.

Về phần Tổng thống Bush, ông đã phải vượt qua những lời phản đối và chỉ trích đến từ nhiều phía, đặc biệt là từ phía cộng đồng người Việt ở Mỹ và các nhà lập pháp của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, để đón tiếp nhân vật đứng đầu nhà nước Việt Nam.

Trong cuộc họp báo tại Quốc hội Hoa Kỳ một ngày trước khi Tổng thống Bush đón tiếp ông Triết, Dân biểu Dana Rohrabacher — một trong những người chỉ trích Việt Nam mạnh mẽ nhất, đã tố cáo rằng Tổng thống Bush đã phản bội những lý tưởng cao đẹp của nước Mỹ khi ông quyết định tiếp kiến ông Nguyễn Minh Triết:

Ông Rohrabacher nói: “Trên đất nước chúng ta có những thương gia muốn kiếm tiền bằng cách lợi dụng giá nhân công rẻ ở Việt Nam. Đó là lý do tại sao tổng thống của chúng ta nghe theo lời của các thương gia. Họ nói rằng chúng ta cần phải chủ động giao tiếp với Việt Nam ngõ hầu có thể dần dà thăng tiến cho tự do ở Việt Nam. Thật ra, chúng ta đã nghe luận điệu này từ hai mươi năm nay, khi các thương gia dùng nó để biện minh cho việc giao hảo với Trung quốc – một nước mà nhân quyền và dân chủ vẫn tiếp tục bị chà đạp một cách thô bạo cho tới ngày hôm nay.”

Về phần Chủ tịch CSVN Nguyễn Minh Triết, để có thể thực hiện chuyến viếng thăm Hoa kỳ ông cũng đã phải thuyết phục những sự chống đối của những người cho rằng sự tiếp đón của phía Mỹ với những nghi thức ngoại giao không được long trọng là một hành động “làm nhục quốc thể”, và của những người thuộc phe thân Trung quốc.

Một số các nhà phân tích nêu lên hai sự kiện cho thấy sự chống đối ngầm ngầm của chính phủ ở Bắc kinh đối với sự xích lại gần nhau hơn giữa Hà nội và Washington. Thứ nhất là công ty dầu mỏ BP của Anh mới đây đã loan báo quyết định ngưng chỉ dự án 2 tỉ đô la đã ký kết với Việt Nam từ năm 2000 để khai thác khí đốt trong vùng biển gần quần đảo Trường Sa, và thứ nhì là ngay trong ngày phái đoàn ông Nguyễn Minh Triết lên đường sang Mỹ thì ông La Cán, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị của đảng Cộng Sản Trung quốc, đã nhắc nhở với Phó thủ tướng CSVN Trương Vĩnh Trọng của Việt Nam rằng Hà nội cần tuân thủ những cam kết mà ông Nguyễn Minh Triết đã đưa ra trong chuyến viếng thăm Bắc kinh hồi tháng 5.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một nhà tranh đấu cho dân chủ ở Hà nội, cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc là một diễn tiến rất quí hóa vì nó chứng tỏ sự dũng cảm của cả hai nhà lãnh đạo Việt-Mỹ, tuy ông tỏ ý tiếc là chuyến viếng thăm này lẽ ra đã đạt được những thành quả tốt đẹp hơn nếu không có những vụ đàn áp dân chủ mà giới hữu trách Việt Nam thực hiện trong hơn nửa năm qua.

Cũng tại Hà nội, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã tỏ ý tán thưởng chuyến đi mà ông cho là có ý nghĩa tích cực đối với việc phát triển quan hệ giữa Việt Nam và Hoa kỳ: “Kết quả của chuyến đi sang Hoa kỳ của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết lần này không những chỉ là chuyến đi của một nhân vật lãnh đạo cấp cao nhất của một quốc gia, mà điều quan trọng hơn là nó khẳng định cái xu thế gần như không thể thay đổi của quan hệ Việt-Mỹ, trên bước đường sau khi có sự hòa giải của quá khứ để thăng tiến lợi ích của quốc gia. Mặt khác, chuyến đi này cho thấy quan hệ Việt-Mỹ đang đòi hỏi không những sự phát triển về mặt kinh tế, là điều dễ thấy, mà còn cần phải đi gần đến chỗ đồng thuận trong một số lãnh vực mà cho đến ngày hôm nay vẫn còn là nhạy cảm. Và tôi cho rằng tất yếu trong tương lai, cho dù mỗi nước có những khác biệt riêng nhưng chúng ta vẫn có cùng mẫu số chung để tiến tới.”

Trong khi đó, một nhân vật tranh đấu cho dân chủ Việt Nam nổi tiếng thế giới là Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nêu lên sự kiện là trước khi đón tiếp ông Nguyễn Minh Triết, Tổng thống Bush và nhiều chính khách của Hoa kỳ thuộc cả hành pháp lẫn lập pháp đã tiếp kiến và thảo luận với các nhà hoạt động cho dân chủ Việt Nam. Từ căn nhà nơi ông đang bị giam lỏng ở Chợ Lớn, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nói với đài VOA rằng: “Chuyến đi Mỹ vừa qua của ông Triết là một thất bại nặng nề cho Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong chuyến đi này chính quyền Hà nội hy vọng ký được nhiều tỉ đô la đầu tư và buôn bán trong lúc tiếp tục đàn áp nhân quyền và dân chủ. Nhưng, phản ứng quá mạnh của cộng đồng người Việt ở Mỹ và lập trường không tương nhượng của chính phủ và quốc hội Hoa kỳ đã làm tiêu tan hy vọng lợi dụng tiền tư bản để củng cố độc tài đảng trị.”Ông Trần Thái Văn, một người Việt gốc Mỹ đang giữ chức dân biểu tiểu bang California, đã không muốn đề cập tới vấn đề thành công hay thất bại trong của chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Minh Triết. Ông phát biểu như sau trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài VOA: “Vấn đề quan trọng là cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng như các tổ chức dân chủ và nhân quyền cũng như chính quyền của Tổng thống Bush đã đem ra và nói lên được từ phía lập pháp cũng như hành pháp Hoa kỳ — có một cơ hội rất tốt để nói trực tiếp với ông Nguyễn Minh Triết và các đại diện của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về những sự quan tâm cao nhất về chính sách đàn áp dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam. Chắc chắn rằng về phía Việt Nam thì họ nói chuyến đi này thành công vì họ đặt nặng vấn đề đầu tư và kinh tế. Tuy nhiên, song song với vấn đề đầu tư và kinh tế giữa hai quốc gia còn rất nhiều những vấn đề liên hệ đến hành động và chính sách đàn áp của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam mà chính phủ Hoa kỳ và nhân dân Hoa kỳ rất quan tâm, và chuyến đi này đã mang lại nhiều cơ hội cho cộng đồng Việt Nam trên toàn nước Mỹ và cả hành pháp lẫn lập pháp Mỹ để nói lên sự quan tâm đó trực tiếp với vị lãnh đạo của đảng Cộng Sản.”

* * *
Về những sự tranh chấp giữa Washington và Hà nội đối với vấn đề dân chủ và nhân quyền, đại biểu quốc hội Dương Trung quốc ở Hà nội tỏ ý lạc quan là sự khác biệt giữa đôi bên sẽ dần dà mất đi: “Tôi nghĩ rằng nếu mà nói về khái niệm tôn trọng nhân quyền và dân chủ thì đấy cũng là mục tiêu chung của mọi quốc gia. Hiện nay, nếu như có sự khác biệt giữa Việt Nam với Mỹ thì nó cũng sẽ mờ nhạt dần cùng với sự phát triển chung.”

Một khía cạnh quan trọng khác nữa trong chuyến đi của vị Chủ tịch nước Việt Nam đế Mỹ là những thông điệp kêu gọi đoàn kết mà ông gởi đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Về việc này, giới phân tích cho rằng, khối người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, là một trong những mục tiêu vận động chính của Ông Triết trong chuyến đi này. Ông nói rõ điều đó khi ông dành câu trả lời dài nhất của ông trong cuộc phỏng vấn với Thông tấn xã CSVN trước khi lên đường về việc đánh giá cộng đồng này.”

Ông Triết đến Hoa Kỳ giữa lúc tâm tư và hành động của người Việt ở nước ngoài vẫn còn in đậm dấu ấn của hai sự kiện chính trị bất ngờ: Sự kiện thứ nhất xảy ra ở Việt Nam, đó là vụ xử Cha Nguyễn Văn Lý; sự kiện thứ hai diễn ngay tại Washington: đó là việc Tổng thống Bush lần đầu tiên tiếp kiến đại diện của một số tổ chức người Việt vận đông cho nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Dĩ nhiên, cả hai sự kiện này đều có tác động bất lợi cho nỗ lực kêu gọi đoàn kết của ông Triết.

* * *
Trong bối cảnh đó, để giúp truyền đạt có hiệu quả thông điệp của mình, Ông Triết có mang theo 4 món quà cho cộng đồng người Việt: đó là quyết định của chính phủ chuyển giao quyền quản lý nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hòa cho nhà chức trách dân sự; miễn thị thực cho Việt kiều; xem xét chế độ song tịch, và giải quyết vấn đề nhà đất.

Có thể những món quà này sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn, vì các tổ chức, đoàn thể của người Việt ở nước ngoài đã nhiều lần nói rõ–và khẳng định lại trong cuộc gặp với Tổng thống Bush-là họ không đòi hỏi những quyền lợi cho Việt kiều, tuy những quyền lợi đó không phải là nhỏ. Mục tiêu tranh đấu của họ là nhân quyền, dân chủ, và tự do tôn giáo cho đồng bào của họ ở trong nước.

Nhưng so với các nhân vật lãnh đạo Việt Nam đến Hoa Kỳ trước ông, ông Triết dường như thành công hơn trong việc trình bày lập trường chính thức của nhà nuớc đối với Việt kiều, nhờ ông dùng một lối diễn đạt và ngôn ngữ bình dị, chơn chất, nhưng nhiệt tình, dễ mời gọi người nghe. Khi phát biểu, ông lập đi lập lại nhiều lần những cụm từ “đoàn kết,” “tình thương”, và ông chấp nhận bất đồng chính kiến là điều bình thường. Ngay cả khi phải nhắc đến những người biểu tình phản đối ông, ông cũng gọi họ là một số nhỏ thiếu thông tin, chưa có điều kiện về thăm nước nhà. Ông tránh những lời lẽ nặng tính tuyên truyền, giáo điều, quy chụp, cáo buộc, dễ gây phản cảm, mà xưa nay nhiều quan chức và báo chí nhà nuớc Việt Nam vẫn dùng. Có lẽ nhờ đó mà thông điệp của ông có sức thuyết phục hơn, tuy nội dung của nó không khác trước là mấy.

Về phía cộng đồng người Việt, người ta cũng ghi nhận được nhiều nét tích cực. Rõ rệt nhất là các cuộc biểu tình tuy rầm rộ hơn, những vẫn trật tự, không bạo động, không có những hành động gây va chạm với nhân viên công lực, thể hiện một trình độ tổ chức và phối hợp cao, do đó dễ tranh thủ được sự ủng hộ và đồng tình của các cộng đồng khác. Nói chung, những phát biểu cũng tập trung nhiều hơn vào các vấn đề cốt lõi, lập luận nghiêm túc, không thiên nhiều vào việc đã kích cá nhân.

Trong một cuộc phỏng vấn liên quan đền chuyến đi của chủ tịch nước Việt Nam, Đại sứ Michael Marine tiên đoán là Việt Nam sẽ không tiếp tục thực hiện các vụ xét xừ hàng loạt các nhà bất đồng chính kiến nữa. Trước khi lên máy bay di Mỹ, ông Triết cũng tuyên bố “sẽ làm hết sức để nâng quan hệ Việt-Mỹ lên một tầm cao mới, sâu rộng” sau chuyến đi thăm Hoa Kỳ../.

VOA, 28.6.2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 30, 2007

Nghệ Sĩ Nữ "Tíu Tít" Chê "Trai Làng Ta"

Bỗng nhiên có nhiều nữ nghệ sĩ có chút danh tiếng của ta công khai chê đàn ông Việt và kéo theo đó là những cuộc tranh luận về bản lĩnh, sức hút của “trai nhà” nổ ra liên tiếp trên khắp các diễn đàn trên mạng, trong làng.

Người nói các cô có danh, có thế nên yêu cầu cao, chưa hài lòng với đàn ông Việt là đúng thôi; người khác lại bảo, cũng là “gái làng” sao lại chán “trai làng” quay ra mơ “trai phố”!

Ta thán về “trai làng ta”
Phát ngôn mới đây của cô MC kiêm ca sĩ còn mỏng tên tuổi Nguyệt Ánh trở thành mồi lửa làm bùng lên các cuộc tranh luận về chuyện hay, dở của đàn ông Việt.

Sau khi kể chuyện các mối tình, MC Nguyệt Ánh nói thẳng: “Sẽ ngày càng nhiều phụ nữ yêu và lấy người nước ngoài nếu đàn ông Việt không đáp ứng được yêu cầu bình thường của phụ nữ và không chịu thay đổi quan niệm. Đàn ông đừng nghĩ tất cả phụ nữ đều cần tiền và phải dựa vào họ. Cái chúng tôi cần là được tôn trọng, yêu thương và ủng hộ”.

Kéo theo bài phỏng vấn đó trên báo “Đẹp”, trên mục Bạn đọc viết của một tờ báo còn cho đăng hàng loạt ý kiến trao qua, đổi lại với phát biểu của MC Nguyệt Ánh.

Nhìn qua tất cả các ý kiến thấy cánh “nam nhi” cũng nhảy vào bày tỏ ý kiến phản đối cực lực suy nghĩ “thiển cận” của Nguyệt Ánh – dù cũng có người “khen” cô đã “dũng cảm” đưa chuyện yêu đương của bản thân lên báo. Phần đông “nữ nhi” cũng phản đối, bày tỏ thái độ với Nguyệt Ánh: “Đừng coi thường đàn ông Việt!”. Rất hiếm người “đồng tình với Nguyệt Ánh” hoặc nhắc cô MC này thay vì thiếu “tế nhị” với những phát biểu thuộc dạng “nhạy cảm” thì nên đóng cửa để “chị em bảo nhau” thì hơn.

Từ chuyện của Nguyệt Ánh yêu người Singapore, nhìn lại mới giật mình khi đã có không ít nữ nghệ sĩ lên báo “chê” đàn ông Việt thời gian qua. Nhạc sĩ Giáng Son trước khi ra đĩa, lên báo “thưa thật” về chuyện muộn chồng của mình rằng: “Tìm một người đàn ông bây giờ thật khó bởi “bóng” nhiều quá!”.

Phát ngôn của Giáng Son đã gây sốc cho khối người và chính chị đã phải thanh minh trước công luận sau khi bị phản đối rầm rĩ. Giáng Son khẳng định mình không gây sốc để ra CD mới và nguyên văn câu nói bông đùa của chị chỉ là “Dạo này thấy bóng hơi nhiều” (!). Tất nhiên, với Giáng Son, nếu đó chỉ là chuyện “vạ miệng”, thì phát ngôn kia cũng khiến chị “mất điểm” trong mắt nhiều đàn ông Việt.

Hồ Ngọc Hà cũng từng có lần lỡ miệng: “Tôi coi thường đàn ông”. Sau đó chị cũng bị không ít người “tẩy chay”, vì dù gì thì người yêu chị khi đó là Đức Trí cũng là một nhạc sĩ tài năng người Việt. Rút kinh nghiệm vì những lần như thế nên sau này chị đã “tỉnh” hơn khi nói “tôi lớn rồi, chẳng lẽ lại “ngu” hoài vậy sao?!”.

Một người đẹp khác là Bằng Lăng cũng hồn nhiên phát biểu: “Tôi thích người nước ngoài từ lâu”.

Không chỉ có “sao” nhỏ mới lên tiếng chê đàn ông Việt mà “sao” sáng hơn một chút như Hồ Quỳnh Hương hay từng trải như Thanh Lam cũng có lời ca thán. Vậy, phải chăng các đấng nam nhi cũng nên soi lại mình?

Hồ Quỳnh Hương nói: “Đàn ông vẫn là đàn ông, nên tôi không tin được! Đàn ông luôn muốn phụ nữ chung thủy, nhưng đòi hỏi sự chung thủy ở họ thì khó vô cùng. Họ có thể choáng ngợp bởi một vẻ đẹp khác, thậm chí phản bội vì một vẻ đẹp khác. Họ sẽ giấu diếm, và nếu bị lộ thì sẵn sàng đánh đổi để lấy mình. Nhưng tôi là người không thể chấp nhận được điều đó.

Tôi không tin được đàn ông, dù tôi luôn luôn cố. Tôi gắng để mình là người chung thủy, và sống đúng nghĩa với người tình yêu. Đến thời điểm này, tôi yêu hai người đàn ông, và đều cảm thấy họ có cái gì đó không thật lòng, dù tôi cảm thấy trong tình yêu mình có sức mạnh đủ để người đó không thể rời bỏ mình”.

Còn Thanh Lam – người đang gắn bó với những ca khúc đậm chất dân gian Việt Nam của Lê Minh Sơn – tâm sự: “Trong tình yêu, tôi yêu mãnh liệt và luôn luôn đánh mất bản thân mình. Tôi đốt hết những năng lượng tinh thần cho người mình yêu. Tôi cưng chiều họ thái quá và cũng kỳ vọng họ quá nhiều, vì thế mới đổ vỡ. Tôi có lỗi vì tôi quá kỳ vọng ở đàn ông. Đó là lý do làm tôi không trọn vẹn trong hôn nhân.

Tôi nghĩ đàn ông phải đủ lớn, đủ mạnh và đủ bao dung để che chở, bao bọc cho phụ nữ, và làm người phụ nữ phải kính trọng. Tôi là người mù quáng trong tình yêu. Sự thi vị tuyệt vời nhất, lãng mạn nhất đó là mù quáng và đánh mất chính bản thân mình khi yêu. Việc một số phụ nữ bây giờ sinh con không cần kết hôn là một dấu hỏi lớn cho đàn ông Việt. Tôi nghĩ, đàn ông Việt Nam hình như ngày càng ít yêu phụ nữ hơn yêu chính bản thân mình. Đó là một điều rất buồn”.

Và có phải “đàn ông Việt Nam hình như ngày càng ít yêu phụ nữ hơn yêu chính bản thân mình” dẫn đến nguy cơ nhãn tiền theo lời ca sĩ Nguyệt Ánh là “ngày càng nhiều phụ nữ yêu và lấy người nước ngoài”?

Không chỉ ca sĩ, người mẫu mà một số nhà văn nữ cũng đã không ngại kêu ca, phàn nàn về đàn ông Việt. Nhà văn Lê Minh Khuê từng phát biểu: “Những người đàn ông thời nay đôi khi làm tôi thất vọng”.

“Nhìn ra những người đàn ông Nhật Bản, Hàn Quốc, rõ ràng họ cũng gia trưởng và “chèn lấn” phụ nữ trong gia đình, nhưng dù sao họ còn ý thức rõ ràng về sức mạnh đất nước, về sự vẻ vang của dân tộc mình.

Còn đàn ông ở ta, tôi rất ngạc nhiên về họ. Khi nhận xây một tòa nhà, một con đường… Họ không nghĩ phải làm cho đẹp, cho tốt để sánh với tòa nhà này hay con đường kia của một nước nào đó mà chỉ nghĩ làm thế nào để bỏ túi được một nửa, chí ít là một phần ba tiền đầu tư.

Có vẻ như sự chỉ trích bản lĩnh, tư cách của “phái mạnh” Việt Nam đã vượt quá giới hạn. Xem ra đây không còn là “chuyện phiếm” của cô ca sĩ này, cô người mẫu kia nữa.

Khi theo dõi kỹ hoạt động văn hóa – nghệ thuật trong nước sẽ thấy một điều (có thể là xu hướng?): các cô người mẫu Việt Nam nối gót nhau lấy chồng ngoại quốc.

Ngô Mỹ Uyên lấy chồng người Italia, Ngọc Nga lấy chồng người Australia, Bằng Lăng lấy chồng người Đức… hay “người đẹp dao kéo và sexy” Phi Thanh Vân sắp về làm dâu nước Pháp và họ đều lên báo “khoe” gia đình vợ Việt – chồng Tây với những khoảnh khắc lộng lẫy nhất. Trong số các “chân dài” này, nhiều cô từng yêu “trai Việt” nhưng sau đó đã tiến tới “yên bề gia thất” với “trai Tây”.

Mới đây, bộ phim bị khán giả và báo chí chê bai “lên bờ xuống ruộng” Sài Gòn nhật thực đề cập đến hiện tượng mà nhà làm phim cho là “thực tế phũ phàng”: các cô gái ham hố lấy chồng ngoại nên rơi vào những cái bẫy buôn người.

Sự việc có lẽ sẽ không quá nghiêm trọng và đàn ông Việt chưa đến mức phải “run”. Mặc dù, có “hiện tượng bề mặt” là rất nhiều người ngoại quốc đã không tiếc lời khen phụ nữ Việt Nam đẹp và quyến rũ; còn phụ nữ (nhất là những người có điều kiện “nói to” như giới văn nghệ sĩ, người mẫu…) lại bày tỏ nỗi thất vọng, chán nản về sự thiếu hụt “galant, manly và lãng mạn” của đàn ông Việt.

Xét thấy, nhiều khi lời chê thẳng thắn cũng là muốn đàn ông Việt tốt lên, đáng mặt nam nhi hơn – đó là những góp ý “thuốc đắng dã tật”. Nhưng sự thực thì mỗi người chỉ nhìn được một góc, chưa phải cái nhìn toàn cục. Có câu nói “con không chê cha khó…”, nhưng nếu đàn ông Việt bị “chê” quá nhiều thì có lẽ cũng không thừa khi những người làm chồng, làm cha cần có những phút nhìn lại mình!

Tất nhiên, với những lời lẽ gây sốc, vơ đũa cả nắm thì nên bỏ ngoài tai, và khi đó người nghe sẽ quay lại xem xét người phát ngôn “chuyện đàn bà”. Trường hợp của cô MC Nguyệt Ánh với những lời lẽ: “Cũng có nhiều người nói với tôi là em giỏi như thế này thì liệu có lấy được chồng không vì đàn ông sợ em lấn lướt người ta….” là một ví dụ.

Một bạn đọc đã có liên tưởng khá thú vị sau bài viết của Nguyệt Ánh cộng với nhiều phản hồi. Trên Web Trẻ thơ – một diễn đàn của các ông bố, bà mẹ, trường hợp của Nguyệt Ánh được so sánh như một cô gái gặp phải một đám trai làng!

Thành viên này viết: “Cô gái mới qua vài cuộc tình không thành thì vội hô lên là con trai cả cái làng này chẳng ra cái thể thống gì. Đám trai làng “chẳng ra cái thể thống gì” tức khí, yêu con gái người ta không được thì quay sang cấm đường không cho cô ấy quen biết con trai làng khác và chửi bới ầm ỹ.

Vậy thì những anh trai làng này cũng chẳng tử tế nỗi gì. Anh nào rất tử tế lắm thì nói với mấy thằng du côn là chúng mày thôi trò mèo đó đi. Các anh khác thì coi như chẳng có chuyện gì. Kệ cô kia chu chéo, tai ai gần miệng lại nghe, các anh ấy vẫn là những anh tử tế, lấy được những cô vợ tốt ở làng và cả làng bên nữa nếu các anh ấy muốn thế”.

Ý tưởng đó cũng đáng suy ngẫm. Nhưng từ ý nghĩ ấy chợt thấy, lâu nay người ta vẫn nhắc nhiều đến “trai làng” mà thực tế lại quên còn có “gái làng”. “Trai làng” mang thói quen “ngăn sông cấm chợ”, ngần ngại bôn ba băng rừng vượt biển đã đành, còn “gái làng” cũng chỉ biết thở vắn than dài, rồi nhìn ra bên ngoài và thấy “ngợp” thôi sao?!

Dân làng ta có câu “thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, nhưng nếu vẫn còn cảnh “trai làng”, “gái làng” thì khó mà “cùng tát biển Đông” hay “vươn ra biển lớn”. Mà thực ra như người ta vẫn hay nói trong thời “hội nhập”, Tây – Ta không khác nhau là mấy…

Danh Anh

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

MUA ĐỒ CỦA NGƯỜI MÌNH Ở VIỆT NAM

Hổm rồi, vô tình nghe lại một băng nhạc cũ, thấy ớn lạnh sương sống. Cô ca sĩ hát ngọng “Những chiều khôn có em, phố nhỏ buồn hoan vắn”. Hình như cô sợ chữ “dê dưới” nên cứ chỗ nào có “dê dưới” là cô chê. Cô này nếu gặp anh giám khảo cứng rắn kia thì thế nào cũng rớt. Nghe kể chuyện có anh giám khảo, cũng là ca sĩ, rất nghiêm khắc với thí sinh. Có một cô cũng hát kiểu sợ “dê dưới” đó mà bị anh phán cho một câu, tá hoả tam tinh. Anh hỏi cô: “Cô thích bỏ mất chữ “dê dưới” kia, thì nếu mà phải hát câu “chim hót trong lồng” thì cô hát ra làm sao?” Cô thí sinh kia ú ớ, muốn tắc thở, ù té chạy về méc má, nức nở.

Không biết độ tin cậy của câu chuyện này được bao nhiêu phần trăm, nếu có thiệt thì anh giám khảo này hơi cay cú. Nỡ lòng nào mà anh tương ra một câu độc địa như thế! Nghe mà hết hồn dù cho nghe hát mà mất “dê dưới” thì cũng khó chịu quá đi chứ, phải không quý vị? “Dê trên”, “dê dưới”, đằng nào cũng là “dê”, sao lại nhận trên mà bỏ dưới, kỳ quá!

Nhưng thôi, cuộc đời còn nhiều chuyện nghe qua mà tá hoả tam tinh hơn, còn ớn lạnh sương sống hơn nữa cơ: chuyện mua đồ ăn chế biến ở Việt Nam. Đọc báo SàiGòn Online (của Việt Nam nhé, không phải báo ở hải ngoại đâu!) mới thấy hãi hùng. Dưới đề tài “Y Tế – Sức Khoẻ, Kiểm tra một số cơ sở sản xuất nước mắm, thấy là khiếp!”

“Cơ ngơi của công ty TNHH SX nước mắm Tân Liên Hưng.. khá rộng rãi và tươm tất. Thế nhưng, khi bước vào khu sản xuất mới biết thế nào là dơ bẩn. Bên trong khu bán thành phẩm nước mắm là cả một đống hỗn tạp: thùng nhựa, cây gỗ, sắt vụn, thùng giấy, vỏ xe và cả một chiếc xe lu.Bước vào thêm một đoạn là hàng chục bồn nước mắm bằng xi măng không có nắp đậy, nước bên dưới đen ngoàm, mùi hăng hắc khó chịu.

Cả đoàn kiểm tra của Trung Tâm Y Tế dự phòng cũng phải bất ngờ khi phát hiện bên trong bồn nước mắm là 2… xác thằn lằn nằm chổng chơ. Liên tiếp một số bồn nước mắm khác, xác gián, bọc ni lông, vỏ chai nhựa, ruồi… nổi lềnh bềnh!

“Thật phát khiếp!” một thành viên đoàn kiểm tra thốt lên.

Sang khu muối cá, cảnh tượng còn dơ bẩn hơn. Một số người đã không thể bước vào trước mùi hôi nồng nặc. Bên trong những bồn xi măng là những lớp nước mầu nâu, bọt xền xệt với những chiếc mô tơ bơm nước rỉ sét. Một số bồn vừa xử dụng qua, còn lại một lớp nấm mốc trắng xoá.

Khi được hỏi súc rửa bằng cách nào, chủ cơ sở trả lời tỉnh queo: “Bằng nước lã!” Đoàn kiểm tra yêu cầu cho xem khu SX “nước mắm cá cơm” theo bao bì quảng cáo, lúc này chủ cơ sở mới thú thật: “Em dùng .. cá tạp để ép lấy đạm, còn cá cơm thì chỉ có một chút ít cho có hương thơm!”

Eo ôi! Nghĩ đến mà kinh! Chưa hết đâu, đi đến một công ty khác, “Tại DNTN Chế biến thực phẩm Trung Vị… tại khu sản xuất, kiểm tra đôi bàn tay của 10 nhân viên thì đến.. 9 đôi tay không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, móng tay dài, đeo nữ trang, có vết thương hở…” Đến Công Ty TNHH sản xuất nước mắm Hưng Thịnh, “khu sản xuất còn nhiều ruồi, nền sàn hỏng.. nhiều nhân viên chưa khám sức khoẻ, ngay cả bồn rửa tay.. cũng không bảo đảm.”

Trong tất cả các nơi mà đoàn kiểm tra đến khám, đều không thấy “cá cơm” là chất đạm chính trong nước mắm, chỉ thấy nói là “cá tạp”, thì không biết là con gì! Khi nghe chữ “tạp”, bà con phải hiểu là đủ loại con gì nằm dưới nước hoặc trên cạn. Có thể là ‘thằn lằn” như tại công ty gì đó kia, có thể là cóc, nhái, làm giống “mắm bù hóc” của một số nơi bên xứ bạn. Miễn là có chất thịt!

Về nước tương, thì không biết chi tiết việc kiểm tra ra sao, chỉ biết kết quả là các sản phẩm nước tương của các công ty Hương Nam Phương, MIWON, Thái Chân Chánh, Nam Dương với các nhãn hiệu Lekima, Thái Đại Lợi, Shunli, Metro, Thái Chân, Tâm Ký và Mèo Đen đều bị thu hồi. Số chai bị thu hồi là 11,378 các loại. Riêng sản phẩm của Nam Dương, ngoài 2,066 chai không đạt tiêu chuẩn, còn phải thu hồi 89,400 chai các loại khác. May mắn cho người tiêu dùng là số chai này đã bị tiêu huỷ, nhưng còn hàng vạn, hàng triệu chai đã được bán ra từ năm .. cát tó nào rồi.

Thiệt ra, mấy cái khám phá đó cũng chưa có gì là ghê gớm bằng những năm đầu “Giải Phóng” Trên một trang báo Sài Gòn G. P., có một bức hình cỡ 5 x 10 xăng ti mét, chụp một ống cao su nối vào một cái máy bơm hút nước từ một cái hồ nhỏ. Trên mặt hồ và cách mặt hồ chừng hai thước là một dẫy.. nhà cũng nho nhỏ, không có mái, chỉ thấy nhô lên vài cái đầu người ngồi… hóng gió! Dưới chân cột nhà, từng đợt sóng tung lên, thoáng thấy bóng cá nhẩy tung tăng… Chú thích của tấm hình là “đây là nơi hút nước vào bồn làm nước mắm của hãng nước mắm Thiên Hương!” Ai nhìn vào bức hình, chắc chắn phải thề là dù cho có chết thèm, cũng không bao giờ ăn nước mắm nữa, vì đó chính là hồ.. cá tra, loại cá thích thưởng thức những hương vị ngọt bùi từ loài người thải ra, và cũng chính đó là nơi công ty XHCN Thiên Hương gì đó lấy nước lên bồn làm nước mắm! Những người đã từng mua loại nước mắm này, lúc bấy giờ mới kêu lên: “Thảo nào, nước mắm này có vị đặc biệt chưa hề thấy ở đâu trên đời!”

Nhưng mà chuyện đó cũng chưa kinh hoàng bằng một bản tin đăng vào một thời gian sau đó: “Công ty làm mắm ruốc bị bắt quả tang có lẫn… phân người!”

Đọc đến đây, chắc có nhiều độc giả chạy vội vào bồn rửa mặt! Thôi rồi, sản phẩm của Xã Hội Chủ Nghĩa độc đáo quá! Đúng như lời người ta nói: “Xã Hội Chủ Nghĩa, Xạo Hết Chỗ Nói, Xếp Hàng Cả Ngày, Xếp Hạng Con Người, Xuống Hàng Chó Ngựa!” Vì đầu óc của con người trong Xã Hội Chủ Nghĩa này chỉ mê man làm tiền, nên bất cứ phương sách nào làm ra tiền thì họ lao theo. (Như thế, nếu cho là nhân dân được Giải Phóng thì không đúng hiện thực, mà phải đọc ngược hai chữ G.P. thành P.G. mới đúng.)

Còn ở Bôn Sa chúng ta thì sao? Bôn Sa không sản xuất nước mắm, hình như chỉ có bánh mì, tầu hũ, bánh cuốn, bánh giò, giò chả, heo quay, vịt quay, xá xíu, và tiết canh. Tết đến thì thêm bánh chưng và bánh tét. Những thứ này, trước mắt thì ăn được, chỉ có điều chưa ai vào tận nơi sản xuất những thứ đó để xem có ai gói bánh, gói giò mà ngón tay bị lở như ở Việt Nam kia không. Riêng món tiết canh thì nên coi lại. Người viết có lần nhìn thấy một đĩa tiết canh mà .. nhợn vì nó… đỏ lòm như cái gì ấy… Bánh giò cũng gói chưa đúng kiểu. Tại một nhà hàng có bán bánh giò, thứ này được gói như là bánh ú vậy, dài thòng và nhọn hoắt. Mấy chỗ bán bánh mì nho nhỏ mà đông người, thì các cô các bà nhét thịt vào bánh mì đều đeo găng tay đàng hoàng, nhưng thỉnh thoảng ngứa lông mũi cũng giơ tay lên gãi kìn kìn.

Nói chung, thì việc ăn uống ở Bôn Sa và các nơi khác hải ngoại cũng tương đối không tệ lắm, chỉ có điều mà nhiều người để ý thấy là tại vài tiệm ăn đông người, thỉnh thoảng người tính tiền tính “dôi” ra vài đô bởi vì không mấy người đọc lại giá biểu và “ri sít”. Khách ăn khoảng 17 đô, thì viết đại 19, 20 đô cho chẵn, cũng chả ai để tâm. Ăn tới số nhiều là sáu, bẩy chục, thì viết thêm vài đô lẻ, mà chưa thấy ai phát giác và làm lớn chuyện. Nếu có ai théc méc mà coi lại “ri sít” thì chủ nhà hàng vội vàng xin lỗi và bồi hoàn ngay. Thực tế, nếu làm một con tính trung bình, một nhà hàng có thể lời thêm một ngày từ vài chục đến một trăm, nhân lên thì cũng thấy ông bà chủ nhà hàng ẵm được một số tiền ăn gian kha khá trong một năm. Chưa kể có một ông chủ nhà hàng cũng tương đối lớn trên đường B-rúc hớt, gần khu Bôn Sa “chôm” mất hết tiền típ của người mua. Mấy người phục vụ phải rỉ tai khách hàng là “xin đừng cho tiền mặt vào đây, bởi chủ nhà hàng “chĩa” mất hết tiền!” Điều này tệ quá! Người ta đã nghèo mới phải đi làm, còn hắn đã giầu nứt đố đổ vách, ngồi oai phong, chỉ tay năm ngón, thu tiền ào ào, mà còn “ăn cướp cơm chim” của người nghèo nữa thì sau khi chết phải xuống tới mấy tầng địa ngục…

Tu tỉnh lại đi, mấy ông bà chủ nhà hàng gian ác! Tiền bạc chỉ là vật phù du mà thôi. Người ta nói: Tiền có thể mua được vợ đẹp, nhưng không mua được hạnh phúc. Tiền có thể mua được thuốc, nhưng không mua được sức khoẻ. Tiền có thể mua được nhà cao cửa rộng, nhưng không mua được chốn an bình. Vậy sao mà còn ham tiền bất chính quá vậy?

Chu Tất Tiến

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Lẩm cẩm

Móc họng, móc hàng, móc túi

Mở đầu chuyện lẩm cẩm kỳ này là một chuyện vô cùng lẩm cẩm nhỏ xíu, ở một thành phố không lớn không nhỏ. Tuy là chuyện nhỏ, nhưng từ đó bạn có thể suy luận ra những chuyện lẩm cẩm tương tự như vậy ở những thôn xóm, thậm chí ngay ở những thành phố khác. Có những chuyện “ấm ớ hội tề”, vừa tức, vừa cười ra nước mắt. Xin vào đề ngay chuyện vặt này trước rồi chuyện “ấm ớ hội tề” bàn sau.

Chửi thề bâng quơ cũng bị phạt tiền

Số là vào ngày 18-6 vừa qua, ông Nguyễn Quốc Hưng, sinh năm 1962, ở ấp Bào Sơn, xã Lý Văn Lâm, TP Cà Mau đi qua con đường thuộc khu đô thị mới Hoàng Tâm, xã Lý Văn Lâm. Thấy đường sình lầy, ông Hưng bực mình chửi đổng, không ngờ sáng hôm sau ông bị mời lên trụ sở Công an xã viết bản kiểm điểm.

Người dân ai cũng biết, khi bị gọi lên xã “làm kiểm điểm”, nếu làm “không đạt yêu cầu”- tức là không đúng ý các quan xã- thì cứ ngồi đó mà viết bằng thích. Viết cho đến bao giờ “đạt yêu cầu” mới thôi. Vì thế nên hầu hết người dân, nhất là những người dân ở nông thôn và những thành phố nhỏ, muốn cho xong chuyện đời, viết đại cho được việc, còn về, lo làm ăn. Kinh nghiệm dạy rằng có những người ngồi viết cả ngày chưa xong, mai lên viết tiếp. Viết cho lòi ra một cái tội mới yên. Dù người dân có tội hay không thì “ủy ban xã” cũng nắm đằng chuôi. Rõ ràng anh “tự khai” là anh có tội rồi đây nhé. Cái kiểu “tự khai”… theo kiểu bắt buộc như thế này là chuyện hàng ngày ở rất nhiều cơ quan quyền lực. Và sự đối phó của người dân là “khai cho xong” mà không ý thức được rằng “bút sa gà chết”.

Vì thế, ông Hưng đã khai bừa rằng “chửi tục như vậy là sai”. Tưởng vậy là xong, ông yên tâm ra về.

Bất ngờ, đến ngày 19-6, ông Hưng lại được mời lên để nhận quyết định phạt 100 ngàn đồng vì cái tội chửi thề. Ông Hưng ngẩn người, không thể ngờ lại bị khép vào cái tội chửi thề giữa trời như vậy. Ông đến các cơ quan kêu oan vì… “tôi chửi đường xấu chứ đâu có chửi ai đâu”.

Giải thích về điều này, một nhân viên công an xã Lý Văn Lâm lập luận: “Đường chưa hoàn thành; vả lại đường dơ hay không dơ thì là chuyện… của người ta” và xác định ông Hưng chửi như vậy là chửi con người, mà không ai khác là “nhà đầu tư” khu đô thị mới Hoàng Tâm!

Chẳng hiểu nhà đầu tư khu độ thị này có họ hàng hang hốc gì với anh công an này hoặc có là bà con anh em gì với các quan chức xã này mà anh công an xã Lý Văn Lâm bảo vệ kỹ thế? Và cũng chẳng hiểu anh công an xử phạt theo luật lệ nào, quyết định nào? Nếu ai chửi thề cũng bị phạt thì cứ về ngay TP. Sài Gòn hoặc giữa thủ đô Hà Nội mà phạt, chắc mỗi ngày thu được cả tỉ đồng và cũng nên mừng cho nền văn hóa Việt Nam.

Đọc chuyện này, một ông già ngồi ở quán cóc đầu xã thở dài mà phán rằng: “không ngờ thời bây giờ mà còn… hội tề”. Nghe ông nói, nhiều người không hiểu “hội tề” là có nghĩa gì.

Ôn cố tri tân về cái “hội tề”

Thời chiến tranh Việt Pháp, vào khoảng những năm 45-54, có khá nhiều địa phương làng mạc ở miền Bắc sống trong vùng nhá nhem giữa hai nền cai trị. Có thể nói rõ hơn là ban ngày thì binh sĩ Pháp vào làng cai trị nên đặt ra một ủy ban như “ủy ban hành chánh” để dễ dàng điều khiển. Bắt dân nộp tre, sửa đường , đôi khi phải đóng cả thuế. Cái “hội đồng nhân dân” đó được gọi là “hội tề”.

Thế nhưng buổi tối thì Việt Minh lại mò về làng, lúc đó quyền cai trị lại thuộc về họ. Hồi đó thường là mấy anh du kích trong làng. Ban ngày lặn mất tăm, tối mò về. Dân mới làm đường xong, du kích bắt phá đường. Ngày mai lính Pháp lại bắt làm lại. Cái trò chơi ú tim này cứ tiếp diễn và người dân dưới quyền anh “hội tề” cứ nghe theo cả hai bên. Và muốn giữ mạng sống cho cả làng, hội đồng này chủ trương “triệt để trung lập”. Tây hỏi ai phá đường? Ai là du kích? Ai theo Việt Minh (hồi đó còn gọi là Vẹm)? Bèn trả lời ú ớ: “không biết, nghe đâu như nó chạy sang làng bên cạnh rồi”. Việt Minh hỏi ai đã chỉ điểm cho Tây? Ai chống phá cách mạng? Ai còn tiền còn vàng, còn giấu thóc gạo? Bèn thưa “Ai có thì họ giấu kín lắm, dưới ao, ngoài ruộng, ai mà biết”. Bất cứ chuyện gì, bên nào hỏi cũng ú ớ không có, không biết… Mỗi bên ra một luật lệ riêng, “hội tề” làm theo tuốt, nhưng cái gì cũng làm nửa vời, cho nên hồi đó người ta nói là “ấm ớ như hội tề”.

Móc họng nhau đấy

Ngày nay có những ủy ban cũng áp dụng những thứ luật lệ linh tinh như thế. Không biết có nên gọi là “hội tề” không? Chửi thề mà bị phạt đã là một chuyện lạ, phạt tới 100 ngàn đồng thì quả là quá nặng đối với một người dân Cà Mau. Mỗi ngày đi làm mướn, đầu tắt mặt tối, được vài chục ngàn, trừ tiền ăn, tiền nuôi vợ con, còn được vài ngàn dành dụm phòng khi đau ốm, trái gió trở trời đã là may. Phạt như thế là cướp mất cả tháng tiền mồ hôi nước mắt của dân lao động đấy. Và chửi thề một con đường xấu, có động đến ai đâu. Nếu phạt được ông Hưng, điều đó nghiễm nhiên trở thành tiền lệ. Vô phúc mà chửi thề đúng con ông chủ tịch xã chắc… nát xương!

Phạt cái kiểu này không khác gì “móc họng” nhau!

Bạn thử suy nghĩ xem, liệu còn bao nhiêu kiểu phạt lẩm cẩm như thế nữa ở những nơi khác? Cho nên về VN, có đi Cà Mau chơi, bạn nên khuyên con cái đừng bao giờ nên chửi thề, mặc cho con đường xấu hay con người xấu. Dù chửi bằng tiếng Mỹ, có thể họ cũng biết đấy. Cái gì thì họ không biết chứ chửi thề là họ biết liền. Cẩn tắc vô áy náy.

Nước tương bày đầy rẫy trong các cửa hàng, siêu thị, hàng thật hàng giả, chẳng ai biết. Ai được lợi?

Một chuyện lẩm cẩm nhưng… cần thiết

Mới tuần trước tôi tường trình với bạn đọc về vụ an toàn thực phẩm tại Việt Nam, chỉ toàn là chuyện “quá tầm tay”, “không đủ khả năng” và “thiếu thiết bị kỹ thuật” nên có cái cơ quan này có cũng như không.

Điều đó đã làm dấy lên một sự phẫn nộ trong lòng người dân. Họ bị đánh lừa, mạng sống của người dân bị coi thường, bị các quan chức có trách nhiệm che tai bịt mắt, làm giàu cho các nhà sản xuất, làm hại cho người dân.

Một vị nóng máu, vừa đứng ra kiện các nhà sản xuất nước tương. Xin vắn tắt, đó là ông Hà Hữu Tường – viên chức cơ quan thi hành án Q.8, TP Sài Gòn, đại diện cho hàng triệu người tiêu dùng – đã làm đơn khởi kiện nhà sản xuất và nhà quản lý ra Tòa án TP Sài Gòn, yêu cầu bồi thường 30 tỉ đồng… Đây là người đầu tiên làm đơn khởi kiện ra tòa án về nước tương chứa 3-MCPD.

Đồng thời ông Tường yêu cầu nhà nước truy thu khoản thu nhập bất hợp pháp từ nước tương đen của các đơn vị sản xuất, và xử phạt cụ thể cho những hành vi vi phạm. Đơn khởi kiện được gửi cho tòa án từ 1-6.

Thoạt nghe tin này có rất nhiều người thú vị, nhưng quả thật trong lòng đều có ý nghĩ “bố này kiện củ khoai đây”.

Ông Tường cũng đã gửi khiếu nại đến Văn phòng bảo vệ người tiêu dùng phía Nam với nội dung tương tự. Theo ông, việc làm này xuất phát từ cái chung là không thể chấp nhận tình trạng doanh nghiệp làm sai, dù có xin lỗi nhưng lờ đi trách nhiệm bồi thường với người tiêu dùng. Chưa kể, nhà sản xuất xì dầu chứa chất gây ung thư cao nhưng vẫn lưu thông hàng trên thị trường không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm… là vi phạm điều 162 và 244 Bộ Luật hình sự.

Ông Tường dự tính trong trường hợp thắng kiện, ông sẽ dùng toàn bộ số tiền được bồi thường cho mục đích nhân đạo, bằng việc lập Quỹ từ thiện giúp đỡ bệnh nhân ung thư.

17 doanh nghiệp nước tương bị khởi kiện là Trường Thành, Song Mã, Đông Phương, Hương Nam Phương, Lam Thuận, Thái Chân Thành, Lợi Ký, Nam Dương, Nosafood, Thái Đại Lợi, Hậu Sanh, MêKong, Miwon, Vĩnh Phước, Tâm Ký, Khương Phát, Bách Thảo.

Ông là “con nhà luật” nên biết rõ quy định của luật pháp, nhưng tiếc rằng ông không được làm ở cơ quan xử án mà chỉ làm ở cơ quan thi hành án, chuyên làm những việc mà các quan tòa đã xử xong rồi. Đúng hay sai, nặng hay nhẹ, ông vẫn cứ phải thi hành. Có lẽ chính vì vậy mà ông còn hăng tiết vịt hơn.

Phuy nước tương nổi váng. Nhìn vào cách “chế biến” nước tương hết dám ăn

Vụ kiện sẽ đi đến đâu?

Đó là một câu hỏi không khó trả lời. Xét theo luật pháp thì vụ kiện có quá nhiều trở ngại từ căn bản của vấn đề. Theo ý kiến của giới luật sư thì đây là một vụ kiện dân sự, chứ không phải hình sự.

Khi khởi kiện dân sự, có thụ lý chăng nữa thì ra tòa, nguyên đơn phải đưa ra được bằng chứng thiệt hại cụ thể. Chẳng hạn ai bệnh, chết do ung thư mà nguyên nhân từ nước tương chứa 3-MCPD? Giải phẫu bệnh lý, kết luận ngành y tế? Tang chứng vật chứng cụ thể, mua của cơ sở nào, hóa đơn chứng từ, ai làm chứng v.v…? Mặt khác, nếu nguyên đơn xin đại diện cho hàng triệu người tiêu dùng thì giấy ủy quyền đâu? Và nếu có thụ lý, không đủ chứng cứ, nguyên đơn thưa kiện còn phải mất khoản án phí không nhỏ trên giá trị yêu cầu bồi thường (ở vụ này khoảng 5% của 30 tỉ đồng, tức là vài chục triệu đồng), liệu ông có “chịu” nổi?

Vì vậy nên dù ông được dư luận ủng hộ, nhưng nhiều người lại cho rằng “hơi lẩm cẩm”. Một vụ kiện gần như nắm chắc phần thua.

Và cũng có người hỏi sao ông không kiện luôn cái cơ quan được giao trách nhiệm bảo vệ an toàn thực phẩm cho nhân dân. 17 nhà sản xuất chỉ “kiếm ăn” được khi không bị kiểm soát hoặc có bị kiểm soát nhưng lờ đi, vậy thì không khác gì anh cảnh sát thấy trộm mà để nó tự do lộng hành, có bắt được cũng tha. Cả hai anh đều có tội, cái tội dung túng khuyến khích cho tội phạm còn nặng hơn vì nó góp phần đầu độc xã hội nhiều hơn là một anh gian lận. Chính vì sự bưng bít đó mà phát sinh ra nhiều anh gian lận theo. Và một anh kiếm lời trên 17 anh hay còn hơn nữa, tất nhiên có lời hơn một nhà sản xuất. Có lẽ ông cho rằng đó là việc nhà nước? Vậy thì việc xét xử những nhà kinh doanh gian lận cũng là việc của nhà nước, của pháp luật. Ông vẫn có quyền kiện cả hai anh.

Các can đựng nước tương cáu bẩn như thùng rác

Tòa án không thụ lý

Ông Hà Hữu Tường, đã nhận được câu trả lời chính thức từ tòa án TP. Sài Gòn vào chiều 22-6. Tòa án không thụ lý vụ kiện này.

Ông Tường cho biết không nhận lại hồ sơ đã gửi tại tòa, mà sẽ xúc tiến việc thu thập chữ ký từ người tiêu dùng, chứng cứ chứng minh thiệt hại… để tiếp tục khởi kiện trong thời gian tới.

Ngay buổi chiều 22-6, ông đã nhận được thỏa thuận hợp tác với 2 văn phòng luật sư và một bệnh viện chuyên về ung thư tại Hà Nội, trong việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cho việc khởi kiện lần nữa. Một trong các luật sư đồng ý tham gia vụ kiện đã xác nhận sự hợp tác này. Ông Tường tuyên bố: “Tôi sẽ tiến hành khởi kiện lần nữa trong một ngày gần đây với khả năng đại diện cho vài trường hợp người tiêu dùng bị bệnh cụ thể”. Nhưng điều quan trọng là người bị bệnh ung thư hay một thứ căn bệnh nào đó phải chứng minh được rằng vì ăn phải chất độc của nhà sản xuất nào, cụ thể sự thiệt hại ra sao.

Về ngân khoản tài trợ cho vụ kiện này, không phải là điều khó khăn, chắc chắn ông sẽ được khá nhiều người ủng hộ giúp sức, không phải họ chỉ “hoan hô cái miệng”.

Mít cũng bị tẩm hóa chất Ethephon cho chín nhanh

Nhưng dù thắng dù thua, đây cũng là một vụ kiện đầu tiên về an toàn thực phẩm, ở Việt Nam chưa hề có tiền lệ này. Nhà sản xuất cứ việc sản xuất sản phẩm kém chất lượng, người tiêu dùng cứ bị thiệt hại, xã hội cứ lên án nhưng các doanh nghiệp này vẫn không chịu trách nhiệm pháp lý cũng như trách nhiệm kinh tế đối với người tiêu dùng cũng như xã hội. Và cơ quan có trách nhiệm vẫn cứ ung dung, thọc tay vài túi quần dong chơi, chẳng có trách nhiệm gì hết. Nó làm lộ diện hàng loạt những cơ quan “ăn không ngồi rồi”, từ anh quản lý thị trường đến anh kiểm tra, kiểm soát, quát tháo thì hay, hù dân thì giỏi nhưng chẳng làm nên cơm cháo gì.

Chuyện tuy hơi lẩm cẩm nhưng cần thiết và tác dụng của nó không nhỏ. Một lời cảnh báo cho cả quan tham vô trách nhiệm và… dân tham.

Tuy nhiên, hy vọng đây không phải là một vụ kiện theo tính “phong trào”, nó bùng lên một thời gian rồi… đâu lại vào đấy. Doanh nghiệp bự vẫn an toàn, nộp phạt một tí cho có lệ rồi vẫn cứ phát đạt như xưa. Các quan vẫn cứ yên vị và dân vẫn cứ thoải mái “sống cùng chất độc, ngủ cùng chất độc”. Ông Tường liệu có đủ kiên trì để theo đuổi vụ này đến cùng hay không. Chúng ta hãy chờ xem.

Hơn 150 hành khách trên chuyến bay BL 5599 của hãng Pacific Airlines, sáng ngày 6-6, nằm ngồi nghiêng ngửa ngay trên đường bay của sân bay quốc tế Đà Nẵng chờ đợi chuyến bay, nhưng đành thất vọng

Móc hàng và móc túi

Trên đây là kiểu móc họng, còn vài kiểu móc nữa, móc hàng và móc túi.

Chuyện đi máy bay bị thất lạc hành lý đã là chuyện thường xảy ra ở khắp các hãng máy bay trên thế giới. Có khi hành lý thất lạc đến vài tháng mới kiếm lại được. Tuy nhiên, nó cũng chứng tỏ là hầu hết các hãng máy bay trên thế giới đều có thiện chí và tích cực truy tìm đến nơi đến chốn.

Nhưng ở Việt Nam, những ngày gần đây có một hiện tượng lạ là “mất cắp vặt” trong hành lý của khách gửi theo máy bay. Trong khi khóa va ly vẫn còn nguyên si, không có dấu hiệu bị cạy mở. Cứ như có phép thần thông biến ảo khôn lường. Điều này có thể chứng minh một nhận định khá rõ ràng, đây là một tổ chức trộm cắp hẳn hoi, làm việc có tính toán, có phân công, có canh gác, có đủ “đồ nghề” để móc hành lý một cách “an toàn”. Rất có thể, do nhiều kinh nghiệm trong khâu chuyển hành lý của khách hàng tứ xứ nên bọn chúng đã thử hàng loạt chìa khóa, hoặc chỉ cần vài ba chiếc “chìa khóa vạn năng” như kiểu của mấy chú đạo chích xe gắn máy là có thể “khám xét hành lý” của tất cả các khách hàng một cách nhanh chóng. Từ đó cứ “tự do” cuỗm bất cứ thứ gì mà chúng đã kén chọn. Không một hành khách nào mất quần áo lót cả, chỉ mất toàn đồ đắt tiền như laptop, máy hình, máy quay phim kỹ thuật số… Chứng tỏ chúng đã “hành nghề” trong một môi trường rất ung dung, được thoải mái chọn hàng như vào siêu thị. Có thể chúng hành động ngay trên chuyến bay, mà điều này thì gần như chắc chắn. Vì gửi từ Hà Nội vào đến TP. Sài Gòn là đã mất. Không hành nghề trên máy bay thì còn chỗ nào, thời gian nào, thuận tiện hơn. Như vậy thì xét ra một thành phần trộm cắp đã có thể xác định được. Một thuận lợi cho các nhà điều tra, nếu thật sự muốn điều tra.

Những chuyện mất cắp điển hình

Chuyện kể rằng ngay ông phó tổng giám đốc của Hãng hàng không VN Airlines (VNA) Phạm Ngọc Minh khi đi từ Hà Nội vào TP Sài Gòn cũng vài lần bị mất đồ đạc và máy ảnh khi để trong hành lý ký gửi. Chẳng biết chuyện này có thật không, nhưng có lẽ là mấy tay trộm cắp là những nhân viên tép riu, không biết đến tên ông nằm chềnh ềnh trên va ly nên cứ “khoắng”.

Còn rất nhiều trường hợp hành khách để vật dụng có giá trị lớn trong hành lý ký gửi, có khóa hoặc khóa số nhưng vẫn bị mất đành ngậm đắng nuốt cay vì không biết kiện ai.

– Ngày 11-6-2007 vừa qua, phòng dịch vụ và khai thác mặt đất của PA nhận được đơn của hành khách Trần Ánh Sáng (Q.Tân Bình, TP Sài Gòn) trình bày về việc mất máy tính xách tay hiệu Compaq, bộ sạc pin, dây USB, dây tai nghe điện thoại Nokia N72 trong hành lý gửi của chuyến bay BL 805 ngày 8-6 từ Hà Nội về TP Sài Gòn. Theo bà Sáng, tất cả đồ đạc đều để trong vali có khóa số và gửi theo chuyến bay, khi nhận lại hành lý tại sân bay Tân Sơn Nhất, nhìn thấy các chốt khóa không bị bật ra nhưng khi về nhà mở ra mới phát hiện đồ đạc bên trong đã bị mất. Vì thật sự khi hành khách đợi để lấy hành lý ký gửi đã mất thì giờ rồi, thấy khóa còn nguyên vẹn, chẳng ai mở ra kiểm lại làm gì.

– Bà Phan Thị Nguyên Thảo bay từ Hà Nội vào TP Sài Gòn cũng trình báo tình trạng hành lý ký gửi của mình bị bới móc, khóa vali bị phá hỏng, mất một máy tính xách tay hiệu HP NC6000 màu đen.

– Vị khách người Mỹ tên Douglass Reese trên chuyến bay BL 805 (ngày 23-10-2006) của PA còn đau hơn. Ông mang theo tám máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron và đã bị mất bốn máy. Theo tường trình của ông Reese, do mang nhiều hành lý nên ông trả phí cho hành lý quá trọng lượng. Khi đã vào bên trong, ông Reese được yêu cầu đến máy kiểm tra an ninh mở hành lý.

Trong mỗi vali của ông có bốn hộp cac-tông bọc hai máy tính, nhân viên an ninh đã yêu cầu ông mở một hộp và khởi động máy tính để kiểm tra. Sau đó nhân viên an ninh mở sổ ghi toàn bộ sự việc và yêu cầu ông Reese ký xác nhận. Khi nhận hành lý ở sân bay Tân Sơn Nhất ông Reese thấy một vali quá nhẹ, mở ra thì phát hiện bốn máy tính ở hành lý này đã… bốc hơi.

Không phải là chuyện nhỏ

Cả ba sự việc trên đều xuất phát từ việc gửi hành lý tại Hà Nội và đến TP. Sài Gòn thì bị mất. Như vậy lại có thêm một đầu mối nữa để nhận định “tổ chức căn cắp” đó ở đâu, thực hiện “phi vụ” vào thời gian nào. Có lẽ công việc điều tra không khó khăn lắm nếu sự việc chưa bị làm tùm lum như mấy tuần vừa qua. Cứ lặng lẽ theo dõi, chắc có thể tóm được tội phạm. Tuy nhiên, dù cho cái tổ chức ăn cắp đó có khôn ngoan đến đâu thì chúng cũng vẫn phải có chỗ tiêu thụ và còn có những manh mối khác qua những nhân viên ở các khâu làm việc bên cạnh. Việc điều tra bao giờ có kết quả thì chưa biết.

Đây là một hành động làm nhục tới danh dự của cả một nước, một dân tộc. Chắc không một người VN nào không cảm thấy bị xúc phạm khi hành khách quốc tế “báo động” cho nhau: “Hãy cẩn thận khi gửi hành lý ở Hà Nội và Sài Gòn, trộm cắp như ranh”. Và hành khách sẽ lo ngay ngáy khi buộc phải đi trên những chuyến máy bay đó. Có lẽ họ sẽ phải tự phòng thân bằng cách có bao nhiêu hàng hóa có giá trị ôm trên tay hết cho chắc ăn. Và nếu buộc phải gửi thì khi nhận lại, dù giữa phi trường cũng phải bày ra kiểm lại. Như thế thì uy tín của Hàng không VN còn là gì nữa? Nếu không nhanh chóng điều tra ra cái tổ chức trộm cắp này, chắc chắn khách du lịch sẽ né tránh xa VN vì không muốn bị mất cắp.

Đền bù như thế nào?

Trên thực tế, dù có được đền bù thì người chịu thiệt vẫn là hành khách vì khi bị mất đồ trong hành lý, các hãng hàng không căn cứ vào các qui định giữa nhà vận chuyển và hành khách để tính mức độ đền bù cho tài sản mất mát. Đền bù thiệt hại này chỉ căn cứ theo trọng lượng hao hụt và tính theo ký. Cứ mỗi Kg bị mất chỉ được đền bù 200.000 đồng VN (13 USD) chứ không tính theo giá trị hàng hóa đã mất.

Khi máy ảnh, máy vi tính và những tài sản có giá trị khác được đền bù theo trọng lượng thì hành khách coi như… mất trắng. Như trường hợp ông Reese, do thiệt hại về vật chất quá lớn (mất bốn máy tính xách tay) nên hãng Hàng không PA “thông cảm”, không đền bù theo quy định tính theo ký:13Kg =2, 6 triệu đồng VN (khoảng 165 USD). Mà đền bù cho ông hai vé khứ hồi chặng TP Sài Gòn – Hà Nội. Thôi thì đành chấp nhận cho… đỡ đau.

Có thật là an ninh tuyết đối?

Trong văn bản gửi các hãng hàng không, giám đốc Trung tâm an ninh hàng không Cụm Cảng hàng không miền Bắc Vũ Đức Huân cho biết không có dấu hiệu khả nghi nào xác định việc mất tài sản trong hành lý gửi, vì trung tâm đã bố trí nhân viên an ninh chốt chặn ở hai vị trí: khu vực đầu băng chuyền (sau khi hành lý ký gửi hoàn tất thủ tục hàng không) và khu vực cuối băng chuyền (phân loại hành lý ký gửi). Toàn bộ khu vực băng chuyền hoàn toàn khép kín, cửa cuốn luôn khóa, chỉ mở khi có hoạt động bay. Mọi đối tượng, đồ vật mang lên, xuống đều được kiểm tra giám sát chặt chẽ bằng hệ thống camera 24/24 giờ, nhân viên an ninh theo dõi và ghi vào sổ trực. Nhưng thực tế nhiều hành khách vẫn báo cáo với các hãng hàng không về trường hợp mất đồ đạc để trong hành lý ký gửi theo chuyến bay.

Như thế có nghĩa là Trung tâm an ninh hàng không cụm cảng miền Bắc VN coi như đã làm hết bổn phận, an tuyệt đối cho khách hàng? Cứ theo văn bản của ông Giám đốc Vũ Đức Huân, hành lý phải có cánh mới bay ra ngoài không trung được hoặc ít ra thì nó cũng phải biết nhảy dù. Nếu thế thì chẳng còn gì để nói. Đành phải tin rằng cứ lên đến máy bay là hành lý biết nhảy dù. Nhưng chắc là nó “nhảy dù” cùng với người đến một nơi nào đó an toàn.

Đây là lời cảnh báo cho khách hàng trên những chuyến bay ở VN. Đã không bảo đảm được giờ giấc lại không bảo đảm được hành lý thì đi máy bay là một sự hồi hộp không kém gì đi… cầu khỉ. Vị nào muốn có cảm giác mạnh thì cứ đi.

Đến chuyện đi taxi bị móc túi

Đây là chuyện không lạ, hầu hết những vị khách đi taxi ở Sài Gòn bây giờ đều có chung một tâm trạng là “mỏi mắt” vì luôn luôn phải để ý canh chừng cái đồng hồ tính tiền nhảy theo kiểu nào. Cùng một đoạn đường, nhưng taxi nhảy theo nhiều điệu khác nhau. Cứ y như các ca sĩ dự thi ở các cuộc “hội thi lên sao” vậy.

Taxi điên đâm luôn cả cảnh sát

Khi được UBND thành phố đề nghị Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 phải công bố kết quả kiểm định taximet của các doanh nghiệp. Lúc đó các cơ quan chức năng mới cho nhân dân biết. Kết quả thật đáng sợ: Trong thời gian từ 22-3 đến 25-5 cơ quan này đã kiểm định 2.130 taximet của hơn 18 doanh nghiệp (hoặc hợp tác xã) kinh doanh vận tải taxi tại TP Sài Gòn, cho thấy có khoảng 98,2% taximet không có hoặc bị đứt niêm chì kiểm định. Nó thẳng ra là có dấu hiệu của sự gian lận. Mà sự gian lận đó không phải chỉ do một anh tài, nó có sự đồng lõa của cả một hãng, một tổ chức. Nhưng nếu Cảnh sát Giao thông được giao nhiệm vụ kiểm soát thì việc khám phá ra một chiếc taxi đứt niêm chì chẳng khó khăn gì.

Ngay cả những hãng taxi lớn, không có niêm chì hoặc bị đứt niêm chì khi đưa đi kiểm định như : Mai Linh Taxi có 413/416 taximet đưa đi kiểm định; VinaSun Taxi có 394/424 taximet; Taxi VN có 124/124 taximet; HTX Vận tải dịch vụ lữ hành số 2 có 117/147 taximet…

Nhưng dù có để ý thì “thượng đế” không thể nào xác định được có bị ăn gian hay không. Dù có bị ăn gian thì cũng… đau lòng móc tiền ra trả chứ chẳng lẽ cãi lộn với anh tài xế giữa đường sao? Mà có cãi cũng thua, đôi khi còn bị “chửi”, bị đe dọa hành hung nữa là khác. Tôi cam đoan với bạn, nếu đi cùng một đoạn đường, số tiền bạn phải trả sẽ hoàn toàn khác nhau. Có khi sự khác biệt lên tới 30-40%. Nhưng cũng chẳng biết thưa kiện ở đâu, cứ đành chấp nhận bị móc túi.

Nói tóm lại đi kiểu nào cũng bị móc túi, móc hàng, móc họng. Những chuyện này tuy nhỏ nhưng nó làm xấu đi hình ảnh VN trong lòng mọi người và làm người dân VN cảm thấy xấu hổ. Chẳng biết những người có trách nhiệm có cảm thấy điều này không, hay lâu quá thành quen đi rồi, cứ coi như chuyện tất nhiên ở VN là như thế?

Văn Quang

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Bấy Giờ Em Ơi


DUYÊN ANH

Có bao giờ em hỏi
Quê hương mình ở đâu
Có bao giờ em đợi
Tháng mấy trời mưa ngâu
Có bao giờ em nói
Lời tình tự ca dao
Có bao giờ em gọi
Hồn ta về với nhau

Mùi hương nào gợi nhớ
Vườn trăng thoảng hương cau
Con diều nâu đòi gió
Gửi nhạc sáo lên cao
Nhịp võng trưa mùa hạ
Ngày xưa ru ngày sau
Thi ca trong sữa lúa
Tiểu thuyết trên lụa đào

Em, bao giờ em khóc
Ngơ ngác vì chiêm bao
Chưa kịp mê tam cúc
Xuân hồng đã trôi mau
Chưa kịp hôn môi tết
Tháng giêng sơn phấn sầu
Bây giờ em mới biết
Em đã chết từ lâu

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Nhắn gởi Việt Weekly: Làm Báo & Làm Người

Khởi Ðầu

Ngày 23 tháng 10 năm 2003, tờ Việt Weekly ra đời, khổ tabloid, 36 trang, tờ báo được nhật báo Viễn Ðông kẹp chung để phát hành vào ngày thứ Năm hằng tuần. Trong số ra mắt nầy, Thư Chủ Nhiệm, ông Lê Vũ viết: “… Chúng tôi chủ trương một nội dung thiên về “đời sống người Việt hải ngoại”. Cách thức thực hiện là đi sát với thực tế, làm tốt vai trò của báo chí là quan sát và phản ảnh một cách khách quan”. Và kết luận “Lúc nào chúng tôi cũng tìm kiếm sự cộng tác của mọi người để mãi mãi tiến bộ. Rất mong quý bạn đọc xem Việt Weekly như một bạn đồng hành hữu ích trong cuộc sống rộn rã trước mắt”.

Sở dĩ, tờ Việt Weekly được nhật báo Viễn Ðông cho phát hành chung vì tháng Ba năm 2003, ông Etcetera và vợ là Mimi Tủy Thiên về làm việc cho tờ Viễn Ðông (Tháng 6 năm 2004, vợ chồng Etcetera bị “đi chơi chỗ khác” và tờ Việt Weekly cũng tự phát hành).

Có thể xem tờ Việt Weekly là hậu thân của tờ Mimi News, ra đời vào tháng Bảy năm 2001, chỉ có 8 trang khổ 11X17”, mỗi tháng phát hành vào ngày thứ Năm do nhật báo Người Việt phát kèm nhưng gần một năm vẫn ì xèo, không có quảng cáo nên bỏ cuộc. Tở VW số 29, ra ngày 15 tháng 7 năm 2004, Etcetera viết bài “Tôi “bị” ông Ðỗ Ngọc Yến… Xúi làm báo”, ông đề cập: “Năm 1997, tôi còn lo tơ mơ với công việc báo chí. Chỉ thích vẽ minh họa, vẽ hí họa cho một tạp chí sinh viên. Năm 1999, khi vụ Trần Trường nổ ra, tôi đã vẽ một bức hí họa đầu tiên phê phán sự kiện nầy, nhắm vào ông Trần Trường… Sau khi vẽ bức tranh tranh đó, tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt (trụ sở cũ) để xin được đăng tranh…”. Ông Ðỗ Ngọc Yến liếc qua bức tranh, khen được, và hỏi còn nữa không? “Hai hôm sau, tôi mang đến mấy tấm nữa, cũng về đề tài Trần Trường”. Sau đó, Etcetera được nhận phụ trách phần hí họa trong nhật báo Người Việt.

Với tờ Việt Weekly, chủ nhiệm: Lê Vũ, chủ bút: Mimi Tưởng (Mimi Thủy Tiên) và tổng thư ký: Etcetera. Tuy cả ba đều chưa trải qua trường lớp báo chí nào nhưng có lẽ “yêu nghề báo” nên dấn thân, thiếu kinh nghiệm và khả năng, nếu không có sự “dựa dẫm” tờ báo nào để phát hành thì khó tồn tại ngay ở bước đầu.

Nhìn lại báo chí Việt ngữ ở hải ngoại nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, những người dấn thân trong công việc nầy đã lớn tuổi. Khi thấy giới trẻ “xông xáo” bước vào lãnh vực nầy, đáng khuyến khích. Vì vậy khi thấy tờ Việt Weekly ra đời, với bản thân người viết, biết được thành phần nhân sự: – Chủ nhiệm là Lê Vũ (Lê Cẩm Thạch) con của ông Lê Cẩm Khoán, nhân sỹ trong hội Tây Sơn Bình Ðịnh, – Chủ bút Mimi Tưởng (Mimi Thủy Tiên, con của nhà giáo ở Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương Ðà Lạt, cháu của cây bút chống Cộng sắc bén là Tưởng Năng Tiến (cậu ruột), – Etcetera (Nguyễn Quang Trường) con của ông Nguyễn Ngọc Bích, cựu Sĩ quan, cựu tù nhân chính trị… tôi cảm thấy vui vui. Etcetera với nhiều bức hí họa đã in thành sách Họa Etcetera, lên án chế độ Cộng Sản độc tài, dã man… nhất là hình ảnh Hồ Chí Minh qua nét vẽ trở thành tên hề, quái vật, bợm trợn, độc tài, láu cá, gian ác, đầy thủ đoạn… lên án những kẻ tay sai cho Sộng Sản

Thế nhưng! nửa năm sau, đã thất vọng khi xem tờ Việt Weekly và càng ngày càng thấy tởm!

Trở Mặt

Như đã đề cập ở trên, nội dung thiên về “đời sống người Việt hải ngoại” nhưng chụp hình và phỏng vấn vài ba người “lông bông lêu bêu”, xoay đi xoay lại với những cặn bã trong đời sống để tạo sự hiếu kỳ và có ý “dằn mặt” đối thủ nào phản bác để đừng đụng chạm đến tờ báo.

Etcetera lúc nào cũng đề cập đến 3 sư phụ là Ðỗ Ngọc Yến, Lâm Tường Dũ và Tuyết Sỹ. Về nhân cách và khả năng trong làng báo Việt ngữ, trong nghề ai cũng biết LTD và TS và cảm thấy “thầy nào trò đó” nhưng với Ðỗ Ngọc Yến là người đưa Etcetera vào làm tờ Người Việt và đỡ đầu nên nhiều người cũng hơi ngạc nhiên. Ông là sáng lập viên và cũng là linh hồn của tờ nhật báo nầy. Tình nghĩa thầy trò như vậy, thế mà đệ tử chụp bức hình tay cầm tờ báo Người Việt, tay bịt mũi! Khi xem bức hình đó, tôi không biết dùng chữ nào để nói về cái đạo lý làm người. Ông bạn bên cạnh liếc thấy và phán ngay “đồ mất dạy”.

Nói như ông Vũ Công Lý “bọn nầy ngựa non háu đá” nhưng không thể xấc xược, vô lễ với những bậc cha, ông một cách lỗ mãng với những chữ hạ cấp khi viết trong trang báo.

Khi Việt Weekly rêu ra sẽ đặt 500 thùng báo để phổ biến rộng rãi ở Nam Cali nhưng qua mấy năm, chẳng thấy có thùng báo nào cả. Sau khi về VN, tháng 12 năm 2006 “nổ” sẽ ra tờ nhật báo nhưng gần nửa năm rồi, có lẽ cũng mang số phận như 500 thùng báo?

Nếu điểm lại những số báo của Việt Weekly cũng đoán được chủ nhiệm Lê Vũ không biết gì về nội dung bài vở trước khi chuyển cho nhà in. Ðọc Thư Tòa Soạn, nếu có bài nào của Lê Vũ mới có gợi ý, có nhiều bài cũ từ trang web được tự ý trích để tạo “diễn đàn” nếu chủ nhiệm biết sẽ khôn khéo đề cập rồi. Vì vậy khi sự việc bị “bể”, lê Vũ phải chống chế nhưng vụng về chỉ lấy quyền tự do ngôn luận để quanh co.

Hình ảnh Etcetera qua những bức hí họa chống Cộng ngày nào đã biến mất để lộ diện những bài viết đả kích những người có tinh thần chống Cộng thảo nào có lời khen của Tôn Nữ Thị Ninh về tờ Việt Weekly. Có lẽ được “chân trong chân ngoài” nên khi về Việt Nam trong dịp hội nghị APEC, Việt Weekly được phỏng vấn Võ Văn Kiệt và những bức hình đó đăng tới đăng lui vừa “kiếm điểm” Cộng Sản vừa “khiếu khích” những người chống Cộng.

Cấp lãnh đạo và đảng viên lúc nào cũng tôn thờ Hồ Chí Minh; trong nước, nếu có ai xúc phạm đến “bác” sẽ bị tù ngay như đã từng diễn ra trong quá khứ, thế mà Võ Văn Kiệt tiếp chuyện với “kẻ chà đạp, khinh bỉ lãnh tụ của ông” thế mới kỳ quặc. Một, ông cảm thấy “chà đạp” là đúng; hai, ông không biết gì cả vì “đàn em nằm vùng hải ngoại” không báo cáo để khi được phát hiện thì “bé cái lầm”! Bộ Chính Trị nên mua tập hí họa của Etcetera nầy đưa cho Võ Văn Kiệt xem và làm “bản kiểm điểm”. Ðộng cơ nào thúc đẩy, “thành thật khai báo”!

Nầy nhé, phải “nói có sách, mách có chứng”, trong quyển Họa Etcetera dày 436 trang, ấn hành năm 2000, ngay trang đầu (trang 19) hình Hồ Chí Minh trông thật gian manh với câu nói “… cái Tự Do Ngôn luận đâu có trong đầu tao”. Ðơn cử vài trang với chân dung HCM: 20, 21, 28, 35, 37… mặt chuột, mặt dơi trông dị hợm, trang 31 hình HCM với câu “một thằng già trong công viên (Ba Ðình)”… trang 240, 242, 243… trang 239 với hình ảnh HCM như ác quỷ với chữ “Sinh nhật Ác Hồ”, trang 235 thì HCM trông thật dâm đãng ôm hai bà với dòng chủ “Minh Khai và A Vàng”… trang 244 hình HCM đầu trâu với 2 cái sừng cong, mặt có vòi, trông như con quái vật! Về tự do ngôn luận, trang 27 trông rất thú vị với dòng chủ “Tống ngay nó về CS đặng đòi tự do ngôn luận”…

Nếu Võ Văn Kiệt “chịu chơi” với đám Việt Weekly nầy thì nên ấn hành quyển Họa Etcetera nhằm thể hiện tự do dân chủ, tự do báo chí như thế đó.

Ngoài sư phụ Ðỗ Ngọc Yến, cho phụ trách trang hí họa trên tờ Người Việt, cho tiền để ra tờ Mimi News, khi qua đời, cho garage sách của ông… vợ, con còn giữ vai trò nòng cốt trong tờ Người Việt thế mà đệ tử phản thùng. Nhà báo lão thành Anh Tâm Nguyễn Thành Mỹ cùng vợ là Phan Anh Thư ở Fresno xuống buôn bán trái cây ở Little Saigon, giúp đỡ rất nhiều trong thời gian đầu VW sống thoi thóp, nhận làm nghĩa phụ Etcetera thế mà trong buổi bà vợ tổ chức sinh nhật của ông Việt Weekly bất ngờ biến thành kỷ niệm ngày ra đời tờ báo. Ông bà giận quá, mắng nỏ, về lại Fresno, ông tức quá nên bị đứt gân máu, phải đưa đi cấp cứu, bị liệt và nằm liệt từ năm 2005 đến nay.

Với Lê Vũ, kỹ sư điện toán, làm báo muốn trở thành một “lý thuyết gia” để biện bạch cho đường lối “tự do báo chí” nhưng qua những luận cứ đã được đề cập, hình như chưa được am tường. Lê Vũ giữ được nhân cách của người trẻ làm báo nhưng không có khả năng lo hết bài vở nên Etcetera bao trọn gói do đó, tờ VW mới trở thành lá cải, đánh phá, châm chọc rẻ tiền. Trước đây có vài trang English Section để bạn trẻ đọc nhưng cũng không ra gì nên phải dẹp.

Tự Do Báo Chí và Luật Mạ Lỵ

Trong bốn năm qua, tờ VW đề cập đến đời tư cá nhân nhiều người. Nhiều người cho rằng tờ báo nầy lợi dụng quyền tự do báo chí và vi phạm luật pháp về tội mạ lỵ, đó chỉ là ý kiền còn đúng hay sai khi đưa ra pháp luật phán xét mới biết được.

Nhận thấy bài nầy rất hữu ích nên xin trích nguyên văn bài viết của LS Nguyễn Quốc Lân với tựa đề “Tự do ngôn luận: Luật mạ lỵ” trong mục Pháp Luật và Ðời Sống trên nhật báo Người Việt, ra ngày 11 tháng Giêng năm 1995.

“Tự do ngôn luận là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong xã hội dân chủ. Tu Chính Án Thứ Nhất (First Amendment) của Hiến Pháp Hoa Kỳ ngăn cấm chính phủ không được có những hành động nào xâm phạm đến quyền tự do ngôn luận hay tự do báo chí của người dân. Những hành động của chính phủ bao gồm ban hành những luật lệ hay sử dụng hệ thống tòa án để xét xử những tranh chấp giữa các thành viên trong xã hội.

Như hầu hết mọi quyền tự do khác, tự do ngôn luận cũng có nhiều giới hạn trong pháp luật. Mặc dù tự do ngôn luận là một đặc quyền căn bản trong một thể chế dân chủ, luật pháp Hoa Kỳ cũng luôn cân nhắc đặc quyền nầy với những ưu tiên khác trong xã hội như trật tự an ninh quốc gia hay sự xâm phạm đến danh dự cá nhân hay cuộc sống an lành của những thành viên khác trong xã hội.

1.- Giới hạn của tự do ngôn luận

Tự do ngôn luận trong Hiến Pháp Hoa Kỳ không áp dụng đối với một số loại ngôn từ có tính cách nguy hại đến xã hội như:

a.- Những ngôn từ có thể trực tiếp gây xáo trộn trật tự hay an ninh xã hội (clear and present danger of imminent lawlessness). Ðây là loại ngôn từ tương tự như kêu gọi mọi người ném đá vào xe đi trên đường, tự động hô to và có lửa cháy trong rạp hát đang có đông người để đùa cợt, hay tiết lộ bí mật quốc phòng.

b.- Nhũng ngôn từ chửi bới có thể gây ra sự tức giận hay trả đũa bạo động bởi người nghe (figthting words). Ðây thường là những câu văn tục hay kỳ thị bởi một người nào đó.

c.- Những ngôn từ hay tài liệu có tính cách khiêu dâm và không có giá trị về văn chương, nghệ thuật chính trị, khoa học hay xã hội (obscenity). Ðây thường là những báo chí hay phim ảnh thuộc loại khiêu dâm dành cho người lớn.

d.- Quảng cáo sai sự thật hay đánh lừa khách hàng (false or deeptive advertising). Chính phủ có quyền đặt ra những điều luật để kiểm soát tiêu chuẩn quảng cáo thương mại.

e.- Những trường hợp đặc biệt cần thiết cho an ninh quốc gia như phổ biến tin tức trong chiến tranh, những ngôn từ kỳ thị chủng tộc hay tôn giáo.

f.- Những ngôn từ có tinh cách nói xấu, mạ lỵ hay phỉ báng người khác (defamation). Danh từ mạ lỵ có hai loại là (1) câu nói miệng (slander), và (2) câu nói thành văn hay viết ra trên giấy (libel). Cả hai đều có tiêu chuẩn pháp luật tương tự.

2.- Ngôn từ mạ lỵ hay phỉ báng (defamation)

Ngôn từ mạ lỵ là những lời tuyên bố sai sự thật về một người hay tổ chức nào đó mà có gây thiệt hại đến người bị liệng hệ. Muốn chứng minh một lời nói có mạ lỵ hay không, nạn nhân phải chứng minh được nhiều yếu tố khác nhau.

a.- Sai sự thật

Ngôn từ mạ lỵ phải là một lời tuyên bố về sự thật (statement of fact) chứ không phải phản ảnh những quan điểm, nhận xét hay phê bình (opinion). Ví dụ câu nói “ông A mới ăn cướp nhà hàng” là một lời tuyên bố có tính cách sự thật trong khi câu nói “ông A trông giống như một người ăn cướp nhà hàng” chỉ là câu nói có tính cách nhận xét.

Muốn chứng minh câu nói “ông A vừa mới ăn cướp nhà hàng” là sai sự thật thì chỉ còn có thể được vì chỉ cần chứng minh ông A có ăn cướp nhà hàng hay không mà thôi. Còn chứng minh câu “ông A trông giống như một người ăn cướp nhà hàng” là sai sự thật là một việc rất khó. Người bị mạ lỵ phải chứng minh được rằng câu tuyên bố liên hệ là sai sự thật thì mới có thể thắng kiện được.

b.- Ðối với những nhân vật của cong cộng (public figure)

Nếu nạn nhân là những nhân vật công cộng (public figure), tiêu chuẩn chứng minh các câu nói mạ lỵ chống lại mình khó khăn hơn những người khác. Muốn chứng minh một câu nói mạ lỵ, những nhân vật công cộng nầy phải chứng minh được là người phát ngôn các câu nói mạ lỵ biết rằng lời tuyên bố của mình là đúng hay sai sự thật. Nạn nhân phải chứng minh được rằng người phát ngôn lời nói mạ lỵ thật sự nghi ngờ về sự thật của câu phát biểu của mình nhưng vẫn có ý phát biểu mà không cần điều tra để tìm hiểu thêm về sự thật.

Những nhân vật công cộng nầy là những người nổi tiếng trong cộng đồng và tự lao mình vào các sinh hoạt hay tranh luận trong cộng đồng. Ðây là một tiêu chuẩn rất quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định kết quả, trong các vụ kiện liên quan đến các câu nói mạ lỵ.

c.- Ðối với những người riêng tư (private persons)

Ðối với những người không phải là nhân vật công cộng, họ chỉ cần chứng minh là người phát ngôn những câu nói mạ lỵ đã bất cẩn (negligent) vì không tìm hiểu thêm sự thật của lời tuyên bố của mình. Nếu chứng minh được sự bất cẩn nầy, nạn nhân có thể được bồi thường những thiệt hại thật sự (actual damage) như thiệt hại về tái chánh (economie losses), uy tín (reputation) hay nhục mạ cá nhân (personal humilitation).

Nếu những nạn nhân không phải là nhân vật công cộng chứng minh thêm được rằng người mạ lỵ biết rằng những lời tuyên bố của họ là sai hay cố ý tuyên bố mà không cần đếm xỉa gì đến đúng hay sai thì nạn nhân có thể được bồi thường thêm những thiệt hại tự động (presumed damages). Ðây là tiêu chuẩn khó chứng minh hơn và thường chỉ áp dụng trong trường hợp mạ lỵ mạ lỵ đối với những nhân vật cộng đồng mà thôi.

3.- Kết luận

Tự do ngôn luận la một đóa hoa đẹp trong một thể chế dân chủ, thế nhưng đây cũng có thể là một thất bại trong xã hội nếu người dân không biết tôn trọng đúng mức. Ðó là một cái gì mà xã hội cần phải chấp nhận để bảo toàn ý nghĩa của một quyền hiến pháp căn bản nhất: quyền tự do ngôn luận”. LS Nguyễn Quốc Lân

Bài viết của LS Nguyễn Quốc Lân cho thấy những điểm chính trọng về vấn đề mạ lỵ. Nếu người làm báo mà đi theo con đường tà đạo, không am tường luật pháp để dùng thủ thuật mượn lời người khác như phỏng vấn với chủ tâm bôi nhọ người khác để đăng báo phổ biến trước công chúng, cá nhân người được phỏng vấn và tờ báo đều bị trách nhiệm khi vi phạm.

Việt Weekly thân Cộng hay không?

Ðặt câu hỏi với Lê Vũ và Etcetera có “thân Cộng hay không”? dĩ nhiên đương sự trả lời không. Và nếu hỏi cán bộ Cộng Sản đặc trách vai trò truyền thông hải ngoại có đầu tư cho tờ VW làm công cụ tuyên truyền không, sẽ nhận câu trả lời không.

Qua đài truyền hình VTV4 phát hình trên khắp nơi ở hải ngoại, chủ trương bây giờ nhằm kêu gọi Việt kiều là “nắm ruột ngàn dặm” để thăm quê và đầu tư làm ăn. Không có chương trình nào đánh phá, bài xích cộng đồng người Việt hải ngoại để gây sự hận thù và đào hố sâu chia rẽ.

Nếu Cộng Sản muốn “đầu tư” cho tờ báo nào thì tờ báo đó phải đứng đắn, có ảnh hưởng mạnh trong cộng đồng người Việt, có những cây bút tên tuổi, có khả năng lèo lái xoay chiều rất tinh vi để thẩm thấu lòng người với tình tự dân tộc. Tờ báo phải được cảm tình với hội đoàn, đoàn thể, đồng hương để từ từ dẫn dắt con đường nhìn về tương lai của dân tộc đã trải qua bao năm gian khổ, đói nghèo… cùng nhau xây dựng lại.

Tờ VW không có cây bút đứng đắn, tên tuổi nào cộng tác, với những bài vở lèm bèm, xoay đi xoay lại với vài cây bút, nếu viết thì chẳng có tờ báo nào đăng. Ðâm bên nầy, thọt bên kia chỉ gây sự tò mò hạ cấp, không chiếm được cảm tình với đồng hương. Vì vậy, nếu CS chỉ sử dụng thì chỉ chi như “bài cậy đăng” có tính cách giai đoan mà thôi.

Trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nhà nước CSVN, vừa qua, trước khi đi VN hy vọng sẽ có những ký kết hợp đồng thương mại với Hoa Kỳ khoảng 4 tỷ Mỹ kim nhưng theo bản tin trên trang web của chính phủ CS ngày 25 tháng 6 “Tổng giá trị các thỏa thuận, hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp hai nước trong chuyến thăm lần này đạt trên 11 tỷ USD” vì vậy vấn đề kêu gọi Việt kiều đầu tư sẽ vào hàng thứ yếu trong kế hoạch chiêu dụ Việt kiều.

Nếu cần tuyên truyền thì nhiều tờ báo và trang web trong nước đã phổ biến, tờ VW nếu có phỏng vấn thì cũng Nguyễn Cao Kỳ hay vài nhân vật điếu đóm nhăng cuội cho vui mà thôi.

VW thường hay rêu rao số lượng phát hành, nhìn vào 500 thùng báo “vẽ” thì cũng biết thật hư. Tháng Sáu năm 2005, VW mới bán 50 cent, nếu in thêm 1000 số thì số tiền vào khoảng 300 đến 350 Mỹ kim, nếu bỏ cho các cơ sở thương mại để bán thì chỉ 25 đến 35 cent, làm con số cộng trừ thì biết. Tờ báo sống nhờ quảng cáo, với tuần báo dày 120 trang, quảng cáo không được bao nhiêu thế mà đòi “mua” tờ nhật báo nầy, nhật báo kia hàng triệu Mỹ kim… thấy đăng trên báo mà buồn cười.

Còn nhiều chuyện để nói nhưng sẽ vo đầu gối mà lai rai

Kết

Nhật báo Viễn Ðông, số ra ngày thư Bảy 23 tháng 6 năm 2007, đăng bài viết “Toan Ánh và hơn 70 năm cầm bút”. Năm nay, ông đã 96 tuổi, là vị thầy khả kính thỉnh giảng các trường đại học Huế, Sài Gòn, Ðà Lạt… là nhà văn có trên 120 tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm đề cao về phong tục tập quán, đạo lý, nhân cách, thờ cúng tổ tiên… rất quý báu. Với thiên chức của nhà giáo và người cầm bút, ông có lời khuyên với giới trẻ: “Thời nay, đã cầm bút thì phải viết vì sự thật, vì lẽ phải và vì cái đẹp”. Phải lấy lời khuyên của ông để làm điều tâm niệm khi cầm bút: Sự Thật – Lẽ Phải và Cái Ðẹp.

Làm báo không khó, giữ được nhân cách và lòng tự trọng của người làm báo mới là điều khó, cần học hỏi tính khiêm nhượng và khả năng của người đi trước. Ngựa non háu đá thì cũng có ngày bị hồi mã thương.

Ðại Nghĩa
Nam Cali, June 25-07

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Con số 100 triệu nạn nhân

Vừa qua, lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Các Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial) đã được tổ chức long trọng tại Washington DC. Đài tưởng niệm này tọa lạc ở ngả tư đại lộ Massachusetts và đại lộ New Jersey, gần Điện Capitol, tức trụ sở Quốc Hội Mỹ. Phần chính của tượng đài là mô hình một pho tượng Nữ Thần Dân Chủ bằng đồng cao 10 feet do điêu khắc gia Thomas Marsh thực hiện theo mẫu tượng mà những người biểu tình đòi tự do dân chủ ở Trung Quốc đã dựng lên trong cuộc biểu tình tại Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989. Đây cũng là pho tượng đã được mô phỏng theo Tượng Nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ ở New York.

Các nhà lãnh đạo Quốc Hội Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao, các nhà lãnh đạo quốc hội từ các quốc gia cộng sản cũ, những người còn sống sót dưới chế độ bạo tàn của Cộng Sản Trung Hoa và các nước khác, lãnh tụ các sắc tộc và những người đã góp phần vào việc xây dựng tượng đài đều đến tham dự. Khoảng 200 người Việt ở vùng lân cận như Washington DC, Virginia và Maryland, hầu hết là nạn nhân CSVN, cũng có mặt. Người Việt tỵ nạn đã đóng góp một phần vào công tác xây dựng này.

Đây là một buổi lễ rất cảm động và nhắc nhở mọi người nhớ đến một sự kiện lịch sử mà nhân loại không bao giờ quên được, đó là sự tàn bạo của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin ghi lại dưới đây một số vụ giết chốc bạo tàn chính đã xẩy ra dưới các chế độ cộng sản và những con số nạn nhân được ước lượng.

Đi tìm co đường chính xác

Bốn nhân vật chính phát biểu trong buổi lể này là Đức Tổng Giám Mục Pietro Sambi, Sứ Thần Tòa Thánh (Apostolic Nuncio) tại Hoa Kỳ, ông Dana Rohrabacher, Dân Biểu liên bang của California, một trong những tác giả của dự luật xây dựng tượng đài này; Dân Biểm Tom Lantos, sinh tại Budapest, Hungary, người sống sót duy nhất của Holocaust, và Tổng Thống Bush là người thuyết trình chính.

Mở đầu, Đức TGM Pietro Sambi đã đọc lời cầu nguyện (invocation). Ngài nói: “Chúng ta có bổn phận phải nhớ đến những người đã chết vì Chủ Nghĩa Cộng Sản, mặc dầu chúng ta không thể nào biết hết danh tánh của họ, nhưng chắc chắn Chúa Jesus biết trên 100 triệu người đã chết vì chủ nghĩa phi nhân này.”

Tiếp đến, Dân Biểu Dana Rohrabacher nhắc lại: “Đúng 20 năm trước, vào ngày 12.6.1987, Tổng Thống Reagan đã nói với nhà lãnh đạo cộng sản Liên Sô Gorbachev rằng hãy phá bỏ bức tường ngăn chia Đông và Tây Đức. Hôm nay chúng ta cùng nhau tưởng nhớ 100 triệu nạn nhân cộng sản và cùng nhau nhớ đến vị tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ Ronald Reagan đã có công gây nên sự sụp đổ của khối cộng sản trên thế giới.”

Dân Biểu liên bang Tom Lantos tuyên bố rằng chúng ta không còn muốn thấy bất cứ nạn nhân nào của Chế Độ Cộng Sản xuất hiện trên địa cầu này. Chế Độ Cộng Sản không bao giờ có cơ hội chiếm ưu thế nữa. Ông nói ông được vinh dự làm việc để đem lại việc thừa nhận rằng làn sóng tương lai sẽ không phải là Một Nữ Thần Cộng Sản hay Hồi Giáo quá khích, nhưng là các xã hội tự do và dân chủ.

Lúc 10 giờ 35 phút, Tổng Thống Bush đã đến đọc một bài diển văn ngắn nhưng đầy ý nghĩa. Sau đây là một đoạn chính:

“Thế kỷ 20 sẽ dược ghi nhớ như là một thế kỷ có nhiều chết chốc nhất trong lịch sử nhân loại. Và hồ sơ của thời đại bạo tàn này được ghi nhớ tại các đài tưởng niệm ở bên kia thành phố này. Cho đến nay Thủ Đô của Quốc Gia chúng ta chưa có đài tưởng niệm các nạn nhân của Chủ Chủ Nghĩa Cộng Sản thống trị, một ý thức hệ đã lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu người đàn ông, đàn bà và trẻ con vô tội. Vậy việc chúng ta họp lại với nhau để tưởng nhờ những người đã chết do các bàn tay của Cộng Sản là điều thích hợp, và dành đài tưởng niệm này để trân trọng sự đau khổ và hy sinh của họ trong lương tâm của thế giới.”

Tổng Thống nhấn mạnh rằng con số chính xác các nạn nhân Cộng Sản này sẽ không bao giờ biết được. Ông nói: “Theo sự ước tính uyên bác nhất, Cộng Sản đã giết hàng chục triệu người ở Trung Quốc và Sô Viết, hàng triệu người ở Bắc Hàn, Cam-bốt, Phi Châu, Afghanistant, Việt Nam, Đông Âu và các phần khác của địa cầu.”

Như vậy, ba nhân vật chủ chốt trong buổi lễ là Đức TGM Pietro Sambi, Tổng Thống Bush và Dân biểu Dana Rohrabacher đều cùng ước tính rằng số nạn nhân của Cộng Sản trên toàn thế giới gồm khoảng 100 triệu người. Nhưng xướng ngôn viên là ông James Robert của đài Radio America có lưu ý: “Có người cho rằng một người chết, một trăm người chết thì họ là những nạn nhân; nhưng 100 triệu người chết thì đó chỉ là con số thống kê. Chúng phải luôn nhắc nhở mọi người để sao cho 100 triệu người đã chết vì Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ không bị quên lãng như những con số thống kê.”

Căn cứ vào đâu để các nhân vật nói trên đã đưa ra con số 100 triệu nạn nhân? Những nơi nào và dưới triều đại nào đã xẩy ra những vụ tàn sát lớn nhất? Đi vào các chi tiết này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn phương pháp của Cộng Sản.

Tuy nhiên, trươc khi trình bày về tội ác của Cộng Sản trên thế giới, chúng tôi xin nói qua về công trình xây đài tưởng niệm nói trên.

Công trình xây dựng tượng đài:

Việc xây dựng Đài Tưởng Niệm các Nạn Nhân Cộng Sản đã được nhiều sắc tộc di dân từ các nước cộng sản đến định cư tại Hoa Kỳ đề nghị. Sau đó Dân Biểu Dana Rohrabacher, Nghị Sĩ Claiborne Pell, và Nghị Sĩ Jesse Helms đã đệ nạp dự luật Xây Dựng Tượng Đài Các Nạn Nhân Cộng Sản mang số HR 3000. Dự luật này khi được biểu quyết thành luật đã trở thành Điều 905 của Luật The Public Law 103-199, được đồng thanh thông qua 17.12.1993 và đã được Tổng Thống Clinton ký ban hành.

Đạo Luật The Public Law cho phép The National Captive Nations Committee, Inc. xây dựng, duy trì và hoạt động trong vùng Thủ Đô Wahington DC.

Vì Quốc Hội không chịu đài thọ ngân khoản cho việc xây dựng tượng đài nên “Quỹ Đài Tưỡng Niện Các Nạn Nhân Cộng Sản” (The Victims of Communism Memorial Foundation) đã được thành lập dưới hình thức một hội bất lợi (non-profit organization) và theo Đạo Luật nói trên của Quốc Hội. Tiến Sĩ Lee Edwards được bầu làm chủ tịch. Mục đích của Quỹ này là để xây một tượng đài tưởng niệm ở Washington DC để tưởng nhớ hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản, để vinh danh những người đã kháng cự lại cộng sản có kết quả, và để giáo dục cho các thế hệ hiện tại và tương lai về tội ác của Cộng Sản đối với nhân loại.

Tiến sĩ Lee Edward cho biết chi phí xây dựng tượng đài do các cộng đồng di dân tại Hoa Kỳ đóng góp, bao gồm các sắc dân vùng Baltic như Latvia, Lithuania, Estonia cũng như Trung hoa và Việt Nam. Ngoài ra, các chính phủ Đài Loan, Tiệp Khắc, Ba Lan và ba nước Baltic cũng góp phần.

Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã quyên góp được hơn 33.000 USD và nhờ sự yểm trợ của các cộng đồng bạn, số tiền đó đạt tới trên 66.000 USD và được chuyển ngay đến Quỹ Đài Tưởng Niệm.

Cuối năm 2005, ông Lee Edward nói rằng nếu có đủ số tiền 650.000 USD, việc khởi công có thể bắt đầu tiến hành vào mùa xuân năm 2006 và công trình này sẽ hoàn thành trong vòng 6 tháng sau đó. Nhưng rồi phải đến ngày 28.9.2006, lễ khởi công xây dựng tượng đài mới được cử hành. Số tiền đóng góp về sau lên gần một triệu đô la.

Trong lể khởi công, Tiến sĩ Lee Edwards tuyên bố đài tưởng niệm được xây dựng để nhớ đến hơn 100 triệu nạn nhân bao gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em đã chết tại 25 quốc gia trên khắp thế giới trong thế kỷ vừa qua. Ông cho biết: “Mặt trước bệ tượng đài sẽ là hàng chữ: “Cho hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản và cho tất cả những ai yêu chuộng tự do”, còn mặt sau của bệ là hàng chữ: “Cho tự do và độc lập của các quốc gia và dân tộc bị giam hãm.”

Tiến sĩ Lee Edwards nói rằng những người đóng góp xây dựng tượng đài đã nghe thấy lời kêu than của hằng hà sa số con người bị giết vì tội danh gọi là “kẻ thù của nhân dân”, lời kêu than của vợ hay chồng những người bị tống vào trại lao cải vô thời hạn chỉ vì thuộc gia đình đáng ngờ vực về chính trị. Đó cũng là tiếng kêu than của các trẻ mồ côi, của những họ hàng thân thích như cô chú, anh chị em không dám nhận mối quan hệ với nhau chỉ vì sợ sẽ bị đưa vào trại tập trung như người thân. Ông nói tiếp:

“Bằng những ngôn ngữ khác nhau và từ khắp nơi trên thế giới, họ luôn luôn kêu gào, đừng quên chúng tôi, đừng quên chúng tôi. (Vì thế mà) chúng ta không thể, chúng ta không được phép, và chúng ta quyết không quên những ai đã chết và cả những ai đang chết vì chủ nghĩa Cộng sản.”

Bà Paula Dobriansky, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, nói rằng cái chết của nạn nhân tại các nước Cộng sản là hậu quả trực tiếp và thường là cố tình của các quyết định mà giới lãnh đạo ban hành. Bà nhấn mạnh rằng tượng đài tưởng nhớ này sẽ tồn tại lâu hơn là đời sống của những người xây dựng nó: “Nó sẽ nói với các thế hệ sau về những lầm than mà chủ nghĩa Cộng sản đã gây nên, về những cố gắng tập thể để chống lại chủ nghĩa ấy cũng như nội lực mạnh mẽ của những người từng là nạn nhân của chủ nghĩa ấy, nhưng đã chiến thắng được nó.”

Bà Dobriansky nói thêm rằng sự sụp đổ của các nước Cộng sản Đông Âu cuối thế kỷ trước phải được coi là chiến thắng của tinh thần con người. Đó cũng là chỉ dấu cho thấy rằng tinh thần con người luôn toả sáng cho dù có bị đầy đọa và phá hủy.

Thẩm định tội ác cộng sản:

Chúng ta nhớ lại, hôm 25.1.2006, Nghị Viện Âu Châu đã họp tại thành phố Strasbourg ở miền đông bắc nước Pháp, đưa ra Nghị Quyết số 1481 với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân quyền tập thể.

Điều 2 của Nghị Quyết tuyên bố rằng những chế độ cộng sản toàn trị từng cai trị ở Trung Âu và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả không loại trừ, có đặc điểm là vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những hành vi sau đây:

– Ám sát và hành quyết cá nhân hay tập thể, gây chết chốc trong các trại tập trung, để cho chết đói, đày ải, tra tấn, bắt buộc lao động nô lệ, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể,

– Ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo.

– Vi phạm các quyền tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu và tự do báo chí, ngoài ra còn thiếu vắng đa nguyên về chính trị.

Điều 5 của Nghị Quyết nói đến việc cần thiết phải điều tra, truy tố và đưa những người vi phạm ra xét xử.

Trong cuốn “Death by Government” (Chết do Chính Phủ), Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa học chính trị tại Đại Học Yale và Đại Học Hawaii, đã liệt kê những chế độ sau đây vào 10 chế độ gây chết chốc nhất (most murderous regimes) trong thế kỷ 20, đó là: Liên bang Soviet, Cộng Sản Trung Hoa, Đức Quốc Xã, chế độ Quân Phiệt Nhật, Cam-bốt dưới thời Khmer Đỏ, Thổ Nhỉ Kỳ dưới thời Young Turks, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Ba Lan và Pakistan dưới thời Yahya Khan.

Giáo sư R.J. Rummel cũng đã liệt kê số nạn nhân bị sát hại trong thế kỷ 20 như sau:

61.911.000 bị chết trong các trại tù Gulag của Liên Bang Xô Viết.
35.236.000 bị chết dưới chế độ cộng sản Trung Quốc.
20.946.000 bị chết vì chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã.
5.964.000 bị chết dưới thời Quân Phiệt Nhật.
2.035.000 bị chết dưới thời Khmer Đỏ.
1.883.000 bị chết dưới chề độ diệt chủng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
1.670.000 bị chết vì cuộc chiến Việt Nam.
1.585.000 bị chết do nạn thanh lọc chủng tộc tại Ba Lan.
1.503.000 bị chết trong thời Young Turks.
1.072.000 bị chết dưới chế độ Tito.

Sau đây là phần tóm lược về tội ác của một số lãnh tụ cộng sản lớn của thế giới:

I.- SƯ TÀN ÁC CỦA LÉNIN: Trường hợp của Liên Sô được coi là trường hợp điển hình nhất của tội ác chống nhân loại của chủ nghĩa cộng sản: Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, Vladimir Lénin lật đổ chế độ quân chủ ở Nga và thành lập Liên bang Xô Viết gồm Nga và 14 nước láng giềng. Từ đó dân Nga phải sống dưới một chế độ cùng khốn.

Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các hồ sơ mật lấy từ Văn Khố Cộng Sản Xô Viết cho biết Vladimir I. Lenin là một lãnh tụ đồ tể gian ác, giết người không gớm tay.

Trong bài “Lenin paints himself black with his own words” (Lenin tự tô đen mình bằng chính ngôn ngữ của mình) đăng trên tờ New York Times, ký giả Richard Bernstein viết:

“Chính trong khoảng thời gian 1917-1922, khi Vladimir I. Lenin lưu vong trở về Trạm Finland ở St. Petersburg, ông ta bị tật nguyền vì vỡ mạch máu, ông ta đã thi hành quyền lực chuyên chế bạo ngược trên toàn Liên Xô, dẫn đầu cho những tiêu chuẩn toàn kiểm trong thế kỷ thứ 20”.

Ký giả Richard Bernstein cho biết các hồ sơ mật cho thấy lãnh tụ Bolshevik Lenin là một người hung hiểm đáng khiếp sợ. Lenin bí mật ra lệnh cho thuộc hạ tổ chức hàng loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu và quy mô, treo cổ hàng trăm địa chủ trước nhân dân, cướp đoạt tài sản của Giáo Hội Chính Thống Nga, tàn sát giai cấp tư sản và các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Trong quyển “The Unknown Lenin”, ông Richard Pipes, Giáo sư Sử Học Nga thuộc Đại Học Harvard, ghi nhận rằng yếu tố lạnh người nhất là Lenin đã ra lệnh “tạo sự kinh hoàng” trong quần chúng trên toàn quốc. Hồi đầu tháng 9.1918, Lénin viết: “Cần thiết và khẩn cấp chuẩn bị cho sự kinh hoàng, một cách bí mật”. Tháng 8 năm 1918, Lénin chỉ thị cho bọn cầm quyền tỉnh Penza phải treo cổ ít nhất 100 người, một cách công khai. Lénin truyền lệnh: “Hãy thực hiện chuyện này bằng một phương cách mà người ta sẽ thấy, từ xa hàng trăm dặm, run sợ, biết đến, và gào thét. Họ bị treo cổ, và sẽ treo cổ đến chết bọn địa chủ hút máu”.

II.- TỘC ÁC CỦA STALIN: Năm 1924, Lenin qua đời và Joseph Stalin lên thay thế. Stalin áp dụng triệt để chính sách tập thể hoá nông nghiệp, người nào tỏ ý chống đối liền bị giết hoặc đưa vào các trại lao động tập trung, tiếng Nga gọi là Gulag. Từ năm 1929 đến 1953, có khoảng từ 15 đến 20 triệu người Nga bị thiệt mạng, phần lớn là ở trong các trại tập trung.

Các sử gia ước tính rằng đã có khoảng 1/5 nạn nhân của Stalin chết trong các trại tập trung ở Kolyma, một vùng xa xôi hẻo lánh cách Moscow khoảng 9000 cây số. Cuộc sống trong các trại này dã man và khủng khiếp không thua gì các trại tập trung của Đức Quốc Xã ở Auschwitz, Ba Lan, trước đó, nên thường được gọi là Auschwitz của Nga.

Trước hết các tù nhân bị nhét vào những xe chở gia súc và đưa đến Vladivostok. Trên chặng đường đó, một số người đã bị chết ngạt vì cảnh chen chúc trên xe. Từ Vladivostok, tù nhân bị đưa lên tàu đến Kolyma. Cuộc hải trình dài từ 8 đến 10 ngày. Nhiều người đã chết trong cuộc hải trình này. Có một chiếc tàu chở mấy ngàn tù nhân bị kẹt trong những tảng băng 9 tháng sau mới tới Kolyma và không một tù nhân nào còn sống sót! Một chiếc tàu khác chở 3000 tù nhân tới cảng Madagan, thủ phủ Kolyma, đúng hạn nhưng không còn có tù nhân nào sống sót cả, vì các tù nhân nổi loạn trên tàu, cai tù dùng vòi nước xịt vào phòng giam, biến phòng giam thành một bể nước dưới 40 độ âm. Toàn bộ tù nhân trên tàu đều biến thành những cây nước đá!

Lúc đó ở Kolyma có hơn 100 trại tập trung. Khi vào trại, đa số tù nhân phải làm công việc đào vàng 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày, nhưng chỉ được lãnh khẩu phần là 700 gram bánh mì và một tô xúp bắp cải. Trong trường hợp không đạt được chỉ tiêu, họ bị bớt khẩu phần.

Không phải chỉ ở Kolyma mà ở tất cả các trại tập trung trên khắp lãnh thổ Liên Xô, các tù nhân đều phải sống trong những điều kiện như thế. Hầu hết các tù nhân chỉ có thể sống được trong vòng 2 năm. Các sử gia ước tính có khoảng 90% tù nhân chết trong tù. Năm 1991, sau khi chế độ Liên Xô tan rã, Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh thả 10 tù nhân chính trị cuối cùng trong các trại tập trung!

III.- TỘI ÁC CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG: Trong cuốn “Mao, the unknown story”, bà Jung Chang và chồng là Jon Halliday đã viết:

“Tháng 10 năm 1950 Mao phát động một chiến dịch chống phản cách mạng toàn quốc. Mao cũng đồng thời phát động cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp ở những vùng mới chiếm. Mục tiêu của Mao là phân chia xã hội ra nhiều thành phần: phản cách mạng, kẻ thù giai cấp, gián điệp, tôn giáo, địa chủ, tư sản, phú nông, cho tới kẻ cướp. Mỗi thành phần bị đối xử khác nhau. Mao hạ lệnh mỗi tỉnh phải gay gắt hơn nữa, phải tăng con số người bị bắt theo tiêu chuẩn của Mao. Mao cũng biết người ta ưa thích bạo động, nên Mao muốn những cuộc hành quyết phải được thực hiện ở nơi công cộng, càng được nhiều người chứng kiến la ó càng tốt. Một nhân chứng cho biết ngay giữa Bắc kinh, nhân chứng đã chứng kiến một đám đông đi theo hò reo la ó bao quanh 200 người bị Công An lôi đi trên đuờng phố và bị hành quyết ngay trên viả hè. Các xác chết, mặc dù còn nhỏ máu, được kéo đi khắp đường phố. Một năm sau, khi chiến dịch kết thúc, Mao tuyên bố có khoảng 700.000 người bị giết, nhưng con số thực sự phải khoảng 3 triệu.”

Tác giả cuốn sách cho biết thêm:

“Những người không bị giết thì bị bắt đi lao động cải tạo. Họ bị đưa tới những vùng hẻo lánh và bị bắt làm cho tới khi kiệt lực mà chết, theo kiểu mẫu của những trại tù Gulag của Liên Xô. Mức độ dã man của những phương pháp hành hạ cải tạo viên khiến một nhà ngoại giao Liên Xô phải thốt lên: “Tụi Quốc Dân Đảng cũng không tàn ác tới như thế”. Trong thời gian Mao cai trị, con số người chết vì lao động khổ sai lên đến khoảng 27 triệu.”

IV.- TRƯỜNG HỢP KHMER ĐỎ: Đọc cuốn “When broken glass floats – Growing up under the Khmer Rouge” của Chanrithy Him, hay xem cuốn phim “The Killing Fields”, chúng ta có thể hình dung được vô số những tội ác rùng rợn mà Khmer Đỏ đã thực hiện trong thời gian chúng cai trị. Để truy tố các lãnh tụ Khmer Đỏ, các chuyên viên tư pháp đã đến hiện trường thu thập bằng chứng, lấy lời khai của các nhân chứng và lập biên bản, nên chúng ta có nhiều tài liệu chính xác hơn.

Các chuyên gia đã đánh dấu được hơn 20.000 địa điểm bị nghi là những ngôi mộ tập thể dưới thời Khmer Đỏ và cho đào bới để tìm hiểu những gì đã thật sự xẩy ra tại Cam-bốt trong thòi gian Khmer Đỏ cai trị, từ 14.4.1975 đến 7.1.1979.

Học giả Etcheson cho biết các bằng chứng mới nhất cho thấy đã có từ 2.200.000 cho tới 2.500.000 người đã bỏ mạng dưới thời Pol Pot.

Nên biết, sau khi chế độ Khmer Đỏ sụp đổ, các chuyên gia đã ước lượng trong tổng số 7.100.000 dân Cam-bốt (số liệu 1972) có khoảng 1.700.000 người đã bị giết, Trong khi đó, nhà cầm quyền Cam-bốt cho rằng số người bị giết lên đến khoảng 3.316.000 người.

Theo học giả Etcheson, từ 1.100.000 cho tới 1.250.000 người đã bị xử tử; số còn lại chết vì đói khát, vì lao động cực khổ trong các trại lao động cưỡng bách. Các thành phần sau đây thường bị lựa chọn để tra tấn và đưa đi hành quyết:

1.- Bất cứ ai có liên hệ đến chính quyền cũ hay các chính quyền ngoại quốc.
2.- Những người trí thức hoặc chuyên gia, nhất là những người có đeo kính vì cho rằng họ đã đọc nhiều!
3.- Những người thuộc sắc tộc Việt Nam; những người theo Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo và các tu sĩ Phật Giáo.
4.- Những thành phần phá hoại kinh tế (nhắm vào những người giàu có trước đây sống ở thành thị, không có khả năng canh tác).

Thi thể của các nguời bị giết thường được vùi trong các mộ tập thể. Khu vực ở cách phía tây nam Phnom Penh khoảng 15 cây số được gọi là “Killing Fields of Cheung Ek”. Ở đó có khoảng 17.000 người đã bị giết và chôn trong các mộ tập thể. Đa số nạn nhân này trước đó đã từng bị giam và tra tấn trong nhà tù Toul Sleng trước khi được chuyển qua đây để hành quyết.

Các chuyên viên điều tra đã chia các mộ tập thể thành 3 loại:

– Loại 1: mộ tập thể nhỏ, thường là mộ của nguyên một gia đình như cha mẹ ông bà, một ít thân nhân và trẻ con.
– Loại 2: mộ tập thể trung bình, số người bị giết và chôn lên tới 200 người, chủ yếu là các tù nhân bị chọn lựa định kỳ tại các trung tâm giam giữ. Riêng tại trung tâm tra tấn số 21 đã có khoảng 16.000 người bị thanh lọc để bị xử tử trong 3 năm rưỡi.
– Loại 3: mộ tập thể lớn chứa tới 7.000 xác mỗi mộ.

Học giả cho biết loại mộ này được sử dụng khi nhà cầm quyền quyết định thanh toán toàn thể một quận. Chi phí cho các công tác điều tra nói trên đều do Cơ Quan Phát Triển Hoa Kỳ đài thọ thông qua Hiệp Hội Á Châu (Asia Foundation).

Những thủ phạm chính của tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng là các nhân vật nằm trong Angka, tức cơ quan lãnh đạo tối cao của Khmer Đỏ. Sau đây là 3 nhân vật chính: (1) Pol Pot (Saloth Sar): “Anh Cả số 1”, Tổng Thư Ký Đảng Cộng Sản Cam-bốt từ 1963 cho đến khi qua đời vào năm 1998. Ông ta là người lãnh đạo phong trào. (2) Nuon Chea: “Anh Cả số 2”, Thủ Tướng, hiện còn sống. Theo Duch, Giám Đốc Sở An Ninh của Khmer Đỏ, “Nuon Chea là nhân vật chính yếu của các vụ giết chốc.” (3) Ieng Sary (anh vợ của Pol Pot): “Anh Cả số 3”, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Phó Thủ Tướng, hiện còn sống.

V.- TRƯỜNG HỢP CSVN: Trong cuốn “Death by Government”, sau khi trình bày qua lý lịch của Hồ Chí Minh, Giáo sư R.J. Rummel đã mô tả một cách tổng quát về tội ác của Đảng CSVN trong thời kỳ đầu như như sau:

“Khi Việt Minh tranh đấu chống Pháp, họ cũng thực hiện một cuộc chiến tranh bí mật tồi bại chống lại những người quốc gia không cộng sản cạnh tranh với họ. Họ ám sát, hành quyết và tàn sát tập thể tất cả các nhóm quốc gia, kể cả những thân nhân, bạn bè và vợ con của họ. Nhưng những người quốc gia không phải là những nạn nhân duy nhất, “giai cấp thù nghịch” cũng bị “trừng phạt”. Họ cũng thanh toán cả các nhóm Trotskystes và những người khác bị coi là đi lệch chủ nghĩa (tức nhóm xét lại). Hàng ngàn người trong giới trí thức cao cấp và những người Việt sáng giá đều bị tiêu diệt trong thời gian từ 1945 đến 1947 khi cộng sản củng bố quyền hành của họ.”

Các chuyên gia ước lượng trong thời gian từ 1945 – 1947, Việt Cộng đã giết khoảng 50.000 thành phần đảng phái quốc gia và tôn giáo. Ngoài ra, hai biến cố quan trọng sau đã được đa số chú ý, đó cuộc Cải Cách Ruộng Đất năm 1956 và biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Về nạn nhân của cải cách ruộng đất: Nhật báo Nhân Dân số ra ngày 20.7.1955 cho biết kết quả 6 đợt cải cách ruộng đất đầu tiên có 10.303.004 người bị ảnh hưởng.

Bộ “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000” tập 2, (giai đoạn 1955-1975) do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, cho biết có 172.008 người đã bị đấu tố, tức bị giết. Tuy nhiên, sau khi sửa sai và kiểm tra lại, Đảng và Nhà Nước nhận thấy có đến 123.266 người bị coi là oan (chiếm đến 71,6%).

Về biến cố Tết Mậu Thân: Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” xuất bản năm 1976, Bác sĩ Elje Vannema cho biết số hài cốt tìm được trong 22 mồ chôn tập thể tại Huế sau khi Cộng quân rút lui là 2.326 người. Còn trong bộ “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki nói rằng số hài cốt tìm thấy trong các mồ tập thể là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.

Có bằng chứng cho thấy tại nhiều nơi Cộng quân đã bắt các nạn nhân đào hố, sau đó trói thúc ké tay chân họ lại, ném xuống các hố do nạn nhân đào và lấp đất lại chôn sống. Đến tháng 4/1968 người ta tìm thấy mồ chốn 3 Bác Sỉ Tây Đức và bà Krainich (vợ Bác sĩ Krainich) gần khu chùa Tường Vân. Ba giáo sư này đã đến dạy cho Trường Đại Học Y Khoa Huế. Họ đã bị bắt đi sáng 31.1.1968.

Dĩ nhiên, tội ác chống nhân loại của Đảng CSVN còn nhiều, nhưng vì người Việt tỵ nạn chỉ thích viết các bài tố Cộng, tức các bài chửi bới và lên án Cộng Sản vung xích chó, hơn là truy tìm các bằng chứng lịch sử để kết tội, nên sử liệu bị thiếu sót quá nhiều.

Một nhận xét tổng quát:

Để kết thúc bài này, chúng tôi xin trích một đoạn trong cuốn “Livre noir du commumisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản) của ông Stéphane Courtois, Giám Đốc Nghiên Cứu thuộc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu về Khoa Học của Pháp, nhận xét tổng quát về sự tàn bạo của chủ nghĩa cộng sản:

“Vượt lên trên mức độ tội ác cá nhân, hoặc tàn sát cục bộ địa phương theo hoàn cảnh, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị… Đúng là sau một thời gian ngắn hay dài vài năm ở Đông Âu đến vài chục năm ở Liên Xô và Trung Quốc, cường độ của sự khủng bố có bớt đi, chế độ tự ổn định bằng cách quản lý sự đàn áp thường nhật, sự kiểm duyệt mọi trao đổi, kiểm soát biên giới, trục xuất người ly khai. Nhưng “ký ức về khủng bố” tiếp tục làm cho tin tưởng rằng sẽ có đàn áp, và điều này rất hiệu nghiệm. Không một trường hợp nào thoát khỏi qui luật đó: Trung Quốc, Bắc Hàn, và ngay cả Việt Nam hay Cuba…”

Chúng tôi hy vọng với một số sự kiện lịch sử mà chúng tôi đã trích dẫn trong bài này và nhận xét của ông Stéphane Courtois sẽ giúp người Việt chống cộng hiểu rõ hơn phương pháp cộng sản. Cộng Sản tin rằng sợ sệt (la peur), đói khát (la faim) và ngu dốt (l’ ignorance) sẽ làm cho con người tuân phục. Phá vở ba cái đó, Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ sụp đổ. Các nước Tây Phương đang làm như vậy đối với các chế độ cộng sản còn lại, nhưng không phải bằng bạo động, mà bằng “diễn biến hòa bình.” Mỗi giai đoạn lịch sử dùng một phương pháp khác nhau!

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Con mắt bao dung và tinh thần trách nhiệm

(trả lời phỏng vấn của báo Việt Weekly)
Ts. Nguyễn Thanh Giang

“…những người trong nước phải nhìn thấy, phải mở cả tấm lòng của mình ra đối xử với người Việt ở nước ngoài thật sự với tình tương kính, không thể với thái độ kẻ cả…”

VW: Thưa tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, ông đánh giá thế nào về chuyến đi của chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết vừa qua?

NTG: Chuyến đi của ông Nguyễn Minh Triết vừa qua đã thể hiện một cách tốt đẹp, mặc dù đã phải trải qua những trở ngại, những trắc trở, và mang đầy kịch tính. Việc ông Triết đi Mỹ đã được dự định từ lâu theo lời mời dự kiến của Tổng thống Bush. Nhưng trước đó ít lâu đã có những lực lượng chống phá chuyến đi này. Nhiều người trong nước cho rằng, chỉ huy sự chống phá này là từ bên ngoài và thông qua bàn tay nào đó ở bên trong thực hiện. Họ muốn phá thông qua những việc diễn ra rất trớ trêu.

Đây là chuyến đi lịch sử, lần đầu tiên một vị lãnh đạo cao nhất của nước Việt Nam Cộng Sản đến thăm nước Mỹ.

Thường các cuộc viếng thăm của nguyên thủ như thế này, cũng như các giao dịch thông thường, đến với nhau, đều có quà. Như ông Clinton đến thăm Việt Nam, đã đem món quà Hiệp ước Thương mại Việt-Mỹ. Khi tổng thống Bush sang thăm Việt Nam đã đem món quà PNPR và xóa bỏ CPC. Nhưng khi mà Nguyễn Minh Triết chuẩn bị đi Mỹ, người ta chuẩn bị “ món quà” rất là tồi tệ. Họ vung tay tát thẳng vào bộ mặt nhân quyền của Mỹ muốn trưng ra ở Việt Nam thông qua việc tổ chức những cuộc bắt bớ rất dã man, rất tàn bạo một loạt những người đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền. Họ bắt bớ đàn áp đến mức trở thành cực kỳ vô lý.

Ngoài việc bắt bớ linh mục Nguyễn Văn Lý, rồi luật sư Nguyễn Văn Đài, bắt cả sang những nữ luật sư trẻ với bộ mặt rất khả ái như Lê thị Công Nhân. Tệ hơn nữa là, chuẩn bị sang nước người ta mà lại mạt sát các quan chức của quốc hội Hoa Kỳ như bà dân biểu Loretta Sanchez. Và, nếu tôi không có những phản ứng quyết liệt, người ta còn chuẩn bị tung ra hàng loạt những bài báo để vỗ vào mặt ông Michael Marine, đại sứ Hoa Kỳ. Bộ Chính trị thì đã quyết định là để cho ông Triết đi Hoa Kỳ vào tháng Sáu và đến tháng Mười đi Trung Quốc. Rập một cái, sức ép từ đâu đã bắt ông Triết phải bái kiến Bắc Triều trước khi sang Hoa Kỳ. Tất cả những điều đó đã tạo thành khúc mắc lớn mà suýt nữa người ta cho rằng là Hoa Kỳ tự ái không mời nữa và. ông Triết không thể đi Mỹ được. Dưới sự chỉ huy từ nước ngoài, các lực lượng tả khuynh giáo điều cực đoan ở trong nước muốn ngăn chặn cuộc đi của ông Triết.

Nhưng cuối cùng, một điều rất hay ho là tổng thống Bush vẫn mời và Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã sang Mỹ. Đấy là một thắng lợi. Nó đã thể hiện được ước nguyện của toàn dân Việt Nam nói chung và kể cả những đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng, muốn Việt Nam xích lại với Hoa Kỳ. Thật vậy,:muốn nước Việt Nam không những đạt được dân mạnh, nước giầu, xã hội công bằng, dân chủ văn minh mà còn có thể bảo vệ được lãnh thổ và lãnh hải của mình thì phải đi theo công thức của chúng tôi, tức là phải làm sao để tay phải nắm chắc được Hoa Kỳ và tay trái nắm chắc được Trung Quốc, Nguyễn Minh Triết sang Hoa Kỳ chính là mở ra được một giai đoạn mới để đi theo hướng tích cực, tiến bộ đó.

VW: Phía hải ngoại, có hai sự kiện mà dư luận rất chú ý. Thứ nhất ông Nguyễn Minh Triết tuyên bố rằng Việt Nam không cần cải thiện nhân quyền. Thứ hai ông Triết cho rằng Việt Nam chưa thích ứng với nền tự do báo chí giống như Hoa Kỳ, để biện minh cho quyền kiểm soát báo chí của chính quyền trong nước. Ông nghĩ sao về hai điều tuyên bố này?

NTG: Tôi không hiểu tâm trạng của ông Nguyễn Minh Triết khi phát biểu như vậy, ông có được bình tĩnh không? Có được đĩnh đạc không? Không thể nói rằng Việt Nam không cần cải thiện nhân quyền vì ngay cả Mỹ nếu nói thế cũng không đúng . Nếu mà đúng nguyên câu nói của ông Triết là Việt Nam không cần cải thiện nhân quyền, thì dù bất kể nói ở đâu, nói với người dân Việt Nam cũng không được, nói với quốc hội Hoa Kỳ lại càng không được. Ở tại cái nơi mà người ta đang xem dân chủ nhân quyền là điều kiện để liên minh liên kết, phát biểu như vậy, tôi cho là không đúng, không thể chấp nhận được, và sai về cơ bản. Mục tiêu dân chủ nhân quyền là mục tiêu lý tưởng của nhân loại. Cả ông Marx cũng thừa nhận đấy là lý tưởng mà nhân loại cần đi tới. Cho đến thời đại ngày nay, muốn xã hội phát triển thì dân chủ, nhân quyền phải luôn luôn được cải thiện, không bao giờ ngưng. Đó là lý tưởng phải đạt được mà mỗi ngày, càng xích đến gần hơn chứ không bao giờ được xem là thỏa mãn, là, chúng tôi đã có dân chủ và nhân quyền đủ rồi. Nếu Nguyễn Minh Triết nói như vậy, tôi khẳng định, rằng ông đã nói trong tâm trạng không được bình ổn và không đứng đắn. Dẫu Việt Nam có nhân quyền dân chủ khá hơn, cũng không thể nói là Việt Nam không cần cải thiện dân chủ và nhân quyền, huống hồ gì vấn đề dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam bây giờ đang còn ở mức thấp, đang thật sự quá thiếu thốn và quá bê trễ so với mặt bằng chung của nhân loại.

VW: Là người đã sinh trưởng và sống qua nhiều giai đoạn thăng trầm của đất nước Việt Nam, là một nhà trí thức của Việt Nam và là cây cổ thụ của các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tình hình Việt Nam hiện nay?

NTG: Tôi cho là sau đổi mới, Việt Nam cũng có những đổi mới và phát triển tốt về các vấn đề kinh tế. Trong thời gian tương đối dài 5,7 năm qua, nền kinh tế tiến triển một cách tương đối ổn định, tốc độ chưa cao chưa xứng tầm với tiềm năng của dân tộc, nhưng nói chung về kinh tế có ổn định và tăng tiến. Đời sống của nhân dân, của đất nước đương nhiên đã tốt hơn nhưng vẫn còn nhiều khuyết tật. Trong đó, các vấn đề như phân hóa giàu nghèo, như tham ô lãng phí, tệ nạn xã hội, còn rất nhiều vấn đề không thể an tâm được, không thể hài lòng được. Kinh tế khá lên đôi phần, tuy nhiên về mặt chính trị, về mặt tư tưởng vẫn còn rất kém. Về mặt văn hóa, về mặt giáo dục rất kém so với mặt bằng chung của nhân loại, càng kém một cách rất đáng xấu hổ so với tư chất của dân tộc và tiềm năng của dân tộc. Đặt biệt là, vấn đề dân chủ và nhân quyền thì càng đáng phàn nàn.

VW: Trong chuyến đi của ông Triết qua Mỹ, ông mời gọi các chất xám ở hải ngoại và đầu tư. Ông Triết cũng gặp phải sự chống đối của đồng bào tại hải ngoại về chủ trương của đảng Cộng Sản. Cá nhân ông nghĩ thế nào về lời mời gọi của ông Nguyễn Minh Triết?

NTG: Về câu nói, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài đặt biệt là ở Mỹ như là khúc ruột của quê hương Việt Nam, của tổ quốc Việt Nam, tôi cho về nguyên lý là đúng, đối với tấm lòng của người mẹ Việt Nam là đúng. Nhưng có một số bà con ở bên đấy nghe không thuận tai vì họ có ấn tượng không tốt đẹp với người Cộng sản. Những người Cộng sản Việt Nam đã từng có những sai lầm, ví dụ như sau chiến thắng 30 tháng Tư, đáng lẽ phải xúc tiến ngay hòa hợp hòa giải dân tộc, phải xem đây là lịch sử trớ trêu, phải tiến tới là Nam Bắc không còn phân tranh nữa, đoàn tụ lại với nhau, xem như anh em một nhà, họ lại đưa ra những chính sách rất sai lầm như là bỏ tù hàng loạt, đưa đi cải tạo hàng loạt, tạo những bức bối để bà con phải vượt biển rồi chết thê thảm trên đường ly hương. Dĩ nhiên, đó là những việc hết sức đau xót còn ngâm mãi trong lòng bà con người Việt ở nước ngoài một nỗi hận thù đối với người Cộng Sản Việt Nam. Mối hận thù ấy có nguyên cớ đúng của nó, tức là xuất phát từ cái sai của chủ nghĩa Cộng sản.

Nhưng tôi nghĩ rằng, đối với trách nhiệm dân tộc, người Việt Nam ở bất cứ phương trời nào, đối với tổ quốc Việt Nam, đối với dân tộc Việt Nam đều phải hướng tới hòa hợp hòa giải. Hãy cố gắng quên đi những mối thù đó, những ân hận đó, những tiếc nuối đó, để nghĩ về dân tộc. Bà con Việt Nam bên ngoài phải luôn luôn tự khẳng định mình là máu Việt Nam, là xương thịt của Việt Nam luôn luôn phải hướng về đất nước. Đồng thời, những người trong nước phải nhìn thấy, phải mở cả tấm lòng của mình ra đối xử với người Việt ở nước ngoài thật sự với tình tương kính, không thể với thái độ kẻ cả, là người chiến thắng đối với kẻ chiến bại. Cũng không nên chỉ nghĩ tới khai thác người Việt ở nước ngoài, mà phải thật sự thương yêu người Việt ở nước ngoài như người dân ở trong nước, thật sự quí trọng họ.

Tôi may mắn là một trong vài nhà khoa học được dịp sang Mỹ sớm nhất, từ năm 1989. Tôi đã được mời sang Mỹ dự hội nghị khoa học Địa chất Quốc tế lần thứ 28 tại Washington. Tôi là người ở xứ sở của Đảng Cộng sản đầu tiên sang tiếp xúc với các khoa học Mỹ và bà con Việt Nam. Tôi có nhìn nhận một số vấn đề, cho nên khi về, tôi đã viết thư cho ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc bấy giờ. Tôi đã đề xuất nhiều việc, Cách nay đã gần 20 năm. tôi đã đặt vấn đề là đừng xem những người Việt Nam bỏ nước ra đi là những người có tội, những người bỏ tổ quốc là những người phản động. Phải xem sự kiện một bộ phận dân tộc bỏ đất nước để ra đi là một cái họa, nhưng trong cái họa ấy lại ẩn tàng cái phúc. Nếu cái phúc mà mình không biết sử dụng, không biết nâng niu, đôi khi cái phúc lại là mầm chứa của cái họa. Nếu là cái họa, chúng ta nhìn bằng cặp mắt nhân ái, cư xử bằng bàn tay nhân ái thì cái họa sẽ biến thành cái phúc.

Đấy sẽ là vốn liếng quý của đất nước, của dân tộc. Bà con mình tản mạn ở các nước có khoa học tiền tiến, có nền tư tưởng tiền tiến, đấy là tiềm năng của đất nước, đấy là cái phúc của dân tộc. Tôi đã đặt vấn đề với ông Phạm Văn Đồng. Tôi cũng nói mình là quê hương, mình là số đông, mình phải có con mắt bao dung và phải có tinh thần trách nhiệm đối với họ. Lúc bấy giờ,ai cũng nhắc đến trong số người bỏ nước ra đi, đã có đến 300,000 trí thức và khoa học giỏi nhưng chỉ nghĩ đến khai thác, sử dụng số này. Tôi nói rằng, tại sao ta là quê hương, là tổ quốc mà chỉ muốn khai thác họ, bòn rút họ. Tôi đã nói là phải bảo vệ họ, còn nghĩ đến họ là đồng bào, là con dân thì phải chăm sóc họ và phải nuôi nấng trong lòng họ ý thức dân tộc. Tôi đã lo lắng gần 20 năm trước là bà con mình làm sao giữ lấy nền văn hóa của dân tộc ở trên đất Mỹ, dậy dỗ con cái nói tiếng Việt. Tôi là người đầu tiên viết giấy gởi cho đảng và nhà nước, đặt vấn đề phải thừa nhận hai quốc tịch cho những người Việt Nam ở nước ngoài. Bây giờ ai cũng thấy có thể chấp nhận được,.nhưng lúc bấy giờ, người ta cho tôi là kẻ phản động, ăn phải bả tư sản, ăn phải bả của Mỹ, ăn phải bả của “ngụy quân ngụy quyền” v.v…

VW: Một nhà bất đồng chính kiến khác là ông Hoàng Minh Chính cũng khẳng định rằng, nếu có thể được ông sẵn sàng bắt tay với khối cộng sản cấp tiến, điển hình như Nguyễn Minh Triết hay Nguyễn Tấn Dũng để xây dựng đất nước tốt đẹp hơn. Oâng nghĩ như thế nào về lời phát biểu của ông Hoàng Minh Chính?

NTG: Tôi nghĩ rằng bất cứ ở đâu cũng có người tốt, người không tốt. Trong một con người cũng có thời điểm tốt, thời điểm không tốt. Trong đội ngũ chung của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những người tốt, có những người không tốt, có những người sáng suốt có những người không sáng suốt, cũng có người tả, cũng có người hữu. Gần đây, đã có những người dám bộc lộ ra, ví dụ như ông Võ Văn Kiệt đã bộc lộ từ lâu một xu hướng cấp tiến. Bây giờ, những người như ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết bằng hành động, bằng lời nói mới chỉ có mức độ nhưng,.bằng hành động, đã vượt qua những khó khăn trở ngại, gây ra bởi bọn bên ngoài kết hợp với nhóm bảo thủ cực đoan ở bên trong muốn ngăn chặn ông Triết nhưng ông vẫn vượt qua để đi Mỹ, tức là ông đã có xu hướng tích cực, tiến bộ.

Cho nên, phải luôn luôn nhìn vào lực lượng ấy và phải làm hậu thuẫn cho những lực lượng cấp tiến, những lực lượng tiến bộ đang lái đất nước Việt Nam đi đúng vào hướng tiến bộ của nhân loại. Phải ủng hộ họ, củng cố cho họ, vì bản thân họ cũng gặp những khó khăn. Bà con ở nước ngoài phải nhìn thấy họ có những khó khăn, những người lãnh đạo Việt Nam trong bộ chính trị cũng gặp những khó khăn, họ phải vượt qua được sức uy hiếp của những thần uy đen tối. Tuy rằng sau đại hội X các thế lực đen tối đã giảm sút, nhưng chúng vẫn hoành hành vẫn khống chế rất nhiều. Cho nên phải làm sao chung lưng cùng họ để họ đứng lên vững vàng hơn nữa, để chiến thắng được những thế lực bảo thủ, thế lực cực đoan và thế lực cộng sản cuồng tín để hướng tới chiều hướng tốt đẹp và đưa đất nước đi theo hướng mỗi ngày một tốt hơn.

VW: Ông có ủng hộ quyền tự do ngôn luật tuyệt đối hay không và có sẵn sàng tranh đấu cho điều này?

NTG: Tôi không những ủng hộ mà tôi là người tích cực vận động cho điều đó. Bản thân tôi bằng một năng lực tối thiểu và bằng sự dũng cảm tối đa mà tôi có thể thể hiện được, mặc dù tôi không phải là người dũng cảm lắm, tôi đã vượt qua những nỗi sợ hãi để thực hiện điều đó. Tôi dành quyền tự do ngôn luận và tự do phát biểu ý kiến. Tôi luôn luôn kêu gọi những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, hãy noi gương một người không đâu xa lạ, noi gương ông lãnh tụ cao nhất của họ tức là ông Nguyễn Ái Quốc, ngày xưa ông đã kêu gọi tự do ngôn luận tự do báo chí. Bây giờ họ phải làm theo lời kêu gọi của ông ta, làm theo ước nguyện của nhân dân Việt Nam là phải có tự do ngôn luận tự do báo chí và phải có một sự cải tổ chính trị, làm sao cho nền chính trị đáp ứng được với nền kinh tế thị trường, tức là nền chính trị mang lại sự phản ảnh của xã hội hóa. Có nền tự do báo chí, người dân mới tham gia tích cực vào sứ mệnh làm chủ đất nước và đất nước mới phát triển được.

VW: Cám ơn tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang.

NTG: Cám ơn quí vị, mong rằng tiếng nói của quí vị mỗi ngày một mạnh mẽ và rộng rải hơn để cải thiện nhận thức của bà con trong nước cũng như nước ngoài, đặng góp phần tích cực hơn trong công cuộc dân chủ hóa đất nước Việt Nam.

Trần Nhật Phong thực hiện
Nguồn: Việt Weeklyngày 28 tháng 6 năm 2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

"Tuyển tập Vụ Án LM Nguyễn Văn Lý"

Ngày 16-6-07 vừa qua tại Thành phố San Jose đã có buổi Ra mắt sách “Tuyển tập Vụ Án Linh mục Nguyễn văn Lý”, với vị chủ biên là Linh mục Phan văn Lợi và toàn bộ tuyển tập với hơn 44 bài viết của nhiều tác giả, Công giáo và không Công giáo.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài nói chuyện của Nhà văn Trần Hiếu trong phần Giới thiệu tác phẩm Tuyển tập Vụ Án Linh mục Nguyễn văn Lý.

Nếu muốn có quyển sách nầy, xin liên lạc về địa chỉ:

Hoàng Quý
11952 Medina Dr
Garden Grove , CA 92840
Điện thoại : 714-636-3776
hoăc email: hoangquy40@yahoo. com

Giá Yễm Trợ Sách là 25 đô (2 cuốn). Số tiền bán sách sau khi trừ chi phí, sẽ được gởi về VN để phổ biến “chui”quyển sách tại VN. Trân trọng,

Điểm Sách Tuyển tập
Vụ Án Linh Mục Nguyễn Văn Lý


LTS. Toà Soạn hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc bài điểm sách đã được ông Trần Hiếu trình bày trong dịp ra mắt tuyển tập “Vụ Án Linh Mục Nguyễn Văn Lý” do Tổ Chức Lương Tâm Công Giáo phối hợp với Đài Phát thanh Quê Hương và Tuần Báo Mõ San Francisco thực hiện ngày 16/6/07, tại San Jose, California.

Kính thưa qúy vị lãnh đạo tinh thần, qúy thân hào nhân sĩ, và toàn thể qúy vị,

Tôi rất lấy làm vinh dự được Ban Tổ Chức yêu cầu nói đôi lời giới thiệu về tuyển tập “Vụ Án Linh Mục Nguyễn Văn Lý”. Xin chân thành cám ơn Tổ Chức Lương Tâm Công Giáo trước tấm lòng ưu ái và sự tín nhiệm đã dành cho tôi, là người luôn cảm phục các hoạt động cho nhân quyền không mệt mỏi của qúy vị. Tôi cũng xin được bày tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi đến với tất cả qúy cử toạ đáng kính, là những người hằng thao thức trước công cuộc đấu tranh cho tự do, đã đến đây nhằm hỗ trợ Cha Lý vàcác nhàd ân chủ Việt Nam.

Chúng ta biết không phải ngẫu nhiên mà Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush, Phó Tổng Thống và các giới chức cao cấp của Toà Bạch Ốc đã đón tiếp bốn nhà hoạt động nhân quyền VN tại Phòng Bầu Dục hôm 29/5 vừa qua. Và cũng không phải là điều tình cờ mà trong bài phát biểu tại Tiệp Khắc về Dân Chủ toàn cầu gần đây Tổng Thống Bush đã nói: “Tôi mong một ngày trong cuộc hội thảo như thế nầy có sự hiện diện của các nhà dân chủ thế giới, của linh mục Nguyễn Văn Lý, Việt Nam…”

Trong lúc nầy, khi chúng ta hội họp ở đây, người Việt tỵ nạn khắp nơi đang chuẩn bị rầm rộ biểu tình để cực lực phản đối Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, sẽ có mặt tại Washington D.C. vào tuần tới. Trước khi đến đất nước tự do nầy, nhà cầm quyền HàNội đã nhượng bộ, buộc lòng phải trả tự do cho ký gỉa phản kháng Nguyễn Vũ Bình, và nói theo ngôn từ của nhà báo Phạm Trần, ông Triết đã phải “chống nạng đến Mỹ.”

Từ Quốc Hội Hoa Kỳ và nhiều diễn đàn nghị viện các nơi, từ Úc, Mỹ cho đến Âu Châu, các tổ chức tiếng tăm uy tín của thế giới như Nhóm Hiến Chương 77 ở Tiệp Khắc, Hiệp Hội Các Phóng Viên Không Biên Giới, Hội Ân Xá Quốc Tế… đều bày tỏ quan tâm sâu sắc và lên án tình trạng nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam.

Kể từ hôm phiên toà bịt miệng ngày 30/3 cho đến nay, nhiều hãng thông tấn ngoại quốc đã loan tin bất lợi cho nhà cầm quyền Việt Nam vì các hành động khủng bố đàn áp dân chủ của họ. Đây là một chuyển biến đặc biệt vì từ xưa đến nay các cơ quan nầy vẫn thường bênh vực CSVN. Riêng các cơ quan truyền thông Việt ngữ hải ngoại, thì khỏi nói, việc cọng sản đàn áp các nhà dân chủ luôn luôn là tin tức cập nhật hàng đầu.

Vì sao người ta quan tâm sâu xa tình trạng nhân quyền ở VN như vậy?

Tấm hình Cha Lý bị bịt miệng đã tạo một chấn động trong giới truyền thông quốc tế. Chỉ sau ba ngày tấm hình được phổ biến, đã có trên 400 bài báo ở Mỹ và gần 150 bài ở Âu Châu đăng tải. Ngoài ra, các đài truyền thanh và đài TV đã dành nhiều giờ để đưa tin, bình luận. Tất cả đều lên án chế độ cọng sản Hà Nội. Nhờ tấm hình, chưa bao giờ người Việt hải ngoại đồng tâm nhất trí như bây giờ trong việc lên án gắt gao sự đàn áp dã man của CS và quan tâm sâu xa đến tình trạng nhân quyền ở VN.

Vụ Án Cha Lý qua phiên toà bịt miệng đáng xấu hổ tại Huế ngày 30/3/07 đã khai sinh tuyển tập “Vụ Án Linh Mục Nguyễn Văn Lý”. Đây là sáng kiến của Linh Mục Phan Văn Lợi, người bạn tranh đấu của Cha Lý hiện đang ở cố đô, bằng việc gom góp các bài viết đã được đăng tải nhằm đánh dấu và lưu truyền một biến cố lịch sử. Cuốn sách đã được các thân hữu ở hải ngoại phụ trách in ấn và phát hành.

Là các bài đã được đăng báo, tôi tin rằng qúy vị không nhiều thì ít đã biết về tuyển tập nầy. Riêng tôi, khi có dịp đọc lại toàn bộ tuyển tập gồm 44 bài viết của nhiều tác giả, Công Giáo và không Công Giáo, tôi đã không khỏi buồn phiền.

Cha Lý, 61 tuổi, là nhàđối kháng bất đồng chính kiến nổi bật nhất, kiên trì đấu tranh đòi tự do trong một qúa trình dài, từ khi cọng sản vừa chiếm miền Nam. Tác giả Vũ Thanh Phương, một thành viên của khối đấu tranh dân chủ 8406, trong bài “Hãy trả tự do cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý” đánh gía “LM Lý là trụ cột của phong trào đấu tranh dân chủ tích cực nhất từ trước cho tới nay”. Tôi đồng ý với nhận định của tác gỉa là, “theo tính toán của Đảng CS, họ cần phải đánh phủ đầu nhằm gây suy yếu phong trào đang càng ngày càng lớn mạnh. Khi đánh ngài họ nhằm gây sự nhụt chí và khiếp sợ để những người khác rời bỏ hàng ngũ đấu tranh.”

Thế nhưng, hàng ngũ đấu tranh dân chủ càng ngày càng thêm đông đảo; đặc biệt phong trào thu hút được nhiều trí thức trẻ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Kỹ Sư Nam Phương Đỗ Như Hải, Luật Sư Lê Chí Quang và vô số những người trẻ khác… Họ là người đầy ắp lý tưởng, không chùn bước trước bạo quyền mặc dầu họ biết sẽ bị bách hại tù đày. Chúng ta hãy nghe Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy trong bài tuyệt bút của chị khi chuẩn bị đi tù:

Thay Lời Tiễn Biệt

“Khi tôi chết, hãy ghi trên huyệt mộ
Đây là người yêu nước thương dân
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Đưa nhân dân ra khỏi kiếp bần hàn.

Tuổi bốn mươi khi nghĩa đời đã tỏ
Thì cùm g ông xiềng xích sá kể gì
Theo gương bậc tiền bối tôi đi
Vá lại mảnh trời xanh tổ quốc…”

Cách đây 30 năm, Cha Lý là bí thư của Tổng Giám Mục Giáo Phận Huế Nguyễn Kim Điền. Sau khi Hoà Thượng Thích Quảng Độ bị bắt ngày 6-4-77, Mặt Trận Tổ Quốc Bình Trị Thiên tổ chức một cuộc thảo luận và trong dịp nầy Đức Tổng Điền đã thẳng thắn chỉ trích việc bắt giữ các nhà sư Phật Giáo và than phiền giáo dân Công Giáo bị đối xử như công dân hạng nhì. Linh mục bí thư Nguyễn Văn Lý đã in lời phát biểu của Đức Tổng Điền thành nhiều bản để phổ biến và đây lànguyên do cuộc đời lao lý của ngài, với khởi đầu hơn một năm trong các trại tù.

Đức Cha Điền qua đời năm 1988, và nhiều người tin rằng ngài đã bị cọng sản đầu độc.

Năm 1983, Cha Lý bị bắt lần thứ hai vì đã tổ chức hành hương viếng Đền La Vang. Lần nầy ông bị xử 10 năm tù, và được thả năm 1992. Vào năm 2001, ngài bị bắt lần thứ ba vì đòi tự do tôn giáo, bị xử 15 năm tù, 5 năm quản chế và được phóng thích năm 2005. Và như chúng ta biết, ngài bị bắt trở lại vào dịp Tết năm nay và ngày 30/3 vừa qua, bị kết án 8 năm tù trong một phiên toà bịt miệng.

Như vậy là “Tôi tớ không hơn chủ, trò không hơn thầy” (Jn 12:16). Là học trò của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, là bí thư của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, Cha Lý đã chịu chung số phận của thầy mình, bị bắt bớ đàn áp như các ngài đã chịu.

Thế nhưng, điều không may cho CSVN là thời đại bây giờ đã khác. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ của phiên toà, chính họ đã phô bày bản chất độc tài sắt máu với bàn tay thô bạo trước cộng đồng dư luận thế giới, nhờ tấm hình bịt miệng nổi danh, và hệ thống thông tin Internet toàn cầu.

Trong số 44 bài của tuyển tập, có 26 bài trực tiếp đề cập đến vai trò của HĐGMVN trong vụ cha Lý. Trước sự im lặng khó hiểu của hàng giáo phẩm VN, một số tác giả đã bộc lộ sự phẫn nộ, và nhiều tiếng nói khác bày tỏ sự bất bình. Trong khi dư luận hoang mang, người ta trông chờ sự hướng dẫn từ những thầy dạy luân lý, nhưng tuyệt nhiên không một ai lên tiếng. Về sau, khi các lời than phiền đã lan tràn, một vị lên tiếng chê bai Cha Lý là “con người nghịch lý”, còn vài vị khác đổ lỗi nạn nhân Linh Mục Nguyễn Văn Lý là “tham gia chính trị”.

Chê bai hoặc đổ lỗi nạn nhân là một hành vi kết án. Vì vậy, nếu các bài viết có phô bày sự phẫn nộ, tôi nghĩ rằng điều đó cũng dễ hiểu và đáng được sự thông cảm. Tôi cho rằng đây làmột cuộc biểu tình bằng chữ viết phản đối một cách ôn hoà.

Một trong những bài gây nhiều phản hồi, đã được đăng trong tuyển tập, là bài “Lời Trối của Cố Giám Mục Nguyễn Quang Tuyến”. Tác giả Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ trong một văn phong mạnh bạo nói rằng “GHCGVN đã bị thuần hoá cả rồi”. Khi đọc bài nầy tôi nghĩ đó chỉ là một lối nói nhấn mạnh để bày tỏ sự bực bội trước thái độ thụ động của hàng Giáo Phẩm VN, chứ tôi không hiểu theo nghĩa hẹp của ngôn từ. Chúng ta không thể chối cãi, có một vài giám mục đã có những hành động và lời nói tiếp tay cho chế độ, nhưng tôi tin giáo hội vẫn kiên cường và không thể bị đồng hoá với bạo quyền.

Cách đây vài thập niên, khi đất nước còn “bế môn tỏa cảng”, sự thông tin bị bưng bít, giáo hội sau bức màn tre đành phải làm thinh trước các đàn áp bất công của cọng sản. Đó là thái độ nhẫn nhục để sống còn, là điều mọi người có thể hiểu và thông cảm. Tuy nhiên, khi đất nước đã hội nhập vào thế giới, tham gia Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế WTO, nhà cầm quyền vẫn ngang nhiên trơ tráo đày đọa con người, và nạn nhân là một linh mục, mà các vị hữu trách Công Giáo không lên tiếng bênh vực, thì làm sao tránh được sự than phiền? Nếu các ngài có quyền im lặng thì người giáo dân cũng có quyền đặt vấn đề trong tinh thần tương kính, bác ái và thẳng thắn.

Óai ăm thay, một số người, trong khi bênh vực thái độ im lặng của Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, lại kêu gọi Toà Thánh, quốc gia HK và các tổ chức quốc tế lên tiếng bênh vực Cha Lý và các nhàdân chủ trong nước. Tôi thiết nghĩ, đừng qúa kỳ vọng người khác sẽ lên tiếng thay mình, một khi chính mình ngại ngùng lên tiếng.

Triết gia Euripides thời thế kỷ thứ 5 trước Chúa Giáng Sinh đã nói, “Thượng đế giúp người biết tự giúp mình”.

Chúng ta hãy nghe Đức Hồng Y Trần Nhật Quân, giám mục Hồng Kông, là lãnh thổ thuộc thẩm quyền của chính quyền Trung Cộng, hôm mồng 4 tháng 6 mới đây, đã lớn tiếng thách thức nhà cầm quyền, “Tôi tự hỏi cho đến khi nào thì người dân Trung Hoa sống ở quê nhà được hưởng các ơn lành của tự do?” Và ngài kêu gọi chính quyền Bắc Kinh rằng, “Chính quyền hãy can đảm đối diện với những gì họ đã làm cách đây 18 năm tại Thiên An Môn; Hãy rửa sạch những vết nhơ của vụ thảm sát”.

Cho đến khi nào thì chúng ta được nghe những lời tương tự từ các giám mục VN?

Trong những cuộc viếng thăm của các giám mục VN đến San Jose, tôi được nghe các ngài kêu gọi giáo dân hải ngoại ủng hộ giúp cho chiếc cần câu, thay vì cho cá. Tôi thiết nghĩ, không có cần câu nào bền vững cho bằng sự tự do. Khi có tự do là có cơm no áo ấm. Khi có tự do là có nhân quyền, nhân phẩm. Nhưng tự do chỉ có thể đạt được khi người ta có quyết tâm tranh đấu. Cha Lý hiểu điều đó và ngài đã tích cực dấn thân bất chấp sự đàn áp của kẻ thù.

Tổng Thống Bush trong bài phát biểu về Dân Chủ Toàn Cầu đã nhắn nhủ, “Tự do chỉ đạt được khi tiếng nói lương tâm được sự ủng hộ ở ngay trong lòng xã hội bị đàn áp”. Cha Lý và các bạn tranh đấu cho dân chủ trong nước, với tấm lòng quả cảm, xứng đáng được tán dương và ủng hộ. Thực sự, việc Cha Lý bị án tù một cách bất công là nỗi thương tâm, nhưng đó cũng là một cơ hội để gây thanh thế cho phong trào dân chủ trong nước và liên kết mọi người yêu chuộng tự do nhằm tranh đấu giúp nổ lực đòi dân chủ sớm thành công.

Đọc Tuyển Tập Vụ Án LM Nguyễn Văn Lý để biết cao trào dân chủ đang đi vào một bước ngoặt mới rất phấn khởi. Tôi hân hoan giới thiệu tuyển tập đến với qúy vị vàước mong được qúy vị tận tình tiếp tay phổ biến.

Chân thành cám ơn qúy vị.
Trần Hiếu

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

NGUYỄN MINH TRIẾT CÔNG DU HOA KỲ

Bước vào thế kỷ 21, hai quốc gia có ảnh hưởng sống còn trên Việt Nam đó là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trung Quốc là lân bang nhiều ngàn năm với Việt Nam, lúc là đàn anh, lúc là mô hình đáng kính, lúc là mối họa, và lúc là kẻ thù không đội trời chung. Dù đóng vai trò nào đi nữa, Trung Quốc vẫn là yếu tố không thể thiếu trong sinh hoạt của dân Việt Nam, từ kinh tế, văn hóa, đến chính tri.. Phần Hoa Kỳ, dầu là quốc gia non trẻ và xa xôi, dầu là kẻ thù của CSVN trong thời kỳ chiến tranh Quốc Cộng, nay lại là đối tác quan trọng nhất để cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc tại Việt Nam.

Hoa Kỳ lại còn đáng cho CSVN quan tâm hơn vì có 2 triệu người Việt cư ngụ và cán cân mậu dịch giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cách nhau rất xa so với cán cân mậu dịch giữa Trung Quốc và Việt Nam. Năm 2000, mậu dịch kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là 1 tỷ USD, nhưng tới năm 2006 thì đã lên tới 10 tỷ USD và cán cân chênh lệch nghiêng thế thuận lợi về Việt Nam. Cho tới năm 2007, mậu dịch song phương Việt – Hoa khoảng 1 tỷ Mỹ Kim.

Tháng 8 năm 2006, tại Kuala Lumpur nước Mã Lai, bà Susan Schwab đại diện cho Hoa Kỳ gặp gỡ Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm để bàn thảo đưa đến một quy chế thương mại vĩnh viễn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, quy chế này được gọi là Trade and Investment Framework Agreement (Tifa). Sau cuộc gặp gỡ này, Tổng Thống Bush đến Việt Nam tham dự Hội Nghị Apec 14 tháng 11 năm 2006, và trong chuyến đi đó, Tổng Thống Bush mang đến cho Việt Nam một món quà là rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách những quốc gia cần được quan tâm, countries of particular concern, viết tắt là CPC. Sau đó, vào tháng 2 năm 2007, Hoa Kỳ hỗ trợ cho chuyến đi của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đến diện kiến Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI để chuẩn bị thiết lập bang giao giữa Vatican và Hà Nộị

Mọi chuyện đang diễn ra tốt đẹp thì bỗng dưng sau chuyến công du Vatican, Hà Nội trở mặt, phát động chiến dịch bắt giam các nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước, nhất là bắt giam linh mục Nguyễn Văn Lý nhân dịp Tết Đinh Hợi và đưa ngài ra tòa án bóp mũi bịt miệng làm cho cả thế giới sửng sốt bàng hoàng đến độ Dân Biểu Earl Blumenauer phải từ chức Trưởng Khối Việt Nam tại Hạ Viện để phản đối việc đàn áp nàỵ Tháng 4 năm 2007, Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm đến Washington D.C để bàn thảo tiếp Tifa thì đã gặp sự phản ứng dữ dội của Hoa Kỳ về hành vi chà đạp nhân quyền đó, người Việt hải ngoại còn vận động với bộ trưởng Ngoại Giao Condoleeza Rice đưa CSVN vào lại danh sách CPC. Trong buổi gặp gỡ giữa Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm và Ngoại Trưởng Rice, không khí khá căng thẳng vì vấn đề đàn áp các nhà dân chủ của CSVN.

Trở về nước, để tránh tình trạng nghi ngờ của đàn anh CSTQ, Chủ Tịch Nhà Nước Nguyễn Minh Triết và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm lập tức đi Bắc Kinh. Ông Triết cho biết ông đi Bắc Kinh là để học hỏi sự thành công về kinh tế của Trung Quốc mà không gây nên xáo trộn trong chính tri.. Sau khi thăm Bắc Kinh, CSVN loan tin ông Triết công du Hoa Kỳ từ ngày 18/6 -23/6/2007. Để giúp quý bạn trẻ hiểu rõ hơn về chuyến đi của ông Triết, tôi xin sơ lược cơ chế chính trị của Việt Nam, tiểu sử của ông Triết và ông Nguyễn Phú Trọng là đối thủ của ông Triết.

I. Cơ Chế Chính Trị Của NNCHXHCN Việt Nam:

Việt Nam theo cơ chế độc đảng và Điều 4 Hiến Pháp của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bảo về quyền lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước đây Nhà Nước và Quốc Hội CHXHCNVN chỉ là công cụ bù nhìn của Đảng, nhưng từ khi mở cửa năm 1987, người ta thấy phe miền nam phấn đấu để cho Nhà Nước và Quốc Hội có thực quyền, và vì thế người ta gọi phe này là phe Nhà Nước Quyền và phe miền bắc là Đảng Quyền. Gần đây, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, Phe Nhà Nước Quyền đã giành được khá nhiều thực quyền, và nhiều người hy vọng đây là chìa khóa để từng bước một đưa đến dân chủ cho Việt Nam.

Đứng đầu Nhà Nước là Chủ Tịch và đã trải qua 8 vị Chủ Tịch như sau:

1. Hồ Chí Minh 2/9/1945 2/9/1969.

2. Tôn Đức Thắng (1) 3/9/1969 – 30/3/1980.

3. Nguyễn Hữu Thọ (2) 30/3/1980 – 4/7/1981.

4. Trường Chinh 4/7/1981 – 18/6/1987.

5. Võ Chí Công (3) 18/6/1987 – 22/9/1992.

6. Lê Đức Anh 23/9/1992 – 24/9/1997

7. Trần Đức Lương 24/9/1997 – 27/6/2006

8. Nguyễn Minh Triết 27/6/2006 –

Trước năm 1975, khi Hồ Chí Minh còn sống, chức vụ Chủ Tịch Nước có thực quyền vì Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao của ĐCSVN. Nhưng trong thập niên 1960s, quyền lực của Hồ Chí Minh bị tước đoạt khá nhiều vì Lê Duẫn, Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn bao vây cô lập họ Hồ. Sau khi Hồ Chí Minh mất, thì chức vụ Chủ Tịch Nước chỉ là tượng trưng, có tính cách nghi lễ ngoại giao hơn là thực quyền. Sau khi nắm trọn thực quyền cả đất nước trong tay, ngày 2/7/1976, ĐCSVN chính thức cho ra đời Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Theo Hiến Pháp của CHXHCNVN, Chủ Tịch Nước chỉ định Thủ Tướng và nội các của Thủ Tướng sau khi đã được Quốc Hội chấp thuận. Chủ Tịch Nước trên danh nghĩa là Tổng Tư Lệnh Quân Đội và là Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia nhưng trong thực tế không có chút quyền lực nào trên quân đội và Bộ Quốc Phòng.

Qua cuộc bầu cử 20/5/2007, Quốc Hội CHXHCNVN có 500 đại biểu trong đó có 30 đại biểu không ở trong ĐCSVN. Đứng đầu Quốc Hội là Chủ Tịch Quốc Hội và hiện nay nhiệm vụ này ông Nguyễn Phú Trọng đang nắm giữ.

Thể chế độc đảng thì Chủ Tịch hoặc Tổng Bí Thư của Đảng là người có thực quyền nhất. Cơ chế của ĐCSVN không có Chủ Tịch (xin nhớ Chủ Tịch Nhà Nước khác với Chủ Tịch Đảng), có Tổng Bí Thư nên Tổng Bí Thư của ĐCSVN là người nắm nhiều thực quyền nhất ở Việt Nam. Đảng CSVN đã trải qua 10 đại hội và 10 Tổng Bí Thự Mười Đại Hội được tổ chức như sau:

1. Macau, 1935.

2. Tuyên Quang, Việt Bắc, 1951.

3. Hà Nội, 1960.

4. Hà Nội, 1976.

5. Hà Nội, 1982.

6. Hà Nội, 1986.

7. Hà Nội, 1991.

8. Hà Nội, 1996.

9. Hà Nội, 2001.

10. Hà Nội, 2006.

Mười Tổng Bí Thư với thứ tự thời gian như sau:

1. Trần Phú (4), 1930 -1931.

2. Lê Hồng Phong (5) 1935-1936.

3. Hà Huy Tập (6) 1936-1938.

4. Nguyễn Văn Cừ (7) 1938 -1940.

5. Trường Chinh 1941 – 1956 và Xử Lý Thường Vụ 5 tháng năm 1986.

6. Lê Duẫn 1960 -1986.

7. Nguyễn Văn Linh 1986 -1991.

8. Đỗ Mười 1991 – 1997.

9. Lê Khả Phiêu 1997 – 2001.

10. Nông Đức Mạnh 2001 – đến naỵ

Trong danh sách các Tổng Bí Thư không có Hồ Chí Minh nhưng thật ra trong thời gian đầu, Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng và có thực quyền nhất trong ĐCSVN vì họ Hồ nhận lệnh Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đi thiết lập và hỗ trợ cho các Đảng Cộng Sản trong đó có Đảng Cộng Sản Đông Dương, Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Thái, v.v. Từ năm 1931 – 1935, sau cái chết của Trần Phú, nhất là khi Hồ Chí Minh bị Stalin giam lỏng ở Moscow để giám sát thì ĐCSVN không có Tổng Bí Thư.

Hiện nay, cơ chế của ĐCSVN được cấu trúc như sau: Đứng đầu là 14 Ủy Viên Bộ Chính Trị, những ủy viên này thành lập một Ban Bí Thư Thường Vụ gồm 8 ngườị Tổng Bí Thư là người đứng đầu và có thực quyền nhất của Đảng, và khi lá phiếu bỏ ngang bằng nhau thì lá phiếu của Tổng Bí Thư là phiếu quyết đi.nh. Sau Bộ Chính Trị là Ban Chấp Hành Trung Ương mà hiện nay gồm 160 ngườị Dưới Ban Chấp Hành Trung Ương là các thành phố, tỉnh, huyện, quận, xã, phường và chi bộ là đơn vị căn bản. Hiện nay ĐCSVN có khoảng 2 triệu đảng viên.

Ngoài ra, để bảo vệ quyền lực của Đảng, ĐCSVN thành lập nhiều tổ chức ngoại vi như Mặt Trận Tổ Quốc (Fatherland Front), Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, Hội Phụ Nữ, v.v. Nhiệm vụ của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản là tuyển chọn những thanh thiếu niên để đưa vào Đảng. Nhiệm vụ của Mặt Trận Tổ Quốc là giới thiệu và chấp thuận những ứng cử viên vào Quốc Hộị

II. Tiểu Sử Ông Nguyễn Minh Triết:

Nguyễn Minh Triết sinh ngày 8/10/1942 ở Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ông Triết dạy môn Toán. Năm 1965, ông gia nhập Đảng Cộng Sản. Năm 1992, ông làm bí thư tỉnh của Đảng Cộng Sản tại Sông Bé. Năm 1997, ông Triết được vào Bộ Chính Trị. Với sự nâng đỡ đặc biệt của ông Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, năm 2000, ông Triết làm Bí Thư của Sài Gòn, và trong cương vị này, ông mở chiến dịch triệt hạ hối lộ và tham nhũng, chiến dịch này đưa đến việc bắt giam, điều tra, xử án và xử tử Trương Văn Cam tức Năm Cam. Điều khá ngạc nhiên lẫn khôi hài đó là khởi đầu vụ án, công an đã gán ghép Năm Cam có liên hệ với chiến sĩ Lý Tống với ý đồ biến vụ án này thành vụ án chính trị cho thấy đây cũng là một đòn phép chính trị ông Triết đã sử dụng để bảo vệ uy tín của ông trong Đảng Cộng Sản.

Trước Đại Hội X của ĐCSVN, nhiều dư luận cho rằng ông Triết được Hoa Kỳ hỗ trợ để lên thay thế Nông Đức Mạnh trong chức Tổng Bí Thư ĐCSVN. Nhưng cuộc chạy đua quyền lực này khá gay gắt vì phe miền bắc muốn đưa Nguyễn Phú Trọng vào chức vụ đó. Nhiều lúc ông Triết tưởng đã phải bỏ cuộc. Ông Triết đã phải qua Paris để chữa bệnh, và dư luận cho rằng phe miền bắc lấy lý do ông Triết bị ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer) nên giữ Nông Đức Mạnh lại chức Tổng Bí Thư thêm một nhiệm kỳ nữa với hy vọng mua thêm thời gian tạo uy tín cho Nguyễn Phú Tro.ng. Cuối cùng, họ điều đình và trao chức Chủ Tịch Nhà Nước cho ông Triết. Ngày 27/6/2006 ông Triết “được” Quốc Hội bù nhìn CHXHCNVN bầu 94.12% trong chức vụ Chủ Tịch thay thế cho Trần Đức Lương với nhiệm kỳ 5 năm.

Khi ông Triết còn nằm bệnh viện tại Paris trước khi có Đại Hội X của ĐCSVN, một số người có đến thăm ông, trong đó có những người bà con gốc gác người Quốc Gia, hỏi ông Triết: “Khi nào thì Việt Nam có biến động để đưa đến tự do dân chu?? Có bao giờ có một Boris Yeltsin tại Việt Nam hay không?” Ông Triết trả lời: “Chưa chín mùị”

III. Tiểu Sử Ông Nguyễn Phú Trọng:

Ông Nguyễn Phú Trọng sinh ngày 14/4/1944 ở Đông Hội, Huyện Đông Anh, Hà Nộị Năm 1963-1967, ông học ở Đại Học Tổng Hợp. Ngày 19/12/1967, ông gia nhập và trở thành cán bộ viết cho Tạp Chí Cộng Sản. Năm 1973, ông được Đảng cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc. Năm 1976 -1983, ông làm phó Bí Thư Chi Bộ trong Ban Biên Tập Tạp Chí Cộng Sản. Năm 1983 -1987, ông làm phó Trưởng Ban Xây Dựng Đảng, sau đó lên làm trưởng ban. Năm 1991-1996, ông giữ chức Tổng Biên Tập Tạp Chí Cộng Sản. Năm 1994, ông vào Ban Chấp Hành Trung Ương. Năm 1996, ông làm Phó Bí Thư Hà Nội và sau đó năm 2000 ông lên làm Bí Thự Từ năm 1998 – 2006, ông giữ chức Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương của ĐCSVN. Tháng 6/2006, ông thay thế ông Nguyễn Văn An (sinh 1937, Chủ Tịch Quốc Hội năm 2002 -2006) làm Chủ Tịch Quốc Hộị

Nguyễn Phú Trọng được Thái Thượng Hoàng Đỗ Mười và Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh rất cưng chìu vì thái độ ngoan ngoãn của ông ấy đối với những vị này, nhất là ông Trọng tỏ ra là một người giáo điều bảo thủ với quan điểm thân Bắc Kinh.

IV. Mục Đích Chuyến Đi

Ông Triết là vị lãnh đạo cao cấp nhất của CSVN đến Hoa Kỳ từ trước đến naỵ Dầu CSVN và Hoa Kỳ đã có những tương quan đằm thắm với nhau, nhưng rõ ràng Hoa Kỳ không dành cho ông Triết một sự tiếp đón long trọng như một nguyên thủ quốc gia mà phía CSVN cũng như ông Triết mong muốn. CSVN và ông Triết vẫn nhẫn nhịn chịu lép vế tới Washington D.C. với một chương trình tiếp khách “hạng trung” dành cho một vị “thượng khách” giống như ông Triết. Tại saỏ Tại vì mục đích chuyến đi của ông Triết là tranh thủ lợi nhuận kinh tế cả về phía Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt. Riêng ông Triết, ông muốn nhân cơ hội này đi một thế tiên phong trong cuộc chạy đua vào chức Tổng Bí Thư với Nguyễn Phú Trọng và tạo một thế cân bằng trước thế ép của Nguyễn Phú Trọng và phe thân Bắc Kinh.

Trước khi đi Hoa Kỳ, trả lời phóng viên Thông Tấn Xã Việt Nam, ông Triết cho biết ông sẽ vận động Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn nữa, nhất là các kỹ thuật caọ Ông mong muốn Hoa Kỳ giúp xây dựng nhà máy hạt nhân sản xuất điện lực vì hiện nay Việt Nam đang thiếu điện một cách trầm trọng. Ông cũng mong muốn Tifa sẽ giúp cho Việt Nam có cơ hội sản xuất hàng hóa nhiều sang Hoa Kỳ.

Về phía Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ, qua chuyến đi này, ông Triết muốn làm dịu đi việc chống Cộng và vận động người Việt ở Hoa Kỳ về Việt Nam nhiều hơn để đầu tư và thăm thân nhân. Nguyên văn của ông trả lời phỏng vấn như sau: “Tôi đánh giá cao những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ đối với đất nước về tinh thần cũng như vật chất… Trên các lĩnh vực kinh tế, hiện hàng ngàn kiều bào có vốn liếng tại Hoa Kỳ đã chọn quê hương để đầu tư, kinh doanh với số vốn hàng ngàn tỷ đồng Việt Nam. Tôi đánh giá cao các vị chuyên gia, trí thức đã tích cực đóng góp chất xám của mình cho sự nghiệp chung của dân tộc … Tôi vui mừng mỗi năm qua đi, bà con từ Hoa Kỳ về thăm đất nước lại tăng lên, năm sau nhiều hơn năm trước… Đáng tiếc là tại Hoa Kỳ vẫn còn một số nhỏ, chưa có điều kiện về thăm Việt Nam, thiếu hiểu biết, tiếp tục có những hoạt động đi ngược lại lợi ích của dân tộc, không có lợi cho đoàn kết cộng đồng.”

Rồi ông dõng dạc kết luận như một hiệu lệnh ra quân: “Kiều bào ta tại Hoa Kỳ có tiềm năng lớn về kinh tế và tri thức. Nhà nước sẽ nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình theo tinh thần Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị, tạo điều kiện để bà con có cơ hội đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước, góp phần củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.”

Có thể ông Triết đạt được khá cao cho mục đích vận động Hoa Kỳ dễ dãi trong vấn đề mậu dịch thương mại với Việt Nam vì số tiền 10 tỷ Mỹ Kim rất là lớn đối với Việt Nam nhưng chỉ là bạc lẻ với Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ muốn dùng sức mạnh kinh tế để cân bằng cán cân quyền lực trong ĐCSVN giữa hai phe miền bắc và miền nam, muốn có ảnh hưởng nhiều hơn tại Việt Nam để ngăn chận sự bành trướng của Trung Quốc.

Nhưng, mục đích của ông Triết với Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn Cộng Sản chắc chắn đã không thành tựu vì bằng chứng nơi nào ông đến nơi đó đều có người biểu tình dữ dội khiến ông phải chui cửa hậu chớ không được nở mặt nở mày đi cửa trước như những phái đoàn ngoại giao cao cấp của các nước khác. Người Việt ở hải ngoại về Việt Nam vì nhiều lý do mà lý do chính đó là thăm gia đình, giới trẻ về học tiếng Việt, các nhóm đi làm việc thiện nguyện. Những lý do như vậy không có nghĩa về Việt Nam là chấp nhận hay ủng hộ cơ chế cộng sản, bằng chứng có nhiều người đi Việt Nam rồi về lại Hoa Kỳ vẫn tiếp tục biểu tình chống Cộng Sản. Cũng có một số người Việt hải ngoại đầu tư vào Việt Nam, nhưng con số đó còn hiếm hoi vì không mấy ai tin vào hệ thống luật pháp của CSVN mà điển hình vụ án ông Trịnh Vĩnh Bình (8) ở Hòa Lan làm cho ai nấy đều phải e dè ngao ngán. Nếu ĐCSVN chấp thuận tự do ngôn luận và đa nguyên sinh hoạt chính trị thì chắc chắn hàng rào ngăn cản người Việt hải ngoại sẽ được tháo gỡ, và vì không làm như vậy nên chính ĐCSVN mới là “thiếu hiểu biết, tiếp tục có những hoạt động đi ngược lại lợi ích của dân tộc, không có lợi cho đoàn kết cộng đồng.”

V. Lịch Trình Chuyến Công Du của Ông Triết và Những Diễn Biến:

Sau khi đi Trung Quốc về, CSVN loan báo ông Triết chuẩn bị đi Hoa Kỳ. Trả lời phóng viên Thông Tấn Xã Việt Nam, Ông Triết cho biết nhân dịp Tổng Thống Bush đến Việt Nam tham dự Apec 14 vào tháng 11 năm 2006, Tổng Thống Bush mời ông sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng một chuyến công du của một vị đứng đầu nhà nước phải có thiệp mời chính thức, và có lẽ vì chưa có thiệp mời chính thức nên vào tháng 5/2007, lúc đến Singapore, ông Triết mập mờ nói có thể ông phải hủy bỏ chuyến đi Hoa Kỳ làm cho báo Singapore Straight đăng tin nàỵ Nhưng, sau khi tờ Singapore Straight loan tin đó, vì không muốn bị mất hiệp ước thương mại Tifa rất béo bở với Hoa Kỳ, đầu tháng 6/2007, ĐCSVN quyết định cử một phái đoàn cao cấp 18 người do ông Lê Văn Bằng (9) cầm đầu đến Washington D.C. Tới Washington D.C rồi thì ông Bằng mới đi vận động để cuối cùng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mới chính thức gởi thiệp mời đến ông Triết. Để làm hài lòng Hoa Kỳ, ông Lê Văn Bằng tuyên bố CSVN sẽ thả 3 nhà đấu tranh trong đó có ký giả Nguyễn Vũ Bình (10) và Ls. Lê Quốc Quân (11).

Có dư luận cho rằng lịch trình của ông Triết không được rõ ràng vì Hoa Kỳ không tiếp ông Triết như vị cao cấp nhất của một chính phủ, không được dàn chào long trọng với 21 phát súng dành cho một nguyên thủ quốc gia nên ông Triết ẫm ờ chuyến công du của mình. Nhiều người cho rằng nguyên do lịch trình không được rõ ràng là vì khi ấy Trung Quốc chưa ưng thuận cho ông Triết sang Hoa Kỳ nên ông Triết e ngại không muốn làm mất lòng Trung Quốc, không khéo còn bị thanh trừng y như Trung Quốc đã từng thanh trừng nhiều nhân vật trước đây chống đối ho.. Tuy nhiên, cũng có dư luận cho rằng lịch trình chuyến đi của ông Triết phải dấu kỹ vì ông Triết không muốn bị Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ biểu tình chống đối cách rầm rộ… Không biết rõ lịch trình thì số người tham gia cuộc biểu tình bị giảm thiểu đi.

Lịch trình của ông Triết giờ phút chót mới được tung ra, và lịch trình đó thay đổi liên tục. Những diễn tiến đã xảy ra xung quanh lịch trình chuyến đi của ông Triết như sau:

Thứ Hai 18/6/2007, ông Triết dẫn đầu một phái đoàn hơn 100 người đến New York, phái đoàn CSVN ra đón và có bảo vệ an ninh tối đa. Phóng viên Nguyễn Hùng của Đài BBC tường trình như sau: “Để đi vào khách sạn ở New York, ông Nguyễn Minh Triết phải đi nhanh vào một con đường nhỏ được phủ kín bởi những lớp vải, giống như ông Triết đang chui ống cống để vào khách sạn. Tôi chỉ chụp được một tấm hình với cái lưng của ông Triết!!!” Ông Triết tới New York để yểm trợ vụ án Việt Nam kiện các công ty sản xuất chất độc da cam trong thời kỳ chiến tranh Quốc Cộng (12). Ls. Nguyễn Thanh Phong, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York đã phối hợp với các ông Nguyễn Văn Tánh, Nguyễn Tường Thược, chiến sĩ Lý Tống, ông Ngô Kỷ, ca sĩ Nguyệt Ánh tổ chức cuộc biểu tình trước tòa án làm cho buổi họp báo của CSVN phải bị hủy bỏ. Ông Triết cuối cùng không đến phiên tòa, ông cử ông Uông Chu Lưu, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp đến tham dự, nhưng tất cả không đi cửa trước, chỉ đi vào cửa sau.

Ngày thứ Ba, ông Triết thăm các cơ sở may mặc, nói chuyện với các doanh nhân ngành may mặc của Hoa Kỳ, gặp gỡ chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của công ty General Electrics và các công ty truyền thông, vận động họ đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn nữạ Sau đó, ông tới thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc, hội đàm với Tổng Thư Ký Ban Ki Moon. Ông Ban Ki Moon nhắc nhở khéo với ông Triết và toàn ĐCSVN là hãy mở rộng tự do ngôn luận và chấp nhận hệ thống chính trị đa đảng. Nơi đây, ông Triết cũng nói chuyện với các doanh thương ngành ngân hàng. Ban chiều ông Triết ghé thăm trụ sở Thị Trường Chứng Khoán New York và rung chuông chấm dứt ngày sinh hoạt của thị trường.

Ngày Thứ Tư, ông Triết thuyết trình trước cử tọa của Asia Societỵ Cử tọa lắng nghe lời chào hàng đầu tư vào Việt Nam của ông Triết, nhiều câu hỏi được nêu lên, nhưng tựu trung ai nấy đều quan tâm đến hệ thống luật pháp của Việt Nam không được rõ ràng, guồng máy hành chánh quá cồng kềnh, và tệ nạn tham nhũng quá trầm tro.ng. Chiều tối 20/6, Asia Society tổ chức khoản đãi ông Nguyễn Minh Triết, anh Trần Đông Đức bỏ tiền ra mua được vé cho anh và ông Jerry Keily, một cựu chiến binh Hoa Kỳ trước đây đã tạt rượu vào mặt Phan Văn Khải, tham dự buổi tiếp tân nàỵ Trong lúc ông Triết nói trên bục, ông Jerry Keily đi lên sát gần khán đài nhưng đã bị cảnh sát chận lại, ông Keily hô to: “Hãy trả tự do cho cha Lý.” Ông Keily cho biết rút kinh nghiệm kỳ trước, kỳ này ông chỉ muốn nói lên tiếng nói đòi hỏi cho tự do dân chủ mà thôi, và ông Triết đã nghe tiếng hét đòi hỏi này của ông Keily.

Ngày thứ Năm, ông Triết gặp bà Susan Schwab ở Washington D.C. để ký TIFẠ Sau đó, ông vào Quốc Hội gặp gỡ các vị dân biểu, đặc biệt là tiếp xúc với Chủ Tịch Hạ Việt Nancy Pelosị Trong tất cả các cuộc tiếp xúc, ông đều bị các vị dân biểu đặt vấn đề nhân quyền làm ông rất sượng sùng. Ông Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục tháp tùng trong phái đoàn, một người ra trường tiến sĩ ở Đại Học Harvard, trả lời phỏng vấn CNN, lập tức có một công an chìm đến nhắc ông: “Ông chỉ được trả lời trong phạm vi giáo dục mà thôị” Sự kiện này cho thấy các cán bộ cao cấp, ngay cả Trung Ương, khi ra nước ngoài cũng còn bị Công An Bảo Vệ Chính Trị theo dõi và kiểm soát. Không khéo ngay chính cả ông Triết cũng bị công an theo dõi và nhắc nhở, và nếu ông Triết nói không đúng ý thì công an này sẽ báo cáo lên Bộ Chính Trị và từ đó ông Triết có thể bị thanh trừng!!

Lúc 3 giờ chiều ngày thứ Năm, đại diện cho Tổ Chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản, Bs. Nguyễn Quốc Quân mở cuộc họp báo ngay tại Trụ Sở Quốc Hội, 2203 Rayburn House office Building, trình bày cho các Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ của Hoa Kỳ biết lý do tại sao người Việt biểu tình chống ông Nguyễn Minh Triết, kêu gọi Hoa Kỳ hãy làm áp lực mạnh hơn nữa với CSVN để họ trả lại quyền tự do ngôn luận cho dân chúng, thả các tù nhân đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ, và phải chấp nhận một giải pháp dân chủ hóa đất nước do Hoa Kỳ và quốc tế giám sát. Sự trình bày của bác sĩ Nguyễn Quốc Quân được nhiều người hưởng ứng nhiệt liệt. Dân biểu Dona Rohbacher phát biểu: “Ông Triết không được dân bầu lên làm Chủ Ti.ch. Phải nói thuộc băng đảng (gangster). Tổng Thống George W. Bush là do dân bầu lên, ông không nên tự hạ mình xuống đi tiếp một nhóm băng đảng như vậỵ” Lời phát biểu này như một tát tai vào ĐCSVN. Vừa nghe tin Tòa Đại Sứ Singapore tổ chức khoản đãi ông Triết ở một nhà hàng lúc 6 giờ chiều, trong vòng 15 phút, đã có 300 đồng hương Việt Nam cầm cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và tấm hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng đến đứng biểu tình rầm rộ tới 8 giờ tối. Trong bữa tiệc, Đại Sứ của Singagore nói: “Cách đây khoảng 200 năm, Hoa Kỳ sang Việt Nam lấy hạt giống lúa dài mang về, lúa đã mọc tươi tốt tại quốc gia nàỵ Chúng tôi mong muốn chuyến đi này ông Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết sẽ mang hạt giống Tự Do Dân Chủ gieo trồng trên quê hương của ông.” Ai nấy đều vỗ tay, ngoại trừ ông Triết. Ông Triết đã ăn không ngon, phải tìm cách trốn đi cửa sau. Đoàn biểu tình sau đó về Quốc Hội nhập cuộc với Ủy Ban Liên Tôn trong một chương trình Đêm Thắp Nến Cầu Nguyện Cho Quê Hương thật súc tích và cảm đô.ng.

Sáng ngày thứ Sáu, từ 8 giờ sáng đồng hương Việt Nam đã có mặt ở tại Công Viên Lafayette đối diện với Tòa Bạch Ốc để chuẩn bị biểu tình chống phái đoàn CSVN. Cuộc biểu tình này do ông Lý Văn Phước, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Washington D.C. và ông Lê Quyền đã phối hợp với tất cả các cộng đồng trên khắp Hoa Kỳ. Phái đoàn Houston hơn 80 người, phái đoàn Bắc California khoảng 50 người, phái đoàn Nam California khoảng 50, đã đến tham dự trong cuộc biểu tình này làm cho tinh thần mọi người phấn chấn lên. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông, hơn 3000 người cùng giơ cao cánh tay hướng về Tòa Bạch Ốc: “Nguyễn Minh Triết, về đi Nguyễn Minh Triết, trả tự do cho cha Lý.” Hầu như tất cả các đảng phái đấu tranh đều tham dự, nhưng tất cả chỉ hoạt động trong ô dù của cộng đồng, và phải nói cuộc biểu tình rất hài hòa và đoàn kết. Đoàn biểu tình cầm cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và tấm hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại tòa án tuần hành trước Tòa Bạch Ốc như một cây đinh nhọn đâm thấu nhức gan óc ông Triết và phái đoàn CSVN. Theo chương trình dự trù thì Tổng Thống George W. Bush tiếp đón ông Triết ở Tòa Bạch Ốc, nhưng vì đoàn biểu tình quá rầm rộ, hơn 20 người trong phái đoàn Cộng Sản vào cửa trước còn ông Triết thì phải trốn vào cửa sau nên cuộc tiếp đón hơi trễ và kết thúc cũng trễ hơn. Chính phủ Hoa Kỳ đã phải huy động thêm nhiều xe cảnh sát để ngăn chận không có những xô xát giữa đoàn biểu tình và phái đoàn CSVN. Học bài học kỳ trước, kỳ này phái đoàn CSVN lặng lẽ vào và lặng lẽ đi ra xe, không có một thái độ kênh kiệu hay khiêu khích. Đối lại, rút tỉa kinh nghiệm chuyến công du của ông Phan Văn Khải năm 2005, Ban Tổ Chức biểu tình kỳ này đã dự trù những kế hoạch để ngăn chận tất cả những cuộc ẩu đả ngõ hầu cuộc đấu tranh của người Việt Quốc Gia được sáng ngời chính nghĩa. Đoàn biểu tình kỳ này đã rất tự chế và có kỷ luật làm cho chính giới Hoa Kỳ và các cảnh sát tại hiện trường rất có cảm tình.

Phóng viên CBS Peter Maer cho biết đây là cuộc biểu tình của người Việt lớn nhất từ trước tới giờ ở Washington D.C. Một phóng viên khác của CBS, Mark Knoller, được vào trong Tòa Bạch Ốc cho biết lúc gặp gỡ ông Triết, Tổng Thống Bush nhắc nhở hàng trăm người đang biểu tình ở ngoài đòi hỏi tự do dân chủ; nguyên văn như sau: “Societies are enriched when people are allowed to express themselves freely or worship freely… In order for relations to grow deeper, that it”s important for our friends to have a strong commitment to human rights and freedom and democracy,” – “Các xã hội được phong phú hóa khi người dân được tỏ bày hoặc được phụng thờ cách tự do.. . Để cho những quan hệ được lớn mạnh và sâu hơn, những người bạn của chúng ta cần phải hiểu rằng sự gắn bó với nhân quyền, tự do, và dân chủ rất là quan trọng.” Ông Triết đã biết trước trong chương trình Tổng Thống George W. Bush và Chủ Tịch Quốc Hội Nancy Pelosi sẽ đề cập đến vấn đề nhân quyền, và trong bài trả lời phỏng vấn Thông Tấn Xã Việt Nam, ông nói rằng việc Tổng Thống Bush đưa đề tài nhân quyền ra để thảo luận trong buổi gặp gỡ lịch sử này là không thích hợp. Ngay trong tại Tòa Bạch Ốc, theo phóng viên Mark Knoller, ông Triết trả lời qua một thông dịch viên: “Chúng tôi sẵn sàng bàn thảo đến vấn đề này một cách trực tiếp và thẳng thắn để hai bên cùng hiểu nhau hơn về khái niệm nhân quyền, nhưng chúng tôi mong muốn không phải vì thế mà quên đi bức tranh toàn diện và quan trọng hơn đó là đừng làm thiệt hại đến quan hệ ngoại giao của hai quốc giạ” Hình ảnh hàng ngàn người biểu tình ở ngoài và lời nhắc nhở đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam của Tổng Thống Bush đã như những mũi nhọn đâm suốt qua làm buốt óc những người lãnh đạo CSVN.

Sau cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Triết bay đi Los Angeles và xuống thành phố Dana Point, cách xa Westminster khoảng 45 phút lái xe, để tiếp xúc các doanh nhân vào lúc 7 giờ chiềụ Ông Triết đã đến trễ, gần 8 giờ tối mới tới, xe của ông không có treo cờ Đỏ Sao Vàng. Khách sạn tiếp đón ông cũng không treo cờ Cộng Sản cho thấy họ không muốn có một hình thức khiêu khích nào với người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Cuộc họp mặt này do Vietnamese – American Entrepreneurs” Association & Vietnam Business Association tổ chức. Ông Triết đã được đoàn xe cảnh sát và trực thăng hùng hậu hộ tống, nhưng đã không dám vào khách sạn cửa trước, phải vào cửa sau. Tổng lãnh sự CSVN tại San Francisco, ông Trần Tuấn Anh, làm điều hợp viên chương trình. Khách sạn chứa tối đa là 600 chỗ ngồi, nhưng theo phóng viên Đàn Chim Việt, 13 bàn tiệc đã đầy người, và mỗi bàn chỉ có 13 chỗ ngồi. Con số vài trăm người tham dự đó, đa phần là những người trong phái đoàn Cộng Sản hoặc ở trong Tòa Tổng Lãnh Sư.. Trong các quan khách, người ta thấy có mặt ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và cựu Thủ Tướng VNCH. Ông đã bay vội từ Việt Nam về để tham dự buổi tiệc ngõ hầu “rửa mặt” cho ông Triết trước làn sóng biểu tình rầm rộ ở khắp nơi. Ông Triết, giọng văn không hùng hồn nhưng mộc mạc của người Nam Bộ, kêu gọi quên đi quá khứ và “hòa hợp hòa giải dân tộc.” Đáp lời kêu gọi của ông Triết, ông Nguyễn Cao Kỳ ca ngợi sự thành công của Đảng và Nhà Nước CSVN và cám ơn ông Triết đã khẳng định lại chính sách “đại đoàn kết” này. Buổi tiệc kéo dài tới 11 giờ đêm thì chấm dứt. Trong khi đó, ở bên ngoài, Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Cộng do quý ông Phan Kỳ Nhơn, Cao Viết Lợi, Nguyễn Phục Hưng, nhà báo Vi Anh, v.v., phối hợp và lãnh đạo đã tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ với nhiều ngàn người tham dự từ 5 giờ chiều cho tới 12 giờ đêm. Tham dự cuộc biểu tình người ta ghi nhận có cả Giám Sát Viên Quận Hạt Orange County cô Janet Nguyễn. Ngày hôm sau, đoàn biểu tình lên rất đông, có người ước đoán từ 5 cho tới 10 ngàn. Đoàn biểu tình yêu cầu ông Triết và ĐCSVN hãy trả tự do cho các nhà đấu tranh dân chủ, đặc biệt linh mục Nguyễn Văn Lý. Linh mục Phan Văn Lợi điện thoại từ Huế ủng hộ tinh thần cho những người biểu tình.

Theo chương trình dự trù, Thị Trưởng Los Angeles Antonio Villaraigosa và nhiều viên chức khác của tiểu bang California đón tiếp ông Nguyễn Minh Triết tại Tòa Thị Sảnh, nhưng trước khí thế đấu tranh của người Việt tỵ nạn Cộng Sản, họ lấy lý do ông Triết thay đổi chương trình liên miên nên họ hủy bỏ không gặp ông Triết và phái đoàn CSVN.

Sau đó ông Triết bay sang Canada, kết thúc chuyến công du tại Hoa Kỳ.

VI. Phản Ứng Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản:

Người Việt hải ngoại có 3 phản ứng về chuyến đi này của ông Triết:

1/ Ủng hộ ông Triết để ông Triết lên tinh thần đương đầu lại với phe Nguyễn Phú Trọng và nhóm giáo điều, mong rằng ông Triết có thêm thực lực để quyết tâm cải tiến đất nước. Đại diện cho nhóm này là những người tham dự bữa tiệc ở thành phố Dana Point với ông Triết. Có lẽ ông Nguyễn Cao Kỳ là con chim đầu đàn của nhóm nàỵ Nhiều người chống đối nhóm này vì cho rằng vô tình họ gởi ra một tín hiệu sai lầm là người Việt hải ngoại ủng hộ cơ chế Cộng Sản Việt Nam.

2/ Vận động để có sự đối thoại công khai với ông Triết. Thái độ này cũng chỉ có một nhóm nhỏ vì ông Triết ở vị trí thượng phong cũng chẳng muốn đối thoại với một vài nhóm, còn nếu đối thoại với người Việt hải ngoại thì lấy ai làm đại diện? Hơn nữa, protocol đối thoại như thế nào để tránh tình trạng Cộng Sản sử dụng đây là một phương tiện tuyên truyền, không chịu trả lời những câu hỏi hay không chịu đi sâu vào đề tài thảo luận thì cuộc đối thoại trở thành độc thoại vô nghĩạ Trong bữa tiệc ở Dana Point, ông Triết kêu gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải, và đại đoàn kết dân tộc. Đây là lời kêu gọi rỗng tuếch vì bao lâu ĐCSVN chủ trương độc tài đảng trị không chấp nhận tự do ngôn luận thì bấy lâu ĐCSVN là căn nguyên của sự chia rẽ và phá hoại đất nước và dân tộc.

3/ Tổ chức biểu tình rầm rộ nơi nào ông Triết đến với quan niệm biểu tình chống ông Triết không phải vì hận thù cá nhân ông ấy nhưng ông ấy là người đứng đầu cho cơ chế NNCHXHCNVN, là biểu tượng của cơ chế Cộng Sản, chống ông ấy là chống cơ chế Cộng Sản đó. Nơi nào ông Triết đến, dầu là ngày thường, nhiều người Việt bỏ công ăn việc làm tham dự cuộc biểu tình, từ New York, Washington D.C. đến Los Angeles. Đây là khuynh hướng của đại đa số người Việt tại Hoa Kỳ.

VII. Thái Độ Của Hoa Kỳ:

Trước khi ông Triết đến Hoa Kỳ, ngày 29/5/07 Tổng Thống Bush tiếp 4 nhân vật đấu tranh ở hải ngoại đó là các ông Đỗ Hoàng Điềm, Đỗ Thành Công, Lê Minh Nguyên, và bác sĩ Nguyễn Quốc Quân. Tòa Bạch Ốc cũng gởi thư mời cho hai người khác đó là Kỹ Sư Đỗ Nam Hải và Giáo Sư Nguyễn Chính Kết nhưng họ không đến được. Buổi gặp gỡ khoảng 45 phút, trong buổi gặp gỡ này Tổng Thống Bush và nội các của ông bày tỏ ủng hộ cuộc đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ của người Việt.

Hai tuần sau, Phó Tổng Thống Dick Cheney và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tiếp đón Đảng Dân Chủ Thế Kỷ 21 do bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi cầm đầụ Một ngày trước khi ông Nguyễn Minh Triết đến Washington D.C., nội các của Tổng Thống George W. Bush cũng đã tiếp phái đoàn Việt Nam, trong đó có Dân Biểu Trần Thái Văn, Dân Biểu Hubert Võ, Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, bà Ngô Thị Hiền, v.v. Sau chuyến công du của ông Triết, ngày 27/6/2007, Tổng Thống Bush và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia tiếp đón một phái đoàn Lực Lượng Tự Do Dân Chủ của Việt Nam gồm có Bs. Nguyễn Quốc Quân, Gs. Nguyễn Ngọc Bích, ông Đỗ Hoàng Điềm, Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, ông Đỗ Thành Công, v.v. Đây là dấu hiệu tốt Hoa Kỳ bắt đầu lưu tâm đến nỗ lực tranh đấu cho dân chủ của người Việt ở trong và ngoài nước, và nhân cơ hội này, cá nhân tôi xin chúc mừng các vị và các tổ chức đã được Tổng Thống George W. Bush và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ tiếp đón. Trong các buổi gặp gỡ, Hoa Kỳ nhắn gởi tất cả các phe nhóm trong Lực Lượng Dân Chủ phải biết phối hợp với nhau ở một tương lai gần thì mới được sự hỗ trợ tích cực của Hoa Kỳ từ tinh thần cho đến những khía cạnh khác. Theo họ, chúng ta có quyền có nhiều khuynh hướng chính trị, từ cánh tả đến cánh hữu, nhưng chỉ có một cao trào, và đã là đấu tranh chính trị thì phải biết tương nhượng và điều đình (compromise) để mọi khuynh hướng cùng được tồn tại tiến công về một mục tiêu.

Ngày 21/6/07, trong lúc ông Triết có mặt tại Washington D.C., Dân Biểu Zoe Lofgren của California đưa ra Dự Luật H.R. Res. 11 yêu cầu rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia được ưu đãi thương mại vĩnh viễn với Hoa Kỳ vì CSVN đã và đang vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.

Chưa hết, nhân chuyến công du Âu Châu và đi dự cuộc họp Thượng Đỉnh G8, tại Praha nước Tiệp, Tổng Thống Bush đã lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền. Việc Tổng Thống George W. Bush tiếp đón các nhà đấu tranh và công khai chỉ trích CSVN là một hình thức cảnh cáo CSVN và quan thầy Trung Cô.ng. Rõ ràng, Hoa Kỳ dùng người Việt tỵ nạn cộng sản như một dây roi để đưa CSVN vào quỹ đạo mà Hoa Kỳ mong muốn.

Lời Kết:

Thế giới hôm nay biến chuyển mau lẹ và phức tạp, đấu tranh cho nhân quyền, tự do và dân chủ cho đất nước, Lực Lượng Dân Chủ phải biết nhìn ra cả cuộc cờ của thế giới để phối hợp tiến thoái nhịp nhàng ngõ hầu giảm thiểu sự thiệt hại và tăng cường mức độ thành công. Chính sự phối hợp tiến thoái đó cũng đã là một sự phức tạp rồi vì có những người không đủ kiến thức, không đủ lòng bao dung, không đủ khả năng nhận định, hoặc vì một lý do nào đó, chụp mũ đánh phá tơi bời làm cho nhiều người nao núng hoặc bị ngộ nhận. Nhưng, đấu tranh mà được người ta khen thì dễ dàng rồi, đấu tranh mà bị người ta hiểu lầm nhục mạ mà vẫn tiếp tục đấu tranh cho đất nước thì đó mới chính là những người con yêu quý của Mẹ Việt Nam. Chuyến công du của ông Nguyễn Minh Triết sang Hoa Kỳ là một nước cờ trong cuộc cờ lớn của thế giới cho thấy vì áp lực của quốc tế, CSVN đang tìm cách lột xác để tồn tại, và trong tiến trình lột xác đó có những điểm yếu mà Lực Lượng Dân Chủ cần phải phối hợp với nhau để khai thác ngõ hầu thúc đẩy tiến trình đấu tranh sớm thành công. Nếu vì lý do cần phối hợp để đưa cuộc đấu tranh sớm thành công mà bị những cá nhân (nhất là các cụ cực đoan) hoặc tổ chức bạn hiểu lầm, dèm pha, bĩu môi, chụp mũ, đánh phá, cách hay nhất là các chiến sĩ đấu tranh hãy thinh lặng dành thì giờ cho những việc hữu ích vì “vàng thật không sợ lửa” hoặc “cây ngay không sợ chết đứng.” Chúc cho tất cả các chiến sĩ ra mặt trận đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ được vững tâm tiến lên mang lại một tương lai tươi sáng cho con dân nước Việt.

Phụ chú:

1. Tôn Đức Thắng (19/8/1888 – 30/3/1980) sinh ở Long Xuyên. Năm 1912 ông tham gia Hải Quân Pháp. Năm 1918, lúc còn là thủy thủ trên Hạm Đội Waldeck-Rousseau của Pháp, ông lập kế hoạch cướp lấy hạm đội này để trao cho người Nga nhưng không thành. Năm 1929, ông bị Pháp bắt giam và đày ra đảo Poulo Condore mãi cho đến năm 1945 khi Việt Minh lên nắm quyền. Về nước, ông được làm Chủ Tịch Đảng Liên Việt, một ngoại vi của ĐCSVN, và Đảng này bị giải tán năm 1954. Sau khi Đảng Liên Việt bị giải tán, ông Thắng qua làm Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc và làm Phó Chủ Tịch Nước. Năm 1967, ông được giải Lenin do Đệ Tam Quốc Tế trao thưởng. Thắng là người rất ngoan ngoãn nghe theo lệnh của Lê Duẫn nên sau khi Hồ Chí Minh Chết, Thắng lên thay thế làm Chủ Tịch Nhà Nước, và sau khi miền Nam sụp đổ, Thắng vẫn được sủng ái mãi cho đến khi qua đời năm 1980 ở Hà Nội.

2. Nguyễn Hữu Thọ (10/7/1910 – 24/12/1996) là một luật sư nổi tiếng ở miền nam, đã tham gia vào Đảng Xã Hội của Pháp. Ông từng bị chính phủ Pháp bắt bỏ tù từ năm 1950 -1952. Sau Hiệp Định Geneve năm 1954, ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh, ông Thọ ra mặt chống đối Tổng Thống Diệm. Năm 1961, chính quyền Tổng Thống Diệm bắt ông Thọ, ông Thọ được Cộng Sản cứu vượt ngục đưa ông ra bưng và tôn ông lên làm Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng do họ thành lập. Sau khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, họ giải tán Mặt Trận. Năm 1980, Tôn Đức Thắng qua đời, ông lên làm Chủ Tịch Nhà Nước thay cho ông Thắng. Năm 1983, ông được giải Lenin, và năm 1987, ông làm Chủ Tịch Quốc Hộị Những năm sau, ông sống ẩn dật mãi cho đến khi qua đời năm 1996.

3. Võ Chí Công (7/8/1913 – ?), ngay từ hồi niên thiếu, đã tham gia các cao trào chống Pháp, và đầu thập niên 1940s, ông gia nhập Đảng Cộng Sản. Năm 1942, ông bị Pháp bắt giam cả năm trờị Sau khi được trả tự do, ông chìm trong bóng tối mãi cho đến năm 1961, ông công khai là một trong những thành viên sáng lập của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Năm 1976, ông vào Bộ Chính Tri.. Ông từng giữ nhiều chức vụ như Bộ Trưởng Ngư Nghiệp, (1976 -1977), Bộ Trưởng Nông Nghiệp (1977 – 1978), Phó Thủ Tướng (1976 – 1982) và cuối cùng là Chủ Tịch Nhà Nước. Năm 2002, ông viết một bài đăng trên Tạp Chí Cộng Sản số 16 tố cáo ĐCSVN tham nhũng và yêu cầu phải triệt hạ con vi trùng tham nhũng vì theo ông chính con vi trùng này làm băng hoại cả đất nước. Ông được nhiều người Cộng Sản lão thành hưởng ứng.

4. Năm 1925, các cụ Lê Văn Huân, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Xuân Chữ sáng lập Đảng Phục Việt. Đảng này vận động tranh đấu để Pháp giảm án tội tử hình cụ Phan Bội Châu xuống thành chung thân. Trần Phú, Hà Huy Tập, Trần Phạm Hồ là những người trẻ tham gia vô Đảng Phục Việt. Năm 1928, các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thái Mai, Trần Vỹ, đổi danh xưng Đảng Phục Việt thành Tân Việt Cách Mạng Đảng. Khi nắm quyền trong Tân Việt Cách Mạng Đảng, Trần Phú, Hà Huy Tập, Trần Phạm Hồ giải tán đảng này để thành lập Liên Đoàn Đông Dương Cộng Sản. Được sự ủy quyền của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, năm 1928, Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này, đến Thái Lan giúp Đảng Cộng Sản Trung Quốc phát triển trong cộng đồng Hoa Kiều tại đâỵ Tháng 5/1929, Stalin ra lệnh cho

Nguyễn Ái Quốc đi Hồng Kông để chủ tọa sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Phiên họp đầu tiên, ngày 17/6/1929, các phe nhóm Cộng Sản phân hóa trầm trọng, phe Cộng Sản trong miền nam không phục phe Cộng Sản ở miền trung, và phe Cộng Sản ở miền trung không phục phe Cộng Sản ở miền bắc. Nguyễn Ái Quốc xin ý kiến, và Stalin ra lệnh tất cả các phe phải dẹp qua một bên, ngày 3/2/1930, thống nhất với nhau để khai sinh ra Đảng Cộng Sản. Trong phiên họp ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc tấn phong cho Trần Phú làm Tổng Bí Thự Tháng 10 năm 1930, theo lệnh của Stalin, Đảng Cộng Sản Việt Nam được đổi tên là Đảng Cộng Sản Đông Dương. Sau phiên họp ở Hồng Kông thành lập Đảng, ông Phú về Việt Nam hoạt động và ông bị Pháp bắt vào tháng 10 năm 1930, bị giam giữ 5 tháng, sau đó ông qua đời tại trại giam ở Sài Gòn.

Ngày 11/11/1945, để đánh lừa Phe Quốc Gia, Hồ Chí Minh bề ngoài giải tán Đảng Cộng Sản nhưng bề trong Đảng Cộng Sản vẫn tồn tại và hoạt đô.ng. Tháng 7 năm 1951, theo lệnh của Moscow, tại Tuyên Quang Việt Bắc, trong Đại Hội II Đảng Lao Động, Hồ Chí Minh đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động và sau khi Nam Việt Nam thất thủ, năm 1976, Lê Duẫn đổi tên Đảng lại thành Đảng Cộng Sản Việt Nam.

5. Lê Hồng Phong (1902 – 1940) là một trong những người trẻ đầu tiên tham gia Đảng Phục Việt, sau đổi tên là Tân Việt Cách Mạng Đảng. Năm 1928, một cô gái trẻ từ Nghệ An tên là Nguyễn Thị Vinh (sinh năm 1910) xin gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng. Lê Hồng Phong là người hướng dẫn chính trị cho Nguyễn Thị Vinh, và Nguyễn Thị Vinh chọn bí danh là Nguyễn Thị Minh Khaị Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai đi Hồng Kông tham dự đại hội thành lập ĐCSVN do Nguyễn Ái Quốc theo lệnh của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chủ tọạ Nguyễn Ái Quốc là một người háo sắc, thấy Nguyễn Thị Minh Khai trẻ đẹp, liền nhận nhiệm vụ hướng dẫn chính trị cho Minh-Khai và sau đó cuỗm Minh-Khai luôn, phỏng tay trên Lê Hồng Phong. Nguyễn Ái Quốc, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai về Moscow để thụ huấn thêm, và tháng 7 năm 1935, họ tham dự Đại Hội VII của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Thật ra, lúc này Stalin nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc nên triệu tập về Moscow để giám sát và giam lỏng. Tại Moscow, Nguyễn Ái Quốc sử dụng bí danh là “Đồng Chí Lâm” – “Comrade Lin” và Nguyễn Thị Minh Khai sử dụng bí danh là Phan Lan. “Đồng Chí Lâm” và Phan Lan ghi danh để chung sống với nhau như vợ chồng. Sau Đại Hội VII của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, Lê Hồng Phong được trao cho nhiệm vụ về hoạt động ở trong nam của nước Việt. Năm 1940, ông tham gia Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ông bị Pháp bắt, đày ông ra Côn Đảo và ông qua đời năm 1942. Phần Nguyễn Thị Minh Khai, năm 1937, bà qua Pháp rồi về hoạt động ở Sài Gòn. Năm 1939, bà sinh một người con gái, Lê Thị Hồng Minh, và Đảng Cộng Sản nói Hồng Minh là con của Minh-Khai & Hồng-Phong. Năm 1940, cùng với Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai tham gia Nam Kỳ Khởi Nghĩa, bị thất bại, bà bị bắt, và bị Pháp đem ra xử tử ở Hóc Môn năm 1941. Mối tình tay ba Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) – Lê Hồng Phong – và Nguyễn Thị Minh Khai còn nhiều bí ẩn và chắc chắn lịch sử trong tương lai sẽ làm sáng tỏ.

6. Hà Huy Tập (24/4/1906-1941) sinh ra trong một gia đình nho giáo ở Làng Kim Nặc tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1926, ông tham gia Đảng Phục Việt, sau đổi thành Tân Việt Cách Mạng Đảng. Ông tham dự phiên họp sáng lập ĐCSVN ở Hồng Kông năm 1930. Năm 1936, Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong bị giam lỏng ở Moscow, sự phân hóa trong Đông Dương Cộng Sản Đảng bộc phát, họ chia ra làm nhiều nhóm, tranh giành quyền lực với nhaụ Cuối cùng họ bầu chọn một Ban Thường Vu.. Năm 1936, họ bầu Hà Huy Tập làm Tổng Bí Thư. Năm 1939, Hà Huy Tập bị Pháp Bắt và họ xử tử ông vào năm 1941.

7. Nguyễn Văn Cừ (1912-1941) tham gia chống Pháp ngay từ niên thiếụ Năm 1940, ông bị Pháp bắt giam và ông qua đời năm 1941. Danh sách các nhân vật khác, xin xem phần ghi chú các nhân sự trong bài ông Võ Văn Kiệt Trả Lời Phỏng Vấn BBC.

8. Ông Trịnh Vĩnh Bình, sinh năm 1947, vượt biên năm 1976 và đi định cư ở Hòa Lan. Ông học xong Đại Học, nhập quốc tịch, và trở thành đảng viên Đảng Dân Chủ Tự Do của Hòa Lan. Ông mở công ty sản xuất chả giò và thành công tột bực và được báo chí Hòa Lan tôn vinh ông là Vua Chả Giò. Đầu thập niên 1990s, nghe theo lời kêu gọi của CSVN, ông bán công ty chả giò và mang số vốn khoảng 3 triệu Mỹ Kim về Việt Nam đầu tự Ông thành lập công ty hữu hạn Tín Thành ở Bà Rịa – Vũng Tàu sản xuất hải sản. Ông cũng đầu tư vào nhiều bất động sản khác. Cuối năm 1996, ông bị công an làm khó dễ. Tướng Lê Minh Hương chuyển ý của Thủ Tướng Phan Văn Khải đến Tướng Nguyễn Khánh Toàn là phải chấm dứt cuộc điều tra, ông Toàn không tuân lệnh, quyết tâm làm lớn chuyện hơn. Năm 1998, CSVN đưa ông Trịnh Vĩnh Bình ra tòa với 2 tội danh là “hoạt động đầu tư bất hợp pháp và hối lộ viên chức chính quyền.” Ông Bình bị án 11 năm tù, phạt 480 lượng vàng và 6.2 tỷ đồng VN cũng như bị tịch thu toàn bộ tài sản ở Việt Nam. Ông Bình vượt ngục trốn thoát trở về Hoa Lan. Tại Hòa Lan, ông làm sáng tỏ CSVN dàn dựng vật chứng và mua chuộc nhân chứng để hãm hại ông ngõ hầu có cớ tịch thu tài sản kếch sù ông tạo dựng được ở Việt Nam. Tháng 5 năm 2004, ông Trịnh Vĩnh Bình nhờ luật sư kiện CSVN tại tòa án Quốc Tế ở Stockholm đòi bồi thường 150 triệu Mỹ Kim. Cuối năm 2006, phiên tòa được đình hoãn để cho hai bên có cơ hội điều đình.

9. Lê Văn Bằng sinh ngày 30/6/1947 ở Ninh Bình. Ông lập gia đình và có 2 con. Năm 1966, ông tham gia vô Đoàn Thanh Niên Cộng Sản và sau đó vào ĐCSVN. Năm 1968 – 1972, ông du học tại Cuba, học môn Anh Văn. Trở về nước, ông là chuyên viên cho Bộ Ngoại Giao Cộng Sản để thi hành Hiệp Định Paris. Năm 1976 – 1977, ông học thêm tại Đại Học Quốc Gia Úc (Australian National University). Năm 1982, ông làm Bí Thư thứ ba của Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Anh. Năm 1986, ông được cử làm phụ tá Bộ Ngoại Giao đặc trách Bắc Mỹ. Năm 1993 – 1995, ông là Đại Sứ CSVN tại Liên Hiệp Quốc. Năm 1995, ông được cử làm đại sứ tại Hoa Kỳ. Năm 2002, ông về nước giữ chức vụ Thứ Trưởng Ngoại Giao và có nhiều triển vọng sẽ làm Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong kỳ tới.

10. Nguyễn Vũ Bình sinh ngày 2 tháng 11 năm 1968 ở Nam Định. Ông ra trường về kinh tế ở Đại Học Hà Nội, ông tham gia Đảng Cộng Sản và sau đó ông làm ký giả cho Tạp Chí Cộng Sản. Ngày 2/9/2000 ông nộp đơn xin thành lập Đảng Tự Do Dân Chủ. Trong lúc đó, ông viết một bài tiểu luận phân tích những tiêu cực của xã hội Việt Nam. Tháng 9 năm 2001, ông ủng hộ giáo sư Trần Khuê lập Hội Chống Tham Nhũng. Tháng 7 năm 2002, ông cùng với 16 nhà dân chủ khác ký tên chống lại những đàn áp của ĐCSVN đối với những người hoạt động bất bạo đô.ng. Vì những hành động can cường này, tháng 7 năm 2002 ông được Giải Nhân Quyền Hellman/Hammett. Quốc Hội Hoa Kỳ mời ông qua tường trình các hoạt động vi phạm nhân quyền của CSVN, và buổi tường trình dự trù là ngày 23/7/2002. Vài ngày trước cuộc điều trần, ông Nguyễn Vũ Bình bị CSVN bắt giữ không cho ông đi Hoa Kỳ, sau đó họ thả ông rạ Nhân vụ CSVN cắt đất dâng biển cho Trung Cộng, ông viết và phổ biến trên mạng lưới lên án tội ác này của CSVN. Ngày 25/9/2002, CSVN bắt giam và truy tố ông, họ giam giữ ông tại Nam Hà cho tới ngày 10/6/2007, họ trả tự do cho ông như một trao đổi với Hoa Kỳ trước khi Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết công du Washington D.C.

11. Luật sư Lê Quốc Quân, 36 tuổi, quê ở Hà Nộị Sau khi ra trường, ông làm cố vấn cho Ngân Hàng Thế Giới, Asian Development Bank, và United Nations Development Bank. Sau đó, ông qua Hoa Kỳ tham dự khóa National Endowment For Democracy ở Washignton D.C. Ngày 8/3/2007 ông trở về Việt Nam thì bị công an bắt giữ, họ tình nghi ông làm việc cho CIẠ Ngày 16/7/2007, khi trả tự do cho Ls. Lê Quốc Quân, CSVN nói ông “đã thành thật khai báo và thú nhận tội lỗi của mình để được sự khoan hồng của Nhà Nước.”

12. Trong Cuộc Chiến Việt Nam, từ năm 1962 – 1971, Hoa Kỳ đã rải khoảng 20 triệu gallons hóa chất dioxin, thường được gọi là Chất Độc Da Cam, tại Nam Việt Nam để tiêu diệt các lùm cây cỏ ngõ hầu không cho Cộng quân trốn núp. Năm 1984, các cựu chiến binh Hoa Kỳ nộp đơn tập thể (class action) tố 7 công ty chế tạo hóa chất da cam vì cho rằng hóa chất diệt cây cỏ này đã làm thiệt hại sức khỏe của họ khi họ phải hành quân ở Việt Nam. Các công ty liền điều đình và đền bồi cho các cựu chiến binh 180 triệu Mỹ Kim. Năm 2004, CSVN nộp đơn tại tòa án Liên Bang Hoa Kỳ kiện các công ty đó, mong rằng cũng sẽ được các công ty điều đình trả tiền bồi thường. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi một văn thư đến chánh án: “Những đòi hỏi của Nguyên Đơn thật là ngạc nhiên vì như thế sẽ mở cánh cửa tòa án của Hoa Kỳ ra cho tất cả những quốc gia và các chiến binh cựu thù.” Ngày 10/3/2005, chánh án Jack Weinstein quyết định bác đơn khởi tố của CSVN với những lý do Tòa Án không có thẩm quyền xử vụ án mà các hành vi lại diễn ra trong thời kỳ hai bên có chiến tranh, đã quá lâu, và đặc biệt bên phía CSVN không đưa ra đủ bằng chứng và nhân chứng để thuyết phục các nạn nhân đã bị thiệt hại là do nhiễm chất độc da cam. CSVN kháng án lên Tòa Phúc Thẩm Liên Bang Số 2 và phiên tòa phái đoàn CSVN đến là để nghe quyết định của Tòa Phúc Thẩm về vấn đề nàỵ Tham dự viên ngồi chật cả tòa án, ba vị thẩm phán Robert Sack, Roger Miner, và Peter Hall nghe tranh luận của luật sư hai bên. Luật sư Weth Waxman đại diện cho các công ty trình bày thân chủ của ông không hề có ác ý và không hề biết rõ hóa chất da cam độc hại như vậy, hơn nữa, thân chủ của ông làm theo lệnh của Tổng Thống và Bộ Quốc Phòng. Luật sư Johnathan C. Moore đại diện cho phía Việt Nam quả quyết các công ty có ác ý, các công ty biết hóa chất rất độc hại, và các công ty đã bất cẩn. Các Thẩm Phán có khuynh hướng ủng hộ quan điểm của luật sư đại diện cho các công tỵ

Ls. Hoàng Duy Hùng
Houston ngày 27/6/07

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Previous Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Sáu 2007
H B T N S B C
    Th7 »
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

Posts by Month

Posts by Category