Posts filed under ‘Bài viết




Ngôn Ngữ Saigon

Đọc lá thư của bạn kể kỳ rồi về Saigon, đi đâu cũng nghe người ta nói ”không dám đâu”, ”biết chết liền”…thật buồn cười.

Những chuyện chữ nghĩa như thế rất nhiều. Bạn ở xa về lạ tai nhưng người trong nước nghe hoài mỗi ngày, câu cửa miệng nói hoài hằng ngày nên chẳng bao giờ để ý ngẫm nghĩ ý nghĩa và âm thanh để thấy buồn cười hay không. Trên trang viết, điều ấy cũng hiển hiện khá rõ. Một ông chủ bút có nhận xét đọc truyện từ Saigon gửi đi biết ngay người viết được đào tạo sau 75, lớn lên sau 75 trong khi một ông chủ bút khác lại nhận xét tác giả hẳn là một ông Bắc-kỳ thời tiền chiến chứ không phải một cô nương được sinh ra nơi xứ miền Nam thừa thãi gió và nắng vàng.

Chắc chắn sống ở Saigon ba mươi năm nay, ít nhiều gì dân Saigon và dân tứ xứ nhập cư cũng phải chịu ảnh hưởng, nói chính xác hơn, bị áp đặt phải dùng loại ngôn từ của nhà nước để giao tiếp với nhau vì các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, truyền thanh, truyền hình, loa phóng thanh, internet…đều chỉ dùng một cách nói như vậy. Thí dụ như để ”quay” bài trong phòng thi, thí sinh dùng tài liệu giấu giếm ngày xưa gọi là ”bùa”, nhưng bây giờ là ”phao”. Mới đầu nghe ”phao” không quen, thật chướng tai. Nhưng rồi bắt buộc ai cũng phải dùng bởi nói ”bùa” thì nhiều người trẻ không hiểu. Từ ngữ và cách diễn đạt rập khuôn ra rả và đầy dẫy khắp nơi bất cứ lúc nào nên khi chuyện trò với nhau, người ta lập lại như cái máy không thể khác đi.

Cứ nói năng không suy nghĩ theo một kiểu để một hôm nào đó ngồi chơi nghĩ lại bỗng bật cười không hiểu sao ngôn ngữ của mình trở nên kỳ cục vậy. Những cuộc chuyện trò thường có vẻ cứng ngắc vì hay bị xen vào bởi: ”em xin có ý kiến” kiểu áo này đẹp hơn, và sau đó: ”xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ được giao là”…đi chợ, bồng em; ”nhất trí” hẹn hò chiều nay, ”kiểm điểm rút kinh nghiệm” sau hai lần tới trễ… Trong bữa ăn, không phải nhận xét mà là ”phê bình, góp ý” các món ăn xem món nướng nào ”đạt chỉ tiêu chất lượng” và món kho nào ”cần phấn đấu”… để lạt bớt!!!

Có điều, một số ít từ ngữ không còn mang đúng ý nghĩa ban đầu. Trong câu chuyện đùa cợt, ”Thưa cán bộ” là câu nói mở đầu đầy hài hước, ”đồng chí” là đồng đảng khi rủ rê nhau họp mặt nhậu nhẹt hoặc lẻn cúp giờ…mang đầy ý giễu cợt. Chỉ những người già rút lui vào nhà, không có nhiều mối quan hệ ngoài xã hội mới giữ được hoàn toàn cách diễn đạt với những ngôn từ cũ.

Có điều rất khó để giữ như vậy. Tiếng Việt như mọi ngôn ngữ khác đang được cả một dân tộc hiện dùng. Ngôn ngữ mang sự sống trong lòng, chính bản thân ngôn ngữ là sự sống nên luôn luôn thay đổi. Nhiều chữ ít dùng dần dần bị mất đi và nhiều chữ mới được thêm vào tùy theo thời gian, hoàn cảnh lịch sử, xã hội thay đổi…Miền Nam nói chung, thành phố Saigon nói riêng đã rẽ một bước ngoặt lớn, bị đào xới, bật gốc. Vô số chữ từ miền Bắc du nhập vào miền Nam và từ trong lòng Saigon, ngôn ngữ tự nó cũng có nhiều thay đổi.

Tuy nhiên dù hoài cổ cách mấy, một số chữ mang ý nghĩa mới bắt buộc phải dùng vì không có chữ cũ tương đương. Ví dụ vô số chữ dùng trong lĩnh vực máy tính dĩ nhiên trước 75 không có. Marketing cũng là một từ mới như vậy, dịch sang tiếng Việt là tiếp thị, không đồng nghĩa với quảng cáo vì nó không hẳn chỉ là quảng cáo, hay như chữ slogan, poster trong quảng cáo…chẳng hạn, trước kia chưa từng xuất hiện những ý niệm này và báo chí Saigon hiện nay thường giữ nguyên khi nhắc tới. Không phải chữ nào cũng tìm cách để dịch sang chữ Việt được vì như vậy đôi khi trở nên rườm rà, nôm na và không diễn đạt hết ý. Vì thế rất ít chữ vẫn giữ nguyên gốc là chữ ngoại quốc nhưng hầu hết đều tìm được chữ mang nghĩa tiếng Việt tương đương. Dù bằng cách nào thì điều đó cũng làm giàu thêm cho ngôn ngữ Việt. Nếu không có sự thay đổi như vậy hẳn đó phải là một tử ngữ. Những ngôn ngữ chừng nào con người còn xử dụng trong đời sống hằng ngày thì vẫn phập phồng hơi thở của cuộc sống, như giòng nước vận động, chảy trôi mạnh mẽ. Cốt lõi giữ nguyên nhưng dĩ nhiên không thể có sự bất biến trong ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ cũng phản ảnh không gian và thời gian hết sức rõ ràng nơi nó tồn tại.

Người miền Bắc không nói ”sức mấy” và người miền Nam không nói ”bức xúc”. Việt kiều không nói ”không dám đâu” và dân Saigon không nói OK… Tuy nhiên chắc chắn là vô tình trong một số bài viết, ngay cả của các vị lớn tuổi gần đây, độc giả vẫn có thể đọc thấy rải rác đây đó ”bức xúc, ”tư duý, ”tranh thủ”…không nằm trong ngoặc kép. Bởi vì đó là những chữ quá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người trong nước. Thậm chí ”chữ” dùng nãy giờ cũng có sự khác biệt trước và sau này. HOA là một từ, H là một chữ. Nhưng trước kia HOA là một chữ còn H là một chữ cái… Đúng là trên trang viết, có thể đoán được nơi chốn và thời kỳ tác giả đã trải qua.

Lần đầu tiên cầm một tờ báo VN hải ngoại rồi vài số báo khác sau đó nữa gửi về, tôi rất ngạc nhiên. Thật khó diễn tả được cảm xúc lúc bấy giờ. Giống như sau nhiều dâu biển, phía bên kia của xa cách thăm thẳm là người quen. Gọi là gì nhỉ, góc chân dung của một quãng lịch sử, một quãng đời, mảnh tin bất ngờ từ nơi đâu một chốn bao la gửi về. Thời gian của lúc thơ ấu, của thuở mới lớn bao giờ cũng gắn chặt, nhớ sâu trong lòng hơn những giai đoạn cuộc đời về sau, nên cảm xúc đó như là bồi hồi, hoài nhớ…

Những hình ảnh, kỷ niệm của quãng thời gian đó hiển hiện trong tờ báo với hình thức và cách diễn đạt, lối hành văn và nội dung giống y trước kia, hoặc không giống y thì cũng khiến tôi dễ dàng liên tưởng vì nó rất giống các báo cũ và hoàn toàn khác báo VN bây giờ. Như người miền Bắc năm nào khi rời quê di cư đã mang theo Đêm Giã Từ Hà Nội, Nhớ Về Năm Cửa Ô Xưa… Những người VN di tản cũng gói ghém trong máu thịt cả một đất nước miền Nam để nơi vùng đất mới, dường như không tái hiện, không đứt đoạn, không phải vẽ nên diện mạo cũ bằng một nét vẽ mới mà chính là miền Nam ngày ấy, giờ đây như đuôi một nét vẽ được kéo dài rạ Dẫu rớt rơi trên biển cả, trên dặm trường bôn ba có mảnh đi, nhạt hơn, có pha vào sự đổi thay… vẫn chỉ là nét vẽ duy nhất đó, kéo dài rạ… vô cùng quen thuộc, dùng một câu có vẻ hơi ”cải lương” nhưng rất đúng, rất ”tới” là quen thuộc đến rưng rưng!

Vấn đề chính nơi những sự việc này có lẽ do thói quen và định kiến bởi vì các văn nghệ sĩ di cư năm 54 đã góp phần thay đổi nền văn học miền Nam bấy giờ, tạo nên một giai đoạn văn hóa phát triển rất rực rỡ tiêu biểu cho một chính thể, một quốc gia độc lập, đến bây giờ vẫn là niềm tự hào, hãnh diện của miền Nam. Thế nhưng điều này đã không xảy ra sau 75. Rất đơn giản bởi vì văn hóa nói chung, văn học nói riêng của CS quá đỗi thấp kém, ọp ẹp nên chỉ có thể mượn tay cường quyền để dẫm xé, chứ không chinh phục, khuynh loát nổi miền Nam, tức không thể chinh phục được tinh thần miền Nam. Cho đến bây giờ vẫn không thể xóa nhòa trong ký ức mọi người, và về sau này trong lịch sử, hành động của đám thanh niên rầm rộ đi đến từng nhà để tịch thu sách vở. Suốt ba mươi năm nay văn hóa VN bị kéo lui trì trệ do bị cầm đầu, chỉ huy bởi một thế lực độc tài, thiển cận… Thua một thế lực dường kém cỏi hơn mình, điều ấy khiến người miền Nam uất ức trong chiến bại, mang trong lòng tâm trạng kiêu hãnh của kẻ đành ngã ngựa bởi những lý do ngoài ý muốn…

Cho nên ngoài việc thu nhập, bị ảnh hưởng một cách thụ động thì người thua vẫn ”nhìn xuống”, vẫn ”dị ứng” với những từ ngữ mới. Những chữ mới xuất hiện này thường khiến người Việt ở xa, một cộng đồng bị đẩy vào cảnh ly hương, không nằm trong vòng kiềm tỏa dĩ nhiên nghe rất chỏi và họ có toàn quyền để không chấp nhận. Người miền Nam khó chịu khi nghe đến phấn đấu, triển khai, xử lý… còn nữa những tăng năng suất, vượt chỉ tiêu, rút kinh nghiệm, xử lý nội bộ… mà khi dùng đến, chỉ hàm ý chế giễu, mỉa mai. Và Việt kiều cũng cùng cảm giác ấy khi nghe người trong nước nói, dù từ miền nào.

Sở dĩ dài dòng như vậy chỉ để đưa tới, nhắc lại một kết luận cũ kỹ rằng đó là kết quả của chính sách kỳ thị đã phân hóa một cách sâu sắc dân tộc VN, là điều mà ngay bản thân chính sách đó đến nay đã nhận lấy hậu quả kéo dài trên nhiều phương diện. Cuối cùng chỉ thấy thương xứ mình đến xót xa… Nhiều người đành than thở thôi thì do lỗi tổ tiên, ngày xưa Lạc Long Quân và Âu Cơ sao chẳng tìm cách cho đại gia đình xum họp một nhà. Trăm trứng vừa nở ra đã chia lìa năm mươi con lên núi, năm muơi con xuống biển cho nên không lạ khi chuyện thiên di, ly tán đã vận vào định mệnh của dân tộc này suốt mấy ngàn năm. Một vài ý nghĩ trao đổi cho vui. Những lạm bàn về ngôn ngữ và văn học trong thư không nhằm mổ xẻ về lãnh vực to lớn này mà chỉ minh họa thêm cho những ý nghĩ, tình cảm tản mạn… Do vậy, hẳn có nhiều sai sót.

Mong nhận được thư của bạn.
Sài-gòn Cô Nương

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Đảng Cộng Sản Việt Nam sau khi hội nhập quốc tế

“… Khó khăn của đảng cộng sản là đội đá vá trời khi cố bảo vệ cái không thể bảo vệ (lý luận cộng sản), duy trì cái không thể duy trì (chế độ chuyên chế độc đoán độc đảng)…”

Việc hội nhập quốc tế là một sự kiện sâu sắc nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như của nước Việt Nam, ta trong lịch sử hiện đại.

Sự hội nhập được đặt ra sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ rồi tan rã, từ khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu biến mất.

Sự hội nhập quốc tế được đánh dấu bằng việc nước Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc từ tháng 9-1977, ký văn bản Công ước Quốc tế về Nhân quyền (1948) vào năm 1982.

Cuộc hội nhập được thúc đẩy mạnh sau khi Đảng Cộng Sản Liên Xô và Liên Bang Xô Viết tan rã tháng 8 năm 1991 ; Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc tháng 11-1991 ; bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ tháng 7-1995 và ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) tháng 7-2000.

Có thể nói việc hội nhập quốc tế của Việt Nam được coi là sâu sắc, hoàn thiện sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào cuối năm 2006.

Những yêu cầu quan trọng sau khi hội nhập

Cuộc hội nhập vào cộng đồng quốc tế đặt ra cho Đảng Cộng Sản Việt Nam những đòi hỏi to lớn, mới mẻ, những trách nhiệm và nghĩa vụ trọng yếu đối với nhân dân cũng như đối với cộng đồng quốc tế.

Cho đến nay, đảng cộng sản đã đáp ứng những yêu cầu ấy ra sao ? Những yêu cầu quan trọng nhất đối với chính quyền cộng sản Việt Nam sau khi hoà nhập là gì ?

Đó là:

– Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, kể cả các cam kết đối với nhân dân Việt Nam mình, không có thể tránh né sau bức màn “chủ quyền quốc gia” như họ thường viện ra trước đó.

– Các nước đều bình đẳng, đều bị ràng buộc như nhau, dù to, nhỏ, chế độ chính trị, trình độ kinh tế, pháp chế, văn hóa, không có trường hợp ngoại lệ, miễn trừ…

– Có đi có lại, có trách nhiệm với nhau, không thể một chiều, vô lý, bất công, bất bình đẳng, chỉ đòi điều có lợi, không làm đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ, cam kết với nước khác, chỉ thực hiện theo lựa chọn những cam kết và điều khoản có lợi.

– Toàn bộ các cam kết quốc tế là một thể thống nhất về chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, pháp lý, an ninh… không thể tách rời, chỉ thực hiện những mặt này mà bỏ qua những mặt khác.

Những điều lợi và bất lợi của chính quyền cộng sản Việt Nam sau khi hội nhập

* Những điều lợi chủ yếu:

– Có nguồn đầu tư lớn để khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh, sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ và trụ cột là Liên Xô gẫy gục ; có điều kiện để xây dựng lại toàn bộ hạ tầng cơ sở, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển đất nước với tốc độ khá cao…

– Thoát khỏi thế bị cô lập về chính trị sau khi gia nhập tổ chức ASEAN và vào Liên Hợp Quốc, nay lại vào WTO ; có điều kiện để nâng cao uy tín quốc tế.

– Tăng thêm các nước bạn bè, mở rộng giao thương, hợp tác hữu hảo nhằm giữ vững hoà bình ổn định cho đất nước sau chiến tranh lâu dài.

* Những điều bất lợi cho chính quyền độc đảng:

– Hội nhập vào sinh hoạt quốc tế là việc làm miễn cưỡng của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì họ hiểu rằng nó đe dọa ngày càng lớn đến nền thống trị độc đảng kiểu chuyên chính toàn trị của họ.

– Gia nhập sân chơi quốc tế gồm phần lớn là các nước dân chủ đa đảng theo chế độ dân chủ đại nghị, với những luật chơi dân chủ, công khai, minh bạch, thượng tôn luật pháp, chống lại độc đoán và chuyên chế, Việt Nam sẽ hoặc là buộc phải thích nghi, buộc phải thực hiện dân chủ hóa để hoà nhập trọn vẹn và thuận lợi, hoặc vẫn giữ nguyên bản chất độc đoán để cưỡng lại nề nếp chung, để bị cô lập và gặp nhiều vấp váp trở ngại, tổn thất, thua thiệt và thất bại cho đất nước.

– Những bất lợi và mâu thuẫn chủ yếu nhất là : những giá trị được công nhận và thực hiện phổ biến trên sân chơi quốc tế là dân chủ đa nguyên đa đảng, nhân quyền, bình đẳng, các quyền tự do rộng rãi của công dân như tư do tư tưởng và ngôn luận, tự do báo chí và xuất bản, tự do bầu cử và tín ngưỡng, ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tách rời, độc lập với nhau để kiểm soát, cân bằng quyền lực, tính công khai, minh bạch mâu thuẫn với chế độ độc quyền chuyên chế của đảng cộng sản, với bản chất toàn trị của chế độ đàn áp mọi sự bất đồng chính kiến, với bộ máy tuyên truyền kiểu cưỡng ép, nhồi sọ và lừa dối mỵ dân, với chế độ lập pháp, hành pháp và tư pháp đều là công cụ của đảng phục vụ đảng.

Khôn ngoan kiểu khôn vặt

Vừa qua lãnh đạo đảng đã khôn ngoan kiểu khôn vặt, làm ra vẻ tôn trọng và thực thi những cam kết quốc tế theo luật chơi chung, bằng cách áp dụng chiến lược chọn lọc (selective approach), thực hiện những cam kết kinh tế, tài chính trước những cam kết liên quan đến chính trị, những cam kết với quốc tế trước những cam kết liên quan trực tiếp đến người dân trong nước.

Do đó họ đã khẩn trương sửa chữa và bổ sung các luật lệ liên quan đến tiếp nhận vốn đầu tư ODA và FDI, thu hút thêm vốn nước ngoài vào các công trình chung, đến thuế xuất nhập khẩu, cải cách hành chính, nhưng cố trì hoãn những thay đổi về chính trị liên quan đến sự lãnh đạo duy nhất độc đoán của đảng cộng sản, tù chối quyền công dân là tư nhân ra báo và xuất bản, trao đổi bình đẳng các văn hóa phẩm… Họ làm ra vẻ “khôn ngoan” chọn ăn những món ngon ngọt trước, để lại những món cay đắng khó nuốt sau, để với thời gian họ càng gặp những trớ trêu gay gắt, tiến lui đều khó.

Khởi đầu, cuối năm 2006, họ trưng ra những nụ cười cố làm ra vẻ chân thành và đậm đà, bắt tay khá chặt, còn lắc lên lắc xuống vài lần, gọi nhau là “bạn thân thiết”, nhưng trong nội bộ thì căn dặn nhau phải cảnh giác, thực chất Hoa Kỳ và các nước tư bản phương Tây vẫn là “thù”, không phải là đối tác (partner) gì hết, vì nguy cơ chết người “diễn biến hoà bình” đến từ đấy.

Họ mở hội, cờ quạt trống kèn, chiêu đãi linh đình, áo gấm sặc sỡ để “lại quả” hai món quà lớn của Nhà Trắng là gỡ bỏ cái mũ lừa CPC (những quốc gia cần quan tâm đặc biệt) xấu xí và cấp cho cái PNTR (quy chế quan hệ thương mại bình thường và thường trực) béo bở.

Họ còn mừng rơn khi ông Bush đến tận Hà Nội xoa đầu các quan chức chóp bu, phong cho xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “chú hổ con”, để từ cái danh hiệu ấy chính quyền cộng sản rắp tâm thực thi cái bản chất “hổ báo” của mình nhằm lăm le xơi thịt một loạt các chiến sĩ dân chủ ngay sau đó.

Họ nghĩ sai lầm rằng khi tư bản đã đầu tư sâu, quen mùi lợi nhuận thì sẽ cắn câu không thể nhả mồi theo lời dạy của Marx, do đó họ mặc sức thực hiện một loạt phiên toà “bịt miệng” thời trung cổ, không hiểu rằng ở các nước dân chủ còn có ngành lập pháp, công luận, ngành truyền thông và các cơ quan nhân quyền làm đối trọng trong cán cân quyền lực.

Theo đà chủ quan và tùy hứng, họ làm một số việc quá đáng, làm tràn ly, như ngoại trưởng Khiêm hứa hẹn với ngoại trưởng Rice trả tự do cho anh Nguyễn Vũ Bình rồi lờ tịt, như các phiên toà “bịt miệng” ô nhục ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, như ông Triết hẹn đi Mỹ rồi lại thay đổi hành trình sang Bắc Kinh trước, như công an gây sự kiểu mất dạy với các bà Việt Nam và Hoa Kỳ, Na Uy ngay trước toà đại sứ Mỹ, rồi báo công an Hà Nội dùng những từ ngữ xấc xược với các dân biểu và nhà ngoại giao Mỹ…

Những bài học và sức ép mới

Việc hội nhập thế giới sẽ thuận buồm xuôi gió nếu như đảng cộng sản nhận ra sâu sắc những đặc điểm và giá trị cơ bản của thế giới ngày nay, nhận ra những bất cập của mình để thay đổi tận gốc cách nghĩ của mình, thay đổi tận gốc não trạng cũ của mình cho thích hợp, lấy lợi ích nhân dân làm mục đích tối cao, từ bỏ những tư duy bè phái, ích kỷ, lấy lợi ích riêng của đảng cộng sản làm trọng. Thế nhưng đảng cộng sản đã bị lãnh đạo theo một hướng khác hẳn, giữ nguyên não trạng chính trị cũ, lấy độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản làm mục tiêu để duy trì đặc lợi, nên việc hội nhập gặp vô vàn trở ngại và đổ vỡ, để vấp phải bế tắc và thất bại tất yếu.

Vì lẽ ấy, chính quyền độc đảng toàn trị đang học những bài học vỡ lòng sâu sắc ngay sau khi vừa hội nhập vào cộng đồng quốc tế.

Những bài học và sức ép như thế sẽ ngày càng nhiều, thêm sâu sắc và phong phú, đến từ mọi phía:

1. Trước hết từ các chiến sĩ dân chủ tiêu biểu cho khát vọng tự do vốn có của xã hội, tiêu biểu cho lương tâm thời đại, hàng ngũ ngày càng đông đảo, dày dạn và ngoan cường, mà những cuộc đàn áp tàn bạo của cường quyền chỉ thúc đẩy mạnh mẽ thêm ; nhân dân hiểu rõ thêm về các chiến sĩ dân chủ và thêm quý mến các anh chị em dân chủ.

2. Từ xã hội công dân vốn bị bóp ngẹt chặt đang ngày càng có điều kiện nảy nở và lớn lên nhanh trong quá trình mở cửa, mở rộng giao lưu, thông thương, tự do thông tin, tự do ngôn luận và tự do báo chí cũng như bước đầu tự do xuất ngoại du lịch và du học, mà đảng phải buộc lòng mở ra theo mức độ, lan vào cả trong quốc hội và bộ máy chính quyền cũng như trong các đoàn thể và cả vào đảng cộng sản. Văn nghệ sĩ, trí thức, tuổi trẻ, lao động, nông dân, đảng viên thường ở cơ sở và công dân bình thường không còn sợ bạo quyền như xưa, đang và sẽ đòi quyền tự do nhiều hơn, đòi quyền lợi, đòi công bằng, bình đẳng cho đến cả tự do bầu cử, ứng cử và đa nguyên đa đảng…

3. Sức ép từ bên ngoài, trước hết từ cộng đồng người Việt ngày càng giàu kinh nghiệm, giàu ý chí và quyết tâm, tiếp sức mạnh mẽ cho trong nước và vận động quốc tế có hiệu quả, từ Bắc Mỹ, châu Âu đến Úc châu và các nước khác.

4. Sức ép từ ngay các nhà đầu tư quốc tế và các tổ chức kinh tế tài chính của thế giới như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) ; họ đòi hỏi quản lý vốn đầu tư chặt chẽ, giải ngân gọn đúng thủ tục, chống tham nhũng nghiêm, có luật pháp minh bạch và ngành tư pháp độc lập, xử án công bằng phù hợp luật quốc tế. Những thông báo định kỳ xếp thứ bậc về tham nhũng, về tự do báo chí, về tính công khai minh bạch, về tư pháp công bằng, về hành chính thuận lợi, về rủi ro trong kinh doanh, về môi trường kinh doanh… có tác dụng phơi bầy thực trạng Việt Nam ra công luận mà bộ máy tuyên truyền trong nước không có cách gì che dấu. Nó tạo nên sức ép quốc tế và trong nước khá mạnh trong đổi mới thật sự.

5. Ngay ở trong đảng cộng sản sự rạn nứt là không tránh khỏi, sự chia rẽ là tất yếu, với nhiều nhận thức khác nhau, đối lập nhau không thể điều hoà, về cả lý luận và thực tiễn trên hầu hết các vấn đề của cuộc sống. [Chẳng hạn như về thành tích lịch sử của đảng cộng sản ; về sai lầm của đảng ; về các nhà lãnh đạo ; về vai trò lý luận Mác Lênin ; về đổi mới ; về chống tham nhũng ; về quan hệ quốc tế, quan hệ Việt-Trung, Việt-Mỹ ; về xây dựng văn hóa ; về hội nhập quốc tế…].

Những người bảo thủ giáo điều thường ở hàng ngũ quan chức trung cao cấp có quyền chức bổng lộc nhiều, nghĩ nhiều đến danh dự, vinh hạnh, thành tích, lợi ích cá nhân, thường tự mãn, ít chịu học tập, suy nghĩ, tự rèn luyện, lại ưa dạy dỗ người khác. Chưa có khuynh hướng hay phe cấp tiến trong lãnh đạo (trong trung ương và bộ chính trị).

Những người có cách nhìn thức thời, cấp tiến, phóng khoáng, dân chủ thường là người có tư duy độc lập, ham tìm hiểu thế giới, lòng mở đón cái mới, có phương pháp hoài nghi khoa học để tự tìm ra sự thật lẽ phải, tự vượt lên hiểu biết cũ của chính mình, cầu tiến bộ, không chịu kém người, không chịu để dân mình hèn kém dân tộc khác. Nhiều nhà văn hóa, giáo dục, văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều phẩm chất như thế. Sinh viên, học sinh trung học, du sinh được hướng dẫn tốt cũng có phẩm chất ấy. Đảng viên thường, không quyền lực, về hưu và dân thường, với “tính bổn thiện”, với bản năng trong sáng, hiền hậu cũng có nhận thức như thế tuy đơn giản, còn tự phát. Không ít nhà kinh doanh chân chính muốn làm ăn lương thiện, làm giàu bằng tài trí bản thân, giới ngoại giao tiếp xúc nhiều với thế giới và tiếp thu được những thành tựu của nền văn minh quốc tế cũng có ít nhiều phẩm chất này.

Giữa hai loại người này là đông đảo đảng viên bị rập khuôn, thực dụng, cuộc sống dễ chịu, khấm khá sau gian khổ thiếu thốn kéo dài, vừa lòng với vài cải thiện trong đổi mới, có thái độ tùy thời, chưa thức tỉnh để dấn thân làm chủ xã hội, làm chủ cuộc đời mình và gia đình. Đây là đại khối cần tiếp cận và thức tỉnh dần, khi có thời cơ, họ có thể bừng dậy và dấn thân hàng loạt, thành phong trào, cao trào.

Trở ngại và lối thoát trong quá trình hội nhập

Trong chính sách đối ngoại, đảng cộng sản vẫn đang bị chi phối bởi hai hướng : ngả theo Trung Quốc hay ngả theo các giá trị phổ quát của thời đại là dân chủ, nhân quyền và phát triển bền vững. [Hồi ký của Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao, từng chuẩn bị lên bộ trưởng, cho thấy cuộc đấu tranh gay gắt này.]

Từ Đại hội VII (1991), đảng cộng sản ngả theo Trung Quốc nhưng cố làm ra vẻ thăng bằng, đi trên dây, làm cho hội nhập đầy mâu thuẫn, chồng chéo ; tiến lên lại lùi lại, không nhất quán, vừa tiến vừa ghè lên chân mình. Trung Quốc đã tận dụng những lấn cấn đó để lấn đất, lấn biển, kiềm chế để kiếm lợi.

Mâu thuẫn nội bộ về sự lựa chọn chính sách đối ngoại trong thời hội nhập càng thêm gay gắt, biểu hiện ngày càng công khai và đòi hỏi giải quyết rõ ràng vì lợi ích lâu dài của dân tộc.

Đã có ý kiến trong đảng cộng sản là thái độ phụ thuộc Trung Quốc chỉ có hại cho đất nước, bị khinh thường và uy hiếp, mất đất mất biển mất tài nguyên. Thời đại mới, thuyết địa lý-chính trị (geopolitic) không còn tác dụng, nên dựa hẳn vào các giá trị và lực lượng dân chủ của thời đại, vào Liên Hợp Quốc và pháp luật quốc tế trong khi vẫn giữ quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc.

Trở ngại nguy hiểm nhất cho quá trình hội nhập quốc tế là một thế lực cực kỳ nham hiểm được Bắc Kinh nuôi dưỡng theo bản chất bá quyền nước lớn, biểu hiện qua uy quyền còn tồn tại của hai vị thái thượng hoàng Mười và Anh, với “tay trong” hiện nay là viên tổng bí thư Nông Đức Mạnh, và những người thực sự cầm đầu ngành cảnh sát, an ninh, bảo vệ đảng cộng sản, bảo vệ quân đội, tình báo, phản gián, nói chung là guồng máy kiểm soát. Chính thế lực này đã cản phá, trì hoãn việc bình thường hóa và ký Hiệp định buôn bán với Hoa Kỳ, trì hoãn Việt Nam vào WTO, ép ông Triết phải bái yết Bắc triều trước chuyến đi Mỹ… Tình hình đổi mới và hội nhập tùy thuộc ở sự lộng hành của thế lực nguy hiểm này và khả năng đẩy lùi để đi đến loại bỏ.

Đảng cộng sản đang trên quá trình đi xuống vì lý luận bế tắc, đổi mới chồng chéo không đồng bộ, nhận thức của xã hội đang thức tỉnh khá nhanh thời mở cửa, giao lưu quốc tế và internet; và họ cũng bị quốc tế thúc ép đi vào những giá trị thời đại.

Khó khăn của đảng cộng sản là đội đá vá trời khi cố bảo vệ cái không thể bảo vệ (lý luận cộng sản), duy trì cái không thể duy trì (chế độ chuyên chế độc đoán độc đảng). Một cán bộ cộng sản lão thành đã “nhạt đảng” gần 20 năm, vừa bỏ đảng, tâm sự : “Ta nên có chút lòng thương hại cho bọn quan chức chóp bu đang “cố chịu đấm ăn xôi, nhưng xôi lại hỏng”; họ biết rõ là chủ nghĩa Mác Lênin đã hết thiêng, họ biết tỏng cụ Hồ của họ vô đạo đức đến đâu, họ thấy rõ đang bị dân khinh và dân chửi, họ cũng thừa biết chủ nghĩa cộng sản hiện thực bị cả thế giới nguyền rủa vì tội ác chồng chất thật sự ra sao, nhưng họ không có đủ dũng khí để thừa nhận sự thật. Họ đang cố bảo vệ những điều mà chính họ không còn mảy may tin tưởng. Bi kịch đáng thương mà cũng đáng trách, và đáng đời !

Lối thoát duy nhất của đảng cộng sản là trở về với dân tộc, thực hiện một cuộc đột phá chiến lược đồng bộ theo bốn hướng :

– Đổi mới mọi mặt (trọng yếu nhất là về chính trị) ;

– Trả lại đầy đủ mọi quyền tự do cho nhân dân ;

– Hoà giải với cộng đồng ta ở nước ngoài trên cơ sở bình đẳng ;

– Gắn bó với thế giới dân chủ, văn minh.

Lời kết

Thời gian ủng hộ chúng ta. Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào thế giới mới là thời cơ hiếm quý chưa từng có. Cố gắng kiên trì theo phương hướng đấu tranh đúng, phối hợp chặt chẽ trong ngoài nước, phong trào dân chủ trong nước sẽ còn phát triển mạnh, những hạt giống đã nảy mầm, thành hạt, thành cây, thành vườn cây xanh, đang thành rừng.

Vì những hoạt động kiên trì có hiệu quả theo chủ trương đường lối đúng đắn của chúng ta thích hợp hoàn toàn với thời kỳ hội nhập trọn vẹn của Việt Nam vào cộng đồng thế giới và đang biến thành hiện thực sinh động hàng ngày.

Bùi Tín
(Warsawa, tháng 6-2007)

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Nhớ Lời Bác Dạy…

Khi sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người luôn chăm lo đến dân, đến nước. Đi đâu Bác cũng dạy bảo, khuyên nhủ, không từ một ngành nghề, một địa phương hay một lứa tuổi nào. Nhiều bài báo cáo, tổng kết, khai mạc… đều trích dẫn những câu nói của Bác. Theo thống kê của bộ Văn Hóa Thông Tin, hàng năm số người sử dụng các “cụm từ: “Bác dạy,” “Bác nói,” “Bác căn dặn…” nhiều hơn những người dùng từ đệm “ĐM.” Thống kê cũng cho thấy hai loại người này có đạo đức cách mạng (hồng) và trình độ học vấn (chuyên) ngang nhau, một bộ phận lớn trong số họ dùng song hành cả hai thể loại ví dụ như “ĐM, Bác căn dặn là…”

Để giải thích hiện tượng này tôi xin có vài dòng như sau :

Khi còn bé, ai cũng thuộc “Năm điều Bác Hồ” dạy. Hiện nay cái điều dạy này còn có tên gọi khác là “Nhị ái Lục hảo !”

Điều 1: Yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào.
Điều 2: Học tập tốt, lao động tốt.
Điều 3: Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Điều 4: Giữ gìn vệ sinh thật tốt.
Điều 5: Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.

Chẳng hiểu tại sao mà ngay điều thứ nhất Bác đã dùng đến “nhị ái” rồi ? Có ai yêu tổ quốc mà lại ghét đồng bào hoặc ngược lại không nhỉ ? Chỉ cần yêu tổ quốc, hoặc yêu đồng bào là đủ.

Điều thứ 2 tạm ổn mặc dầu học tập là một lao động nặng nề, học tốt cũng là lao động tốt rồi.

Riêng điều thứ 4 thòi ra cái từ “thật” ngô nghê làm sao ! Có lẽ vì mỗi điều cần đủ sáu chữ nên chỗ này Bác phải “lòi con tự” ra như vậy. Sự thật khác hẳn, nói với các cháu thiếu nhi, phải nói đi nói lại, nhấn mạnh, nhấn nhẹ… chúng nó mới thấm. Cơ sự là thế !

Cũng với tinh thần “xôi thịt lèn chặt dạ,” trước khi dạy đồng bào, Bác viết :

“Dân ta phải biết Sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”

Chà chà ! “Sử ta” chẳng phải là “gốc tích nước nhà” hay sao ? “Gốc tích nước nhà” không là “Việt Nam” thì là cái gì đây ? Một câu lục bát còn chẳng làm cho ra hồn. Thơ này gọi là thơ nói lắp – lắp ý, mà lắp những 3 lần. Không phải vậy, Bác muốn “chống giặc dốt,” Bác vận dụng dùng “vũ khí địch đánh địch,” cho nên Bác dùng câu thơ “dốt đánh cái dốt.” Bác mong dân ta chăm đọc sử.

Bác rất kiệm (cần, kiệm, liêm, chính), Bác dạy quân đội:

“trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.”

Sau đó quay sang thanh niên Bác phán :

“trung với Nước hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng.”

Khổ cho mấy cháu lính trẻ động não tư duy (điều này hiếm khi xảy ra), chẳng biết nên trung với Đảng hay với Nước, vì thế các cháu đếch trung với anh nào cả. Phải chi Nước và Đảng là một thì hay biết mấy.

Thăm đại hội Hội nhà báo Việt Nam (1959) Bác căn dặn :

“Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân… cho nên, phải có tính quần chúng.”

“Tính quần chúng” mà Bác dặn đó là mỗi số báo phải đủ cả tiền, tình, tù, tội. Nhưng nhấn mạnh ở điểm đảng ta “thất bại tạm thời, thắng lợi tất yếu.”

Nói chuyện với đại hội Hội nhà báo Việt Nam năm 1962, Bác lại nhấn mạnh :

“Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng…”

Đọc báo Tiền Phong ta thấy rõ điều đó, các bài phục vụ cách mạng như “Cam kết tài trợ cho Việt Nam 4,445 tỷ USD,” “Vận động PNTR – Chuyện bây giờ mới kể…” Còn phục vụ nhân dân là những bài “Đi chát đêm, hai em gái bị cưỡng dâm” hay “Cán bộ thi hành án đánh người tố cáo…” rõ rệt hai mảng đề tài “dân,” “cách mạng,” mảng nào cũng đậm chất hình sự, cũng mang đậm ý đảng, tình dân.

Đến trường Đại học sư phạm Hà Nội, vào ngày 21/10/1964, Bác Hồ đã nói :

“Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao xây dựng chủ nghĩa xã hội được ???”

Vì vậy các ngón nghề của thầy (cô) giáo càng ngày càng cao để đào tạo nên những con người XHCN. Nào là đổi tình lấy điểm (trường Cao đẳng Phát thanh – Truyền hình Trung Ương I), bớt xén phần ăn của học sinh (Trường Mầm non Chim Non, Hà Nội). Khoản đánh đập, lăng nhục học sinh đâu đâu cũng có. Thể hiện tinh thần cách mạng là ở chỗ này đây, cứ luận từ câu “biến nhà tù thành trường học” thì ai cũng rõ, mà nghe nói Việt Nam là một trường học lớn.

Nhớ lời Bác dạy :

“Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ.”

Khổ nỗi Bác giảng không kỹ, Bác không nói rõ là mẹ đẻ, mẹ ghẻ hay mẹ mìn hay “má mì?”

Tháng 1 năm 1959, Bác Hồ đã chính thức phát động “Tết trồng cây.” Theo phong tục thì cây đa thuộc loại linh mộc, làng nào xưa kia cũng có. Dân trồng đa tưởng nhớ Bác thường gọi là “Cây đa Bác Hồ.” Một số nơi còn đặt tên “Cây đa Trần Dân Tiên” hoặc “Cây Đa C.B.” (theo bút hiệu của Bác). Từ đó đến nay khắp thôn cùng ngõ hẻm đều có bóng dáng “Bác Hồ ngồi gốc cây đa.” Noi gương bác, nơi nơi các chú chủ tịch xã, huyện, tỉnh thi nhau ngồi gốc cây đa. Nay có chú Nguyễn Tấn Cuội lập kỷ lục Việt Nam ngồi gốc đa lâu nhất, làm đến chức thủ tướng.

Bác nói :

“Chim là của quý của thiên nhiên phải bảo vệ chúng.”

Vậy mà từ thời bộ trưởng y tế Đặng Hồi Xuân (Hoan Hô bộ trưởng Đặng Hồi / Xuân về cóc nhái được thời nhảy ra !) đến bà đương kim bộ trưởng y tế Trần Thị Lúng Liếng vẫn cứ hô hào sinh đẻ có kế hoạch. Đặc biệt đàn ông cũng phải tham gia tích cực. Than ôi mấy triệu “của quý của thiên nhiên” bị bóp (ống dẫn tinh) rồi. Hậu duệ làm sai di huấn, khổ cháu quá Bác ơi !

Cũng lời Bác :

“Không có gì quí hơn độc lập tự do.”

Thằng mất dạy nào nó lại cho thêm cái của quý “hạnh phúc” vào (CHXHCN Việt Nam Độc Lập -Tự Do – Hạnh Phúc.) Dân ta đã bao giờ có “độc lập, tự do” đâu mà dám đòi cha già món “hạnh phúc?” Cha cũng có quý hạnh phúc đâu nào ? Nếu quý cha đã tương vào thành ra câu “không có gì quý hơn độc lập, tự do, hạnh phúc,” chỉ có mấy triệu thằng việt gian, chúng nó vượt biên, vượt biển, giờ thành việt kiều, riêng loại này mới biết mùi và còn nghiện món lẩu tam vị: độc lập, tự do, hạnh phúc.

Tự do có vẻ dễ “bảo quản” nên bọn tay sai đế quốc này định gửi “hạnh phúc” về cho đồng bào trong nước (chúng gọi là quốc nội). May quá dân ta đã nghe theo lời đảng biến “tự do” thành “tự lo độc lập, tự lo hạnh phúc.” Mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy kiếm tiền bằng mọi cách.

Bác Hồ đã dạy mỗi cán bộ, đảng viên, cần phải :

“Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm.”

Dân ta cứ thế mà học theo. Chẳng trách tai nạn giao thông mỗi ngày “gia tăng phi mã.” Đi đường mà cứ tai lơ mơ nghe, mắt ngơ ngáo nhìn, miệng lẩm bẩm, tay chân khua khoắng, tâm hồn treo ngược trên cành cây là mất mạng. Dân không nghĩ câu đó Bác chỉ dạy cán bộ, đảng viên mà thôi; Cán bộ đảng viên thường mắc bệnh teo não nên qua đường cần phải vận dụng hết mọi chức năng, người bình thường làm như thế lại hỏng việc.

Bác Hồ dạy nghành Công nghiệp :

“Nhanh, Nhiều, Tốt, Rẻ.”

Vậy mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội lại nhầm, họ tưởng Bác dạy họ xuất khẩu phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài với phương châm “nhanh, nhiều, tốt, rẻ.” May mắn cho dân tộc, hàng “Made In Vietnam” ít khi bị trả về vì chất lượng không đảm bảo hay ế không bán được bởi mẫu mã xấu.

Bác căn dặn nhiều lần :

“Cán bộ là đày tớ của dân.”

Kể từ cải cách ruộng đất đến nay, cán bộ đảng viên vẫn duy trì được truyền thống này. Quê hương ta chuyện đày tớ (bần nông, cố nông) cướp của dân, đánh dân, bắn dân vẫn được phát huy triệt để. Ai ai cũng muốn dành làm đầy tớ !

Bác kêu gọi :

“Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”

Sau khi hy sinh tất tật, không những nước không mất mà đảng còn cho mấy chú tư bản thuê với giá hời (cứ nhìn 18 lỗ sân “golf” ở Đông Anh thì biết), dân ta không chịu làm nô lệ, dân ta vùng lên làm nghĩa vụ quốc tế ở Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Đông… những nước ấy còn âú trĩ mông muội cần người Việt khai hoá văn minh để họ biết thế nào là XHCN mà tránh cho xa, thứ hàng xa xỉ ấy chỉ dành cho những dân tộc anh hùng !

Bác căn dặn nhiều, người đời hiểu lầm cũng lắm nên mới ra cái cơ sự thống kê như phần đầu bài viết. Những ai còn muốn tìm hiểu về Tư Tưởng Hồ Chí Minh xin đọc kỹ “Ngục trung nhật ký” và những bài thơ sau này của Bác.

Trần Văn Giang nhuận sắc từ tài liệu Việt Cộng

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Bác Triết trả lời phỏng vấn CNN: Đưa tin kiểu… Việt Nam!

LMP2
“… Không có gì làm tôi ngứa mắt hơn là đưa tin tức kiểu cắt, chém …”

Không có gì làm tôi ngứa mắt hơn là đưa tin tức kiểu cắt, chém, có thể đó là lý do tại sao người ta không đưa tin tức ngay sau khi bác Triết phỏng vấn xong, mà phải đợi về nhà… suy nghĩ lại nên cắt chém ra sao!

Các bác nên xem hai cái video ở phần phụ lục sau đây, nếu thích thì có thể so với bản ghi chép (transcript) xem tụi CNN có cắt chém gì không. Transcript là những gì ghi xuống từ những gì được nói trong video. Tôi đã xem kỹ và so sánh thấy rằng transcript của CNN đúng như video của CNN trong cuộc phỏng vấn đó.

Và để nói về Wolf Blitzer, tôi ít khi nào xem chương trình phỏng vấn của ông này vì tôi không bao giờ thấy ông ta đưa ra những câu hỏi thực sự nóng về các vấn đề. Cũng giống như tôi không thích đài CNN vì cùng lý do vậy. Thành ra khi nghe nói Nguyễn Minh Triết phỏng vấn trên chương trình Late Edition tôi cũng không hy vọng có gì… nóng hết cả, ai dè cái nguội đó cũng đủ nóng để mấy anh báo chí nhà nước Việt Nam cắt chém.

Đây là phần tôi xem kỹ video và transcript để so sánh với những gì báo Vietnam đưa ra, cả báo Tuổi Trẻ và báo Nhân Dân. Trong đây có nhiều phần đổi câu hỏi, đổi câu trả lời, xóa bớt những gì hỏi, thêm bớt những gì trả lời, thêm những câu mà tôi không thấy trong video hay transcript…

Có vài câu hỏi được Việt hóa một cách khéo léo, hay là cắt chém, ví dụ:

Ông Blitzer: Nhưng, có vẻ như có một trở ngại, một vấn đề lớn (major problem), và đó là vấn đề mà Hoa Kỳ tuyên bố là ông đang lạm dụng quyền con người của chính nhân dân ông ở Việt Nam. Tổng thống Bush nói ông đã đặt vấn đề này với ông ngày hôm nay. Phần đối thoại đó diễn ra thế nào?

Được dịch ra là: “Có trở ngại chính là vấn đề nhân quyền. Tổng thống Bush có nói và nêu vấn đề này như thế nào. Ngài nghĩ sao?”. Cái đoạn nặng nhất trong câu hỏi đó là:”đó là vấn đề mà Hoa Kỳ tuyên bố là ông đang lạm dụng quyền con người của chính nhân dân ông ở Việt Nam” đã được dịch tránh đi.

Báo Nhân Dân viết tiếp:

PV: Tổng thống Mỹ đã có đưa ra những trường hợp cụ thể những ai bị xúc phạm nhân quyền không?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tổng thống thống nhất, chúng tôi chỉ bàn với nhau, không nên nói những vấn đề cụ thể.

Thực ra câu hỏi và câu trả lời trong cuộc phỏng vấn là:

Ông Blitzer: Tổng thống Hoa Kỳ có nêu ra trường hợp cụ thể nào với ông, các nhân vật, tên người mà Hoa Kỳ cảm thấy là – quyền con người của họ bị vi phạm ở Việt Nam?

Ông Triết (qua người phiên dịch): Chúng tôi đã thỏa thuận là đây là vấn đề trao đổi quan điểm giữa hai chúng tôi, và không công bố ra bên ngoài.

Phần đánh đậm trong câu trả lời sau đây tôi cũng không thấy trong transcript, các bác xem lại trong video:
* Tôi đưa vấn đề này ra vì trong hội nghị tháng năm, tháng sáu ở Pháp, Tổng thống Bush có đưa ra việc Nguyễn Văn Lý bị vi phạm nhân quyền?

– Ông ta vi phạm pháp luật VN. Ðây hoàn toàn là vấn đề pháp luật, không phải là vấn đề tôn giáo. Việc xét xử ông ta được Hội đồng giám mục VN và Tòa thánh Vatican cũng đồngtình với chúng tôi. .

Trong transcript câu trả lời như sau:

Ông Blitzer: Vì tôi hỏi câu hỏi cụ thể đó, vì tổng thống [Hoa Kỳ] trong cuộc hội thảo ngày 5 tháng Năm về dân chủ và an ninh, cuộc hội thảo mà ông tham dự ở Praha, ông có đề cập đến một cái tên cụ thể, Cha Nguyễn Văn Lý của Việt Nam, một người mà ông nói — ông gộp vào nhóm những người khác trên khắp thế giới mà quyền con người của họ đang bị vi phạm.

Ông Triết (qua người phiên dịch): Linh mục Nguyễn Văn Lý bị xét xử trước tòa vì những vị phạm pháp luật. Nó hoàn toàn không liên quan đến vấn đề tôn giáo.
Câu hỏi này cũng được Việt hóa khéo léo:

* Tôi không biết trong lúc xử ông Lý có lời lẽ thô bạo hay không (PV vừa hỏi vừa đưa tấm ảnh Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng tại tòa và hỏi Chủ tịch nước có biết tấm ảnh này hay không)?

Trong transcript là:

Ông Blitzer: Tôi sẽ cho ông xem một tấm ảnh đã được khắp thế giới xem, và nó gây ra rất nhiều quan ngại, đặc biệt là ở đây, Hoa Kỳ Có lẽ ông cũng đã quen thuộc với tấm ảnh này.

Tôi đoán là các bác cũng biết phần bỏ ra là phần nào rồi.

Còn câu này tui không thấy trong transcript:

* Có báo cáo nói rằng Nguyễn Văn Lý la lên tại tòa?

– Ông ta không chỉ la lên mà ông ta còn đạp bàn, đạp ghế kèm với những lời lẽ thô tục. Nhưng tôi khẳng định dù bất cứ lý do nào, hành động bịt miệng vẫn là không đúng và tôi mong các ông không nên khai thác quá nhiều vào chi tiết này.

Câu hỏi này cũng được Việt hóa khéo léo:

* Chúng ta hãy nói qua vấn đề khác, về nhân quyền? Khi Ngài sắp đi thì có hai người tù được thả. Vậy còn một số người nữa có được thả không?

Trong khi trong CNN transcript ghi rõ ràng là:

Ông Blitzer: Tôi muốn chuyển sang các đề tài khác, nhưng một câu hỏi cuối cùng xung quanh các nhà bất đồng chính kiến, phần về quyền con người. Ngay trước khi ông đến thăm đây, ông đã thả hai người tù, hai người tù chính trị, như người ta vẫn mô tả. Có ít nhất là nửa tá, nếu không nói là hơn, những người [bất đồng chính kiến] cũng đang bị giam giữ. Ông có nghĩ là những người khác cũng sẽ được thả trong thời gian tới đây, gồm cả Cha Nguyễn Văn Lý?

Người ta ghi rõ ràng và hỏi rõ ràng dùng danh từ Tù Chính Trị, nhưng mấy anh Việt Nam xóa bỏ chữ đó! Hehe!

Còn câu trả lời trong báo Tuổi Trẻ, như ở dưới đây, đã cộng thêm phần không có trong transcript (được tôi đánh đậm):

– Vi phạm pháp luật thì bị xử lý theo pháp luật, còn có thả hay không tùy thuộc vào người ta có thành khẩn nhận lỗi đến đâu. Nhân đây tôi muốn nói với ông rằng VN trải qua nhiều năm chiến tranh. Trong thời kỳ đó người dân VN không có đầy đủ quyền con người.

Người ta bắt bớ, giam cầm, tra tấn không cần ra tòa. Chúng tôi đã đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại quyền con người đã mất. Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi rất yêu nhân quyền. Ông không thể hiểu nổi tình yêu đó. Bây giờ đất nước VN có luật pháp của VN. VN cần an ninh và ổn định để phát triển, vì vậy ai vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý.

Trong khi ở transcript, câu trả lời là:

Ông Triết (qua người phiên dịch): Những người vi phạm pháp luật đó, họ bị bắt giữ vì những vi phạm của họ. Và việc họ được thả hay không tùy vào thái độ và nhận thức về những việc sai lầm mà họ làm.

Tôi muốn nói với ông rằng Việt Nam đã trải qua nhiều năm chiến tranh, và trong thời kì đó, nhân dân Việt Nam không được hưởng nhân quyền đầy đủ. Nhiều người trong chúng tôi bị bỏ tù, tra tấn mà không có xét xử trước tòa. Chúng tôi thực hiện chiến tranh giải phóng để giành lại nhân quyền của chúng tôi.

Và vì thế, hơn ai hết, chúng tôi yêu nhân quyền, và chúng tôi tôn trọng nhân quyền. Có thể anh không thể thực sự hiểu hay cảm nhân chúng tôi đề cao nhân quyền đến mức nào.
Trong báo Nhân Dân có câu hỏi này, nhưng báo Tuổi Trẻ thì không, tôi quote câu hỏi và trả lời trong báo Nhân Dân, dòm kỹ câu hỏi lại một lần nữa được Việt hóa khéo léo, và phần đậm này không có trong câu hỏi như trong transcript của CNN:

PV: Trong cuộc gặp Tổng thống có một số người Mỹ gốc Việt biểu tình ở phía ngoài. Họ rất hãnh diện với văn hóa của Việt Nam, thông điệp của Ngài đối với Việt kiều như thế nào?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Cộng đồng người Việt ở nước ngoài không thể tách rời với dân tộc Việt Nam. Họ là máu của máu Việt Nam và là thịt của thịt Việt Nam. Nhà nước Việt Nam mong họ thành đạt ở Hoa Kỳ và củng cố quan hệ hai dân tộc Việt Nam-Hoa Kỳ. Còn các khác biệt, bất đồng thì nên cùng nhau trao đổi tìm cách giải quyết. Chúng tôi mời họ về quê hương để họ thấy được những đổi mới tiến bộ của đất nước. Các ông biết, ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Sài Gòn trước đây đã về nước, thấy những đổi thay của đất nước và ông ta đã chúc mừng những đổi thay đó.

Còn transcript nó thế này:

Ông Blitzer: Tôi không rõ liệu ông có biết rằng, bên ngoài Nhà Trắng, khi ông đang ở đó với Tổng thống [Bush], có mấy cuộc biểu tình, những người Mỹ gốc Việt quan tâm.

Tôi tự hỏi liệu ông có thông điệp nào tới cộng đồng người Mỹ gốc Việt, những người vẫn còn rất tự hào về di sản Việt Nam của họ, nhưng cũng muốn thấy tình hình ở Việt Nam được cải thiện, và đó là lí do nhiều người đã biểu tình bên ngoài Nhà Trắng.

Ông Triết (qua người phiên dịch): Thông điệp của chúng tôi là người Việt sinh sống ở nước ngoài nói chung, và ở Hoa Kỳ nói riêng, là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Máu của họ là máu Việt Nam. Thịt của họ là thịt Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam muốn thấy họ thành công ở Hoa Kỳ, và chúng tôi cũng muốn thấy họ thành cầu nối giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Về những khác biệt trong quan điểm và ý kiến, chúng ta cần trao đổi đối thoại để giải quyết những khác biệt đó. Chúng tôi mời họ trở lại Việt Nam để thấy tận mắt sự thay đổi, tiến bộ của chúng tôi.

Tôi không thấy câu hỏi này có trong transcript hay trong video, nhưng trong Báo Nhân Dân ghi, chắc thêm mắm thêm muối nữa đây:

PV: Ngài có gặp những Việt kiều ở Mỹ?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ở New York, Washington tôi đã gặp. Ngay tối nay tôi sẽ gặp gỡ đông đảo bà con ở Los Angeles.

PV: Có một chỗ ở Cali gọi là Tiểu Sài Gòn, Ngài có đến đó không?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi có chương trình gặp chung chứ không có thời gian để đi nhiều.

Câu hỏi này cũng được Việt hóa để bỏ vài chi tiết về “Quốc hội Hoa Kỳ tạo quỹ giải quyết hậu quả…”:

Vấn đề nạn nhân chất độc Da Cam có thể là vấn đề khá nhạy cảm khi nói với Tổng thống Bush. Ngài có nói chuyện với Quốc hội Hoa Kỳ yêu cầu quốc hội giải quyết vấn đề này? Ngài có hài lòng?

Ông Blitzer: Có một chủ đề khác cũng được đặt ra trong cuộc hội đàm của ông với Tổng thống, Tổng thống Bush, và nó liên quan đến vấn đề rất nhạy cảm là Chất Da Cam. Quốc hội Hoa Kỳ gần đây đã tạo ra các quỹ để giải quyết [hậu quả] của việc rải hóa chất chết người này, vốn được dùng trong chiến tranh Ông có hài lòng với việc Hoa Kỳ đang làm hiện nay để giải quyết những tàn dư của Chất Da Cam ở Việt Nam?

Tôi không thấy hai câu này trong transcript hay trong video, chắc mới về thêm mắm thêm muối vào.

PV: Khi Ngài gặp Tổng thống ở Phòng Bầu dục, có lúc nào Ngài phải tự nhắm mắt tin rằng đây không phải là giấc mơ?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ðây là chuyến thăm lịch sử không phải là giấc mơ, vì chuyến thăm này đã được chuẩn bị từ lâu rồi, không phải đột biến gì.

PV: Quan hệ đã từ từ phát triển đến độ Ngài đến Mỹ, trước đó Tổng thống Mỹ đã đến Việt Nam, chúng tôi rất vui mừng sau quá khứ 30 năm trước đây là sự việc rất đáng phấn khởi?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Chúng tôi rất vui vì quan hệ hai nước vượt qua giai đoạn khó khăn và ngày càng nâng cao. Việt Nam và Hoa Kỳ mong khép lại quá khứ hướng tới tương lai tốt cho cả hai bên.

Tới đây đủ rồi, chuyện tôi quan tâm là chuyện nhân quyền, mấy cái vụ khác thì chả quan tâm, ai thích thì ngồi so sánh transcript đi rồi xem cái bộ máy tin tức nhà ta nói chuyện thật xạo ra sao.

Phụ lục:

1/ Bản chép lại đầy đủ (full transcript) của cuộc phỏng vấn (tiếng Anh):

* CNN Late Edition with Wolf Blitzer (http://transcripts.cnn.com/TRANSCRIPTS/0706/24/le.01.html)

Chú ý: chương trình này nói chuyện với vài người trong ngày hôm đó, do đó bạn phải kéo xuống phần phỏng vấn với Nguyễn Minh Triết ở khoảng giữa trang để xem.

2/ Bản dịch tiếng Việt trên mạng:

* Chủ tịch Triết trả lời phỏng vấn CNN

3/ Bản dịch tiếng Việt do báo Nhân Dân và Tuổi trẻ cung cấp:

* Báo Nhân dân: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn của hãng Truyền hình Mỹ CNN

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Báo Nhân Dân "bịt miệng" CNN để mớm lời cho chủ tịch Triết

“… các thợ viết nhà nước XHCN tái chế, xào nấu quá tay, đến nỗi nhiều khi chẳng còn gì gọi là “hương vị” của bài viết nguyên gốc bằng Anh ngữ …”

Chuyến đi Mỹ vừa qua của chủ tịch nhà nước CSVN Nguyễn Minh Triết đã để lại nhiều dư âm khác nhau trong lẫn ngoài nước. Một trong những dư âm từ trong nước là nội dung các bài tường thuật của báo chí quốc doanh ca ngợi chuyến đi của Triết là một thành công.

Các bài báo tường thuật hay phỏng vấn của truyền thông báo chí nước ngoài đã được các thợ viết nhà nước XHCN tái chế, xào nấu quá tay, đến nỗi nhiều khi chẳng còn gì gọi là “hương vị” của bài viết nguyên gốc bằng Anh ngữ. Điển hình là trường hợp của bản lược ghi (transcript) bằng tiếng Anh của đài CNN về buổi phỏng vấn Nguyễn Minh Triết trên chương trình Late Edition do phóng viên Wolf Blitzer phụ trách hôm 24/6 vừa qua.

Ngày 4/7/07, trên “tờ báo gói xôi” Nhân Dân, bản điện tử, người ta thấy xuất hiện bản tiếng Việt “Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn của hãng Truyền hình Mỹ CNN” , được dịch lại từ bản gốc bằng tiếng Anh. Không rõ có phải vì trình độ Anh ngữ của các cán bộ dịch thuật của báo Nhân Dân quá tồi hay là do ở lỗi đánh máy (!), mà bất cứ người đọc nào nếu chịu khó đem so sánh bản gốc tiếng Anh với bản tiếng Việt do báo Nhân Dân dịch lại, thì sẽ thấy ngay là “tam sao thất bổn”, mà đúng ra phải là “sao y bản chính” hẳn hòi như con dấu của các phòng công chứng trong nước đang sử dụng.

Để dễ bề đối chiếu từng mẩu đối thoại (hỏi và trả lời) giữa người phỏng vấn là nhà báo Wolf Blitzer của đài CNN và người được phỏng vấn là Nguyễn Minh Triết, chúng ta hãy nhìn vào bản transcript gốc của CNN và bản dịch Việt ngữ của báo Nhân Dân. Dùng bản gốc tiếng Anh làm chuẩn thì tính ra có tất cả 15 mẩu đối thoại, trong khi trên tờ Nhân Dân thì có đến… 20 mẩu. Lầm lẫn chăng? Không hề lầm lẫn tí nào. Dưới ánh sáng chỉ đường của các đỉnh cao trí tuệ, “thợ dịch” của báo Nhân Dân đã nặn ra thêm 5 mẩu đối thoại không hề có trong bản gốc của CNN, và tờ Nhân Dân cũng đã tận dụng “óc sáng tạo” để làm cho các câu hỏi và trả lời thêm phần “sinh động”, phản ảnh đúng đường lối chỉ đạo của nhà nước.

Bỏ qua các chi tiết như bị thiếu sót hay thêm thắt vào vài chữ, ở đây chúng ta chỉ xem xét các đoạn văn bị cắt xén hoặc được thêm vào một cách rất ư là lố bịch, thậm chí không liên quan gì đến nội dung bản gốc nguyên văn của CNN, càng về sau cường độ càng tăng dần.

Ở mẩu đối thoại thứ 5, câu hỏi của Blitzer là:

“Because I ask that specific question, because the president at June 5th conference on democracy and security, a conference that he had in Prague, he did mention one specific name, Father Nguyen Van Ly of Vietnam, someone that he said — he included within a group of others around the world whose human rights were being violated”. (Bởi vì tôi hỏi câu hỏi đặc biệt đó, bởi vì tổng thống, vào ngày 5 tháng 6 trong một hội nghị về nhân quyền và an ninh, một hội nghị mà ông ta có tham dự tại Prague [thủ đô của Tiệp Khắc], thì ông ta có đề cập đến một tên tuổi đặc biệt, là Cha Nguyễn Văn Lý của nước Việt Nam, là người mà theo tổng thống nói — và ông đã bao gồm trong một nhóm với những người khác trên thế giới, những người mà nhân quyền của họ đã bị xúc phạm), thì báo Nhân Dân dịch là: “Tôi đưa vấn đề này ra vì trong hội nghị tháng 5, tháng 6 ở Pháp, Tổng thống Bush có đưa ra việc Nguyễn Văn Lý bị vi phạm nhân quyền?”

Khi dịch câu hỏi này của phóng viên Blitzer, báo Nhân Dân đã cắt xén và thay đổi nơi chốn, có phải “thợ dịch” đã lầm lẫn thành phố Prague thủ đô của Tiệp Khắc, với Paris thủ đô của Pháp, hay là tờ báo quốc doanh này muốn tránh né bằng cách lập lờ đánh lận con đen, không dám đề cập đến Hội nghị Quốc tế Prague về Dân chủ Toàn cầu được tổ chức tại thủ đô của quốc gia cựu cộng sản này hồi đầu tháng 6, chỉ trước khi Triết sang Mỹ có 2 tuần lễ?

Đến phần trả lời của Triết (theo bản gốc của CNN) là:

TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Reverend Nguyen Van Ly was brought to court because of these violations of the law. It absolutely is not a matter of religion. (Linh mục Nguyễn Văn Lý bị đưa ra tòa vì những vi phạm pháp luật. Tuyệt đối không phải là vấn đề tôn giáo), thì tờ Nhân Dân đã dịch (và thêm vào) là: “Ông ta vi phạm pháp luật Việt Nam. Ðây hoàn toàn là vấn đề pháp luật không phải là vấn đề tôn giáo. Việc xét xử ông ta được Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi”.

Ở đây chúng ta thấy nửa sau (chữ in đậm) đã được thêm vào một cách trắng trợn. Làm gì có chuyện Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa thánh Vatican cũng đồng tình với nhà nước CSVN trong việc xử án và bịt miệng LM. Nguyễn Văn Lý trước tòa!

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây, tại buổi họp với các lãnh đạo Hạ Viện Hoa Kỳ, Dân Biểu Royce tiết lộ lời giải thích của Chủ Tịch Triết về trường hợp Linh Mục Lý: “Ông (Triết) nói là hành động của chính quyền (Việt Nam) được sự ủng hộ của Giáo Hội Công Giáo. Khi chúng tôi hỏi thêm thì ông giải thích rằng chưa có giám mục nào lên tiếng phản đối cả.”

Tuy nhiên, Dân Biểu Royce không hài lòng với câu trả lời này. Ông nói, “Câu trả lời của Chủ Tịch Triết không đúng sự thật. Không giám mục nào phản đối không có nghĩa là giáo hội đồng tình và ủng hộ. Chúng ta cũng cần nhìn việc không có giám mục phản đối, trong hoàn cảnh là những người lên tiếng nói sự thật đều có thể bị bắt, bị bịt miệng. Việc không có sự phản đối công khai của các giám mục không bào chữa được cho hành động của chính quyền Việt Nam.” (“Lãnh đạo Hạ Viện dành hầu hết thời gian đặt vấn đề nhân quyền”. Báo Người Việt, 21/6/07)

Dưới đây là một bức thư loan truyền trên mạng internet (chưa được giám định) của Giám Mục Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch HĐGMVN, lên tiếng rằng lời tuyên bố đó của Triết “được Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa thánh Vatican cũng đồng tình” là không đúng sự thật.
Thư minh xác của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
về lời tuyên bố của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết

Kính thưa Cụ Chủ Tịch Nước, Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :
Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ“, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý,
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau :
Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi” là không đúng sự thật
Kính chúc Cụ sức khỏe.
TM. Hội Đồng Giám Mục Việt
+ Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Trong mẩu đối thoại thứ 6, phóng viên Blitzer đã hỏi rằng: “I’m going to show you a picture that was seen around the world, and it caused a lot of concern, especially here in the United States. You’re probably familiar with this picture”. (Tôi sẽ đưa cho ông xem một tấm hình đang được thấy khắp thế giới, và đã gây nhiều quan tâm, đặc biệt ở đây ngay tại nước Mỹ này. Có lẽ ông quen thuộc với tấm hình này). Nhưng tờ Nhân Dân lại thay đổi hoàn toàn câu hỏi của phóng viên Blitzer và nhét thêm vào những ý không có trong nguyên văn của bản gốc: “Tôi không biết trong lúc xử, ông Lý có lời lẽ thô bạo hay không? (PV vừa hỏi vừa đưa tấm ảnh Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng tại tòa và hỏi Chủ tịch nước có biết tấm ảnh này hay không?)”.

Tiếp theo sau mẩu đối thoại này thì tờ Nhân Dân lại nhét thêm vào một mẩu đối thoại để tự hỏi và tự trả lời, cũng không có trong bản gốc:

PV: Có báo cáo nói rằng Nguyễn Văn Lý la lên tại tòa?

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ông ta không chỉ la lên, mà ông ta còn đạp bàn, đạp ghế với những lời lẽ thô tục. Nhưng, tôi khẳng định dù bất cứ lý do nào hành động bịt mồm vẫn là không đúng và tôi mong các ông không nên khai thác quá nhiều vào chi tiết này.

Ngoài việc cái đoạn này được đưa thêm vào để cho ăn nhập với tấm hình ghép rất tồi mà Thông tấn xã Việt Nam đã chơi trò ghép hình bẩn thỉu, để bào chữa cho tấm hình Bịt Miệng, thì rõ ràng là nhà nước CSVN rất lo ngại về tấm hình Bịt Miệng đang được phổ biến rộng rãi trên thế giới với câu tự thú (của Triết) qua lời mớm của báo Nhân Dân: “và tôi mong các ông không nên khai thác quá nhiều vào chi tiết này.”

Trong mẩu đối thoại thứ 7, phóng viên Blitzer đã hỏi:

“I want to move on to some other subjects, but one final question on the dissidents, the human rights part. On the eve of your visit here, you released two prisoners, two political prisoners, as they are described. There are at least another half a dozen, if not more, who are being held. Do you think others will be released anytime soon, including Father Nguyen Van Ly?” (Tôi muốn chuyển sang vài đề tài khác, nhưng có một câu hỏi cuối về các nhà bất đồng chính kiến, vấn đề nhân quyền. Trước thềm chuyến đi của ông đến đây, ông đã thả 2 tù nhân, 2 tù nhân chính trị, như họ được mô tả. Ngoài ra còn ít nhất 6 người, nếu không muốn nói là hơn nữa , hiện vẫn còn bị giam giữ. Ông có nghĩ rằng những người khác sẽ được thả trong thời gian sắp tới không, kể cả LM. Nguyễn Văn Lý?).

Nhưng Triết đã tảng lờ không trả lời thẳng vào nội dung của câu được hỏi, mà nhai lại một đoạn thuộc loại “kinh điển giáo điều”, rêu rao thành tích “giải phóng dân tộc” như là cái cớ để nắm quyền cai trị đất nước. Trả lời câu hỏi này Triết nói rằng “Chúng tôi đã đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại quyền con người đã mất. Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi rất yêu nhân quyền. Ông không thể hiểu nổi tình yêu đó. Bây giờ đất nước Việt Nam có luật pháp của Việt Nam. Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển, vì vậy ai vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý”.

Tệ hại hơn là trong mẩu đối thoại thứ 8, khi phóng viên Blitzer hỏi:

“I don’t know if you’re aware that, outside of the White House, when you were there with the president, there were some demonstrations, Vietnamese-Americans who are concerned. I wonder if you have any message to the Vietnamese-American community who remain very fiercely proud of their Vietnamese heritage, but also would like to see the situation in Vietnam improve, and that’s why many of them were demonstrating here outside the White House”. (Tôi không rõ nếu ông có biết là, bên ngoài Tòa Bạch Ốc, trong khi ông đang ở trong đó với tổng thống, thì có một số cuộc biểu tình của người Mỹ gốc Việt, họ rất quan tâm. Tôi tự hỏi nếu ông có lời nhắn nhủ gì với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, là những người rất tự hào với truyền thống Việt Nam, nhưng cũng muốn thấy tình trạng (nhân quyền) tại Việt Nam được cải thiện, và đó là lý do tại sao họ biểu tình bên ngoài Tòa Bạch Ốc)

Mỗi khi gặp câu hỏi về người Việt tị nạn ở hải ngoại thì Triết, cũng như bất cứ cán bộ kiều vận nào của CSVN, cứ y như là được vặn trúng đài, tiếp tục bổn cũ sao lại: “Cộng đồng người Việt ở nước ngoài không thể tách rời với dân tộc Việt Nam. Họ là máu của máu Việt Nam và là thịt của thịt Việt Nam”.

Cũng trong phần trả lời của câu hỏi này, ở bản gốc của CNN thì không có, nhưng báo Nhân Dân lại nhét vào mồm Triết thêm câu “Các ông biết, ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Sài Gòn trước đây đã về nước, thấy những đổi thay của đất nước và ông ta đã chúc mừng những đổi thay đó”.

Chưa hết, tiếp đó tờ Nhân Dân lại đưa ra thêm 2 mẩu đối thoại không có trong bản gốc:

PV: Ngài có gặp những Việt kiều ở Mỹ?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ở New York, Washington tôi đã gặp. Ngay tối nay tôi sẽ gặp gỡ đông đảo bà con ở Los Angeles.
PV: Có một chỗ ở Cali gọi là Tiểu Sài Gòn, Ngài có đến đó không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi có chương trình gặp chung chứ không có thời gian để đi nhiều.

Trong phần đối thoại về chính sách đối ngoại, mối quan hệ Việt-Trung và Việt-Mỹ thì tờ Nhân Dân đã thay Triết đưa thêm vào một số câu, dĩ nhiên là không có trong bản gốc, để tự hỏi và tự trả lời, với mục đích tuyên truyền bắt đọc giả trong nước học thuộc lòng rập khuôn theo kiểu “chúng tôi muốn hữu nghị với các nước”.

Để kết thúc bài phỏng vấn, tờ Nhân Dân đã đính kèm thêm 2 mẩu đối thoại cho thêm màu sắc, và không quên lập lại cái điệp khúc “Việt Nam và Hoa Kỳ mong khép lại quá khứ hướng tới tương lai tốt cho cả hai bên.”
Lê Minh Úc

Nguyên văn bằng Anh ngữ bản transcript của CNN (phần bên trái)
được báo Nhân Dân dịch (phần bên phải)
1 BLITZER: Mr. President, thanks very much for joining us. Welcome to the United States.
Let’s start with your meetings with President Bush. Were you satisfied with the conversation you had with the U.S. president?
PRES. NGUYEN MINH TRIET, VIETNAM (THROUGH TRANSLATOR): I was very satisfied with the conversation, with the meeting with President Bush. We have exchanged views on many issues that are very useful to both sides, and in the spirit of mutual understanding. Phóng viên CNN (PV): Ngài là người lãnh đạo cao nhất của Việt Nam đến đây kể từ khi chiến tranh chấm dứt. Chúng tôi bắt đầu từ cuộc gặp với Tổng thống Bush, Ngài có thấy hài lòng không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi rất hài lòng, chúng tôi đã trao đổi nhiều vấn đề trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau.
2 BLITZER: What’s the most important part of the relationship between your country and the United States right now?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): The most important part in our relations right now is to further develop our friendship and cooperation. PV: Trong bang giao hai nước thì điều gì là quan trọng nhất?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Xây dựng tình hữu nghị hợp tác giữa hai nước và hai dân tộc.
3 BLITZER: There seems to be, though, one impediment, one major problem, and that’s the U.S. charge that you are abusing human rights of your own people in Vietnam. President Bush said he raised that issue with you today. How did that part of the conversation go?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): We did have a direct and open exchange of views on this matter. I think that the United States and Vietnam, different histories, have different legal systems, and that’s why it’s natural that we have certain different perceptions on different things. PV: Có trở ngại chính là vấn đề nhân quyền. Tổng thống Bush có nói và nêu vấn đề này như thế nào, Ngài nghĩ sao?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Chúng tôi trao đổi thẳng thắn, cởi mở. Tôi cho rằng hai nước có điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, có luật pháp khác nhau, vì vậy cách nhận thức vấn đề khác nhau. Chúng tôi thống nhất cách tiếp cận để tăng cường đối thoại hiểu biết nhau.
4 BLITZER: Did the president of the United States raise specific cases with you, individuals, names of people the United States feels are — their human rights are being violated in Vietnam?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): We have agreed that this is a matter that we would exchange views between us, not to divulge to the outside. PV: Tổng thống Mỹ đã có đưa ra những trường hợp cụ thể những ai bị xúc phạm nhân quyền không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tổng thống thống nhất, chúng tôi chỉ bàn với nhau, không nên nói những vấn đề cụ thể.
5 BLITZER: Because I ask that specific question, because the president at June 5th conference on democracy and security, a conference that he had in Prague, he did mention one specific name, Father Nguyen Van Ly of Vietnam, someone that he said — he included within a group of others around the world whose human rights were being violated.
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Reverend Nguyen Van Ly was brought to court because of these violations of the law. It absolutely is not a matter of religion. PV: Tôi đưa vấn đề này ra vì trong hội nghị tháng 5, tháng 6 ở Pháp, Tổng thống Bush có đưa ra việc Nguyễn Văn Lý bị vi phạm nhân quyền?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ông ta vi phạm pháp luật Việt Nam. Ðây hoàn toàn là vấn đề pháp luật không phải là vấn đề tôn giáo. Việc xét xử ông ta được Hội đồng Giám mục Việt Nam và Tòa thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi.

6 BLITZER: I’m going to show you a picture that was seen around the world, and it caused a lot of concern, especially here in the United States. You’re probably familiar with this picture.
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Yes, I do know this picture. During the trial, Reverend Ly also uttered violent and bad words at his trial. And that is why you have seen on the picture what happened.
I can assure that to cover somebody’s mouth like that is not good. It would take a good measure in order to take care of this matter. And this is a mistake make staff right there. It’s not the government policy of doing such a thing. PV: Tôi không biết trong lúc xử, ông Lý có lời lẽ thô bạo hay không? (PV vừa hỏi vừa đưa tấm ảnh Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng tại tòa và hỏi Chủ tịch nước có biết tấm ảnh này hay không?)
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi biết, trong lúc xét xử, ông Lý có những lời lẽ thô bạo, chửi bới Chánh tòa nên đã xảy ra chuyện bịt miệng. Chúng tôi khẳng định việc này là không tốt, không đúng… Những việc này sẽ bị xử lý, đây là một sai sót của một nhân viên bình thường, không phải chủ trương của Nhà nước Việt Nam. Bất cứ ở đâu cán bộ thừa hành cũng có thể để xảy ra sai sót, nhưng không đồng nghĩa với chủ trương của Nhà nước. PV: Có báo cáo nói rằng Nguyễn Văn Lý la lên tại tòa?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ông ta không chỉ la lên, mà ông ta còn đạp bàn, đạp ghế với những lời lẽ thô tục. Nhưng, tôi khẳng định dù bất cứ lý do nào hành động bịt mồm vẫn là không đúng và tôi mong các ông không nên khai thác quá nhiều vào chi tiết này.
7 BLITZER: I want to move on to some other subjects, but one final question on the dissidents, the human rights part. On the eve of your visit here, you released two prisoners, two political prisoners, as they are described. There are at least another half a dozen, if not more, who are being held. Do you think others will be released anytime soon, including Father Nguyen Van Ly?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Those violators of the law, they were put away because of their violations.
And whether they are released depending on the attitude and the perceptions of what wrong they have done.
I would like to tell you that Vietnam has experienced long years of war, and during that period, Vietnamese people did not enjoy full human rights. Many of us were arrested, were put into prison, tortured, without recourse to the court. We conducted the liberation war in order to regain our human rights.
And therefore, more than anybody else, we love human rights, and we respect them. Perhaps you cannot truly understand or sense how much we hold in high regard human rights. PV: Chúng ta hãy nói qua vấn đề khác, về nhân quyền? Khi Ngài sắp đi thì có hai người tù được thả. Vậy còn một số người nữa có được thả không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Vi phạm pháp luật thì bị xử lý theo pháp luật, còn có thả hay không còn tùy thuộc vào người ta có thành khẩn nhận lỗi đến đâu. Nhân đây tôi muốn nói với ông rằng, Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh. Trong thời kỳ đó người dân Việt Nam không có đầy đủ quyền con người. Người ta bắt bớ, giam cầm, tra tấn không cần ra tòa. Chúng tôi đã đấu tranh giải phóng dân tộc giành lại quyền con người đã mất. Vì vậy hơn ai hết, chúng tôi rất yêu nhân quyền. Ông không thể hiểu nổi tình yêu đó. Bây giờ đất nước Việt Nam có luật pháp của Việt Nam. Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển, vì vậy ai vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý.

8 BLITZER: I don’t know if you’re aware that, outside of the White House, when you were there with the president, there were some demonstrations, Vietnamese-Americans who are concerned.
I wonder if you have any message to the Vietnamese-American community who remain very fiercely proud of their Vietnamese heritage, but also would like to see the situation in Vietnam improve, and that’s why many of them were demonstrating here outside the White House.
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Our message is that the Vietnamese living abroad, in general, and in the United States in particular, is part and parcel of the Vietnamese nation. The blood they have is the blood of the Vietnamese. The flesh they have is the flesh of the Vietnamese.
The government of Vietnam wants to see them succeed in the United States, and we also would like to see them to serve as a bridge between the United States and Vietnam. As far as our differences in views and opinion, we should exchange dialogues in order to solve those differences. We invite them to come back to visit Vietnam in order to see with their own eyes our changes, our improvements. PV: Trong cuộc gặp Tổng thống có một số người Mỹ gốc Việt biểu tình ở phía ngoài. Họ rất hãnh diện với văn hóa của Việt Nam, thông điệp của Ngài đối với Việt kiều như thế nào?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Cộng đồng người Việt ở nước ngoài không thể tách rời với dân tộc Việt Nam. Họ là máu của máu Việt Nam và là thịt của thịt Việt Nam. Nhà nước Việt Nam mong họ thành đạt ở Hoa Kỳ và củng cố quan hệ hai dân tộc Việt Nam-Hoa Kỳ. Còn các khác biệt, bất đồng thì nên cùng nhau trao đổi tìm cách giải quyết. Chúng tôi mời họ về quê hương để họ thấy được những đổi mới tiến bộ của đất nước. Các ông biết, ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống Sài Gòn trước đây đã về nước, thấy những đổi thay của đất nước và ông ta đã chúc mừng những đổi thay đó.
PV: Ngài có gặp những Việt kiều ở Mỹ?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ở New York, Washington tôi đã gặp. Ngay tối nay tôi sẽ gặp gỡ đông đảo bà con ở Los Angeles.

9 BLITZER: Let me ask you a question, Mr. President, about the Americans unaccounted for still in Southeast Asia. According to the Defense Department, the U.S. Defense Department, 483 American troops are still unaccounted for in what was called North Vietnam; another 882 in South Vietnam, about 1,365.
I know this issue came up with the president at your meeting at the White House, and he thanked you for your help. But I wonder if you had any new information to provide on missing American troops in Vietnam.
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): In past years, Vietnam had active cooperation with the United States in MIA-related issues. We do that out of humanitarian cause. And Vietnam will continue to cooperate with the United States in solving these matters. PV: Vấn đề MIA: ở miền bắc có 483 người, ở miền nam có 882 người. Tổng cộng có 1.365 người mất tích. Ngài có thông tin gì mới?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Những năm qua Việt Nam phối hợp với Hoa Kỳ tìm kiếm người Mỹ mất tích. Ðây là việc làm vì lý do nhân đạo, Việt Nam tiếp tục hợp tác với Hoa Kỳ về vấn đề này.
10 BLITZER: But you have no new information about specific cases, no more remains that you found recently, any other information on missing in action, POWs, anything like that?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): I don’t have specific data on this matter. PV: Ngài có tin gì mới về những người cụ thể không?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi không đi sâu vào chuyên môn nên không nắm được cụ thể.
11 BLITZER: But as the president of Vietnam, can you assure the American people that your government is doing everything possible to find out what happened to these American troops?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): Absolutely, 100 percent. The government of Vietnam has and is and will be in full cooperation to do its utmost in order to help the United States to account for MIAs. We do this and we do what — everything possible in order to account for American MIAs, while we still have a host of our own MIAs. PV: Là Chủ tịch nước, Ngài có thể bảo đảm chính quyền Việt Nam nỗ lực làm hết sức về vấn đề MIA?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Tôi xin khẳng định 100% chính quyền Việt Nam đã, đang và sẽ làm hết sức mình, trong khi còn rất nhiều người Việt Nam mất tích chưa tìm được, nhưng chúng tôi vẫn tích cực phối hợp với Hoa Kỳ tìm người Mỹ mất tích.
12 BLITZER: There is another issue that came up at your meeting with the president, President Bush, and that involves the very sensitive matter of Agent Orange. U.S. Congress recently appropriated funds to deal with the fallout from this very deadly toxin that was used during the war. Are you satisfied with what the United States is doing now to deal with the remnants of Agent Orange in Vietnam?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): I’m grateful for the efforts made by President Bush and the Congress with regard to support for Agent Orange and dioxin victims. And at the meeting, I also expressed my thanks to President Bush. But there are many Agent Orange afflicted victims, and their lives are difficult, and the afflicted environments must be restored. PV: Vấn đề nạn nhân chất độc mầu da cam, có thể là vấn đề khá nhạy cảm khi nói với Bush. Ngài có nói chuyện với Quốc hội yêu cầu Quốc hội giải quyết vấn đề này? Ngài có hài lòng?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Cảm ơn Hoa Kỳ đã có giúp đỡ cho nạn nhân chất độc mầu da cam. Tôi cũng đã gửi lời cảm ơn về sự giúp đỡ những nạn nhân. Nhưng, những nạn nhân còn rất nhiều. Cuộc sống của họ còn khó khăn và những vùng bị nhiễm độc cần được tẩy độc. Chúng tôi mong Tổng thống và Quốc hội Hoa Kỳ tiếp tục nỗ lực nhiều hơn với những nạn nhân này.
13 BLITZER: Does your government right now have a better relationship with the United States government, or the government of China?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): The foreign policy of Vietnam is based on independence and self-controlling. And Vietnam wants to be friends with all countries, want to be a reliable partner of other countries.
China is a neighboring country with traditional relations with Vietnam. Both China and Vietnam would like to enhance our cooperation for development. Cooperative relations between Vietnam and China would not adversarily affect our relations with other countries, and we also would like to seek an increase in our friendship and cooperation with the United States. PV: Chính quyền Việt Nam có bang giao tốt hơn với Mỹ hay với Trung Quốc?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Cái đó không thể so sánh được! Việt Nam có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước. Trung Quốc là láng giềng gần gũi có truyền thống lâu dài, hai nước tăng cường hợp tác để cùng phát triển. Trong khi quan hệ Việt Nam-Trung Quốc thì không làm phương hại đến nước thứ ba. Chúng tôi muốn tăng cường quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ bởi Hoa Kỳ là nước có vai trò, vị trí rất lớn, Nhân Dân hai nước cũng muốn hữu nghị với nhau.
14 BLITZER: So you want to have good relations with the United States and China. I hear a very diplomatic answer.
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): No, it’s not a diplomatic answer at all, and it is our true desire. That’s what we want PV: Tôi có nghe một câu trả lời rằng: Ngài muốn có mối bang giao tốt với cả hai nước Hoa Kỳ và Trung Quốc?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ðúng! Sự thực đúng là như vậy. Không phải chỉ là ngoại giao phát triển kinh tế, chúng tôi muốn hữu nghị với tất cả các nước. Việt Nam trải qua chiến tranh, Việt Nam muốn là bạn với tất cả để đất nước phát triển. Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều là ưu tiên trong đường lối đối ngoại của Việt Nam, không phải câu trả lời này có tính chất xã giao.
15 BLITZER: Mr. President, did you ever think during the war that you would be the president of Vietnam, and that you would come to the United States and would be warmly received by the president of the United States at the White House?
TRIET (THROUGH TRANSLATOR): I never thought, even after the war, in capacity of a regular citizen, I wouldn’t have thought of coming — having a chance to come to visit the United States. And that’s why this visit of mine to the United States is historic.
Now, President Bush and I had a good exchange of views on how to further enhance our relations, and both President Bush and I are satisfied with our meeting. PV: Trước đây, Ngài có bao giờ nghĩ Ngài sẽ là Chủ tịch nước đến Mỹ và được đón nồng nhiệt như thế này?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Chưa bao giờ tôi nghĩ đến, cả với tư cách là một công dân bình thường. Vì vậy, chuyến thăm này của tôi có một ý nghĩa mang tính lịch sử. Chúng tôi trao đổi với nhau để cố gắng nâng quan hệ hai nước lên một bước mới. Tôi và Tổng thống đều rất hài lòng.
PV: Khi Ngài gặp Tổng thống ở Phòng Bầu dục, có lúc nào Ngài phải tự nhắm mắt tin rằng đây không phải là giấc mơ?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Ðây là chuyến thăm lịch sử không phải là giấc mơ, vì chuyến thăm này đã được chuẩn bị từ lâu rồi, không phải đột biến gì.
PV: Quan hệ đã từ từ phát triển đến độ Ngài đến Mỹ, trước đó Tổng thống Mỹ đã đến Việt Nam, chúng tôi rất vui mừng sau quá khứ 30 năm trước đây là sự việc rất đáng phấn khởi?
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Chúng tôi rất vui vì quan hệ hai nước vượt qua giai đoạn khó khăn và ngày càng nâng cao. Việt Nam và Hoa Kỳ mong khép lại quá khứ hướng tới tương lai tốt cho cả hai bên.
BLITZER: Thank you so much, Mr. President, and welcome to the United States

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Cột mốc của một tiến trình không thể đảo ngược ?

“… Chính quyền cộng sản không có chọn lựa nào khác là duy trì mức tăng trưởng ngày càng khó giữ này và như thế họ phải chấp nhận ngày càng lệ thuộc vào Mỹ hơn …”

Chuyến công du Hoa Kỳ cuối tháng 6 vừa qua có thể tóm tắt trong hai chữ : ê chề. Ông Triết đã không được tiếp đón như một nhân vật quan trọng, chưa nói là như một quốc trưởng của một nước với 85 triệu dân. Ông chỉ thảo luận với tổng thống Mỹ trong vòng một giờ, sau đó không có họp báo và thông cáo chung. Tại quốc hội Mỹ, ông đã chỉ gặp được bảy dân biểu để nghe họ phê phán thành tích tồi tệ về nhân quyền của chính quyền cộng sản Việt Nam. Trong các tiểu bang ông đã đi qua, không một thống đốc nào tiếp ông. Đã thế, ông còn bị chính các đồng bào của ông tại Mỹ biểu tình đả đảo rầm rộ. Các di chuyển của ông đều phải giữ kín về thời điểm và lộ trình. Ông đến một cách lấm lét và về một cách lủi thủi.

Bất cứ một nguyên thủ quốc gia bình thường nào cũng không thể chấp nhận một cuộc thăm viếng như vậy. Nhưng ông Triết đã rất nhẫn nhục để thực hiện chuyến đi này, và đó chính là điều đáng nói. Nó chứng tỏ rằng chính quyền cộng sản, hay ít nhất một khuynh hướng trong đảng cộng sản, muốn đến gần với Hoa Kỳ bằng mọi giá.

Chắc chắn là đã có một thế lực áp đảo trong đảng cộng sản không muốn đi xa hơn trong quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ và đã làm tất cả để phá hoại chuyến công du này. Họ đã có đủ quyền lực để buộc ông Triết phải sang Bắc Kinh trước và tung ra một đợt đàn áp thô bạo đối với những người dân chủ. Như để khiêu khích và gây phẫn nộ tối đa, họ còn cho truyền hình những phiên tòa thô bỉ trong đó những người đòi dân chủ một cách ôn hòa bị bịt miệng, không có luật sư bào chữa, không có quyền tự bào chữa và bị xử những án tù rất nặng sau một thủ tục chớp nhoáng. Họ đã đủ mạnh để lộng hành trước sự bất lực của ông Triết, nhưng họ đã không thể hủy bỏ chuyến đi này bởi vì chính họ cũng cần sự hợp tác với Hoa Kỳ để có thể tồn tại. Hoa Kỳ đã là đối tác ngoại thương quan trọng nhất của Việt Nam

Chính quyền cộng sản Việt Nam đã thất bại trên mọi mặt. Tham nhũng, chênh lệch giàu nghèo, tụt hậu khoa học kỹ thuật đã trầm trọng và còn tiếp tục trầm trọng thêm. Y tế, giáo dục tiếp tục phá sản. Điểm son duy nhất của chính quyền là mức tăng trưởng kinh tế 8%, tuy chưa đạt mức độ có thể có đối với một nước nhiều tiềm năng và khởi hành ở mức độ thấp như Việt Nam nhưng cũng khả quan.

Chính quyền cộng sản không có chọn lựa nào khác là duy trì mức tăng trưởng ngày càng khó giữ này và như thế họ phải chấp nhận ngày càng lệ thuộc vào Mỹ hơn, với hậu quả tất nhiên là sau cùng sẽ phải chấp nhận dân chủ. Đó là một tiến trình, và việc ông Triết và đảng của ông phải chấp nhận chuyến công du không vinh quang này, hơn thế nữa còn cảm thấy nhẹ nhõm khi ký được một thỏa ước khung về thương mại và đầu tư, chứng tỏ rằng tiến trình này không thể đảo ngược được nữa.

Thông Luận

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

TỪ YELTSIN ĐẾN PUTIN: BÀI HỌC DÂN CHỦ TẠI NGA

Những tháng gần đây, báo chí Hoa Kỳ nhắc đến nước Nga khá nhiều vì những xáo trộn chính trị tại nước này, đặc biệt, sự sụp đổ Cộng Sản tại đây đã không mang lại kết quả như người dân mong đợi.

Cuối tháng 6, 2007, nhà làm phim nổi tiếng của Nga là hai ông Alexei Baladanov và Sergei Selyanov cho trình chiếu cuốn phim mới nhất của họ – Gruz 200 (Cargo 200 = Kiện Hàng 200). Quần chúng đã không hoan nghênh cuốn phim này.

Gruz 200 lấy khung cảnh nước Nga vào thập niên 1980s, dân chúng đói khổ đứng xếp hàng đi mua bánh mì mà không có bánh mì để mà mua, hàng ngày thì các cỗ quan tài của các chiến binh bị chết ở Afghanistan được đưa về mang lại tang thương chết chóc cho cả nước, những cảnh công an đàn áp dân lành, v.v., để nói lên chế độ Cộng Sản không đem lại hạnh phúc cho dân. Nội dung của cuốn phim là một thiếu nữ đã bị công an bắt cóc đem về nhốt ở một căn phòng dơ bẩn nhưng bí mật tại Leningrad (sau này được đổi lại là St. Petersburg) (1). Cô ta bị trói chặt vào giường và bị hãm hiếp. Chiếc giường này về sau đã chứng kiến nhiều xác chết của nhiều nạn nhân, trong đó có xác chết của người tình của cô thiếu nữ – một chiến binh từ chiến trường Afghanistan – được đưa về đây. Nhiều người nói quyển sách The Gulag Archipelago (2) của đại văn hào Alexander Solzhenitsyn (3) lột tả những tàn bạo của chế độ Cộng Sản bằng ngòi bút thì Gruz 200 vạch trần những phi nhân của chế độ này bằng hình ảnh.

Ông Balabanov nói rằng Gruz 200 được dựa trên chính kinh nghiệm của ông khi ông đi rảo khắp nước Nga trong thập niên 1980s và ông đã chứng kiến nhiều cảnh tang thương cũng như được nghe kể rất nhiều câu chuyện bi đát. Ông Selyanov nói với báo chí: Nhiệm vụ của tôi là nhắc lại cho người dân Nga nhớ lại những nỗi kinh hoàng họ đã trải qua để rồi đừng có ảo vọng muốn quay lại cái gọi là thời kỳ huy hoàng của Cộng Sản tại nước này.

Đáng lẽ một cuốn phim như thế phải được hoan nghênh tại Nga, nhưng kết quả lại trái ngược làm cho những ai còn quan tâm đến thời cuộc phải suy nghĩ rất nhiều. Sau khi Tổng Thống Boris Yeltsin rời chính trường, Tổng Thống Vladimir Putin tái lập lại bài quốc ca của Cộng Sản. Thống kê cho thấy đại đa số người dân Nga bất mãn với cơ chế hiện nay, họ cho rằng thời kỳ Cộng Sản huy hoàng và hạnh phúc hơn!! Thế hệ trẻ còn lập ra những phong trào suy tôn Lenin là bác Lenin. Nhà sản xuất Baladanov đã bị ba diễn viên, những người từng đóng phim cho ông, sau khi đọc bản thảo Gruz 200, lập tức từ chối không đóng cho phim này với lý do họ sợ quần chúng Nga sẽ không thương mến họ. Cuối cùng, ông Baladanov đã phải chọn những diễn viên mới trên sân khấu. Ngày trình chiếu cuốn phim cho các nhà phê bình xem, ai nấy đều e ngại không dám đến, và dầu đã mời rất nhiều, ghế ngồi của rạp hơn một nửa còn trống. Ông Vladimir Kulistikov, Giám Đốc Đài Truyền Hình số 3 NTV, phát biểu: Chúng tôi không có can đảm để trình chiếu phim này trên băng tầng của chúng tôi. Loại phim này sẽ làm cho chúng tôi bị mất khán giả.

Gruz 200 lột trần được sự tàn bạo của Cộng Sản nhưng lại không đáp ứng được thị hiếu của dân chúng Nga trong thời kỳ này, ngược lại, còn bị phản ứng dữ dội. Tại sao lại có hiện tượng khá ly kỳ như thế? Để hiểu được tâm trạng này, chúng ta cần ôn lại bài học đấu tranh cho dân chủ từ thời ông Yeltsin đến đời ông Putin.

I. Boris Yeltsin (1/2/1932 – 23/4/2007). Ngày 23/4/2007, ông Boris Yeltsin qua đời vì bệnh tim, hưởng thọ 76 tuổi. Nước Nga cử hành nghi thức an táng cách trọng thể cho ông. Lần đầu tiên từ năm 1894, một vị cựu nguyên thủ quốc gia được an táng cách trọng thể ở trong Vương Cung Thánh Đường tại Moscow theo nghi thức Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthordox). Tham dự đám tang có cả hai cựu Tổng Thống Bill Clinton và George H.W. Bush (cha) và cựu Tổng Thống Liên Sô Mikhail Gorbachev.

Ông Boris Yeltsin quê ở làng Butka, tỉnh Talitsky của nước Nga. Ông là con của hai ông bà Nikolay và Klaydiya Yeltsin. Mẹ ông là một thợ may. Cha ông, ông Nikolay, năm 1934, bị kết án và bị đày đi lao động khổ sai 3 năm trời vì tội chống lại chế độ Cộng Sản dưới quyền cai trị của Stalin.

Boris Yeltsin là một người hoạt động thể thao khi còn ở Trung Học Pushkin, thị trấn Berezniki. Học xong trung học, ông lên học Trường Kỹ Thuật Ural Polytechnic ở Sverdlovsk và năm 1955 ông ra trường ngành xây cất. Ông làm thợ xây cất hai năm ở Uraltyazhtrubstroi, sau đó, năm 1957, ông chuyển về làm xếp của một toán xây cất ở Sverdlovsk. Năm 1961, ông tham gia Đảng Cộng Sản Liên Sô. Năm 1963 ông làm kỹ sư chính của ngành xây cất tại Sverdlovsk, và năm 1965 ông được cử làm Trưởng Phòng Nhà Đất ở nơi này. Năm 1968 ông được vào Ban Chấp Hành ĐCSLX tại vùng Sverdlovsk và năm 1976 ông được lên làm Bí Thư thứ nhất của Đảng tại nơi này. Ngày 27/7/1977, nhận lệnh từ Moscow, ông cho phá hủy Dinh Ipatiev, nơi mà Nga Hoàng cuối cùng đã bị Cộng Sản Bolsheviks sát hại năm 1917. Nhờ sự cất nhắc của Gorbachev và Yegor Ligachev (4), ngày 24/12/1985, Boris Yeltsin được cất nhắc lên làm Thị Trưởng Moscow và được vào Bộ Chính Trị. Gorbachev và Yegor Ligachev tưởng Boris Yeltsin là người của họ, sẽ trung thành với họ cho tới hơi thở cuối cùng nên Gorbachev tặng cho Boris Yeltsin căn nhà nghỉ mát của mình.

Nhờ sự giản dị và hòa mình của ông, nhất là ông đi làm bằng trolleybus, Boris Yeltsin nhanh chóng được lòng dân Moscow. Ông còn được lòng dân khi ông đuổi những thuộc hạ tham nhũng và bất tài. Năm 1987, trong một phiên họp, ông dám đương đầu với hai đàn anh Gorbachev và Ligachev vì họ đã để cho vợ của ông Gorbachev là bà Raisa xen vào việc của nhà nước. Ngày 21/10/1987, trong phiên họp mở rộng của Ban Chấp Hành Trung Ương, Boris Yeltsin hỏi Gorbachev: Đồng chí nói tái cấu trúc và cởi mở, vậy khi nào thực hiện được? Gorbachev trả lời: Tái cấu trúc và cởi mở như thế nào là do tôi và các đồng chí đây quyết định chớ không phải do chú em xen vào. Sau buổi họp đó, Yeltsin bị mất chức trong Bộ Chính Trị. ĐCSLX mở chiến dịch bôi nhọ Yeltsin từ trên truyền hình cho đến báo chí, nhất là trên tờ báo Pravda. Đau buồn và tuyệt vọng, ông tự tử hụt và được đưa đi nhà thương cấp cứu hồi sinh. Từ đó, Yeltsin và Gorbachev là hai kẻ tử thù của nhau.

Cơ hội trở lại cho Yeltsin khi ông Gorbachev thành lập Đại Hội Đại Biểu Nhân Dân. Yeltsin ra tranh cử với tư cách là đại biểu của Moscow và tháng 3 năm 1989 ông đắc cử. Quần chúng bỏ phiếu cho ông Yeltsin vì họ quá bất mãn với chế độ. Chế độ càng bôi bẩn ông Yeltsin thì người dân càng tin nơi ông Yeltsin là kẻ đối đầu với chế độ. Tháng 5, 1990, ông được bầu làm Chủ Tịch của Chủ Tịch Đoàn Sô Viết Tối Cao. Ở cương vị này, ông Yeltsin công kích những sai trái của ông Gorbachev và ĐCSLX với câu nói bất hủ: Cộng Sản không thể thay đổi mà chỉ có thể thay thế mà thôi. Tháng 7 năm 1990, ông trả thẻ Đảng Cộng Sản.

Nước Nga bắt đầu có những chính sách giành thêm quyền lực cho mình khỏi sự khống chế của Liên Bang Sô Viết. Tháng 6 năm 1991, ông Yeltsin đắc cử Tổng Thống Nga, đánh bại đối thủ Nikolai Ryzhkov (5) do Gorbachev hậu thuẫn. Đứng trước tình thế các quốc gia trong Liên Bang Sô Viết ngày càng muốn tách rời, ông Gorbachev dự định thông qua Hiệp Ước Tân Đoàn Kết (New Union Treaty) với hy vọng qua hiệp ước này còn có thể giữ lại các quốc gia trong một cơ chế liên minh lỏng lẻo hơn. Ngày 20/8/1991, Liên Bang Sô Viết dự định ký hiệp ước này với nước Nga.

Những đàn em của Gorbachev bắt đầu bất mãn vì cho rằng ông Gorbachev quá mềm yếu không có những biện pháp cứng rắn đối với Yeltsin và những người cấp tiến. Sợ rằng Hiệp Ước Tân Đoàn Kết sẽ được ký kết vào ngày 20/8/1991, trong lúc ông Gorbachev đi nghỉ mát ở bờ biển Crimea thì ở Moscow, ngày 18/8/1991, nhóm bảo thủ thành lập Ủy Ban Khẩn Cấp Quốc Gia (State Committtee on the State Emergency) để làm đảo chính. Nhóm này gồm 8 người do Giám đốc KGB Vladimir Kryuchkov (6) cầm đầu và những người cộng tác gồm có Bộ Trưởng Nội Vụ Boris Pugo (7), Bộ Trưởng Quốc Phòng Dmitriy Yazov (8), và Thủ Tướng Valentin Pavlov (9). Những người này được Gorbachev cất nhắc lên ở những chức vụ đó. Họ quyết định đưa Phó Tổng Thống Gennady Yanayev (10) lên thay thế ông Gorbachev, Xử Lý Thường Vụ chức vụ Tổng Thống. Họ chiếm lấy Dinh Sô Viết Tối Cao – thường được gọi là Tòa Bạch Ốc của Sô Viết – và Đài Truyền Hình, đưa quân đội bao vây Moscow. Họ ra lệnh bắt giam ông Gorbachev tại nhà nghỉ mát ở Crimea, và ông Gennadi Yanayev lên trên đài truyền hình công bố những lệnh khẩn cấp. Cách nói chuyện của Yanayev quá lúng túng, vụng về, không tỏ cho quần chúng thấy được tư cách của một lãnh tụ, quần chúng không có một chút cảm tình nào, và bất chấp lệnh giới nghiêm của phe đảo chính, hàng ngàn người dân Moscow tràn xuống đường để bảo vệ Dinh Sô Viết Tối Cao, tấn công vào quân đội đang bao vây nơi này.

Ông Yeltsin đã lợi dụng tình thế, ông cùng tràn xuống đường với dân chúng, chận đứng sự tiến công của xe tăng, ông leo lên trên tháp pháo một chiếc xe tăng và hùng hồn đọc một bài diễn văn. Quân đội buông súng, không dám tiến tới. Dân chúng tràn vào làm chủ tình hình trong Dinh Sô Viết Tối Cao. Tới ngày 21/8, đa số nhóm đảo chính đã bỏ chạy khỏi Moscow, cuộc đảo chính thất bại hoàn toàn.

Ngày 21/8/1991, ông Gorbachev được giải cứu và từ Crimea ông trở về Moscow, nhưng quyền lực đã không còn nằm trong tay ông nữa, dân chúng lắng nghe những mệnh lệnh từ Boris Yeltsin hơn là từ Gorbachev. Chính quyền của Nga nắm quyền điều hành Liên Bang Sô Viết. Ngày 6/9/1991, Liên Bang Sô Viết công nhận độc lập của ba nước vùng Vịnh Baltic là Estonia, Lithuania, và Latvia. Tháng 11/1991, ông Yeltsin ra lệnh cấm không cho ĐCSLX hoạt động. Ngày 1/12/1991, dân chúng Ukraine bỏ phiếu quyết định độc lập khỏi Liên Bang Sô Viết. Ngày 8/12/1991, tại Belovezhskaya Pushcha, Tổng Thống Yeltsin hội đàm với Tổng Thống Leonid Kravchuk của Ukraine và Tổng Thống Stanislau Shushkevich của nước Belarus, ba vị Tổng Thống này tuyên bố giải tán Liên Bang Sô Viết và tiến tới thành lập Cộng Đồng Thịnh Vượng Chung Của Các Quốc Gia Độc Lập (Common Wealth of Independent States). Đứng trước tình thế đó, ngày 24/12/1991 và với áp lực của ông Yeltsin, Gorbachev tuyên bố khai tử Liên Bang Sô Viết, và nước Nga thay thế Liên Bang Sô Viết ở trong Liên Hiệp Quốc.

Ông Yeltsin chọn Yegor Gaidar (11), 35 tuổi, vào chức vụ Thủ Tướng Lâm Thời và áp dụng chính sách shock therapy trong kinh tế. Shock therapy là một hệ thống kinh tế thả nổi thị trường mà không có sự kiểm soát của chính phủ, đây là một hình thức của kinh tế thị trường, chỉ có kết quả tốt trong một cơ chế chính trị vững chắc như tại Hoa Kỳ. Hệ quả áp dụng chính sách shock therapy của ông Yegor Gaidar trong một chính thể dân chủ non trẻ và đang trong thời kỳ chuyển tiếp đã làm cho sự lạm phát có cơ hội phát triển nhanh chóng, đồng tiền bị phá giá, từ đó đưa nền kinh tế của nước Nga tới bờ vực thẳm của phá sản. Phó Tổng Thống Alexander Rutskoy (12) đã phải ta thán rằng chính sách kinh tế Yegor Gaidar áp dụng với sự chấp thuận của Yeltsin là một tự tử về kinh tế (economic suicide). Vì chuyện này nên tháng 9/1993, nước Nga đã lâm vào thời kỳ khủng hoảng hiến pháp và Phó Tổng Thống Rutskoy đã nắm quyền Xử Lý Thường Vụ Tổng Thống 2 tuần, nhưng sau đó đã bị Tổng Thống Yelstin bắt giam mãi cho đến tháng 2 năm 1994 ông Rutskoy mới được Quốc Hội ân xá.

Dầu Liên Bang Sô Viết đã bị giải tán nhưng những tàn dư vẫn còn nên ông Yeltsin phải đương đầu với những người còn lưu luyến với chế độ cũ trong đó có Gorbachev và Ruslan Khasbulatov, cựu phát ngôn viên của Sô Viết Tối Cao. Ông Khasbulatov chống đối lại những cải tổ của ông Yeltsin. Tháng 3 năm 1993, ông Khasbulatov đã thu thập được hơn 600 phiếu, chỉ còn thiếu 72 phiếu nữa là đủ túc số 2/3 để truất phế (impeach) ông Yeltsin. Vì nền chính trị bấp bênh và kinh tế thị trường chưa được chuẩn bị trước nên dầu đã có dân chủ nước Nga vẫn không phát triển được. Cộng thêm vào đó, các quốc gia như Chechnya vào năm 1994 đòi độc lập, nước Nga không muốn, phải đổ quân vào triệt hạ sự nổi dậy, tốn kém ngân sách quốc gia không biết bao nhiêu mà kể. Đó là cơ hội cho băng đảng bộc phát từ đó tạo ra ngăn cách giàu nghèo ngày càng rõ nét. Nước Nga bắt đầu có những đại tài phiệt (oligarchs) nắm hầu hết tài nguyên của quốc gia từ truyền thông báo chí đến ngân hàng, từ dầu hỏa đến viễn liên. Tới năm 1996, những đại tài phiệt nổi lên như Boris Brezovsky (13), Mikhail Khodorkovsky, Roman Abramovich, Mikhail Fridman, Victor Vekselberg, Vagit Alekperov, Rem Viakhierev, v.v. Tiếng nói của những người này có uy đến nỗi Tổng Thống Boris Yeltsin cũng còn phải e sợ.

Ông Yeltsin muốn ra tranh cử chức Tổng Thống nhiệm kỳ II, nhưng lúc bấy giờ uy tín của ông đã xuống thấp, nhất là quần chúng biết ông là một người nghiện rượu rất nặng. Đảng Cộng Sản lúc bấy giờ đã được phục hoạt cách công khai dưới danh xưng Đảng Cộng Sản Liên Bang Nga và họ đề bạt ông Gennady Zyuganov (14) ra tranh cử với ông Yeltsin. Đầu năm 1996, thống kê cho thấy quần chúng ủng hộ ông Zyuganov vượt rất xa ông Yeltsin. Đứng trước tình thế này, ông Yeltsin thay đổi chiến thuật, ông chỉ định ông Anatoly Chubais (15) làm trưởng ban vận động bầu cử với sự trợ giúp đặc biệt của cô con gái ruột Tatyana Dyachenko (16). Chubais móc nối với những đại tư bản, họ ủng hộ ông Yeltsin, và nhờ vậy ông Yeltsin đã thắng cử với 53.8% số phiếu, khá khít khao.

Nhờ sự hỗ trợ của các đại tài phiệt nên ông Yeltsin thắng cử và ông đã phải biết điều với nhóm tài phiệt này trong nhiệm kỳ II của ông nên tài nguyên của quốc gia đã từng nằm trong tay các đại tài phiệt lại càng vào trong tay họ nhiều hơn vì những hợp đồng béo bở mà quốc gia dành cho họ. Sau khi thắng cử, ông Yeltsin lại phải trải qua việc mổ tim, không kiểm soát được những thao túng chính trị của đàn em mình. Nước Nga càng lúc càng lâm nguy.

Trong nhiệm kỳ của ông Yeltsin, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund = IMF) đã giúp cho Nga vay 40 tỷ Mỹ Kim và nước Nga đã không trả nổi (defaulted). Năm 1998, nền kinh tế nước Nga chính thức bước vào thời kỳ khủng hoảng (economic crisis) và đồng tiền Rubble của Nga mất giá trầm trọng. Tháng 5 năm 1999, Quốc Hội Nga (Duma) biểu quyết và suýt nữa đã truất phế ông Yeltsin. Tháng 8 năm 1999, ông Yeltsin sa thải toàn bộ nội các của Thủ Tướng Sergei Stepashin (17) và chỉ định ông Vladimir Putin lên làm Thủ Tướng. Khi ấy, không mấy ai ở nước Nga cũng như quốc tế biết đến tên tuổi của ông Putin.

Trong lúc đó thì đối ngoại ông Yeltsin gặp rất nhiều khó khăn. Hoa Kỳ và Trung Quốc có nhiều quan điểm khác biệt với Nga trong cuộc chiến ở Kosovo cũng như việc dân Chechnya đòi độc lập. Trong một buổi họp, Tổng Thống Bill Clinton đã chỉ trích Tổng Thống Yeltsin, hai bên có những lời qua tiếng lại kịch liệt và ông Yeltsin đã phải bỏ phòng họp ra về.

Ngày 31/12/1999, bất ngờ ông Boris Yeltsin tuyên bố từ chức và nhường quyền lại cho ông Vladimir Putin. Ông xin lỗi toàn dân Nga là ông đã không làm cho giấc mơ của họ trở thành hiện thực, ông xin người dân Nga hãy tha thứ cho những lỗi lầm của ông. Ông nói rằng bước vào Đệ Tam Thiên Niên Kỷ, nước Nga cần có lãnh đạo mới, trẻ, nhiều nghị lực và sáng kiến, và ông tin rằng ông Putin có những phẩm chất đó.

Dư luận cho rằng ông Yeltsin dính líu vào những vụ rửa tiền của những tay đại tài phiệt và ông Yeltsin muốn được hạ cánh an toàn. Ông Putin lên làm Tổng Thống, ông tuyên bố ân xá tất cả những lỗi lầm của ông Yeltsin và không cơ quan nào được phép điều tra những hành vi sai phạm của ông Yeltsin trong quá khứ.

Ông Yeltsin an hưởng tuổi già mãi cho đến ngày 13/9/2004, sau vụ Khủng Hoảng Con Tin Trường Trung Học Beslan ông phát động chiến dịch Tổng Thống có quyền chỉ định các thống đốc tiểu bang với sự chấp thuận của Quốc Hội tiểu bang đó thay vì các Thống Đốc được dân bầu trực tiếp. Tháng 9 năm 2005, ông phải đi mổ mông vì tai nạn bị vấp té ở Sardinia nước Ý. Ngày 1/2/2006 ông tổ chức linh đình lễ thọ 75 tuổi của ông, và trong dịp này, ông cho biết tuy ông Putin có những sai lầm nhưng quyết định chọn ông Putin vào chức vụ Tổng Thống là đúng.

Ngày 23/4/2007, ông Yeltsin qua đời vì cơn tắc nghẽn mạch máu tim. Báo chí ở Nga đánh giá ông có công giải thể cơ chế độc tài đảng trị ở Nga, nhưng họ cũng cho rằng Tổng Thống Yeltsin và Gorbachev là 2 nhân vật chính trị không đáng tin tưởng nhất. Họ cũng quy cho ông Yeltsin phải chịu trách nhiệm cho những xáo trộn ở Nga, và họ cho rằng ông đã nuôi dưỡng tham nhũng và để các quan chức biển thủ tài nguyên quốc gia vào túi riêng. Theo họ, chính những việc làm đó đã làm cho nước Nga suy yếu, và vì thế nên bây giờ mới có cao trào muốn phục hoạt lại những ngày tháng của Sô Viết Tối Cao.

II. Vladimir Putin (7/10/1952 – ?) sinh ra ở Leningrad. Năm 2000, ông Putin cho xuất bản hồi ký, trong đó ông cho biết gia đình ông chỉ là một gia đình bình dân trong chế độ Cộng Sản. Ông nội của ông, ông Spiridon Putin, là đầu bếp riêng cho Lenin và Stalin. Cha ông, ông Vladimir Spiridonovich Putin, tham gia vào Hải Quân Sô Viết, đã từng làm thủy thủ trong các tàu ngầm của Sô Viết trong những năm của Đệ Nhị Thế Chiến. Mẹ ông, bà Maria Ivanovna Putina, là một nhân viên trong hãng xưởng. Ông có hai người anh lớn hơn nhưng cả hai đều chết trong thời kỳ ấu thơ.

Putin học trường luật ở Leningrad State University và ra trường năm 1975. Trong lúc học luật, ông tham gia Đảng Cộng Sản Liên Sô, ông học Judo và có đai đen. Sau khi ra trường, ông nộp đơn xin làm việc cho cơ quan tình báo của Sô Viết là KGB. KGB nhận và huấn luyện ông, sau đó năm 1978, họ cử ông lên hoạt động tình báo ở Moscow. Nơi đây ông vừa hoạt động tình báo vừa được tu nghiệp thêm. Ngày 28/7/1983, ông Putin lập gia đình với bà Lyudmila Shkrebneva (sinh 6/1/1958) và qua cuộc hôn nhân này ông có hai người con gái, Maria (1985) và Yekaterina (1986). Năm 1985-1990, ông được cử qua thành phố Dresden nước Đông Đức để hoạt động. Tháng 6 năm 1990, ông được triệu hồi về Nga để hoạt động trong Leningrad State University, cấp trên của ông là Yuriy Molchanov. Trong thời gian này, ông quen ông Anatoly Sobchak (1937-2000) mà lúc ấy đang làm thị trưởng Leningrad và cũng là một trong những giảng sư của đại học này.

Ngày 20/8/1991, Putin nộp đơn xin từ chức không hoạt động cho KGB nữa vì lúc ấy Giám đốc KGB Vladimir Kryuchkov lãnh đạo cuộc đảo chính ông Gorbachev đang ở giai đoạn thất bại. Sau đó Putin làm trong Ủy Ban Đối Ngoại và Đầu Tư của thành phố St. Petersburg. Không đầy một năm sau, Putin bị Hội Đồng Thành Phố điều tra vì đã ký giấy phép cho xuất cảng một số thép trị giá khoảng 93 triệu Mỹ Kim để đổi lấy những viện trợ thực phẩm từ nước ngoài mà những viện trợ này không hề tới thành phố St. Petersburg. Họ đề nghị có biện pháp với ông Putin, nhưng không hiểu tại sao họ vẫn không làm gì được ông Putin mà ngược lại ông Putin ngày càng thăng quan tiến chức.

Từ năm 1992 – 2000, ông Putin còn là cố vấn cho một công ty địa ốc của Đức, St. Petersburg Immobilien und Beteiligungs AG (SPAG). SPAG có cơ sở tại St Petersburg. Gần đây nước Đức đang điều tra SPAG vì đã rửa tiền ở nước ngoài mà họ cho rằng có dính líu đến ông Putin. Ngày 25/5/1998, ông Putin thay thế Viktoriya Mitina làm Đệ Nhất Phụ Tá Văn Phòng Tổng Thống và hai tháng sau, ngày 25/7/1998, ông được Tổng Thống Yeltsin đề bạt lên làm Giám Đốc Mật Vụ Liên Bang Nga (Federal Security Service = FSS), hậu thân của KGB. Ông giữ chức vụ này tới tháng 8 năm 1999, ông Yeltsin đưa ông lên làm Thủ Tướng, và ngày 31/12/1999, ông Yeltsin từ chức thì ông Putin lên làm Tổng Thống. Hiện giờ Hiến Pháp của Nga có quy định nhiệm kỳ của Tổng Thống nên ông Putin sẽ mãn nhiệm kỳ vào năm 2008 và không được tái ứng cử.
Từ ngày 31/12/1999, ông Putin làm Xử Lý Thường Vụ Tổng Thống cho đến khi có cuộc bầu cử vào ngày 26/3/2000 thì ông đắc cử. Nhiệm kỳ chính thức của ông bắt đầu từ ngày 7/5/2000. Đắc cử Tổng Thống rồi, ông bày tỏ muốn có một trung ương mạnh và quyền lực tập trung vào tay Tổng Thống càng nhiều càng tốt. Tháng 7 năm 2000, qua lời đề nghị của ông, Quốc Hội Nga thông qua đạo luật ban cho ông quyền chỉ định những đại diện ở các khu vực thuộc quyền liên bang. Tháng 12 năm 2000, ông hủy bỏ quốc ca của Nga, thay thế quốc ca của Sô Viết Tối Cao thời Cộng Sản với những lời mới. Ngày 12/2/2001, ông ký đạo luật bảo đảm quyền miễn tố cho các cựu tổng thống, một hình thức ân xá cho vị ân nhân của ông, Tổng Thống Boris Yeltsin, vì lúc đó ông Yeltsin đang bị điều tra về tội rửa tiền.

Một trong những vụ tranh cãi nhất của Tổng Thống Putin là vụ ông bắt giam nhà tỷ phú trẻ Mikhail Khodorkovsky (sinh ngày 26/6/1963) của công ty dầu hỏa Yukos (18). Khodorkovsky xuất thân từ gia đình Nga gốc Do Thái trung lưu ở Moscow. Ông tham gia và hoạt động trong Đoàn Thanh Niên Cộng Sản (Komosol). Năm 1986, nhờ hai chương trình Glasnost và Perestroika, Khodorkovsky mở quán café tư nhân tại Moscow. Năm sau, ông thành lập công ty Menatep, xuất nhập cảng rượu. Nhờ thành công trong ngành xuất nhập cảng rượu, năm 1989, Khodorkovsky xin giấy phép mở ngân hàng Menatep, một trong những ngân hàng tư đầu tiên ở Nga. Sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, công ty Menatep của Khodorkovsky mua 20% cổ phần của công ty Yukos và ông trở thành Giám Đốc Điều Hành của công ty này. Các quốc gia Âu Châu mua nhiên liệu của Yukos ngày càng nhiều nên không bao lâu sau, Yukos trở thành một trong những công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới. Ông Khodorkovsky trở thành nhà tỷ phú số 1 của Nga, và là nhà tỷ phú đứng hàng thứ 16 trên thế giới.

Ngày 25/10/2003, ông Khodorkovsky bị cảnh sát Nga bắt ngay tại phi trường Novosibirsk. Chính phủ truy tố ông ta về tội gian lận (fraud) và trốn thuế (tax evasion). Tổng Thống Putin ra lệnh xiết (freeze) cổ phần (shares) của Khodorkovsky trong Yukos cũng như các tài khoản khác. Nhiều người cho rằng ông Putin không được ông Khodorkovsky ủng hộ nên mới trả thù bằng kiểu này. Tuy nhiên, trước đó ông Khodorkovsky đã chuyển sang ngoại quốc khoảng 500 triệu Mỹ Kim. Ngày 305/2005, Khodorkovsky bị kết án 9 năm tù, lúc ấy ông còn bị giam ở trại giam Matrosskaya Tishina ở Moscow. Ngày 19/8/2005, ông tuyên bố ông bị hàm oan, ông tuyệt thực nhiều ngày. Ngày 20/10/2005, ông bị chuyển sang trại giam YaG-14/10 ở gần một tỉnh hẻo lánh tên là Chita. Đây là trại giam khổ sai trong thời kỳ Sô Viết bắt các tù nhân khai thác hầm mỏ chất uranium mà đa phần các tù nhân đều phải gởi xác lại đây. Ngày 13/4/2006, trong lúc ngủ, Khodorkovsky bị một tù nhân tấn công tìm cách rạch mặt với mục đích làm cho khuôn mặt đẹp trai của ông bị biến dạng. Ngày 5/2/2007, chính phủ của ông Putin lại nộp đơn truy tố ông Khodorkovsky nhiều tội danh mới trong đó có tội thụt két (embezzlement) và rửa tiền (money laundering). Những việc làm của chính phủ ông Putin đối với ông Khodorkovsky làm cho một số người bất mãn và họ cho rằng ông Putin triệt hạ một tay tỷ phú số một của Nga để dằn mặt các tỷ phú khác phải biết tuân lệnh ông Putin.

Ngày 14/3/2004, ông Putin tái đắc cử nhiệm kỳ hai. Ngày 1/9/2004, Trường Trung Học Beslan trải qua một cơn ác mộng khi 32 kháng chiến quân Chechnya theo Hồi Giao đã cầm súng ống tràn vào trường bắt hơn 1200 sinh viên và thày giáo làm con tin. Nhóm này được lãnh đạo bởi Shamil Basayev và người phụ tá của ông là Magomet Yevloyev. Qua 3 ngày, chính phủ của ông Putin cho Đặc Nhiệm tràn vào bắn hạ tất cả những người khủng bố chỉ còn sót lại 1 người là bị bắt sống. Cuộc chạm súng đã làm 344 thường dân bị sát hại và vài trăm người bị thương. Tổng Thống Putin bị chỉ trích nặng nề về cung cách hành xử lạnh lùng và tàn bạo trong việc giải quyết vụ bắt giữ con tin này. Khi ấy Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng đã thay đổi lập trường, sau Khủng Bố 911 năm 2001, Hoa Kỳ không còn ủng hộ các nhóm vũ trang nữa. Sau vụ Trường Trung Học Beslan, Tổng Thống Putin thẳng tay đàn áp cao trào đòi độc lập của người Chechnya, và nhờ hành vi này, ông nâng cao tinh thần yêu nước của dân Nga. Người Nga ủng hộ ông và sẵn sàng bỏ qua những sai sót của ông đến độ đầu tháng 6/2007, thống kê cho thấy dân chúng Nga 80% ủng hộ ông Putin.

Để nâng cao lòng ái quốc và phất cao ngọn cờ dân tộc, ông Putin bài xích Âu Châu, Do Thái và Hoa Kỳ ngày một thêm kịch liệt. Ông hay chế diễu các vị lãnh đạo các quốc gia khác như Tổng Thống George W. Bush, Phó Tổng Thống Dick Cheney, Tổng Thống của Israel ông Moshe Katsav. Các ký giả tiếp xúc ông Putin cho biết ông Putin có kiến thức rất rộng và nhớ rất nhiều, ông nói thao thao bất tuyệt về những thời mốc và địa danh lịch sử mà không cần coi giấy. Ông Putin tự hào chỉ có ông mới là người thực hành dân chủ một cách tuyệt đối, và theo ông, những lãnh đạo của các quốc gia khác chỉ nói mà không làm. Trung tuần tháng 6 năm 2007, trong cuộc họp thượng đỉnh G8 tại Moscow, trả lời phóng viên báo chí về nền dân chủ, ông Putin tuyên bố: Từ ngày sau khi Đức Mohammed Gandhi qua đời, chẳng còn có ai để mà nói chuyện nữa. Chỉ có tôi mới là người tin và thực hành dân chủ cách tuyệt đối. Còn ở Đức và nhất là ở Mỹ, dân chủ chỉ có nửa vời.

Nhưng có thật ông Putin là người thực hành dân chủ? Báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương không tin vào điều đó, đa số họ nghi ngờ ông đứng đàng sau các vụ ám sát các ký giả dám viết lên những mờ ám đàng sau hậu trường của ông Putin. Nhiều người tin rằng chính Putin là kẻ đã ra lệnh thủ tiêu ký giả Yuri Sheckochikhin (19) và nữ ký giả Anna Politkovskaya (20).

Nhân viên tình báo KGB là Trung Tá Alexander Litvinenko điều tra hai vụ án mạng này, sau khi biết được sự thật, đã bỏ trốn sang Anh. Ngày 1/11/2006 ông bị đầu độc và được đưa vào nhà thương cấp cứu. Ba (3) tuần sau, ngày 23/11/2006, ông qua đời. Trước khi chết, ông Litvinenko cho mọi người biết ông Putin đã thi hành chính sách ám sát các đối thủ từ lâu để kềm tỏa những người đối lập phải đi vào con đường mà ông Putin mong muốn. Ông Litvinenko tiết lộ ông Putin nhúng tay vào nhiều vụ ám sát, trong đó có vụ ám sát hụt nhà đại tỷ phú Boris Berezovsky và cựu Thủ Tướng Yegor Gaidar. Cảnh sát Anh điều tra và họ cho biết chất độc polonium-210 trong cơ thể của ông Litvinenko có nguồn gốc từ nhà máy nguyên tử ở Nga. Sau nhiều tháng điều tra, ngày 22/5/2007, nước Anh tuyên bố Andrei Lugovo là thủ phạm giết chết Litvinenko. Andrei Lugovoi tham gia vô KGB từ năm 1987 và đã từng làm cận vệ của cựu Thủ Tướng Yegor Gaidar vào năm 1991. Năm 1996, ông rời bỏ FSS, hậu thân của KGB, và ra mở một công ty an ninh riêng. Ông Lugovoi qua nước Anh ít nhất 3 lần và đã gặp ông Litvinenko ít nhất 4 lần trước khi ông Litvinenko bị đầu độc. Chính phủ Anh yêu cầu nước Nga cho dẫn độ ông Lugovoi về nước Anh để xử Án, Tổng Thống Putin cười nhạo nước Anh là khờ khạo và là nước nuôi dưỡng những kẻ phản bội tổ quốc như Litvinenko. Vì vụ này, quan hệ ngoại giao giữa nước Anh và Nga trở nên căng thẳng.

Hoa Kỳ và Tây Phương e ngại với tính tình ngày càng hiếu chiến của ông Vladimir Putin thì cuộc chiến tranh lạnh có thể tái diễn giữa Tây Phương và Nga như trước đây. Nhiều nhà bình luận cho rằng dân chủ của Nga hiện nay chỉ là dân chủ nửa vời, và trong bối cảnh dở dở ương ương như vậy nên người dân dễ dàng tô vẽ thêm hào quang của quá khứ mà không hề có để tự an ủi lấy mình và xoa dịu lòng tự ái dân tộc ngõ hầu trấn an sự bấp bênh về chính trị và kinh tế họ đang phải trải qua.

Lời Kết: Nhiều người cho rằng Tổng Thống Vladimir Putin là một tay ảo thuật đại tài khéo léo tô vẽ sức mạnh của Liên Sô trong quá khứ để phất cao Ngọn Cờ Dân Tộc, nhờ đó kích động dân chúng trong cuộc chiến chống lại sự tranh đấu đòi độc lập của người dân Chechnya cũng như nhờ đó ông Putin thâu tóm thêm quyền hành vào trong tay của ông và những đàn em của ông. Các phim ảnh ăn khách nhất hiện nay ở Nga là những phim mô tả những người Chechnya là quân khủng bố và Hoa Kỳ là một quốc gia có nhiều mafia đứng đàng sau lèo lái chính trường mang lại quyền lợi nhiều nhất cho tập đoàn tư bản. Đó cũng là một hình thức mị dân, cho dân ăn bánh vẽ, không có lợi cho sự phát triển của đất nước. Đó cũng chính là một trong những lý do mà nhà làm phim Alexei Baladanov đã cho ra đời cuốn phim Gruz 200 nhắc nhở dân chúng Nga nhớ lại những hình ảnh thực của thời Cộng Sản, nhưng trong cơn mê muội nhất thời, dân Nga đã có những phản ứng quá khích gây bất lợi cho cuốn phim này. Chúng ta cần học lấy bài học dân chủ nửa vời ở Nga để khi chế độ Cộng Sản thoái trào ở Việt Nam, chúng ta bầu chọn những người có chân tâm cho đất nước phục vụ trong một cơ chế nhà nước có những cơ quan kiểm soát và cân bằng lực lượng lẫn nhau, không để một vài cá nhân thao túng hệ thống chính trị như chúng ta đang chứng kiến ở tại Nga. Được như vậy đó là phúc phần của dân tộc Việt Nam, và đó mới chính là một nền dân chủ thật sự.

Ghi chú:

1. Leningrad là một thành phố lớn của Nga ở vùng Tây Bắc, xây trên giòng sông Neva ở vùng Vịnh Baltic, gần nước Finland. Thành phố này khởi đầu mang tên là Petrograd hay là St. Petersburg, được xây dựng bởi Đại Đế Peter vào năm 1703 với vai trò là cửa sổ ngó vào Tây Phương. Petrograd là Thủ Đô của Nga cho đến khi Cuộc Cách Mạng Tháng 10, 1917, Lenin dời đô về Moscow. Ngày 24/1/1924, 3 ngày sau khi Lenin qua đời, Stalin ký sắc lệnh đổi tên Petrograd thành Leningrad để tôn vinh Lenin. Đệ Nhị Thế Chiến, Đức Quốc Xã vây và chiếm lấy một phần của Leningrad 28 tháng trời, từ 8/9/1941-27/1/1944. Hơn một triệu người chết, trong đó có khoảng 800 ngàn thường dân. Sau khi Liên Sô sụp đổ, ngày 12/6/1991, 54% dân chúng biểu quyết đổi tên thành phố này lại là St. Petersburg. St. Petersburg hiện nay là thành phố lớn thứ 2 của Nga sau Moscow và là thành phố lớn thứ 3 của Âu Châu, với khoảng 5 triệu dân sinh sống.

2. Gulag Archipelago – Quần Đảo Ngục Tù – được đại văn hào Solzhenitsyn viết từ năm 1958 tới năm 1968. Đây là tác phẩm 3 tập (volumes) dựa trên kinh nghiệm bản thân của nhà văn Alexander Solzhenitsyn và lời chứng của 227 tù nhân khác trong thời gian ông bị tù khổ sai trong các trại giam của Cộng Sản. Nội dung của tác phẩm đề cập cơ chế Cộng Sản xây dựng bởi Lenin, Cách Mạng Tháng 10/1917, những tàn bạo của Stalin, Diễn Văn của Nikita Khrushchev ở Đại Hội 20 của ĐCSLX mà trong đó ông Khrushchev đã tấn công những suy tôn cá nhân một cách thái quá của Stalin. Đặc biệt, ông đã lột trần những tàn ác của Stalin, những kỹ thuật hỏi cung bằng những thủ đoạn khủng bố tinh thần và thể xác của công an khi mới bắt giam người, và những tra tấn dã man trong các ngục tù được gọi là gulags. Tác phẩm này được in ở Âu Châu năm 1973 và được lưu hành cách lén lút ở Liên Sô mãi cho đến năm 1989 mới được công khai.

3. Alexander Solzhenitsyn (12/11/1918) sinh tại Kislovodsk nước Nga. Cha ông, Isaaky Solzhenitsyn, một quân nhân trong Đệ Nhất Thế Chiến, gặp mẹ ông, bà Taisia, ở Moscow. Sau khi bà có thai Alexander, ông Isaaky bị chết trong một tai nạn lúc đi săn bắn. Alexander chào đời không có cha nuôi dưỡng nên cuộc sống của mẹ con ông rất là vất vả và khó khăn. Đúng thời điểm đó, Cộng Sản đã nắm quyền tại Nga. Nghèo khổ nhưng mẹ ông vẫn cố gắng làm lụng để cho ông được đi học. Ông học môn Toán ở Đại Học Rostov. Năm 1940, mẹ ông qua đời. Tháng 2 năm 1945, ông bị Stalin bỏ tù và kêu án 8 năm trời vì đã dám chỉ trích những tàn bạo của chế độ Cộng Sản. Ông bị đày đọa trong nhiều trại giam để từ đó ông có chất liệu viết những đại tác phẩm như The First Circle, Cancer Ward, The Right Hand, One Day In The Life of Ivan Denissovich, và nhất là The Gulag Archipelago. Trong trại giam lưu đày, ông làm đủ các công việc nặng nhọc như xây cất, đào hầm mỏ, v.v. Năm 1954 ông được trả tự do. Năm 1970 ông được giải Nobel Văn Chương nhưng ông không dám đến Stockholm của nước Thụy Điển (Sweden) để nhận giải vì sợ không được trở về Nga. Ông nhận giải ở trong Tòa Đại Sứ của Thụy Điển. Ngày 13/2/1974, ông bị KGB trục xuất ông sang Tây Đức. Ông được Đại Học Stanford mời sang dạy văn chương và năm 1976 ông dọn về ở tiểu bang Vermont. Năm 1978, ông lên tiếng Hoa Kỳ không hiểu gì về Cuộc Chiến Việt Nam nên mới bỏ rơi Nam Việt Nam. Năm đó, ông được Đại Học Harvard cấp bằng tiến sĩ danh dự. Sau khi Cộng Sản sụp đổ ở Liên Sô, năm 1994 ông trở về Moscow. Ngày 5/6/2007, Tổng Thống Putin ký đạo luật tôn vinh ông là người đóng góp cho nước Nga và đặt ra giải Solzhenitsyn. Ngày 12/6/2007, đích thân Tổng Thống Putin đến tư gia của nhà văn ở Moscow để trao giải này cho ông.

4. Yegor Ligachev (29/10/1920 -?) là người sinh trưởng tại Tomsk, Tây Bá Lợi Á (Siberia). Ông làm bí thư ĐCSLX tại nơi này và khi Yuri Andropov làm Tổng Bí Thư vào cuối năm 1982, ông Andropov đưa Ligachev về Moscow. Tại Moscow, Ligachev là Tổng Ủy Viên Tổ Chức, và Ligachev làm quen thân với Gorbachev. Ngày 9/2/1984, Andropov qua đời nhưng phe nhóm của Ligachev vẫn chưa đủ thực lực để đưa Gorbachev vào chức vụ Tổng Bí Thư, phải hòa hoãn chấp thuận đưa ông Konstantin Chernenko vào chức vụ này như một trái độn để mua thời gian. Ngày 10/3/1985, Chernenko qua đời với nhiều nghi vấn, Gorbachev lên thế vị, và Ligachev trở thành nhân vật số 2 sau Gorbachev. Từ năm 1988, người ta thấy bắt đầu có sự rạn nứt giữa Ligachev và Gorbachev vì Ligachev cho rằng Gorbachev quá cấp tiến. Tháng 7 năm 1990, Ligachev công khai chỉ trích Gorbachev và đứng đối lập tranh cử chức Tổng Bí Thư với Gorbachev. Ligachev bị thua. Sau khi Liên Bang Sô Viêt sụp đổ, đại diện cho Đảng Công Sản Liên Bang Nga, Ligachev ra tranh cử chức dân biểu trong Duma (Quốc Hội Nga) và đắc cử 3 lần.

5. Nikolai Ryzhkov (28/9/1929 -?) gia nhập ĐCSLX năm 1956 và được cử làm Đệ Nhất Phụ Tá Bộ Giao Thông Vận Tải năm 1975. Năm 1981, ông được vào Ban Chấp Hành Trung Ương. Dưới thời Yuri Andropov, ông làm Bí Thư Ban Thường Vụ. Khi Gorbachev lên làm Tổng Bí Thư, ông vào Bộ Chính Trị và ủng hộ Gorbachev hết mình. Ông làm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, giống như Thủ Tướng, từ ngày 27/9/1985 tới ngày 14/1/1991. Tháng 6/1991, vài tháng trước khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, ông được Gorbachev hậu thuẫn để ra tranh chức Tổng Thống Liên Bang Nga với ông Yeltsin nhưng chỉ được 17% số phiếu. Năm 1995, ông đắc cử vào Quốc Hội và là lãnh đạo của cánh tả ở nơi này.

6. Vladirmir Kryuchlov (1924) lớn lên ở Volgograd. Ông tham gia vô Đảng Cộng Sản và được cử sang Hungary để phục vụ mãi cho tới năm 1959. Ông về nước hoạt động và năm 1967 ông được nhận vào làm cho KGB. Ông được Yuri Andropov nâng đỡ nên thăng quan tiến chức dễ dàng. Năm 1988, ông được mang lon quân hàm Đại Tướng của quân đội và làm giám đốc KGB. Năm 1989, ông vào Bộ Chính Trị. Ông lãnh đạo cuộc đảo chính hụt năm 1991. Sau cuộc đảo chính, ông bị bắt và truy tố. Ông bị giam cho đến năm 1994 thì được Quốc Hội ân xá.

7. Boris Pugo (19/12/1937 – 22/8/1991) là một người Latvia sinh ở nước Nga. Năm 1960, ông học ở Riga Polytechnical Institute, và trong thời gian này ông tham gia Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Từ năm 1984-1988, ông là Tổng Bí Thư của ĐCS tại Latvia. Năm 1989, ông được cử làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Cuộc đảo chính không thành công, có nguồn tin nói ông tự tử nhưng có người lại nói ông bị sát hại.

8. Dmitriy Yazov (8/9/1923 – ?) tham gia vô Đảng Cộng Sản từ hồi niên thiếu. Năm 1979, ông làm Tư Lệnh Quân Đội Trung Ương. Năm 1987, ông lên làm Bộ Trưởng Nội Vụ và năm 1989 ông làm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Sau cuộc đảo chính, ông bị tù tới năm 1994 thì Quốc Hội ân xá.

9. Valentin Pavlov (26/9/1937 – 30/3/2003) sinh ra và lớn lên ở Moscow. Ông tham gia vô ĐCSLX ngay từ hồi còn niên thiếu và hoạt động trong Bộ Tài Chánh. Năm 1990, ông vào Bộ Chính Trị và được giữ chức Thủ Tướng. Sau cuộc đảo chính, ông bị tù cho tới tháng 5/1994 thì được Quốc Hội ân xá.

10. Gennady Yanayev (26/8/1937 – ?) tham gia vô Đoàn Thanh Niên Cộng Sản từ năm 1963. Năm 1968, ông làm Bí Thư của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Năm 1990, ông vào Bộ Chính Trị và được ông Gorbachev cất nhắc lên làm Phó Tổng Thống. Sau cuộc đảo chính, ông bị giam cho tới năm 1994 thì được Quốc Hội ân xá.

11. Yegor Gaidar (19/3/1956 -?) là cháu nội của nhà văn nổi tiếng Arkady Gaidar. Năm 1978, ông ra trường Đại Học Moscow với điểm rất cao. Ông viết cho Tạp Chí Cộng Sản và đề mục ông ưa thích là kinh tế thị trường. Năm 1990, ông ủng hộ ông Yeltsin trong thời gian ông Yeltsin đang bị Gorbachev thanh trừng. Ngày 15/6/1992, ông Yeltsin chỉ định Gaidar làm Thủ Tướng. Ngày 14/12/1992, Quốc Hội Nga bỏ phiếu không chấp thuận ông Gaidar làm Thủ Tướng, cuối cùng, ông Yelstin phải đưa ông Viktor Chermomyrdin lên thay thế, ông Gaidar làm Phó Thủ Tướng. Cuối năm 1994, ông Gaidar sáng lập Democratic Choice of Russia. Năm 1999, ông liên minh với ông Anatoly Chubais thành lập Union of Right Forces. Ông Gaidar là đại biểu nhiều kỳ của Quốc Hội Nga, 2001, 2003. Ngày 28/11/2006, ông bị ngất xỉu ở một cánh đồng tại nước Ireland. Ngày 6/12/2006, ông xuất bản bằng tiếng Anh và Nga một tác phẩm tố cáo chính phủ của ông Putin đã đầu độc ông.

12. Alexander Rutskoy (16/9/1945 -? ) sinh trưởng ở thành phố Kursk nước Nga. Lớn lên, ông vào Không Quân. Trong thời kỳ Sô Viết tham gia chiến tranh ở Afghanistan, ông mang quân hàm Đại Tá. Máy bay của ông đã từng bị bắn hạ 2 lần ở tại Afghanistan, một lần vào năm 1986 và một lần vào năm 1988. Ông được Sô Viết tôn vinh là một anh hùng. Năm 1991, Tổng Thống Boris Yeltsin chọn ông làm Phó Tổng Thống. Năm 1993, Tổng Thống Boris Yeltsin suýt bị Quốc Hội truất phế. Ngày 21/9/1993, một cuộc tranh cãi dữ dội diễn ra về vấn đề Hiến Pháp của Nga, những người ủng hộ ông Rutskoy tuyên bố Tổng Thống Yeltsin đã vi Hiến, và họ đưa ông Rutskoy nắm giữ chức vụ Xử Lý Tổng Thống (Acting President). Những thành viên ủng hộ ông Rutskoy nắm quyền quyển soát Dinh Quốc Hội. Nhiều cuộc bạo động diễn ra tại Moscow. Sau 2 tuần căng thẳng, ngày 4/10/1993, Tổng Thống Yeltsin cho quân đội đến chiếm Dinh Quốc Hội, bắt giam ông Rutskoy và những người ủng hộ ông. Ông Rutskoy bị giam ở trại giam Lefortovo tại Moscow cho đến ngày 26/2/1994 thì được Quốc Hội ân xá. Sau khi ra tù, ông thành lập Đảng Quyền Lực Nước Nga Vĩ Đại (Russian For Great Power Party). Ông làm Thống Đốc của tỉnh bang Kursk từ năm 1996 – 2000.

13. Boris Brezovsky (23/1/1946) là một người Nga gốc Do Thái, sinh ra và lớn lên ở Moscow. Ông học ngành Lâm Sản và Toán, năm 1983 ông có bằng Tiến Sĩ của Đại Học Moscow. Từ năm 1975 tới 1989, ông xuất bản 16 tác phẩm. Nhờ chính sách Glasnost và Perostroika, ông mở công ty nhập cảng các xe hơi đắt tiền. Năm 1989, ông mua lại công ty xe hơi quốc doanh AutoVaz. Năm 1992, ông sáng lập LogoVaz và làm Giám Đốc Điều Hành của công ty này. Năm 1994, ông trở thành người đứng đầu của công ty Automobile All-Russia Alliance. Ông là người ủng hộ Tổng Thống Boris Yeltsin. Ông Brezovsky không ủng hộ chiến tranh ở Chechnya. Năm 2000, lúc ông Putin ra tranh cử, ông Brezovsky ủng hộ ông Putin, nhưng quan điểm chính trị của ông Brezovsky đã làm cho ông Putin không được vui. Sau khi đắc cử Tổng Thống, ông Putin bày tỏ không hài lòng và nói bóng gió sẽ truy tố ông Brezovsky ra tòa về tội gian lận và trốn thuế. E sợ trước viễn cảnh này, ông Brezovsky trốn sang Anh và đổi tên thành Platon Elenin. Năm 2004, nước Anh ban phát quy chế tỵ nạn chính trị cho ông Brezovsky. Từ năm 2004, ông Brezovsky làm ăn với người em ruột của Tổng Thống George W. Bush là ông Neil Bush trong ngành điện tử và viễn thông. Ông bị đầu độc hụt một lần, và ai cũng tin rằng chính Tổng Thống Putin là thủ phạm. Tháng 11 năm 2006, trong một bài phát thanh truyền đi ở Moscow, người dân nghe được tiếng nói của ông Brezovsky cho biết ông đang hoạt động để lật đổ Tổng Thống Putin vì Tổng Thống Putin là người giả nhân giả nghĩa ác độc vô cùng.

14. Gennady Zyuganov (26/6/1944 – ?) sinh ra và lớn lên ở một tỉnh lẻ ở phía nam thành phố Moscow, Oryol Oblast. Ông là con của một nhà giáo. Năm 1961, ông là thày dạy Toán và Physics ở trường làng. Năm 1966, ông gia nhập ĐCSLX. Sau khi gia nhập ĐCSLX, ông trở lại đi học Đại Học, và ra trường năm 1969. Trong thời gian học Đại Học, ông làm phó bí thư Đoàn Thành Niên Cộng Sản tại Oryol Oblast. Đảng cử ông lên Moscow, ông học tiếp và lấy bằng Tiến Sĩ năm 1978, và Thạc Sĩ năm 1980. Ông trở về Oryol Oblast làm ủy viên Tuyên Huấn ở nơi này cho tới năm 1983. Zyuganov là người chống lại hai chính sách Glasnost và Perestroika của Gorbachev. Ông trở thành một trong những nhà lý luận trẻ của ĐCSLX có khuynh hướng bảo thủ. Sau khi Liên Sô sụp đổ, ông là người vận động phục hoạt lại Đảng Cộng Sản và năm 1993, ông trở thành Bí Thư Thứ Nhất của Đảng Cộng Sản Liên Bang Nga. Ông ra tranh cử chức Tổng Thống với ông Yeltsin, lúc đầu ông được ưu thế, nhưng sau khi Tổng Thống Yeltsin đổi nhân sự trong Ban Vận Động Tranh Cử, ông Zyuganov đã thất cử, về hạng hai, được khoảng 33% số phiếu. Năm 1995, ông Zyuganov đắc cử vào Quốc Hội. Nhưng những năm về sau, vị trí của ông Putin quá mạnh nên Đảng Cộng Sản Liên Bang Nga của ông Zyuganov cũng không đạt được nhiều thành quả như họ mong muốn.

15. Anatoly Chubais (16/6/1955 – ?) là một trong những tỷ phú của nước Nga. Ông sinh ra ở Borisov nước Belarus. Năm 1977, ông tốt nghiệp ở Leningrad Economic Engineering Institute. Ông ở trong Đảng Cộng Sản cho tới khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ năm 1991. Từ năm 1991 – 1992, ông làm cố vấn cho ông Anatoly Sobchak, thị trưởng của St. Petersburg. Sau đó, ông theo phò ông Yeltsin. Nhiều người cho rằng tài sản ông có được ngày hôm nay là nhờ biết thụt kẹt trong thời gian đó. Năm 1994 – 1996, ông làm Phó Thủ Tướng đặc trách tài chánh. Sau đó, ông cộng tác chặt chẽ với ông Yegor Gaidar. Ông Chubais đắc cử vào Quốc Hội nhiều nhiệm kỳ. Cuối năm 2003, ông từ nhiệm chức Chủ Tịch của Union of Right Forces. Tháng 3 năm 2005, ông bị ám sát hụt và người ta tin rằng Tổng Thống Vladimir Putin là người chủ mưu.

16. Tatyana Dyachenko sinh năm 1960 và ra trường ngành điện toán (computer). Bà lập gia đình với nhà tỷ phú Leonid Dyachenko và sau đó đã ly dị ông. Nhà tỷ phú Dyachenko hiện nay là Giám Đốc Điều Hành của công ty năng lượng Urals Energy và đang bị chính phủ của ông Putin điều tra. Bà Tatyana Dyachenko rất được cảm tình của người Hoa Kỳ. Chính bà đã cố vấn cho Tổng Thống Boris Yeltsin tuyên bố cấm ĐCSLX không được hoạt động. Năm 1996, bà là cố vấn riêng cho Tổng Thống Yeltsin trong cuộc tranh cử nhiệm kỳ II. Năm 2000, bà bị tố cáo là đã nhúng vào những vụ tham nhũng. Cũng năm đó, bà ở trong Ban Vận Động Tranh Cử của ông Putin, nhưng chính ông Putin đã ra lệnh sa thải bà. Năm 2001, bà lập gia đình với một người khác, cố vấn chính trị Yumashev. Ông Yumashev là nhạc phụ của nhà tỷ phú Oleg Deripaska. Yumashev và Tatyana Dyachenko đã đóng vai trò chính trong tang lễ của ông Putin.

17. Sergei Stepashin (2/3/1952 – ?) là người Nga sinh ra ở Trung Quốc. Ông về sinh sống ở Moscow, là một trong những người trẻ theo phò ông Yeltsin. Năm 1994, ông Yeltsin cử Stepashin làm Bộ Trưởng Bộ An Ninh Phủ Tổng Thống. Năm 1997, ông làm Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp, và năm 1998, ông Yeltsin nâng ông lên làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Tháng 5 năm 1999, với đề nghị của Tổng Thống Yeltsin, Quốc Hội bỏ phiếu chấp thuận ông Stepashin làm Thủ Tướng. Tổng Thống Yeltsin dự định chọn Stepashin thay thế ông ở chức vụ Tổng Thống. Năm 2005, ông Yeltsin cho biết đáng lẽ ông Stepashin đã là Tổng Thống, nhưng vì ông Stepashin không ủng hộ ông Yeltsin cách nhiệt tình trong cuộc chiến Chechnya nên ông Stepashin bị thất sủng. Sau khi rời bỏ chức vụ Thủ Tướng, Stepashin tham gia vô đảng tân lập Yabloko (thành lập năm 1993), và năm 2001, ông được bầu vào Quốc Hội.

18. Yukos, tiếng Nga là IOKOC, được Liên Bang Sô Viêt ký Sắc Lệnh 354 thành lập vào ngày 15/5/1993. Nhiều đại công ty dầu hỏa của Sô Viết Tối Cao sát nhập lại làm nên Yukos. Năm 1995, Sắc Lệnh 864 sát nhập một công ty dầu hỏa khác là Samaraneftegaz vào Yukos. Yukos trở thành công ty khai thác và chế biến dầu hỏa lớn nhất của Sô Viết Tối Cao. Sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, Yukos được tư hữu hóa và Khodorkosky mua 20% cổ phần của công ty, trở thành Giám Đốc Điều Hành (Chief Executive Officer = CEO) của Yukos. Sau khi Khodorkovsky bị bắt, vì Yukos có làm ăn với nhiều công ty dầu hỏa của Hoa Kỳ như Exxon cũng như Yukos có chi nhánh tại Houston, ngày 15/12/2005, Yukos khai phá sản tại Hoa Kỳ. Tài sản của Yukos lúc đó còn khoảng 12.3 tỷ USD nhưng tiền nợ lên đến 30.8 tỷ USD. Tháng 7 năm 2006, tòa ra lệnh hóa gía (liquidate) tài sản của Yukos để trả cho các chủ nợ.

19. Yuri Sheckochikhin (9/6/1950 – 3/7/2003) ra trường ngành văn chương ở Đại Học Moscow vào năm 1975. Ông viết cho nhiều tờ báo, và năm 1996, ông là phó chủ bút của tờ Novaya Gazeta. Tờ Novaya Gazeta ấn hành 550 ngàn ấn bản, phát hành 2 lần một tuần, ngày thứ Hai và ngày thứ Năm. Cựu Tổng Thống Mihail Gorbachev mua cổ phần rất lớn trong công ty này điều hành tờ báo này. Ông Sheckochikhin từng viết nhiều bài viết công kích chính phủ Putin là một hệ thống băng đảng và đối xử phi nhân tàn bạo với các kháng chiến quân Chechnya. Ngày 3/7/2003, ông đột ngột qua đời ở Moscow, các bác sĩ cho biết ông bị trúng độc Thallium, một loại độc dược để trừ chuột và côn trùng.

20. Anna Politkovskaya (30/8/1958 – 7/10/2006) là nữ ký giả đồng nghiệp của Yuri Sheckochikhin cho tờ Novaya Gazeta và bà cũng là một nhà văn có nhiều tác phẩm. Bà còn nổi tiếng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền. Trong vụ Thảm Sát Trường Trung Học Beslan năm 2004, bà là một trong những người điều đình với nhóm khủng bố. Trong lúc thi hành nhiệm vụ, lúc uống nước trà, bà bị hôn mê, sau mới biết là bà bị đầu độc, và vụ đầu độc này ai cũng nghi ngờ ông Putin đã nhúng tay. Lúc bà bị hôn mê, chính phủ của ông Putin thẳng tay đàn áp giết sạch những người khủng bố. Bà có kiến thức rộng, giao thiệp nhiều, và bà biết nhiều tin bí mật, nhất là những tin tức liên quan đến cái chết của ký giả Yuri Sheckochikhin nên bà ra mặt chống đối ông Putin. Bà từng gọi ông Putin là kẻ giả nhân giả nghĩa và chính phủ của ông Putin là một hệ thống băng đảng đục khoét tài nguyên quốc gia. Ngày 7/10/2006, trong khi đi thang máy (elevator) để về căn phòng chung cư của bà tại Moscow, nữ ký giả Anna Politkovskaya bị một loạt đạn hạ sát. Cảnh sát cho biết vụ án này rõ ràng đã có người thuê băng nhóm để giết bà Politkovskaya. Chủ bút tờ Novaya Gazeta, ông Dmitry Muratov, sau khi ký giả Anna Politkovskaya bị sát hại, cho biết bà Politkovskaya chuẩn bị công bố hồ sơ những thủ đoạn tra tấn những người Chechnya cách tàn bạo và phi nhân của chính phủ Putin.

Ls. Hoàng Duy Hùng
Houston ngày 4/7/2007, Lễ Độc Lập Hoa Kỳ.

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Tràn Trề Tình Cảm !

Dân Việt tỵ nạn sang đây thấm thoát đã gần phần ba thế kỷ. Vật đổi, sao dời. Ngày mới bước chân sang đây, “nhà nước ta” nhìn theo, chửi đổng: “Đồ ma cô, đĩ điếm, bám chân đế quốc Mỹ.”

Ngày nay đô la xanh, máy chụp hình, quay phim, giấy quốc tịch đeo lủng lẳng cùng người, nhà nước ta nhìn người tỵ nạn, thuyền nhân trở về, với vòng tay âu yếm, ân cần ngợi khen: “Chà, Việt Kiều yêu nước về thăm đất nước để giúp “quê hương là chùm khế ngọt” thì thiệt là có tấm lòng yêu nước quý hóa.”

Mới đây, khi sang thăm nước Mỹ, ông chủ tịch “nhà nước ta” Nguyễn Minh Triết còn gọi người Việt hải ngoại là “Máu của máu Việt Nam!” Tuy chẳng hiểu ông chủ tịch nói gì nhưng nghe nói tới máu mủ là tôi sợ muốn chết.

Ông nhà báo sốt ruột:

– Chuyện nhà nước khen ngợi “Việt Kiều” hay muốn ám chỉ rằng “mình” và “ta” tuy hai mà một, vẫn có chung dòng máu, vẫn là đồng bào thì có ăn chung gì tới các bà mà phải đem bàn?

– Có chứ, trên đời chuyện gì cũng có nhân, có quả cả ông ạ. Các ông tỵ nạn, các ông thuyền nhân, bộ nhân sau một thời gian cầy bừa vất vả hay các ông Hát- Ô đến trễ tràng khi đã gần hết tuổi lao động trên xứ người thì vừa khi nhà nước ta thấy rằng tiền nào cũng là tiền.

Hơn nữa, tiền của Việt Kiều xứ người gửi về vừa nhiều, vừa thơm, vừa dễ, không hề đòi hỏi điều kiện dân chủ, nhân quyền khó nuốt vì đa số gửi về để giúp gia đình, giúp người nghèo khó nên “nhà nước ta” khuyến khích, dụ dỗ, lừa gạt trăm phương ngàn cách cho Việt Kiều gửi tiền về. Nhà thơ gật gù:

– Tất cả những gì về lưu manh, lừa gạt tôi phục chúng nó nhất. Trên đời chưa từng có “nhà nước nào” nghĩ ra cách kiếm tiền giỏi một cách tuyệt đối, ba trợn và vô liêm sỉ như chúng nó. Nhưng nghĩ cho cùng, nếu mình không ham về ăn chơi, không ham về kiếm tiền để bị lừa gạt, không ham vợ bé, đào non thì làm gì nó lợi dụng được mình, nó xỏ mũi mình, nó sai bảo mình chi tiền vào những chỗ nó muốn mình chi?

Bà nhà báo cười:

– “Nhà nước ta” đâu phải chỉ tài giỏi về mặt kiếm tiền, họ giỏi về nhiều mặt khác nữa. Chuyện lưu manh như chuyện dựng đứng những nhân vật anh hùng, thần thánh: “Bác Hồ”, “Anh Kim Đồng” chẳng hạn. Còn bầu cử luôn luôn dân đi bầu tới… 99% như trong tất cả các cuộc bầu cử và cuộc bầu quốc hội vừa qua cũng thế. Bao giờ cũng giở trò “Đảng cử, dân bầu!” Đúng là trò dụ dỗ trẻ con!

– Còn chuyện xúi dân ăn cứt gà nữa chi! Ngày xưa, cho bọn “Ngụy” mình vượt biên bán chính thức để thu tiền rồi hoặc dắt ra bỏ giữa biển cho chết chìm, hoặc bắn ngay vào tầu khi vừa ra khỏi bãi là thường.

Người chết không nói được nhưng còn những người sống sót, còn những bằng chứng sờ sờ mà chúng nó vẫn lấp liếm được thì đúng là mặt dầy! Thế mà dân mình cứ cúi đầu nghe mới là chuyện lạ.

Nhà văn thở dài, nhỏ giọng xuống, tâm sự:

– Các cụ ạ, nói không phải chứ tôi thấy dân mình… chẳng anh hùng tí nào cả. Hay ít ra thì từ ngày có Cộng Sản đến giờ. Con giun xéo lắm cũng quằn thế mà đã hơn nửa thế kỷ qua, cứ có một đường lối, một chính sách, một cách tuyên truyền, thế mà lần nào cũng mắc bẫy, nó nói sao dân nghe vậy, nó đàn áp thế nào cũng chịu rồi chỉ biết kêu than.

Nhà thơ gật gù:

– Thằng nào tham nhũng, ăn chơi được thì cứ ăn chết bỏ. Ăn từ nhà thương ăn ra nghĩa địa, ăn từ người bệnh cho tới người chết. Xác người cứ bán, nghĩa địa cứ đào. Chất thải độc làm dân chết cả làng vì ung thư? OK, miễn là nhà máy, công ty chi tiền cho “nhà nước” hậu hĩ. Miễn là giàu sang. Sống chết mặc bay.

Thằng nào bán máu, bán con, bán vợ thì cứ bán. Cha mẹ bán con đi làm vợ lẽ, làm điếm được thì cứ bán lấy tiền xây nhà tường. Không thể nào tưởng tượng được xã hội Việt Nam với gần năm ngàn năm văn hiến mà dường như vô văn hóa trong cách đối xử giữa con người với con người, giữa chính phủ với người dân, giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái với nhau.

Hình như bây giờ, số dân Việt chẳng còn mấy tí sĩ diện, lương tâm hơi nhiều, nó trở thành khuynh hướng thời đại chứ không phải chỉ là một vài trường hợp riêng rẽ nữa! Đáng buồn biết mấy!

Ông Hát Ô buồn thiu:

– Thanh niên trí thức thì cứ nửa thức, nửa ngủ. Những người có lòng với đất nước kêu gọi gần chết cũng chẳng mấy người hưởng ứng. Mất đất, mất nhà, ra trước nhà các ông lớn, ra tới trước “nhà tiếp dân” thì bị đánh, bị dẹp gần chết cũng chẳng ông lớn, bà nhỏ nào ra đấy can thiệp. “Mẹ Việt Nam chết” cũng mặc kệ. “Người con gái VN da vàng” đi bán “vốn tự có” cũng kệ em! Chưa bao giờ nhân phẩm người đàn bà VN bị rẻ rúng đến vậy.

Bà nhà thơ kêu:

– Nghệ sĩ thì chỉ bắt chước người ta, chẳng thấy được tác phẩm nghệ thuật nào có giá trị. Chưa hết, đàn ông, thanh niên VN thấy người yêu, đàn bà con gái ào ào “xuất khẩu” lấy chồng xứ người, dù đui què, sứt mẻ cũng chỉ biết kêu than: “Con chim đa đa đậu nhánh đa đa. Chồng gần không lấy, sao em lấy chồng xa..?”

Câu hỏi đó, các ông Việt Nam phải tự hỏi mình. Sáng, trưa, chiều tối, khuya, sớm đều nhậu nhẹt lu bù, quán ăn, bia rượu, gái ghiếc, xì ke, thuốc lắc, ma túy cứ nườm nượp từ ông lớn tới thằng nhỏ. Thử hỏi ông ăn tiêu thì ai nhịn? Vợ con ông chứ ai nếu ông không phải tay chuyên môn nói ra bạc, khạc ra tiền hay nắm được vài cái dù che ấm áp cả cuộc đời?

Bà nhà văn thấy bà bạn vàng hăng quá, cười tủm tỉ

– Làm gì mà bà nóng thế? Các ông lớn trong cái “nhà nước ta” bây giờ cũng văn minh lắm, các ông sạch như lau, như ly, có thấy điều tiếng gì đâu nào. Chủ tịch Nguyễn Minh Triết chẳng tuyên bố đại khái rằng: “Chúng tôi đã từng bị mất tự do nên chúng tôi rất yêu mến tự do và tôn trọng nhân quyền lắm lắm. Chúng tôi chẳng có tù nhân lương tâm nào cả, chỉ có bọn phản động, chống phá an ninh tổ quốc thì phải trừng trị thẳng tay chứ…”

Ông Hát Dù cười khẩy:

– Thì cũng như vụ chúng lừa gạt chúng tôi vào tù rồi bảo để giáo dục chúng tôi ấy mà. Đồ vô giáo dục, vô liêm sỉ mà đòi dậy người khác học làm người!

– Chưa hết, kỳ này ông Triết sang đây toàn nói chuỵên tình cảm, chuyện “dù trong hay ngoài nước cũng đều là người Việt Nam”, chuyện ông muốn mời những đồng bào đang biểu tình dàn chào ông và đòi nhân quyền cũng như tự do cho Việt Nam vào ăn tiệc cùng với ông…

Bà nhà văn xuýt xoa:

– Trời ơi, cơ hội ngàn năm một thủơ ông được gặp khúc ruột xa ngàn dặm. Ông đã xổ nho “Tha hương ngộ cố tri”, nhất là cố tri đang biểu tình mà ông nỡ bỏ qua không xuống “rua” nhau một cái có phải là thắm thiết tình cảm không.

Nhà thơ bĩu môi:

– Chẳng qua ông Triết rút kinh nghiệm vụ Phan Văn Khải sang đây bị “Đồng bào, khúc ruột xa ngàn dặm” dàn chào kỹ rồi tố cáo ngay trong buổi họp báo là “Anh là tên nói láo!”. Hắn không kềm nổi thú tính quen thuộc của chính thể độc tài, đã quát lên đòi: “Đuổi nó ra!” Thời buổi tin học bây giờ, những hình ảnh đó trông… lạc hậu, ấu trĩ, thô bỉ và chỉ có hại cho những chuyến thương lượng cũng như hình ảnh của nhà nước VN mà thôi.

Ông Hát Dù gật gù, thở ra

– Kỳ này, ông Triết muốn vẽ một hình ảnh mới mẻ, văn minh, cởi mở và hơn nữa, đầy tràn tình cảm qua những câu thơ ông ngâm nga quảng cáo: “Quê hương là chùm khế ngọt…”Thật ra khế thường chua gần chết, lâu lâu mới có một cây gọi là khế ngọt, tức là chỉ hơi hơi không… chua thôi chứ làm gì có khế ngọt, cũng như chanh ngọt tức là chanh không chua, thế thôi.

Thiên hạ cứ nghe ngọt ngào, xuôi tai là tin bằng chết. Các cụ thấy nhà thơ Hoàng Cầm ca tụng “lá diêu bông” đấy. Làm gì có lá diêu bông, thế mà ai cũng nhớ, cũng thích bài thơ. Ông Triết biết thế nên lợi dụng bài thơ nổi tiếng để “dụ” đồng bào về quê, chung tiền cho các ông ăn chơi, tham nhũng, xây dinh, nuôi “con nuôi, cháu nuôi”… và hơn nữa, để củng cố cho cái chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản.

Ông Hát Ô cười:

– Đúng vậy, tin vào diễn xuất của ông Triết cũng như tin vào những giọt nước mắt cá sấu của “bác Hồ” ngày nào sau khi “bác” bán cụ Phan cho Pháp để lấy tiền.

Nhà văn thở dài:

– Thế mà bao giờ cũng có những người mắc bẫy. Trong số khoảng 700 người dự bữa tiệc với ông để nghe ông quảng cáo về những cơ hội đầu tư kỳ vào VN, thế nào ông Triết cũng bẫy được một số con mồi ngây thơ.

Các cụ có nhớ vụ ông vua chả giò đang kiện nhà nước ta ra trước tòa án quốc tế về tội tước đoạt tài sản, bắt bỏ tù ông ta không? Vụ ông chủ trường bị mất trường sau khi trường làm ăn khấm khá…

– Chưa hết, còn thằng Trần Trường, con cờ sáng chói dám làm bàn thờ Hồ Chí Minh giữa phố Bolsa rồi đem tiền về VN kinh doanh với nhà nước ta, tưởng rằng mình là con cưng của “bác và đảng” cũng đang bị tù và đang chống án đó.

Nhà thơ cười miếng chi:

– Tôi vẫn cho thế là đáng đời. Tuy nhiên, phải nói là tiên trách kỷ, hậu trách nhân, nếu mình không tham tiền, không ngu dại để quên cái bản chất lật lọng, thâm hiểm, tráo trở, không ham về ăn chơi thì làm sao nó dụ dỗ được mình?

Kathy Trần

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Từ Biểu Tình đến Cách Mạng

Vũ Nhân Phong
Tâm Thức Việt Nam

Trong những năm gần đây đã có những luận điệu cho rằng công cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại đang bế tắc, tinh thần chống cộng đang suy yếu và chỉ trong vài thế hệ kế tiếp sẽ bị dập tắt hoàn toàn. Trên tiền đề này, một số nhà chính trị thời cơ đã quyết định chuyển hướng, sẵn sàng “bỏ 3 triệu người hải ngoại để lấy 80 triệu người quốc nội” và nhắm đến việc “xoá làn ranh Quốc-Cộng” với hy vọng rằng sẽ có chỗ ngồi trong Quốc Hội bù nhìn của Cộng Sản.

Cuối cùng thì ước vọng vào Quốc Hội đã trở thành thất vọng, sau những xoay trở chính trị nhắm vào cuộc bầu cử quốc hội 2007, mà kết quả là như cũ. Nhưng những tư tưởng thời cơ vẫn còn dó, sau những thất bại của kế hoạch làm mờ đi tính chất tị nạn CS của người Việt hải ngoại, các lời kêu gọi giới trẻ hải ngoại giải quyết các tệ nạn xã hội tại Việt Nam hay những lý luận để đồng hoá cộng cuộc đấu tranh với nỗ lực xây dựng một xã hội công dân. Tất cả để đưa hải ngoại vào vị thế dưới cơ, phải “xin phép” tức là mặc nhiên công nhận vai trò lãnh đạo đất nước và quyền “cho phép” của đảng Cộng Sản. Bên cạnh đó cũng có hiện tượng vô số các tổ chức, đảng phái, tập hợp, liên minh, phong trào, khối, v.v… cả trong lẫn ngoài nước ra đời trên hệ thống internet như trăm hoa đua nở. Đến mức ngưòi theo dõi tin tức cũng không nhớ hết tên chứ không nói tới sự phân biệt những khác biệt trong đường lối và chủ trương của từng nhóm. Trong khi đó thì thay vì giúp đồng bào hiểu rõ từng nhóm để có sự chọn lựa, thì có người được xem là nhà đấu tranh lại xúi đồng bào ủng hộ đại cả đám, vì “ủng hộ lầm có mất gì đâu?”

Những sự kiện đã diễn ra quanh chuyến viếng thăm Mỹ của Nguyễn Minh Triết mới đây, cho thấy tinh thần chống cộng của hải ngoại chẳng có dấu gì có thể gọi là suy yếu. Từ New York sang Washington đến Nam Cali, ông Triết tới đâu thì bị hàng ngàn người Việt đuổi theo biểu tình. Đặc biệt, trong những cuộc biểu tình này đã có sự tham gia tích cực và ngay cả sự chủ động của những người trẻ, cho thấy những người tị nạn và nạn nhân cộng sản sẽ có một thế hệ kế thừa tiếp nối công cuộc đấu tranh cho một Việt Nam tự do dân chủ. Hơn nữa, điều này cũng chứng minh rằng những vị yếu bóng viá tin rằng tinh thần đấu tranh tại hải ngoại sẽ tan dần đã đánh giá sai và thiếu bản lãnh hướng dẫn công cuộc đấu tranh chung này.

Cũng vì thiếu bản lãnh, những người này đã đặt câu hỏi, “Biểu tình thì được gì? Biểu tình sẽ giứp ích gì cho người dân ở Việt ?” Vì chỉ nhìn mỗi cuộc biểu tình một cách rất giới hạn như là một nhóm người bỏ công, bỏ tiền và bỏ thời gian ra để đứng la ó cho nhau nghe. Nhìn rộng hơn vào phản ứng của đa số thầm lăng trước những cuộc biểu tình này thì sẽ thấy là Hà Nội đã không thể bình thường hoá sự hiện diện của họ tại hải ngoại và chính thức hoá tư cách đại diện của họ cho người Việt khắp nơi.

Dù đồng cảm với công cuộc đấu tranh của người Việt hay không, những chính quyền các nước mà Việt đang cố thắt chặt bang giao cũng không thể không đặt vấn đề nhân quyền để làm khó dễ Hà Nội. Đây là cái kim chọc vào cạnh sườn Hà Nội, lúc nào cũng có thể làm độc, nghĩa là những lãnh đạo Cộng Sản dù có tỏ dấu trung thành luốn cúi ngoại quốc tới đâu, họ cũng không thề có sự ủng hộ vô điều kiện.

Trở lại vấn đề toàn cảnh của công cuộc đấu tranh, sẽ có những người cho rằng việc biểu tình là lỗi thời, và kiếm những cách đấu tranh “hợp thời” và “sáng tạo” hơn. Một trong những cách “sáng tạo” này là thổi phòng lên tất cả những việc lớn nhỏ có liên quan một chút đến đấu tranh và tạo ấn tượng công cuộc đấu tranh đang có biến chuyển liên tục để lôi kéo những người dễ tin. Nhưng khi không còn ai tin thì họ sẽ đi tìm khán giả ở những nơi khác hay bằng những cách khác để có thể tiếp tục thấy tên mình trên mặt báo. Thế nhưng trong thực tế thì công cuộc đấu tranh này thành công hay không sẽ không dựa vào nhiều biến chuyển liên tục, mà vào một biến chuyển lớn và đột ngột do đại đa số quần chúng Việt chủ động. Còn bao lâu nữa biến chuyển lớn đó mới đến thật khó nói, nhưng một điều chắc chắn là ngày đó sẽ không đến vì những nỗ lực cải thiện chế độ, sửa sai cho chế độ, hay “qua mặt” chế độ bằng cách dùng ngả đầu tư hay từ thiện để về nước kêu gọi người dân đấu tranh. Một biến chuyển lớn và đột ngột – một cuộc cách mạng – có xẩy ra hay không tại Việt Nam sẽ tùy theo quyết tâm loại bỏ độc tài đảng trị của hải ngoại cộng với những phản ứng quốc nội trước những vấn nạn xã hội kinh tế không thể nào giải quyết vì sự đầu tư toa rập làm ăn của tài phiệt thế giói chỉ để kiếm lợi nhưng được khoác chiêu bài phát triển cho đất nước.

Mỗi lần đi biểu tình là một tát mạnh vào mặt đảng CSVN, cho thế giới thấy họ không có tính cách đại diện cho những ai họ không dùng bạo lực để cai trị được. Gây được ấn tượng này là một chiến thắng lớn vì nó phá hẳn một trong những trọng kế của CSVN, và trên nền tảng này đồng bào hải ngoại và quốc nội có thể lấn tới phá tiếp những kế hoạch khác của Hà Nội. Cho nên chúng ta cần phát huy tinh thần này, vì biểu tình là cách đơn giản, dễ dàng nhất để bày tỏ tiếng nói của lương tâm mình. Khỏi cần nghĩ đến chuyện xa vời, ngày nào còn người Việt tham gia biểu tình chống CSVN thì công cuộc đấu tranh sẽ còn nguyên.

July 9, 2007

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Với Bốn Phương Chìm Nổi – Việt Dương Nhân

Xem chương trình Buổi RMS của chị VDN vừa đăng tải trên Tao Ngộ hay quá, nhưng phải bỏ giữa chừng vì đã đến giờ tôi phải đi làm, tiếc thật …

Chương trình rất phong phú , có đầy đủ màu sắc nhất là giữa hai giới , một thế hệ lão thành và một thế hệ thứ hai đang tiếp tục những con đường của các bậc cha anh đã đi qua . Theo dõi chương trình này , tôi thấy được nhiều khuôn mặt từng có tiếng tăm một thời như nhà văn Hồ Trường An, nhà ký giả Trần Trung Quân, nhà văn kiêm thi sĩ Đỗ Bình, nhà thơ kiêm phóng sự Bích Xuân và nhà báo kiêm nhà văn lão thành Tô Vũ v.v..

Đặc biệt nhất là chương trình buổi lể RMS của chị mở đầu vẫn là chào Quốc Kỳ và hát Quốc Ca , một hình thức rất trang nghiêm cho các buổi lễ . Dáng dấp người nữ MC mặc áo dài vàng có cờ ba sọc đã làm tôi hảnh diện lây, nhìn tờ chương trình cũng đã trân trọng với bìa cứng có hình cờ vàng ba sọc mà thấy rưng rưng trong lòng . Tôi cũng đã từng khóc vì xúc động mỗi khi được hát Quốc Ca và nghiêm trang dươí màu cờ Tổ Quốc không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng mỗi lần nhìn lại vẫn là một xúc động không kém .

Người thơ VDN đã cho chúng ta xem một chương trình thật phong phú khi chị và các bạn hưữ tổ chức buổi lễ RMS cách đây đã gần 10 năm rồi, chị chính là con chim đầu đàn của những buớc đầu khó khăn và sôi động cho tập thơ đầu tay khi ra mắt. Trong mười năm trước vấn đề ra mắt một tập thơ không được dễ dàng như bây giờ, là cần đòi hỏi tên tuổi của nhà văn hay một nhà thơ phải được mọi người biết đến nếu không thì khó mà nhà xuất bản nào nhận lời, bằng không tác gia phả tự bỏ tiền in ấn và xuất bản .

Giòng thơ của VDN không chỉ là những giòng thơ chỉ biết nói về những tình cảm vụn vặt của con người mà còn là tình cảm xa xôi hơn khi nghĩ về quê hương mà ngàn trùng cách biệt . Đức Tùng một nhà thơ trẻ ở thế hệ thứ hai đã cảm được lời thơ của tác giả khi đọc và thấy nỗi lòng trong bài thơ của chị vìết về một quê hương dấu yêu, nhắn nhủ các đứa con vẫn còn đang tha hương lạc loài nơi đất khách. Bài thơ này đã làm xúc động tâm tình của người trai trẻ khi nghĩ tới quê hương và thân phận lưu đầy nơi đất khách.

Tất cả những bài hát trong chương trình có lẽ đã chọn lọc rất kỹ vì toàn nhạc viết cho quê hương, chỉ một vài bài nhạc tình cảm nhẹ nhàng thôi . Giọng ngâm của chị Ngọc Xuân rất tình cảm qua nhiều vần thơ tiêu biểu trong tập thơ Bốn Phương Chìm Nổi của VDN, giọng ngâm Ngọc Xuân nếu tôi không nhìn rõ mặt tôi cứ ngỡ là giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh khả ái mà tôi từng mến mộ .

Việt Dương Nhân
Nói chung đây là một thành công không nhỏ đối với nhà thơ nữ VDN của chúng ta, dù đã sau mười năm nhưng hào khí của chị tôi vẫn còn thấy ở những thời điểm như mỗi năm cứ gần đến ngày 30 tháng 04 là bằng mọi cách ngay trang thơ chị nơi chị đang cộng tác trên các diễn đàn đã dẫn topic lên hàng đầu trong suốt thời gian Tưởng Niệm cho ngày 30 tháng 04 vừa qua như tôi đã được biết . Chị vẫn hăng say làm việc và vẫn một lòng chung thủy với quê hương..

Cuối cùng là lời nhận xét và phê bình tập thơ Bốn Phương Chìm Nỗi của nhà báo lão thành Tô Vũ , ông trân trọng giòng thơ của VDN , qua tuyển tập mà ông đã đọc, đề tài tập thơ viết về quê hương ,viết cho thân phận con người và nỗi chán chường cho tình ái long đong của kiếp má hồng phận bạc và tôn giáo .Cuối cùng nhà thơ chỉ còn biết tìm về nơi chốn Đạo Pháp lấy câu kinh tiếng kệ quên đi cuộc sống đời thường . Ông đã chúc mừng nhà thơ VDN khi ước vọng của tác giả đã được thực hiện trong đời, như lời thơ của chính tác giả viết

Yêu thơ tôi mộng tôi mơ
Mơ thành thi sĩ làm thơ tặng người…

Và cuối đời tác giả tìm được sự an bình khi đến với Tôn Giáo.

Bao đêm khấn nguyện Di Đà
Giúp gương trí tuệ đánh tà đuổi ma
Tà ma nay đã lìa xa
Thâm tâm bình lặng lòng ta nhẹ nhàng

Có ai biết đến chị không ? nhưng riêng tôi , tôi vẫn nhìn chị như tấm gương sáng từ tâm hồn cho đến cung cách sống của một người nữ lưu đang trong lứa tuổi về chiều . VDN vẫn mãi là một đoá hồng nở rực với thời gian, cho dù cũng có lúc bị gió mưa dập vùi..

Xin cho những tháng ngày còn lại đầy nắng ấm và mây nước hiền hoà để đóa hồng vẫn luôn nở rộ cho đời thêm sắc, thêm hương…

Miên Thụy
06July07

http://www.mienthuy.com/

1 Bình luận Tháng Bảy 8, 2007

Hãng AP đưa tin về dân oan biểu tình tại Phú Nhuận Sài Gòn

Biểu tình về tranh chấp đất đai tại Việt Nam
Protests over land disputes in Vietnam
Associated Press
Sunday, July 8, 2007 (Hanoi)

Hàng trăm người đang cắm lều bên ngoài một văn phòng nhà nước tại Tp. HCM ở miền Nam Việt Nam để khiếu nại về những cáo buộc tham nhũng và bồi thường thiếu công bình khi đất của họ bị trung dụng cho những công trình xây dựng.

Người biểu tình từ 9 tỉnh thành miền Nam đã tụ tập từ ngày 22 tháng 6 ở trước văn phòng đại diện của cơ quan lập pháp Quốc hội, theo một công an quận Phú Nhuận cho biết.

Người công an này cho biết thêm.”Họ căng lều trên vỉa hè, treo các biểu ngữ và các tấm bảng đòi hỏi bồi thường công bình cho đất đai của họ và lên án công khai vấn đề tham nhũng tại địa phương”.

Anh ta nói rằng lực lượng công an đã được đưa đến để giữ trật tự và điều hành lưu thông. Người công an này nói lãnh đạo của vài tỉnh, thuộc quê quán của những người biểu tình đã đến để thuyết phục yêu cầu họ trở về địa phương, nhưng hầu hết đều không chấp nhận.

Báo Tuổi Trẻ ngày Thứ Bảy đã đăng lời của phụ tá thanh tra nhà nước Lê Tiến Hảo cho biết các thanh tra cao cấp của nhà nước đã được gởi tới để thúc giục các lãnh đạo cấp tỉnh giải quyết các vấn đề tranh chấp.

Cảnh người dân tụ tập tại các văn phòng nhà nước để đòi hỏi bồi thường khá hơn cho đất đai của họ bị nhà nước trưng dụng đang trở thành thông thường tại Việt Nam.

Hàng trăm mẫu đất đang bị trưng dụng hàng năm để xây dựng các khu công nghiệp và các công trình xây dựng khác

Nhiều người đã bị đưa ra toà vì tấn công các cán bộ nhà nước trong vấn đề tranh chấp đất đai trong vài năm vừa qua.




Protests over land disputes in Vietnam
Associated Press
Sunday, July 8, 2007 (Hanoi)

Hundreds of people are camping out near a government building in southern Vietnam’s Ho Chi Minh City to protest alleged corruption and unfair compensation for their land, taken for infrastructure projects

Protesters from nine southern provinces have converged since June 22 in front of the representative office of the lawmaking National Assembly, said a police officer in Phu Nhuan District.

”They have set up tents on the pavements, hung up banners and placards demanding fair compensation for their land and denouncing local corruption,” the officer said.

He said police were deployed to help keep order and control traffic.

The officer said that leaders of some provinces where the protesters came from had tried to persuade them to go home, but that most of them did not back down.

Saturday’s Tuoi Tre (Youth) newspaper quoted deputy government inspector Le Tien Hao as saying senior government inspectors have been sent to the provinces to urge the provincial leaders to resolve the disputes.

Scenes of people gathering at government buildings to demand better compensation for confiscated land have become common in Vietnam.

Hundreds of hectares (acres) of land are being taken each year for industrial parks and other infrastructure projects.

Several people have been brought to court for attacking authorities in land disputes in recent years.

Thêm bình luận Tháng Bảy 8, 2007

Coi Chừng Nghiện… Khiêu Dâm

Nhiều người được chẩn đoán bị nghiện khiêu dâm sau khi đọc sách báo hay xem phim về đề tài này, và họ sẽ tìm cách giải tỏa “bức xúc” ngay lập tức tương tự như các con nghiện ma túy đang thiếu “hàng”…

Một nhóm các chuyên gia đã trình bày trước một tiểu ban của Thượng viện Mỹ rằng có một sản phẩm nguy hiểm mà hàng triệu người Mỹ đang tiêu thụ là sự nghiện ngập phim ảnh và các ấn phẩm khiêu dâm. Tác hại của loại sản phẩm này đối với não có thể so sánh với… cocaine. Một nhà tâm lý học còn khẳng định rằng “việc phơi nhiễm lâu ngày với phim ảnh và sách báo khiêu dâm sẽ kích thích thói quen ưa ngắm nhìn bộ phận sinh dục khác giới, thực hành thông dâm và ác dâm, cũng như lạm dụng tình dục…”.

Rối loạn hành vi
Ước tính hiện có khoảng 420 triệu trang web loại này dành cho người lớn với hàng chữ cảnh báo đầu trang “Cấm trẻ em dưới 18 tuổi!” và hàng chục ngàn tạp chí, sách báo cùng loại. Tuy nhiên, không chỉ có người trưởng thành mà trẻ em cũng rất dễ dàng tiếp cận và “việc thâm nhập rất khó tránh khỏi mỗi khi lên mạng” – chuyên gia liệu pháp tình dục Louanne Cole Weston khẳng định. “Không nghi ngờ gì khi các đối tượng có thói quen này gặp rắc rối trong quan hệ giới tính, mất ngủ, không hoàn thành nhiệm vụ, hờ hững với người yêu… Hậu quả này xuất phát từ triệu chứng “rối loạn hành vi liên quan đến nghiện hình ảnh khiêu dâm” (behavior disorder involving porn addiction)…”.

Nghiện hay tự ép buộc?
Rất khó mô tả sự khác nhau giữa hành vi tự ép buộc hay tình trạng nghiện khiêu dâm. Theo TS Erick Janssen, một nhà nghiên cứu tâm lý hành vi ở Viện Kinsey, việc xác định triệu chứng nghiện này chủ yếu dựa trên mức độ thường xuyên của thói quen ngắm nhìn hình ảnh khiêu dâm hay xem phim sex, “vì khi nói về triệu chứng nghiện khiêu dâm, rất khó mô tả chính xác hình vi để xác định bệnh, nên việc chữa trị như chứng nghiện có thể không mang lại hiệu quả” – ông nói.

Nhiều người tự chẩn đoán mình là người nghiện khiêu dâm sau khi đọc sách báo hay xem phim về đề tài này, chủ yếu là sự rạo rực, thiếu vắng trong và sau khi xem. Chính điều này dễ đưa họ đến việc tìm cách giải tỏa “bức xúc” như tự thỏa mãn nhu cầu (thủ dâm), thông dâm hay lạm dụng tình dục… Tuy nhiên, lĩnh vực tâm thần học lại không có các tiêu chuẩn cho việc chẩn đoán chứng nghiện hình ảnh khiêu dâm. TS Mary Anne Layden, một nhà tâm lý học hành vi ở ĐH Pennsylvania, cho biết có một tiêu chuẩn cũng từng được sử dụng để chẩn đoán vấn đề này như một trò chơi bệnh lý, tương tự việc lạm dụng chất kích thích. Hầu hết các chuyên gia về liệu pháp tình dục từng chữa trị chứng nghiện khiêu dâm đều coi các đối tượng này như những thành phần nghiện khác.

Một trong những điểm chính của chứng nghiện này là sự phát triển mang tính chịu đựng hay tự ép buộc với chất gây nghiện (hình ảnh khiêu dâm). Tương tự như cách con nghiện ma túy cần gia tăng liều cao để có được cảm giác mạnh hơn, đối tượng nghiện hình ảnh khiêu dâm cũng có nhu cầu được xem những hình ảnh “hot” hơn, cốt chỉ để có được mức độ kích thích cao hơn so với cảm giác họ đã có lần đầu…

A. Hùng

Thêm bình luận Tháng Bảy 8, 2007

Đầy tớ làm chủ, còn chủ làm dân đen

Lê Diễn Đức: Một tác giả của DCVOnline gửi cho Ban Biên Tập địa chỉ Blog trên Yahoo! của một người trong nước, trong đó có các hình ảnh do những “nhà báo” không chuyên nghiệp ghi lại cuộc biểu tình của bà con nông dân tại Sài Gòn từ mấy ngày qua. Tình cờ lướt qua các bài khác, tôi vừa đọc vừa thích thú về hình thức sinh hoạt này của những bạn trẻ tại Việt Nam hiện nay.

Những nụ cười hài hước, mỉa mai chế độ, những trao đổi về các đề tài muôn mặt của cuộc sống với cách thể hiện tươi trẻ, trung thực và rất dí dỏm. Nó phản ảnh những trăn trở và phẫn uất của giới trẻ trong nước trước những bất công, phi lý và vô giáo dục của những người tự gọi mình là “đầy tớ của nhân dân”.

Sinh hoạt Blog này cho chúng ta một tín hiệu đáng mừng: Tuổi trẻ trong nước không thờ ơ như chúng ta ở nước ngoài thường nghĩ, rằng, họ chỉ suốt ngày bên màn hình computer để chích chát, không quan tâm gì đến những gì xảy ra xung quanh mình. Và chính sách dùng tường lửa của nhà cầm quyền Hà Nội là vô hiệu, không thể nào ngăn chặn thông tin, bởi vì hơn ai hết, tuổi trẻ nắm bắt nhanh nhất kỹ nghệ tin học ngày nay và tìm cách vượt qua mọi rào cản để đến với văn minh, dân chủ, tiến bộ của con người. Báo chí nước ngoài trong thời gian qua cũng cho biết, sinh hoạt trên hàng triệu blog của thanh niên Trung Quốc đang làm nhà cầm quyền Bắc Kinh đau đầu.

Tôi ghi lại trung thực (chỉ hiệu đính lỗi chính tả, đặt thêm tiểu mục) và chuyển đến bạn đọc vài sinh hoạt trên diễn đàn này trong những ngày gần đây nhất, đảm bảo sôi nổi không thua kém bạn đọc trên diễn đàn tự do của DCVOnline.

Vô lễ với nhân dân? Cứ vô tư đi!

1/ Tại Ủy Ban Nhân Dân Xã

Buổi sáng, một hàng dài các cụ lão ông lão bà ngồi ngoài hiên chớ lãnh lương hưu, nắng nhạt nhòa của cái giấc 9 giờ. Cô thủ quỹ khoảng 30 tuổi, lọc cọc đi vào, mở khóa cửa, tháo khẩu trang, kính mát bỏ vào tủ… rồi lay hoay mở két. Các cụ lõm khõm, tập tễnh bước vào xếp sổ…
– Quỳnh đâu???
– Dạ có !
Cụ bà tên Quỳnh 72 tuổi khập khiễng đứng ra khỏi hàng bước lên, toạch…! Mớ tiền lương được thảy ra bàn.
– Đếm đi, rồi ký vào đây !
Đố cả làng ai nói đấy!?????

2/ Tại Sở cơ quan đầu ngành của thành phố lớn nhất nước

Phòng tiếp nhận:

– Để hồ sơ cho đàng hoàng coi, xếp vô trong rổ!!!
Cái bác đi nộp vội vàng cầm xấp hồ sơ loay hoay xếp lại, nóng hầm hập, hơi người nồng nồng ngái ngái xông lên…
– Nhanh đi chứ cho người sau vào!
Càng lúng túng tợn, bác đánh rơi cả xấp, giấy tờ bay tá lả. Bà con nhặt giúp.
– Có bộ hồ sơ cầm không xong!
Nhìn cái mặt non choẹt cỡ hai mấy – 8X, ngồi sau ô cửa tiếp nhận – gắt như mắm tôm, cả đám đông dúm dó…

Phòng trả hồ sơ

Một cậu cỡ ba mươi:
– Hoàng văn Sơn!!!!!!!!
Chỉ độc cái tên cộc lốc dù trên giấy ghi rõ giới tính, tuổi tác của chủ nhân hồ sơ. Ông bác vội dạ có ran lên, nếu nói không kịp thì chờ tua sau, chết khiếp! Ông bác có thể đẻ ra bố cái cậu ấy đấy!
– Ký vào đây! – Mắt chả thèm dòm lấy được đủ một con mắt.
Dân tình im thin thít …….
Đố ai mà nhìn thấy nụ cười của Công bộc, chỉ thấy dân tình nửa cười nửa mếu với Công bộc thôi .

3/ Tại cơ quan công an

Phòng xử lý vi phạm giao thông:

Mấy Công bộc công an ngồi phòng máy lạnh phà phà, cái ô cửa tò vò kích cỡ ngang 35 cm, cao 15 cm chĩa ra cái lũ nhân dân vi phạm giao thông bị giữ bằng lái, bị giữ xe đang ngồi lổn nhổn trong cái nóng cỡ 38-39 độ C, đứa nhân dân nào cũng nhễ nhãi mồ hôi, mặt bóng lưỡng đỏ gay vì nắng nóng… Dân ngu – khu đen nên phải giáo dục vậy là vừa! Cho ngồi cháy đít – đen thêm tí nữa có sao.
– Có gì không?
– Dạ tui là chị của Bình đi đóng tiền phạt cho nó!
– Kêu thằng Bình vào đây.
– Dạ……..
– Đứng ra chỗ khác, kêu nó vào!
Lủi thủi tui đi ra.
Công bộc này cỡ U30! Thôi chấp làm gì! Láo với tui thì cũng như láo với mẹ nó, AQ một phát, lùi ra 2m.
– Thằng Thảo là thằng nào?
Nhân dân Thảo dạ ầm ĩ, lỡ mất lòng Công bộc bị phạt mức cao nhất thì bỏ mẹ. Nhân dân Thảo mới có 48 tuổi, U50, bằng lái xe ghi rõ .
– Phạt 750.000, bấm một lỗ bằng lái, vượt tốc độ 10% – đi sang kho bạc đóng đi rồi về lấy xe!
– Dạ vâng anh!
Nhân dân Thảo cười xòe như mếu, lấy giấy phạt chạy thẳng.
Nhân dân tui mon men vào hỏi:
– Anh ơi làm ơn cho giấy phạt lẹ chứ kho bạc đóng cửa thì chết!
– Tụi này làm giờ nào thì tụi nó thu tiền tới giờ đó!
Nhân dân tui an tâm, đứng ra ngoài ngẫm rằng: Sách giáo khoa dạy sai rùi, tiếng Việt làm gì có Chủ từ hay Đại từ nhân xưng… Sai bét sai bét! Hỏng cả! Phải giáo dục nhân dân lại theo đúng cái kiểu nói của Công bộc.
Thôi nhân dân tui nói ra ba chỗ thui, còn chán vạn chỗ khác giống y chang, bà con nhân dân nào đi đâu thì nhớ cố gắng học thuộc lòng bài vâng dạ với các Công bộc và nhìn vào đây để học kinh nghiệm nhá. Nếu không là các Công bộc lại giáo dục các nhân dân bi giờ. Cứ vô tư đi, dân ngu khu đen!

4/ Còi công an hụ

Còi hụ!!!!!!!!!
Wóe wéo wéo!!!!!!!!!
Còi hụ vang lừng. Lúng túng trong 15 giây, xe Hổ tớ không làm sao lách vào trong được vì tam bề bị vây bời xe bus và xe hơi, xe gắn máy, nhất bề là con lươn. Hai tay cảnh sát cơ động dẫn đường áo vàng choạch, xe môtô gắn loa gắn còi hụ inh ỏi. Đi lòn phía trái xe, tớ họ lấy dùi cui đập cái uỳnhhhhhhh vào xe. Tớ giật bắn cả người, tóc tai dựng đứng và nghe tiếng ông Công bộc phát ra từ cái loa:
– Đù má mày! Nghe còi mà hổng tránh hả, ông đập cho mày bể kiếng chết mẹ bây giờ!!!
Xe tớ dạt vội – cà vào cái xe bus cái sạt. Rầm!
Tiếng chửi rủa của mấy ông Công bộc được khuếch đại qua loa đến cách xa 1 cây số còn nghe rõ!
Một đoàn xe bảy chỗ ngồi chừng 4 chiếc ầm ầm vun vút lao qua với tốc độ không dưới 80km/giờ. Nhoắng một cái biến sạch, bà con ôm ngực kẻ xanh mặt kẻ hú hồn. Hổ tớ da gà da ốc mọc đầy .
Cái vụ này diễn ra ngay tối hôm 30/6/2007 lúc 7 giờ 57 phút ngay tại khúc ngã ba Bình Giã – Cộng Hòa, thành phố mang tên… bác gì gì đấy! Đường đang đầy nhóc xe cộ lưu thông!

Ranking:

Câu hỏi: – Làm quan có quyền chửi dân không?

Trả lời:

a) – Tha hồ mà chửi – miệng nhà quan có gang có thép: 10
b) – Khẩn cấp thì được chửi: 1
c) – Khẩn quái gì – hộ tống cha ông chúng nó: 12

Chuyện các bà mẹ nông dân đi kiện củ khoai

Bịt lỗ tai, gài lỗ đít

Mẹ Đốp tôi đi ta bà từ làng trên xuống xóm dưới, từ Đông sang Đoài, từ Một sang Hai đến Ba đến thứ N… gõ cửa, chổng mông vừa gào vừa gọi mở. Ấy thế mà chả ma nào thèm ừ hử một câu… Bực quá bắc thang lên hỏi ông Giời, thế mà cửa cổng nhà Giời đóng chặt, bấm chuông, dây điện đứt, gõ mõ, gõ phèng tai điếc cả, cấm có nghe!!!
Câm tịt tìn tin từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong, Thiên Lôi thì đi Tây tạng thỉnh kinh, thần Thiện thì ngủ vùi, còn mỗi cha Ác đứng nhe nanh gầm ghè!
Ối Giời ơi là Giời! Ngọc Hoàng thượng đế đi đâu, mà nghe đâu đi vân du nơi thánh địa của Như lai kiếm xem có bộ nào hay hay về ru tiếp. Bởi vậy chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm, cái lão Ác cứ vẩn vơ đi cùng đường khắp xóm.
– Ối Ngọc Hoàng! Đám Lục Bộ: Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, ba bộ đồng tình bóp vú con đen!
Ối Ngọc Hoàng ơi! Mở mắt mà xem Lục Bộ của Ngài vừa câm vừa điếc!

Comments:

– ehe… câm, điếc mà mắt sáng, bóp một cái dính liền.

– Này này mụ Đốp! La làng đẩu đâu chưa sướng miệng sao giờ lại lên blog bù lu bù loa. Giời bảo cho mà biết: Thiên binh của Giời không như mụ cảm nhận thế đâu. Chúng đầy đủ cả bộ phận đấy (thậm chí dư nữa là khác). Chỉ có điều chúng không có TIM và ÓC thôi!

– Huhuhu! Giời ơi khổ Đốp tôi dzồi! Tim và óc Đốp này lại chả thiếu! Hic, cơ khổ!

– Bịt lỗ tai thì được rồi. Cớ làm sao lại gài cái kiaaa. Bi giờ chỉ có lục lâm thôi chứ làm gì có lục bộ.

– Bịt tai gài đít
Làm sao mà ị
Làm sao mà nghe
Thiên hạ hehe
Đang cười mẹ Đốp
Mẹ chạy lộp cộp
Gõ cửa nhiều nơi
Cái bọn nhà giời
Chúng nó đóng chặt
Gài đít bịt tai
Chẳng thèm nghe ai
Riêng gì mẹ Đốp…

– Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!

Tình hình!

2/07/2007. Tình hình quả thật rất tình hình, sáng nay vừa vào đến văn phòng thì các em rủ đi coi bỉu tình, chúng nó bảo đông lắm…

Thôi thì mượn cái xe Dream của nhỏ kia xọc xạch chạy tạm, đi taxi dễ bị để ý, tớ phom phom ra Hoàng văn Thụ, đường đông nghẹt xe hơi, lên đến chỗ đông vui thì ra là bốn cái xe: xe bus, xe Uwát, 2 xe bảy chỗ tông vào nhau bẹp đít, dúm đầu – tài xế đang cãi cọ nhau vừa bằng mồm vừa bằng tay vung vẩy, may quá chưa wánh lộn .

Đi đến gần Văn phòng Wuốc Hội thì nhận thấy rằng lực lượng xe ôm, xe ba gác hùng hậu hẳn lên, tự nhiên cách chục mét lại thấy một nhóm sửa xe gắn máy mọc lên mà đó tới giờ đi wài nào có thấy mấy tổ sửa xe lưu động bao giờ?

Đến chỗ biểu tình, phía đối diện hơn chục công an mặc đồng phục xanh lè màu cứt ngựa, quanh quanh đó xe ôm cứ gọi là hằng hà, tớ vừa đi chậm lại ngó ngó, mấy anh xe ôm nhảy ra kiu tớ đi lẹ lên, dòm dzì!!! Tớ dòm thấy mấy cái xe của truyền hình VTV đậu ngay lề bên trong đoàn người biểu tình, cú quá đi lên trên vòng đầu xe lại tính nháy mấy kiểu, mà cá chìm cá nổi lềnh khênh, tớ lại chạy xe gắn máy nên chà làm gì được.

Đoàn biểu tình hôm nay góp mặt từ Bình Dương, Tiền Giang, Tân thành, Đồng Tháp… Đọc được mấy cái nội dung biểu ngữ cũng là may lắm rồi…

Chạy rề rề bị Cá đuổi cho xoành xoạch! Thôi tường thuật miệng lại thôi, đông gấp ba, bốn lần hôm kia rồi.

Tất cả sẽ đi đến đâu nhỉ???? Ai biết????

Chiều nay có chiếc xe ca biển số thành phố, như vậy là có thể gom dân biểu tình đi chỗ khác hoặc trả về địa phương…

Comments:

– Ôi mấy cái khẩu hiểu “tự phát” nhẹ tênh, chẳng có chỉ đạo gì cả. Xúi Phong Tần tới mách nước cho họ, còn Hổ ở nhà lo cơm nắm thăm nuôi Tần. Hê hê! Thôi Bà Cố Tổ, gì cũng nhủi dzô, không cho cái thân nó ngơi tí chút à?

– Sửa xe lưu động hả chị, lại còn xe ôm tự dưng đuổi người tò mò nữa. Lần sau chị cố gắng chụp kiểu ảnh chị ạ. Bọn nó cũng chẳng dám cướp máy của mình đâu. Chị làm bộ giống dân Trunng Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc gì đó cứ xí xồ là bọn nó chịu. Trông chị giống người nước ngoài lắm.

– Sáng kiến giả làm dân nước ngoài hay lắm. Dù sao có được tấm hình này cũng đáng giá rồi. Mong rằng lần này bà con không uổng công dãi nắng dầm sương. Phận sâu kiến, chỉ biết giương mắt nhìn đồng loại bị chà đạp, thật là tủi nhục!

– Hì hì… Chị hiếu kỳ ra phết nhỉ -:)) Em gửi message cho chị rùi nhé! -:)) . Vận động biểu tình -:D . Ở ngoài này chả bao giờ có cơ hội xem cả. Vui chị nhỉ. Để em search thử xem có báo nào đăng hông nhé. Úi, có mỗi cái RFA nó đăng thôi nhưng chặn IP rùi! -:D . Lại nhớ bài “Đất đai có phải là xương máu?” của bác Linh Gia -:)) !

– Đêm qua “ngồi thiền” đến 1 giờ, thấy trên mạng thông tin là đã bổ sung thêm người ở Bình Phước, An Giang, Bạc Liêu, Hậu Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Cờ Đỏ, Bà Rịa, Vũng Tàu… và thêm đồng bào ở Tiền Giang đã kéo về tăng cường cho đoàn biểu tình tăng số người hiện nay lên đến gần cả ngàn người…

– Có cái báo điện tử VN Tàu nhanh (vnexpress) vừa khoe vào Top 100 hay 200 gì của thế giới mà thấy êm re. 1.000 người thì không còn là chuyện nhỏ nữa. BBC cũng đã đưa tin.

– Chị Hổ ơi, hình như có ngừơi…….. xém chết đang nằm viện? Mần gì được bây giờ hả Hổ? Bên ni tớ chỉ biết……. cầu nguyện!!! Làm gì được cho tớ biết? Lòng như ai xé – Đau – Bất lực – Tớ tủi thân!!!

– Đã hơn mười ngày dãi nắng dầm mưa không ốm mới là lạ, bà cụ ấy xỉu vì mệt, đã ra viện rồi!

– 4/07/207. Tin mới nhất sáng nay là: an ninh và báo chí sẽ là bạn đồng hành!

– Cách 200m là toà soạn báo Tuổi Trẻ. Chẳng thấy đả động gì hết. Truyền thông nhà nước muôn năm!!!

– Truyền thông nhà nước đâu có “rảnh” mà để ý ba cái chuyện “nhảm nhí” đó!

– Rất thán phục lọat ảnh chụp biểu tình trên đường HVT của Hổ, đúng là Cọp Cái, ăn thịt sạch cả ngàn nhân viên, phóng viên của 600 tòa sọan báo chí Việt Nam. Nếu có quyền mời Hổ vào làm Tổng Biên Tập báo Tuổi Trẻ liền. Cái nhà to đùng của báo Tuổi Trẻ là tiền dân đóng góp do mua báo đó. Để chi đám vô dụng đó ở uổng quá, không dám hó hé lời nào, khi vụ biểu tình cả chục ngày qua rồi. Cách toà soạn Tuổi Trẻ đúng 500 mét, tui đo rồi, vậy mà không biết, không nghe, không thấy, không nhục… Vậy mà lúc nào cũng lên lớp đám trẻ về lương tâm chức nghiệp nghề báo. Từ quan về mở thêm chục quán karaoke đi ông Tổng bít tịt ơi. Để cái “tòa án lương tâm” của ông cho bà Hổ bả tọa thị tránh mưa.

– Đừng có dại, chưa phải lúc, không giải quyết được việc gì đâu. Cái gì phải đến tự nó sẽ đến, Hổ đừng cầm đèn chạy trước ô tô. Hổ lo ba cái dụ hợp đồng cuả mình để kiếm tiền tiêu và gìn giữ “sức phẻ” đi đã nhá!

– Chụp một loạt ảnh “xe ôm”, “vá xe” lưu động mới nổi lên, ý kiến này rất hay. Sau đó đem hình này về nghiên kíu nhớ mặt cho kỹ, bảo đảm vài ngày sau sẽ gặp mấy anh “xe ôm”, “vá xe” lưu động mới nổi lên này ở những chổ rất chi là oai quyền hơn cái vĩa hè đường Hoàng Văn Thụ – Hồ Văn Huê.

– Lần sau tớ sẽ không chụp hình dân biểu tình mà tớ nhăm vào các anh này thôi.

– Cũng đành nhắm mắt làm ngơ
Mà lòng bứt rứt như tơ chẳng đành…
Ngao ngán :(

– Làm gì có biểu tình! Tụ tập trên 5 người đưa kiến nghị là trái luật rồi, tất cả bà con biểu tình đều đã vi phạm luật pháp. 600 báo Đảng có thấy báo nào đưa đâu hả bác Hổ, toà soạn của họ ở quanh đấy mà? Hay là họ đeo kính màu hồng nên chẳng thấy cái chi hết? Có chỗ nào có bán kính hồng hay đỏ bác mách em mua 1 cái đeo cho nó đỡ nhức đầu… gối.

Thêm bình luận Tháng Bảy 7, 2007

Champa Năm 1832, Một Nước Không Còn Nữa

Bài viết về lịch sử vương quốc bị xóa bỏ 175 năm trước
Nhân dịp hội thảo về dân tộc Chiêm Thành tại San Jose 7-7-2007

Lời nói đầu: Chúng tôi vốn không phải là sử gia, chỉ là người đọc sử rất vội vàng mà viết bài cho kịp tin thời sự về các bạn gốc Chàm đại hội tại San Jose. Bài báo đã viết xong mới có dịp đọc thêm tác phẩm Champaka 4 trong đó có loạt bài của tiến sĩ Po Dharma. Ông là giáo sư tốt nghiệp đại học Sorbonne, Paris hiện đang dậy về văn hóa Champa tại Pháp, tại Mã lai và Nhật bản. Có dịp đàm luận với ông, thấy ra một người hết sức uyên bác đồng thời thể hiện đức tính khiêm tốn rất truyền thống dân tộc. Trong bài viết dưới đây đã thiếu xót hai phần quan trọng mà trong lúc nói chuyện với chúng tôi, tiến sĩ Po Dharma rất tế nhị không đề cập đến.

Trong suốt hai thế kỷ Nam Tiến của người Việt, vua quan và thần dân Champa đã chịu đựng biết bao nhiêu là đau thương tàn nhẫn cho đến khi cả kinh đô bị tàn phá bình địa. Đó là phần đấu tranh kháng cự của triều đình Chiêm Thành. Riêng về nhân dân Champa những cuộc nổi dậy chống người Việt kéo dài từ 1693 cho đến tận ngày nay. Trước thế kỷ thứ 19 là công cuộc đấu tranh dành lại quê hương. Các cuộc đấu tranh sau này dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa là dành quyền tự trị. Ngày nay người Champa sống dưới chế độ cộng sản lại còn khổ sở bội phần nên phải tiếp tục đấu tranh để dành quyền sống. Giao chỉ – San Jose.

Những trang sử Việt viết về dân tộc Chiêm Thành thường rất đơn giản và mơ hồ. Sau bao nhiêu năm vật đổi sao rời, truyền thuyết về quốc gia Champa đã trở thành huyền sử. Di tích còn lại là những ngôi tháp Chàm rêu phong cổ kính ở miền duyên hải Trung phần và bài ca Hận Đồ Bàn được Chế Linh trình bày trên sân khấu văn nghệ từ trong nước ra đến hải ngoại.

Sự thực câu chuyện còn bi thương ai oán hơn cả những bài ca của Chiêm Nữ khóc than cho số mệnh của một dân tộc diệt vong. Lịch sử mở mang bờ cõi của một quốc gia lại cũng là lịch sử mất nước của một quốc gia khác. Vào đầu thế kỷ thứ 16 cách đây 400 năm, Việt Nam chưa hề có đủ ba miền Trung Nam Bắc. Kinh đô Thăng Long lúc đó chỉ có miền châu thổ sông Hồng và đất Thanh Nghệ Tĩnh. Từ Quảng Bình vào miền Nam là đất của Champa. Phần lớn người Việt đều không có cơ hội hiểu rõ về những sắc tộc phải hội nhập vì sinh tồn và đã góp phần vào mạch sống chung của xã hội Việt trong thời kỳ Nam tiến bao gồm cả những giai đoạn từ chiến tranh đến hòa bình.

Khi chúa Nguyễn Hoàng từ bỏ Thăng Long vượt qua đèo Ngang thì đến ngay vùng đất Quảng. Đây không phải là miền đất vô chủ. Tại bốn miền đất Quảng ngày nay ở hai phía Nam Bắc đèo Hải vân Ôđã có sẵn một dân tộc với nền văn minh cổ. Đó là người Champa được gọi dưới nhiều tên khác nhau. Người Chiêm Thành, người Chàm hay người Hời.

Thực ra dân tộc Champa bao gồm tất cả những người sắc tộc Tây Nguyên và người Chàm duyên hải. Đất nước Champa kéo dài từ Đồng Hới, Quảng Trị, qua Đồ Bàn tại Khánh Hòa mà vào đến Đồng Nai, Gia Định. Trên cao nguyên bao gồm cả Kontum, Pleiku xuống Ban mê Thuột.

Trước thế kỷ thứ 15 Champa chịu ảnh hưởng của Ấn Giáo. Sau khi kinh đô Đồ Bàn sụp đổ năm 1471, Champa bắt đầu chịu ảnh hưởng của Hồi giáo du nhập theo các thương thuyền Ả Rập đến miền duyên hải trung phần.

Hôn lễ lịch sử giữa vua Chàm, Chế Mân và Huyền Trân công chúa đời Trần đã lấy đi của dân tộc Champa hai châu Ô, Lý tức là các xứ Quảng ngày nay.

Câu chuyện bắt đầu vào mùa xuân năm Tân Sửu 1301, vua Nhân Tông nhà Trần thăm viếng vương quốc Champa tại kinh đô Đồng Hới. Lúc đó Chiêm Thành là một quốc gia văn minh và thiện chiến tại phương Nam. Để nối tình thân hữu, Trần Nhân Tông hứa gả con gái là Huyền Trân công chúa cho Chế Mân, vua Champa. Năm năm sau, công chúa được rước từ Thăng Long đi đường bộ ba tháng suôi Nam. Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho Thăng Long để làm lễ cưới. Một năm sau Chế Mân qua đời. Lúc đó vào năm 1307, Tướng Trần khắc Trung đem thủy binh dự tang lễ và đón được công chúa Huyền Trân trở về. Nhà Trần lúc đó mới đưa quan quân vào tiếp nhận hai châu Ô, Lý. CùngÔ một lúc, đợt di dân đầu tiên của người Chàm lui vào miền Nam bắt đầu. Những người Champa ở lại sẽ đồng hóa với dân bắc hà nam tiến để trở thành dân xứ Quảng ngày nay. Mặc dù sử Việt và sử Chiêm có những điểm khác biệt nhưng quả thực câu chuyện hôn nhân vào thế kỷ thứ 13 đã mở đường cho công cuộc Nam tiến 300 năm sau kể từ thế kỷ thứ 16. Khi chúa Nguyễn vào Nam mở nước, một mặt chống đỡ với chúa Trịnh trong 45 năm Nam Bắc phân tranh, và mặt khác xâm chiếm lãnh thổ Champa. Lịch sử Nam tiến của người Việt trong 200 năm từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 18 đồng thời cũng là lịch sử của quốc gia Chiêm Thành diệt vong.

Những ràng buộc sui gia giữa hai triều đại từ bao năm đã không cản được bước chân Nam tiến của người Việt. Các triều đại của chúa Nguyễn lần lượt xâm chiếm và đồng hóa dân tộc Champa. Biên cương nước Đại Việt vào giữa thế kỷờ thứ 16 đã trải dài từ Phú Yên đến Khánh Hòa. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, vương quốc Champa đặt dưới sự bảo hộ của triều đình Huế.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng xua quân xâm chiếm lần cuối cùng và Champa hoàn toàn xóa sổ.

Ngày nay người Việt lưu vong thường nhớ đến Hận sông Gianh, nhớ đến con sông Bến Hải, nhớ đến cuộc di cư 1954, trận di tản năm 1975, nhưng con cháu của dòng giõi Champa thì phải nhớ đến một năm xa xôi hơn nhiều. Đó là năm 1832, năm cuối cùng của cả một dân tộc với ngàn năm xây dựng nền văn minh tối cổ. Đối với dân Việt tự do đang lưu vong dù sớm hay muộn cũng có ngày trở về trên một đất nước không còn cộng sản. Nhưng đối với dân tộc Champa, tất cả chỉ còn là kỷ niệm.

Đó là lý do năm nay tại San Jose, người Champa gồm các sắc tộc thiểu số Tây Nguyên và người Chàm duyên hải tổ chức đại hội gọi là ghi dấu 175 năm xóa sổ của một nền văn hóa.

Những người Champa bình dân và trí thức, người Champa từ Âu châu, Mỹ Châu, Việt Nam, Cam Bốt. Người Champa từ các nguồn gốc khác nhau, từ các xã hội đồng hóa khác nhau sẽ có đại biểu về họp mặt. Phần lớn sẽ dùng Anh ngữ là một thứ Anh ngữ sinh tồn trên quê hương mới nên rất dễ hiểu với tất cả mọi người.

Các đề tài thảo luận là những thách đố can đảm. Những yếu tố nào đã làm đảo lộn nền tảng văn hóa và xã hội Champa. Những dữ kiện nào đã làm trì hoãn phát triển kinh tế và mức sống của dân Champa. Tại sao nước Chiêm Thành không còn nữa. Những giải pháp nào đã áp dụng, và những thành quả nào đã ghi nhận trong việc bảo tồn văn hóa Champa. Đọc những đề tài thảo luận, chúng ta thấy rõ sự can đảm của những người tổ chức. Đang cố sức tìm cách mổ xẻ vết thương đau đớn của cả một dân tộc từ ngàn năm qua. Tại sao một dân tộc có nền văn minh cao độ, một quốc gia hùng cường, một miền đất phì nhiêu tốt đẹp, có các chiến sĩ vượt Trường Sơn cỡi voi ra đánh Bắc Hà, có các thủy thủ vượt biển Đông đánh chiếm Thăng Long. Nhưng rồi lại không giữ được quyền thống trị Đông Nam Á mà lại để mất tất cả. Chỉ còn lại Chế Linh, hậu duệ của anh hùng Chế Bồng Nga với bản Hận Đồ Bàn cùng với Việt nam Cộng Hòa than khóc từ 54 qua 75 cho đến 2007. Năm nay ghi dấu 32 năm người Việt mất miền Nam và 175 năm người Chàm mất cả quốc gia.

Phải chăng vì sắc tộc Champa là những con người bản chất nông dân, chỉ sống hòa bình với cây cỏ, thiên nhiên và đặc biệt là sống với tình yêu như nhạc tình Từ Công Phụng.

Nếu dân tộc Champa chỉ sống với tình yêu, với đất trời hòa bình nhưng lại làm chủ vùng địa lý từ Tây Nguyên đến Duyên Hải, chặn đường Nam Tiến của dân Việt thì trước sau thế nào cũng gặp người như vua Minh Mạng sẵn sàng xóa sổ cả một dân tộc.

Bây giờ, bước qua năm thứ bảy của thế kỷ thứ 21 những người Champa mất gốc gặp người Việt mất nước lưu vong để cùng tham dự hội thảo với đề tài Tại sao trong tình huynh đệ của cộng đi “Tại sao” trong ngoại.

Trong niềm thông cảm sâu xa với những cay đắng của lịch sử, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu ngày đại hội Champa với quí vị thân hữu và truyền thông tại địa phương.

Văn hóa và lịch sử của Việt Nam vốn là một sự bao gồm và hòa hợp giữa các di sản văn minh ngoại nhập và phát triển nội tại.

Chúng ta không phải chỉ có các họ Trần, Lê, Lý, Nguyễn mà đã đủ để làm thành trăm họ Bách việt.

Phải có họ Chế, họ Từ, họ Nông, họ Mạc …mới đủ bộ để làm thành một đại gia đình dù là ở bên kia hay bên này Thái Bình Dương. Cuối tuần này, xin mời các bạn từ sông Hồng, sông Hương, sông Cửu long hãy đến với những người của kinh đô Đồ Bàn, nghe các sắc dân Tây Nguyên và Duyên Hải hội thảo đề tài tại sao. Xem triển lãm của dân tộc Hời, những người láng giềng của tổng thống Nguyễn văn Thiệu ở Phan Rang. Xem vũ Chiêm Thành, nghe Chế Linh hát Hận Đồ Bàn và đặc biệt nghe Từ công Phụng hát tình ca tặng Huyền Trân Công Chúa.

Chuyện ông vua Chàm ngày xưa say mê nhan sắc công chúa Thăng Long đã được đưa lên sân khấu cải lương Nam Kỳ, có đúng hay không? Hai châu Ô, Lý có phải thực sự là sính lễ hôn nhân hay chỉ là đề tài ngụy tạo cho một cuộc xâm lăng? Những trang sử bên này và bên kia đèo Hải Vân đã khác nhau ra sao?

Tất cả những câu chuyện như vậy, một cách chân thành, người anh em họ Từ như Từ công Phụng,Từ công Thu, Từ công Nhường sẽ kể lại với những vòng tay mở rộng.

Và đặc biệt những tinh hoa văn hóa Champa từ Pháp quốc, từ Đông nam Á và từ các tiểu bang Hoa Kỳ sẽ đến nói chuyện về truyền thống Chàm trong tình tự chân thành, uyên bác và hết sức linh động. Chương trình khai mạc 10 giờ sáng thứ Bẩy ngày 7 tháng 7 năm 2007 tại hí viện Le Petit Trianon trên đường số 5 thành phố San Jose. Sau phần khai mạc là tiếp tân, khánh thành triển lãm, rồi đến hội thảo các đề tài bằng Anh ngữ. Ban tổ chức mời ăn trưa lúc 1 giờ, có chương trình phỏng vấn trực tiếp bằng Việt ngữ. Các đề tài hội thảo tiếp tục đến 7:00 PM. Ban tổ chức mời quan khách ăn chiều và tiếp đến phần văn nghệ Champa từ 8 đến 10PM. Vào cửa tự do, ưu tiên cho các nhân sĩ, hội đoàn và quí vị truyền thông. Xin ghi danh vào buổi sáng.

Giao Chỉ giới thiệu

Dai Hoi Champa trong tinh than dan toc da nguyen da sac toc that dang ung ho.
Toi xin gop vai y :
1- Nam 1069 vua Ly bat vua Cham Pudravarman III nen Cham phai nhuong dat
tu Hoanh Son den Lao Bao de chuoc ve.
2- Nam 1307 vua Tran lay dat tu LaoBao toi HaiVan ( chau O, Ly)
3- Nam 1471 Le Thanh Ton moi dut diem chiem Vijayya la trung tam van hoa chinh tri cua Cham va to chuc thanh Quang Nam, Thang Hoa ( Thua Thien sau nay)
4- .Nam 1832 vua Minh Menh la ong vua rat quyet liet : xoa so Cham, doi ten Thang Long thanh Ha Noi, Kinh Bac thanh Bac Ninh, bac Thanh Hoa thanh Ninh Binh.
5- .Trong 1000 tieng Cham thong dung co toi 200 tu giong tieng Viet, xua nay VN ta cu tranh noi ve lai giong Chiem Thanh, that ra VN la giong da chung : lai Tau, lai Cham, lai Mien…su that lich su nen chap nhan trong ky nguyen song chung nay. Ngay ca vung Nghe Tinh Quang Binh that ra cung thuoc Lam Ap voi giong noi rat dac biet, dan Lac Viet chi vao so it, pha giong ma thoi.

Tran trong cam on
LUU VAN VINH

Thêm bình luận Tháng Bảy 6, 2007

Mĩ tục

“Mĩ tục” là tục… của Mĩ (thơ Lý Đợi)

Câu chuyện này rút trong ghi chép của một khách du lịch.

Cụ Cả Lễ, người cao tuổi nhất làng Kinh vốn được coi là một bộ bách khoa toàn thư sống của cả làng. Khách nghe tiếng tìm đến cụ như tìm đến một địa chỉ văn hoá cuối cùng còn sót lại. Chờ cho cụ an toạ, khách lễ phép cất tiếng hỏi:

“Làng ta vẫn giữ truyền thống là một làng văn hiến đấy chứ, thưa cụ?”

Cụ Cả Lễ râu tóc bạc trắng như một ông tiên, ngước đôi mắt kỉ hà nhìn khách hồi lâu, đoạn chậm rãi trả lời:

“Việc ấy anh đi mà hỏi ông chủ tịch. Lão đây không dám giả nhời.”

Khách thoáng ngạc nhiên, bèn chuyển sang đề tài khác:

“Nghe nói cụ biết rất nhiều sự tích của làng…?”

Cụ Cả Lễ vẫn chậm rãi, đôi mắt nhìn xa xăm tận đâu đâu:

“Cái đó tuỳ duyên thôi. Sự tích cũng tuỳ duyên mà có…”

Cụ vừa nói đến đấy thì có đứa cháu chạy đến xin cụ chùm chìa khóa nhà xí để đi… ị. Khách ngạc nhiên quá, bèn hỏi ngay:

“Nhà xí mà cũng phải khoá ư, thưa cụ?”

“Ấy đấy, cái ‘duyên’ nó đến rồi đấy – cụ Cả Lễ bảo khách – Phải khoá chứ. Thậm chí phải bí mật để đề phòng kẻ xấu ăn trộm. Làng này có tục đi ỉa phải giấu cứt. Người đi nhiều như anh mà cũng chưa bao giờ nghe nói đến hay sao?”

Đến đây thì khách kinh ngạc thật sự. Chẳng lẽ làng này là truyền nhân của… giống mèo cả hay sao mà lại có cái “tục” kì lạ như vậy. Té ra cái gì cũng có sự tích của nó cả. Sau đây là câu chuyện kể của cụ Cả Lễ:

Kể rằng thiền sư Căng Lulu vốn người làng Kinh, tên tục gọi là Ngục Văn, hồi bấy giờ làng này còn có họ Ngục. Căng Lulu là pháp hiệu. Ngài xuất thân trong một gia đình trưởng giả. Bình sinh lúc nào cũng xe ngựa rình rang, tấp nập kẻ hầu người hạ, ngày ngày toàn ăn thịt cá, lại hưởng không thiếu gì lạc thú trên đời. Bỗng một hôm thời thế đổi thay, gia tài dần dần khánh kiệt, kẻ hầu người hạ bỏ đi hết cả. Từ đó chỉ còn biết ăn rau cỏ qua ngày. Ngục Văn phẫn chí bèn bỏ làng ra đi, sang tận bên Tàu, tìm đến thiền sư Triều Châu xin học đạo. Các đệ tử của sư thấy Ngục Văn toàn thân tróc ghẻ, người ngợm hôi hám có ý không ưa, xui sư đuổi đi. Sư nói:

“Cứ gì hôi hám. Hễ có duyên thì khắc ngộ được đạo.”

Các đệ tử hỏi vậy Ngục Văn có duyên gì? Sư đáp:

“Duyên đọc được bụng dạ của kẻ khác.”

Rồi cho xuống tóc, đặt pháp hiệu là Căng Lulu. Song mấy năm trời không thấy sư nhìn ngó gì đến, cũng không hề giảng cho một câu, chỉ cho phép cắp tráp theo hầu như một chú tiểu. Một hôm thầy trò đang đi đường, Căng Lulu chợt nhìn thấy một con trâu đang ỉa bãi phân to tướng, trong lòng bỗng nổi tâm cơ, bèn buột miệng hỏi:

“Thưa… Phật pháp là cái gì vậy?”

Sư hỏi lại:

“Ngày trước ngươi toàn ăn thịt cá, vậy ngươi ỉa ra cái gì?”

“Ỉa ra cứt” – Căng Lulu trả lời ngay.

“Thế lúc chỉ ăn rau cỏ, ngươi ỉa ra cái gì?” – Sư hỏi tiếp.

“Cũng… cứt” – Căng Lulu ngập ngừng.

“Pháp đấy! Pháp đấy” – Sư nói liền hai tiếng.

Căng Lulu hoát nhiên đại ngộ.

Tự bấy giờ các quán đều thông, bốn tướng hợp một, trí huệ rực rỡ, Căng Lulu trở thành thiền sư. Ngài bèn tìm về làng cũ, lập một chiếc am nhỏ ở đầu làng, hàng ngày đọc kinh, thiền định… rồi “hoá” ngay tại đó. Lâu dần cỏ dại trùm kín, nơi có chiếc am của thiền sư trở thành hoang phế. Một hôm có anh đánh dậm đi qua bỗng nổi cơn đau bụng, bèn chui vào giữa chỗ ấy ỉa một bãi. Tối hôm đó về nhà, đang ngủ, anh đánh dậm bỗng thấy một bóng người bước vào nhà bảo:

“Ngươi sắp bị mọc một khối u ở trong bụng mà chết. Hãy uống một bát nước ở cái giếng chỗ ta thì sẽ khỏi…”

Anh đánh dậm không tin, bèn hỏi lại:

“Làm sao ông biết?”

“Xem cứt ngươi ta biết” – bóng người kia trả lời. Nói xong biến mất.

Anh đánh dậm toát mồ hôi, giật mình tỉnh dậy. Hoá ra một giấc mơ. Chợt nhớ đến việc ỉa bậy lúc ban ngày, anh chàng trong bụng cũng thấy hơi hoảng song vẫn nửa tin nửa ngờ. Khoảng tháng sau, anh ta cảm thấy có cục gì cứ chướng lên giữa bụng, ăn uống không tiêu được. Cái cục cứ lớn dần, lớn dần, đến nỗi bụng trương phềnh lên, cứng ngắc, từ đó chỉ còn nằm một chỗ, không đi lại được nữa. Vợ con anh ta bán cả đồ đạc, lợn gà, mời hết thầy thuốc này đến thầy thuốc khác. Song ai cũng lắc đầu, nhất loạt bảo anh chàng sắp chầu ông bà ông vải đến nơi.

Về phần anh đánh dậm, từ khi bị mọc cái u trong bụng thì biết rằng mình đã ỉa bậy vào chỗ thiêng nên bị thánh vật. Vì thế cứ cắn răng chịu đựng, không dám nói cho vợ con biết. Bấy giờ mười phần đã chết đến chín rưỡi, anh ta mới phều phào kể lại cho vợ nghe về giấc mơ hôm trước. Người vợ nghe xong lập tức tìm đến chỗ đã từng có cái am. Phát cây vạch cỏ mãi, quả nhiên có một cái giếng nhỏ sâu hút, nước trong vắt. Bèn múc đại một bát đem về cho chồng uống. Cũng chỉ là cầu may thế thôi. Không ngờ bát nước quả nhiên hiệu nghiệm thật. Anh chồng uống vào đến đâu thì bụng réo ùng ục đến đấy. Rồi cái khối u cứ xẹp dần. Ba ngày sau hết hẳn, lại đi lại được như thường.

Câu chuyện của anh đánh dậm chẳng mấy chốc loang ra khắp làng. Dân làng cho rằng vị thiền sư ngày trước của làng mình thế là đã hiển linh, bèn bàn nhau kẻ góp công người góp của làm một ngôi đền tại ngay chỗ đó gọi là đền “Cứt”. Thật là một cái tên độc nhất vô nhị trên thế gian này.

Tại sao lại có cái tên xấu xí như thế?

Nguyên các cụ ngày trước truyền rằng đền ấy thiêng lắm, cầu gì được nấy. Có điều đồ cúng không dùng thứ gì khác ngoài… cứt. Ai có bệnh cứ mang một đĩa cứt của mình tới, múc một bát nước ở cái giếng ấy, đem để cả hai thứ bên cạnh nhau trên bàn thờ rồi thắp hương khấn vái. Đợi cho cháy hết hương, đem bát nước về mà uống thì bách bệnh tiêu tan. Ngôi đền từ đó nổi tiếng, người thiên hạ lũ lượt tìm đến…

Song điều kì diệu nhất của ngôi đền là những người đến cúng cứt không những khỏi bệnh, mà tất cả những gì vốn giấu kín trong bụng xưa nay đều bất ngờ ứng vào miệng thiên hạ mà lộ ra hết cả. Người lương thiện thì chẳng sao, bởi chẳng có gì mờ ám phải giấu giếm. Song đối với những kẻ lưu manh, bất lương, những kẻ chuyên nghề bịp bợm thì đó quả là một đại hoạ. Xưa nay con người ta cứ tưởng sự thật một khi đã được giấu trong bụng thì sẽ kín như bưng đời đời. Ai dè hàng ngày nó vẫn theo đường bài tiết mà chuồn ngoài. Thế là cùng với sự chữa khỏi bệnh là khối sự thật bị phơi bày, khối mặt nạ bị rơi tuột. Khối kẻ khoác áo đạo đức té ra lưu manh, khối vị phụ mẫu chi dân té ra phường bất lương gian ác… Vả lại con người ta mấy ai không hề có chút gì mờ ám trong lòng… Vì thế người tìm đến chữa bệnh cứ thưa dần, thưa dần. Có kẻ thà chết chứ nhất định không chịu mang cứt đến cầu cúng.

Thế rồi lại sinh ra cái nghề ăn trộm cứt mang đến đền để vạch những chỗ xấu của nhau. Kẻ trên, người dưới, đồng liêu, đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng… rồi thì cả cha con, chồng vợ… cứ gọi là loạn cả lên. Cứt té ra lại là chỗ dễ làm bại lộ chân tướng nhất. Người vùng này có tục giấu cứt kể từ hồi đó. Ai cũng lo phòng xa bởi biết đâu đấy, dẫu mình không tự mang cứt đến cầu song nhỡ có kẻ khác lấy trộm, mang đến cúng thì bao nhiêu điều giấu giếm của mình cũng sẽ bị phơi bày cho thiên hạ biết hết. Mới hay cái gọi là sự thật, hoá ra lại là thứ mà con người ta luôn luôn khiếp sợ. Vì thế giấu cứt mới nhanh chóng trở thành một cái tục của cả vùng này. Giấu cứt đồng nghĩa với giấu sự thật…

Dù sao thì sự hiện diện của ngôi đền cũng là điều cảnh báo đối với những kẻ rắp tâm làm điều xấu. Làng Kinh từ đó ít hẳn sự dối trá, bịp bợm. Trẻ con được cha mẹ theo dõi, rèn cặp trở nên ngoan ngoãn, biết lễ phép với người lớn. Người lớn đối xử với nhau thân ái, chân tình, không dám hại nhau vì biết sự thật trong bụng sớm muộn gì cũng sẽ thoát ra bên ngoài. Làng Kinh có tiếng là một làng văn hiến từ đấy…

“Thế cái đền ấy bây giờ có còn không, thưa cụ?” – Khách hỏi.

“Phá rồi – cụ Cả Lễ trả lời – Phá trước tiên. Sau đó mới phá đến đình chùa. Phá từ cái hồi bắt đầu phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp kia.”

Khách ngẩn người ra tiếc rẻ. Hồi lâu lại hỏi:

“Phá đền phá đình rồi thì có ảnh hưởng gì đến văn hiến của làng không, có làm cho sự dối trá càng tha hồ hoành hành không thưa cụ?”

“Việc ấy anh đi mà hỏi ông chủ tịch – cụ Cả Lễ vẫn từ chối khéo – lão đây chỉ biết nói với anh rằng cái tục giấu cứt thì không những vẫn còn, mà ngày nay người ta còn giấu kĩ hơn trước…”

Rời khỏi nhà cụ Cả Lễ, khách lên xe tìm đến nhà ông chủ tịch. Vừa chạy được một quãng, khách dừng xe hỏi thăm một thằng bé đang đứng thổi bong bóng bên cạnh đường lối vào nhà ông chủ tịch. Thằng bé trợn mắt nhìn khách một cái rồi ngoảnh đi, mồm nói:

“Đéo biết!”

Đành phải đi một quãng nữa, bỗng có một chiếc xe đạp nằm chỏng cơ giữa đường. Khách vội vàng đạp phanh gấp. Vừa bước ra khỏi ô tô định dẹp nó sang bên cạnh để lấy đường đi thì nghe một giọng nói gằn từng tiếng:

“Mày mà động vào cái xe đạp của ông thì ông choảng cho vỡ kính.”

Khách giật mình hướng về phía có tiếng nói. Thấy một gã trung niên đang đứng lấp ló trước cửa một ngôi quán lá, đôi mắt gã vằn đỏ, một tay lăm lăm cục đá to tướng.

Tiến thoái lưỡng nan, khách đành phải xuống nước thương lượng. Kết quả phải chi mấy đồng tiền rượu cho gã mới đi qua được…

Chạy một quãng nữa thì gặp ngã ba. Bỗng nghe đánh “bép” một cái. Thì ra khách mải suy nghĩ về sự việc vừa rồi, không để ý ngay giữa ngã ba có bãi cứt trâu nên đã để xe trườn qua. Ngay lập tức, một người đàn bà từ trong ngõ gần đấy xông ra tóm lấy đầu xe, tru tréo:

“Ông này đéo có mắt hay sao? Bãi cứt trâu người ta đã cắm cành lá, đánh dấu chủ quyền cẩn thận rồi. Vậy mà còn để cho xe trườn qua làm tan nát cả. Ối làng nước ôi là làng nước ôi. Ra mà xem đây này. Có khổ thân tôi không cơ chứ…”

Khách hoảng quá, vội vàng móc bóp đền bãi cứt trâu…

Lại chạy tiếp một quãng nữa. Phía trước có một đôi nam nữ đang bá vai nhau, vừa đi vừa véo ngực véo đùi nhau, nói cười ngả ngớn. Khách buộc phải chạy xe từ từ, vừa chạy vừa nhấn chuông. Đôi nam nữ kia dường như không thèm để ý. Mãi đến khi mũi ô tô gần sát đến nơi, cả hai mới uể oải đứng né sang một bên. Xe vừa chạy tới, gã thanh niên thò mặt vào sát cửa xe, quát với theo:

“Còi, còi cái con mẹ mày à…”

Rốt cuộc khách cũng tìm được tới nhà ông chủ tịch. Ngay lập tức nghe ông ta luyến thoắng:

“Làng này năm nào cũng điển hình tiên tiến đấy ông ạ. Từ sản xuất đến văn hoá, y tế, giáo dục… đéo làng nào bằng làng này. Đây ông xem, nào bằng khen, nào giấy khen, của huyện, của tỉnh… Đang “phấn đấu” để được phong danh hiệu… “Anh hùng thời kì Đổi Mới…”

Phạm Lưu Vũ
Cuối tháng 6 năm 2007

Thêm bình luận Tháng Bảy 6, 2007

Phá Gia Chi Tử !

Ðồ nghịch tử!
Quân phá gia chi tử!

Hai câu tục ngữ trên để chửi rủa những đứa con tàn hại gia đình, phá nát thanh danh giòng họ.

Hai câu đó coi bộ áp dụng rất linh vào lũ con Cộng sản của mẹ Việt Nam!

Khoảng 1950 – 1951 con cái đi “bộ đội cụ Hồ” về đưa bố mẹ ra đấu tố về tội “Việt gian, phản động, địa chủ, bóc lột bần cố nông”. Bắt trói gục, quỳ xuống sân đình nghe đấu tố, xỉ nhục hay đánh đập, xử tử, tài sẳn được chia cho “các ông bà bần cố nông, thành phần cốt cán của Tổ quốc và của đảng”. Hàng vạn người bị bức tử hay vì tức uất, tự tử mà chết trong cuộc đấu tố, “cải cách ruộng đất” của Bác và Ðảng! Hơn một triệu người hốt hoảng bỏ của chạy lấy người, trốn làn sóng đỏ vào tìm tự do ở miền Nam.

1975, cũng nhờ “ơn đức Bác Hồ, đất nước thống nhất về một mối”, hàng trăm ngàn quân cán chính, thành phần ưu tú, lứa tuổi lao động, sản xuất và xây dựng của đất nước được ưu ái nhốt hết vào những nhà tù khổ sai mang tên “trại cải tạo”.

Ðợt trả thù này kín đáo hơn, khủng khiếp hơn vì nửa phần đất nước bị cạn kiệt nhân lực cộng thêm lối giáo dục ngu dân đưa tới tình trạng phá sản cả về tinh thần lẫn vật chất trên toàn đất nước. Việt Nam trở thành một trong những nước nghèo khổ, lạc hậu và nhiều vấn đề xã hội nhất thế giới! (Ngoại trừ thành phần đảng viên, công an, buôn lậu hay những người có người nhà đã kịp thời di tản hay vượt biên qua nước ngoài).

Sau hơn phần tư thế kỷ xây dựng Xã Hội Chủ Nghiã, đất nước có những chuyện nực cười:

2001 nhờ xã hội chủ nghĩa, ông Chín Tia ở Kiên Giang được bà con gái Nguyễn Thị Ngọc Hà và ông con rể Bùi Ðức Thắng, Phó Bí thư kiêm Chủ tịch hội đồng Nhân dân xã Lại Sơn kiện về tội “Chiếm dụng bộ ván không hoàn trả”.

Câu chuyện như sau:

Tháng 4,1999, vợ ông Tia qua đời. Bà Hà và ông Thắng cho người đem ván tới để “đóng góp” vào việc chôn cất vợ ông Tia, tức mẹ bà Hà, tức mẹ vợ ông chủ tịch Thắng!

Tháng 2 năm 2001, ban Tư pháp xã cho mời ông Tia lên “giả quyết vụ nợ ván hòm vì có đơn thưa cuả bà Hà”.

Ông Tia bật ngửa ra là con không “đóng góp” mà chỉ “cho mượn ván” nên hưá sẽ trả sau một tháng!

Biên bản lập ra nhưng bà con không chịu ký, đòi trả 2 triệu bốn trăm ngàn tiền mặt, nếu muốn được bớt thì phải tìm ông chủ tịch xin bớt.

Tưởng nói vậy thôi, một tháng sau ông Tia mua trả sáu tấm ván mới, bà Hà không nhận, chê “Không đúng quy cách vì bề dầy thiếu một phân, không đúng loại gỗ dầu Phú Quốc!”

Nghèo quá, ông Tia phải xin phép chính quyền cho bán nhà, mua ván trả cho con nhưng ức trong lòng, ông viết tờ Cảm tạ tuyệt vời dán trên tấm ván khi nhờ người khiêng mấy tấm ván đem trả lại cho bà con gái và ông con rể.

“Cảm tạ

Tôi Nguyễn Văn Tia, 75 tuổi, xin cảm tạ vợ chồng ông Bùi Ðức Thắng và vợ là Nguyễn Thị Ngọc Hà đã có công lao đóng góp vào đám tang vợ tôi tức mẹ ruột bà Hà, bộ ván hàng.

Vì không biết sự đóng góp đó là của ông bà cho vay mượn nên trong việc hoàn trả có phần chậm trễ khiến ông bà phải mất thì giờ quý báu phát đơn khởi tố tôi. Tôi thật không phải đạo làm người, làm phiền lòng tốt cuả ông bà.

Nay nhờ sự sáng suốt của các cấp chính quyền cho phép tôi bán căn nhà sở hữu cuả tôi, tôi xin hoàn trả bộ ván cho ông bà.

Xin thành thật nhận lỗi và cám ơn ông bà.

Người cáo lỗi: Chín Tia”.

Câu chuyện chưa kết thúc.

Khi ông cùng người khiêng ván sang trả, vợ chồng bà Hà đã la lối, chửi mắng om xòm và ông chủ tịch đã văng tục với bố vợ trước “nhân dân”.

Cả hai không chịu nhận ván, đòi chờ “cấp trên xử lý”. Ông con rể quý, chủ tịch hội đồng nhân dân thì đang chỉ thị cho Ðồng chí trưởng công an xã điều tra xem tên phản động nào giúp ông Chín Tia viết tờ “Cảm tạ” độc đáo đó.

Một ông Chánh án huyện về công tác ở xa,õ đề nghị ban Tư Pháp xã mời hai bên đến để “hoà giải” vào buổi chiều hôm đó. Vợ chồng bà Hà không thèm đến và bà Hà làm đơn gửi đến toà án “khởi kiện dân sự” với ông Chín Tia, cha ruột của bà.

Vụ kiện chưa nghe nói kết thúc ra sao.

Hai ông bà con này quả thật tiến bộ ghê quá tuy “Hiến pháp cuả nhà nước ta” vẫn nhân nghĩa đầu môi đặt ra luật lệ đàng hoàng:

– Khoản 2, điều 37 luật Hôn nhân và gia đình: Con cái có nghiã vụ và quyền chăm sóc,nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật …

– Ðiều 151 bộ Luật Hình sự: Người nào ngược đãi hoặc hành hạ cha mẹ, gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm…

***

Con đối xử với cha mẹ như vậy, còn “đầy tớ” phục vụ, đối xử với “nhân dân” ra sao?

Theo tài liệu của Hoàng Cơ Thụy trong bản tuyên ngôn Phục Hưng Việt Nam thì tài sản dấu diếm cuả cán bộ Cộng Sản sơ sơ được liệt kê như sau:

Lê Khả phiêu (lúc làm Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam: 1 tỷ 170 triệu đô-la.

Trần Ðức Lương, Chủ tịch nhà nước 1 tỷ 130 triệu đô-la.

Nguyễn Tấn Dũng, Ðệ nhất phó Thủ tướng: 1 tỷ 480 triệu đô-la.

Nguyễn Mạnh Cầm, Phó Thủ tướng: 1 tỷ 150 triệu đô-la.

Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch mặt trận Tổ quốc: 1 tỷ 173 triệu đô-la.

Phạm Văn Trà, Bộ trưởng Quốc Phòng: 1 tỷ 360 triệu.

Trương Tấn Sang, chủ tịch Ủy ban Kinh tế: 1 tỷ 124 triệu.

Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội (Tổng bí thư đầu năm 01) 135 triệu.

Xem bảng phong thần trên, quý vị thấy ngay, càng cao danh vọng càng đầy… tiền đô!

Và cái chức người ta tưởng chỉ là “Nghị Nhất trí”, cứ hồ hởi gật đầu mỗi khi cần biểu quyết cũng ăn tiền ra gì.

Lạ một điều, lương thì lương tiền Hồ mà các ông cán bộ cấp lãnh đạo đỏ lét, đang ngồi trên đầu trên cổ dân , đang hy sinh làm đầy tớ nhân dân, lại chơi sang, sưu tập, cất giữ toàn …tiền Ðô-la của Ðế quốc!

***

Tiểu muội chịu cái nhà ông Nông Ðức Mạnh tâm ngẩm, tầm ngầm vậy mà khôn.

Ông “trong sạch” chẳng kém gì Bác.

Ông lại củ mỉ, cù mì, ông chẳng ăn to, nói lớn, ông cũng chẳng ăn chi cho nhiều, tiền ông kiếm được ít nhất trong bảng phong thần. Nhờ đó, ông lên tới chức Tổng Bí Thư đảng.

Rồi quý vị xem, tiểu muội không cần coi bói cũng biết, kể từ đầu thiên niên kỷ này, ông Nông Ðức Mạnh sẽ ăn nên, làm ra lắm, thế nào rồi ông cũng lụm được tiền tỷ mấy hồi, cứ đợi đến lúc ông hết “hy sinh phục vụ nhân dân” rồi biết.

Tiểu muội xin quý vị ráng đợi và cá với quý vị, không đúng cứ đem cái computer của tiểu muội ra mà đập cho tiểu muội hết viết hươu, viết vượn!

***

Cứ đọc những tin tức về Việt Nam mà xem, thiếu gì chuyện đau lòng về những đứa con “phá gia chi tử” để cười ra nước mắt.

Chuyện đau lòng đó đang xẩy ra trên đất nước ta trên bình diện rộng lớn hơn: Ðảng Cộng Sản đã dâng đất đai tổ quốc cho kẻ thù để bảo vệ quyền lợi của một nhóm lãnh đạo đảng!

Bác sĩ Trần Ðại Sĩ là một nhà nghiên cứu sử. Ông đã dầy công nghiên cứu tài liệu lịch sử của ta, của Tầu. Ông đã viết mấy bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử kể lại những trận chiến trong suốt dòng lịch sử tranh đấu của nòi giống Việt.

Hơn nữa, ông là một người Việt Nam yêu nước.

Biết tin đất nước bị cắt dâng cho Tầu, ông Trần Ðại Sĩ trở về nước, tìm thăm ải Nam Quan, nơi đất xưa đã ngấm bao giòng máu quân dân Việt tranh đấu để bảo vệ biên giới; Nơi có suối Phi Khanh, ghi lại chuyện Nguyễn Trãi gạt lệ nghe lời cha trở về tìm cách khôi phục đất nước, đưa đất nước thoát ách đô hộ giặc Minh.

Ông bị cấm không được đi lên theo lối trong nước. Ông phải vòng đi vào Trung Cộng, lên tận ải Nam Quan, nhìn lại mảnh đất đã bị cắt dâng cho ngoại bang. Ðau lòng vì đất nước do tổ tiên hy sinh biết bao xương máu để lại đã bị bọn Cộng Sản cắt dâng cho kẻ thù truyền kiếp, bác sĩ ngồi khóc ròng và đặt bài thơ bằng chữ Hán, thuê khắc trên đá, gắn vào vách núi ngay cạnh đường.

Thử địa cựu Nam quan
Biên điïa ngã cố hương
Kim thuộc Trung quốc thổ
Khấp, khốc, ký đoạn trường

Lê Hoàn bại Quang Nghĩa
Thường Kiệt truy Bắc phương
Hưng Ðạo đại sát Thát
Lê Lợi trảm Vương Thông

Nam xâm, Càn Long nhục
Gươm hồng Bắc Bình Vương
Ngũ thiên niên dĩ tải
Hoa, Việt lập dịch trường

Mao, Hồ tình hữu nghị
Nam, Bắc thần xỉ thương
Huyết lệ vạn dân cốt
Hồng kỳ thích ô hoan.

(Ðại Việt vong quốc nhân Trần Ðại Sỹ khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.

Ông tự dịch:

Ðất này xưa gọi Nam quan
Vốn là biên địa, cố hương của mình
Hiện nay là đất Trung nguyên
Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay

Vua Lê thắng Tống chỗ này
Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm
Thánh Trần sát Ðát liên miên
Lê Lợi giết bọn Thành Sơn bên đồi

Càn Long chinh tiểu, than ôi
Quang Trung truy sát, muôn đời khó quên
Năm nghìn năm cũ qua rồi
Chợ biên giới lập, đời đời Việt Hoa

Ông Hồ kết bạn ông Mao
Sao răng lại cắn, máu trào, môi sưng
Vạn dân xương trắng đầy đồng
Ðể lại trên lá cờ Hồng vết nhơ.

(Người nước Ðại Việt vong quốc tên Trần Ðại Sỹ, khóc đề thơ ngày 6-9-2001.

***

Biên giới Việt Nam.

1. Thời Pháp Thuộc: Hiệp định 1887 khi chủ quyền ta nằm trong tay người Pháp. Họ gạt bỏ hẳn triều đình Huế, thay mặt Việt Nam ký hiệp ước biên giới với Tầu.

Patenote (toàn quyền Pháp tại Việt Nam ) và Lý Hồng Chương (Nhà Thanh bên Tầu ký hiệp định ngày 26-06-1887 quy định đường biên giới 1350 km giữa ta và Tầu và bản đồ được vẽ lại vào 1895 . Phần vịnh Bắc Việt được phân chiatheo tiêu chuẩn Việt 62% và Tầu 38%.

2. Thời Cộng Sản: “Dân làm chủ, Nhà nước quản lý, Ðảng lãnh đạo”là câu thiệu để mị dân của Cộng Sản. Vì nhà nước quản lý dưới quyền đảng lãnh đạo nên ta có:

“Hiệp định biên giới trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc”: ký ngày 30-12-1999 nhường cho Tầu 720 km2 đất đai, trong đó có những địa danh nổi tiếng như Aûi Nam Quan, suối Phi Khanh (Lạng Sơn), Thác Bản Giốc (Cao Bằng).

“Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ” ký 25-12-2000, nhường 11 000 km2 trên vịnh Bắc Việt cho Tầu, công nhận Việt Nam 53.23% và Tầu 47.77 chạy dài xuống Trường Sa là nơi có nhiều mỏ dầu hoả và hải sản.

27-12-2001 lễ cắm mốc đầu tiên ở Móng Cái cho biên giới mới, dự án cắm lại hết 1 500 cột mốc sẽ hoàn thành trong 3 năm!

04-01-2002 sinh viên Việt Nam du học nhận được quảng cáo cuả Tổng cục du lịch Tầu mời “Du lịch các thắng cảnh ở cực nam nước Trung Quốc: Mục Nam Quan, suối Phi Khanh, thác Bản Giốc cùng đi tắm biển ở Hoàng Sa, câu cá Trường Sa và du thuyền trên vịnh Bắc Việt”

27-12-2001 Thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng cùng Ðại sứ Trung Cộng tại Việt Nam đến thị trấn Móng Cái làm lễ xây mốc đánh dấu biên giới.

Sau vụ “cúng” đất cho ngoại bang, “Nhà nước ta” dù bị toàn dân khắp nơi, kể cả những cán bộ công thần của chế độ và những nhân vật chống đối trong nước, lên tiếng chất vấn, xỉ vả cũng nhất định câm miệng hến.

Tới khi bị rượt quá, không thể nào nín được, Hà Nội mới cho Lê Công Phụng lên lấp liếm tuyên bố trắng trợn:

“Có thể nói qua cuộc đàm phán, thương lượng ký kết hiệp định trrên bộ, chúng ta và Trung Quốc đã đạt kết quả được công bằng và thoả đáng”

“Chúng ta làm vì dân, vì nước và theo truyền thống ông cha. Một tấc chúng ta cũng không nhường và một li về biên giới lãnh thổ quốc gia chúng ta cũng không thể dành cho ai được…”

Các học giả, sử học, luật học đã nói nhiều về vấn đề kỹ thuật, vấn đề lịch sử, vấn đề pháp lý về chủ quyền đất nước trên những vùng biển còn tranh chấp, trên những vùng đất bị “cúng” cho Trung Cộng.

Ở đây, tiểu muội chỉ có những thắc mắc rất giản dị, bình thường:

1. Ta ký hiệp định với Trung Cộng rất công bằng, bảo vệ được biên giới tổ quốc chỉ bằng đường lối ngoại giao, không tốn một giọt máu thì dân chúng sẽ tri ân “Nhà nước, lãnh tụ đáng kính” trong việc bảo vệ lãnh thổ để trân trọng ghi công ơn quý vị vào lịch sử như những vị anh hùng chứ sao lại ồn lên khóc lóc đau đớn, uất hận xỉ vả như thế? Chẳng lẽ những người lên tiếng, kể cả trong và ngoài nước, đều là những người ngu dốt đến không hiểu thế nào là lợi, thế nào là hại cho đất nước?

2. Ðẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại. “Nhà nước ta” đã tạo được công lao trời bể như thế cho đất nước thì theo đúng truyền thống, “chỉ đạo cuả Bác”, ta phải thổi phồng lên cỡ chừng vài chục lần hay hàng trăm lần chứ sao lại im ỉm như thế? “Ðảng” đâu thiếu những văn nô, thi nô để thổi, để ca ngợi lãnh đạo? Hay ít nữa, “làm láo, báo cáo hay là nghề của chàng” mà. Hơn nữa, ta dư sức theo đúng đường lối khiêm tốn và đức độ cuả “Bác” lấy bút hiệu khác để viết sách tự ca tụng mình mà, cớ sao việc “tốt” này lại được nhà nước dấu như mèo dấu kít?

3. Biên giới: Bí mật tổ quốc?. Mỗi căn nhà địa chỉ, có ranh giới, có con số chỉ rõ diện tích căn nhà hay khu vực nhà mình.

Mỗi nước đều có biên giới, bản đồ của đất nước được in đầy trong sách địa lý, lịch sử từ lớp nhỏ nhất tới lớp lớn nhất.

Mỗi nhà, mỗi nước đều có chủ quyền trong ranh giới của mình.

Người ta còn có bản đồ thế giới để các nước biết rõ biên giới của từng nước để tiện việc giao dịch, tôn trọng chủ quyền lẫn nhau.

Chỉ riêng “nhà nước ta” nhất định rằng đấy là bí mật quốc phòng, nhất định dấu kín hiệp định biên giới!

Không cho biết biên giới, làm sao kêu gọi dân “Bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ”? Biết ở đâu? Tới đâu mà bảo vệ?

Ðất nước là của toàn dân, không phải tài sản riêng cuả người lãnh đạo, tại sao lại dấu kín lãnh thổ như làtư trang, tài sản của riêng mình vì sợ người nhòm ngó?

***

– Ép uổng người dân không còn lối sống đến phải liều mạng bỏ nước ra đi, lao vào biển cả mênh mông, bị hãm hiếp, giết chóc dưới tay hải tặc để tìm tự do.

– Tham nhũng, tàn hại đất nước, đem sức dân xuất cảng rẻ mạt, nhục nhã.

– Làm băng hoại tinh thần tự trọng, tự cường của dân tộc để người dân coi thường chuyện bị người ngoại quốc làm nhục, chỉ biết cúi đầu chịu nhục để sống thừa.

– Thui chột mầm non, tiêu diệt nhân tài, thi hành chính sách ngu dân để cai trị, bảo vệ quyền lợi, địa vị riêng và phe nhóm, làm Việt Nam trở thành một trong những nước nghèo đói, nhiều tệ nạn nhất thế giới.

– Lén lút đem đất nước dâng cho ngoại bang để đổi lấy những quyền lợi cho phe nhóm, lãnh tụ.

Tất cả những hành động đó đúng là của quân đạo tặc, phá gia chi tử!

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Người con hát hay ca nhi không hề biết cái nhục mất nước, cứ thản nhiên ca hát cho người mua vui. Ta trách nàng ca kỹ cũng tội vì đa số họ đều là con nhà nghèo, ít học, có chút thanh sắc đem rao bán cho đời mua vui, có trách nhiệm chăng, họ cũng chỉ một phần rất nhỏ trong khi “hữu trách”

Quốc gia hưng vong,
Thất phu hữu trách.

Nước mất, nhà tan, sao không trách những kẻ có trách nhiệm trong việc làm mất nước mà trách chi những người con gái tay yếu, chân mềm, kèm thêm thiếu học thức và tri thức?

***

Ðất nước lúc nào cũng bị hoạ Bắc phương đe doạ. Ðể hoá giải mối đe doạ đó, mỗi thời đại, những người có trách nhiệm với đất nước có đường lối ngoại giao khác nhau để ngăn cản hoạ diệt vong. Trong gần năm ngàn năm dựng nước, lịch sử ghi đậm những chiến thắng oai hùng, những đường lối ngoại giao khôn ngoan, khi cương quyết, khi ôn hoà để bảo vệ lãnh thổ và danh dự đất nước. Lịch sử cũng ghi sâu những vết nhơ của Mạc Ðăng Dung, của Hồ Qúy Ly đã bán nước cầu vinh; Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà nhưng quan trọng nhất, nhục nhã nhất, đáng phỉ nhổ nhất là đứa nghịch tử: Ðảng Cộng Sản Việt Nam, thời “hậu Hồ”, đã lén lút dâng đất đai tổ quốc để bảo vệ ngai vàng cho các vua, quan trong Chính trị bộ và cấp lãnh đạo đảng!

Kathy Trần

Thêm bình luận Tháng Bảy 6, 2007

Từ Thứ qui Tào

Chuyện xưa:

Thời Tam Quốc, ba nước Ngụy, Thục, Ngô chia ba thiên hạ, hình thành thế chân vạc, đánh nhau liên miên để dành dân chiếm đất, xưng hùng, xưng bá.

Nuớc Ngụy có Tào Tháo. Thục có Lưu Bị. Ngô có Tôn Quyền.

Cả ba đua nhau đi cầu người tài giỏi để giúp mình dựng cơ nghiệp.

Từ Thứ là một hiền sĩ, theo phò Lưu Bị. Tào Tháo nhiều phen bị bại dưới tay Lưu Bị cũng bởi mưu kế của Từ Thứ.

Tào Tháo hỏi mưu sĩ Trình Dục Từ Thứ là người như thế nào.

Trình Dục bẩm:

– Từ Thứ tự là Nguyên Trực quê ở Dĩnh Châu, thật là một người tài. So với Dục này hơn hẳn mười lần.

Tháo muốn du Từ Thứ về với mình. Trình Dục hiến kế:

– Từ Thứ tuy ở với Lưu Bị nhưng muốn dụ về cũng dễ. Từ Thứ là người con chí hiếu. Hiện nay mẹ già của Từ Thứ không ai phụng dưỡng. Thừa tướng sai người lừa mẹ hắn đến Hứa Xương, rồi bắt mụ ấy viết thư gọi con về đây, chắc Từ Thứ thế nào cũng phải nghe theo.

Tháo mừng lắm sai người cấp tốc đi bắt ngay. Chẳng bao lâu quân bắt được mẹ Từ Thứ dẫn về. Tháo đối đãi rất tử tế, rồi bảo với Từ Mẫu rằng:

– Ta được biết Từ Nguyên Trực, con trai bà, là bậc kỳ tài trong thiên hạ. Nay y ở Tân Dã, giúp tên nghịch thần Lưu Bị, phản bội triều đình. Có khác nào viên ngọc quí rơi trong vũng bùn, thật đáng tiếc. Nay ta muốn nhờ bà viết thư kêu hắn về Hứa Đô. Ta sẽ tâu lên thiên tử nhất định sẽ được trọng thưởng.

Nói xong sai người đem bút mực tới. Từ Mẫu hỏi:

– Lưu Bị là người thế nào?

Tháo đáp:

– Là một kẻ hèn mọn ở đất Bái Quận, mạo xưng là hoàng thúc, vốn chẳng có tín nghĩa gì. Có thể nó ngoài vỏ là người quân tử, mà trong ruột là đứa tiểu nhân.

Từ Mẫu đùng đùng nổi giận:

– Ngươi xảo quyệt đến thế là cùng. Từ lâu ta đã biết Huyền Đức là con cháu Trung Sơn Tĩnh Vương, cháu chắt Hiếu Cảnh Hoàng đế. Ông ấy khiêm tốn, quí trọng hiền sĩ, kính cẩn đãi người, tiếng lừng lẫy khắp cả thiên hạ. Con ta phò tá người ấy thật là xứng đáng. Còn ngươi tuy là tướng nhà Hán nhưng thực ra là giặc nhà Hán, lại còn dám bảo Huyền Đức là nghịch thần? Ngươi định đẩy con ta bỏ chỗ sáng vào hang tối há chẳng biết nhục lắm sao?

Nói xong bà cầm ngay nghiên mực đá ném vào mặt Tào Tháo. Tháo giận lắm thét võ sĩ lôi ra chém.

Trình Dục vội can rằng:

– Từ Mẫu cố ý xúc phạm đến thừa tướng là cốt để tìm đường chết. Nay nếu thừa tướng giết đi, không những mang tiếng bất nghĩa, mà lại đề cao cái đức của Từ Mẫu. Mẹ chết rồi, Từ Thứ sẽ dốc hết tài trí ra giúp Lưu Bị để trả thù. Chi bằng không giết, làm cho Từ Thứ thân ở một nơi, lòng nghĩ một nơi, dù có giúp Lưu Bị cũng không tận sức.

Tháo nghe lời tha chém. Trình Dục hiến kế nên nuôi dưỡng Từ Mẫu tử tế rồi mạo thơ Từ Mẫu kêu Từ Thứ về. Từ Thứ về đến nhà gặp mẹ mới biết là mắc mưu. Từ Mẫu giận lắm, đập tay xuống bàn, mắng:

– Đồ nhơ nhuốc kia! Mày đã đọc sách nên biết trung hiếu không thể nào vẹn toàn cả đôi. Mày há chẳng biết Tào Tháo là kẻ dối trên lừa dưới à? Còn Lưu Huyền Đức nhân nghĩa lan rộng bốn bể, mày đã đi theo, chính là tìm được chủ rồi. Nay chỉ tin vào một mảnh thư giả, không suy xét kỹ càng, vội bỏ chỗ sáng đâm đầu vào hang tối, rước lấy tiếng xấu. Rõ là đồ ngu! Tao còn mặt mũi nào trông thấy mày nữa! Thật mày bôi nhọ tổ tông, sống thừa trong khoảng trời đất vậy!

Từ Thứ nghe mẹ mắng đến nỗi cứ nằm rạp xuống đất không dám ngẩng mặt lên nữa.

Từ Mẫu trở vào sau bình phong. Được một lát, người nhà ra báo rằng lão bà đã treo cổ tự tử. Từ Thứ chạy vào cứu thì Từ Mẫu đã tắt thở.

Từ Thứ đem linh cữu mẹ táng ở gò phía nam Hứa Xương, cư tang giữ mộ. Tháo cho cái gì cũng không lấy.

Từ đó tuy ở dưới trướng Tào Tháo, nhưng Từ Thứ thề suốt đời ngậm miệng không chịu hiến một mưu kế nào.

Chuyện nay

Kỹ sư Đỗ Nam Hải, tự là Phương Nam, tuổi trẻ tài cao, tuy thành danh ở nước ngoài, nhưng vì lòng yêu nước thôi thúc, ông từ bỏ hết chức tước, tiền tài danh vọng, để trở về nước mong đem tài trí để giúp chấn hưng đất nước. Hoài bão của ông là tranh đấu đòi hỏi Đảng cầm quyền hiện tại, bằng tiếng nói ôn hòa, trả lại cho nhân dân có được tự do, dân chủ, nhân quyền.

Về nước, anh được các công ty trọng dụng. Tuy nhiên, không thể ngồi nhìn những bất công áp bức diễn ra hàng ngày trước mắt, ông đã theo gương người xưa, đem hết tâm huyết viết nên 5 bản tham luận, gửi cho Đảng Cộng Sản ngõ hầu họ thay đổi chính sách cai trị hà khắc.

Lòng yêu nước của ông không những không được Đảng chấp nhận, mà từ đó ông còn bị Đảng trù dập, bắt giam, xử phạt rất nhiều lần. Còn vu cho ông tội “chống Đảng nhà nước”.

Trước tiên, Đảng áp lực Công ty ông đang làm phải sa thải ông, dùng thủ đoạn cổ lỗ sĩ là “thắt bao tử” hòng buộc ông từ bỏ lòng yêu nước.

Thủ đoạn này tuy thâm độc vẫn không làm ông sờn lòng.

Trong thời gian này, nhiều người trẻ tuổi, vừa có trình độ học vấn, vừa cùng chí hướng cũng hưởng ứng hành động đấu tranh của ông, đã đứng lên bên cạnh ông. Luật sư Nguyễn văn Đài, Luật sư Lê thị Công Nhân, nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thuỷ v.v… cũng đã cất lên tiếng nói quyết liệt.

Ông tiếp tục viết nhiều bài báo để nói lên tiếng nói bất khuất đòi hỏi nhân quyền và tự do.

Đảng rất sợ những tiếng nói đó, e rằng ngày càng phổ biến rộng rãi trong nước sẽ làm chế độ lung lay, sụp đổ, nên quyết định phải bắt bỏ tù tất cả những người con yêu nước ấy, hòng dập tắt ngọn lửa đấu tranh.

Công An lần này thẳng tay trấn áp mạnh mẽ bằng mọi thủ đoạn, bất chấp luật pháp qui định trong cái gọi là “hiến pháp”.

Mấy ngày trước, họ đã bắt giam LS Nguyễn văn Đài, LS Lê thị Công Nhân, cũng bằng cái cớ khơi khơi là “tuyên truyền chống phá Nhà nước”.

Giờ đến lượt Ông.

Ngày 16 tháng 3 năm 2007, lúc 10 giờ sáng, Công an quận Phú Nhuận “mời” ông lên trụ sở để “làm việc”.

Khi đến đây, ông thấy nhiều sĩ quan cao cấp của Bộ Công An từ Hà Nội vào, và rất đông những sĩ quan cao cấp khác thuộc Sở CA/Thành phố và quận Phú Nhuận. Đây rõ ràng là mang tính cách đàn áp cấp Nhà nước của Bộ Chính trị từ Trung Tâm quyền lực cao nhất là Hà Nội chứ không mang tính chất khu vực địa phương.

Vì vậy ông không ngạc nhiện chút nào, khi họ đọc cho anh nghe Lệnh truy tố và bắt giam với tội danh:

“Tuyên truyền chống đối nhà nước, theo điều 88 của Bộ Luật Hình sự”

Trước sự áp đặt như vậy, giống như hàng chục lần bị bắt trước, ông vẫn bất tuân và cương quyết chống đối.

Ông đấu lý với họ:

“Cái mà các anh coi là tội đồ, thì chính là công việc phải làm đối với tất cả những ai còn có một tấm lòng đối với đồng loại và con người. Cái mà các anh cho là tuyên truyền chống đối phá hoại, thì lại chính là những giảng giải của xây dựng, của kiến tạo và đầy tính soi sáng để giúp cho quê hương đất nước ngày một đi lên.

Xây dựng nhận thức. Kiến tạo tư duy. Và còn cần nhiều hơn nữa, những soi sáng để xua đi những mê lầm tăm tối, hòng làm sao để giúp cho con người và đất nước, để chúng ta mau theo kịp bè bạn năm châu và được hưởng hạnh phúc thực sự như tất cả những người dân trên mọi miền thế giới.

Tôi không có súng đạn, tôi không có chất nổ hay bất cứ một thứ vũ khí nào hết. Tôi chỉ có thân thể và một trái tim, cùng với một tấm lòng thiết tha yêu con người và đất nước Việt Nam. Tôi biết rất rõ rằng, trái tim và tấm lòng không thể nào chống trả nổi với gông cùm và nhà tù cùng đủ kiểu bạo lực. Vì như thế, từ lâu tôi đã sẵn sàng cho những điều này. Sẵn sàng không phải như một thách thức, nhưng luôn sẵn sàng như một trả giá. Một cái giá có thể bằng máu, để đổi lấy một điều cao cả thiêng liêng và quí giá hơn cả triệu lần là chính cái sinh mạng của tôi.

Dù như vậy, tôi cũng còn biết rõ hơn nữa một điều rằng, cuối cùng, thì chính nghĩa vẫn luôn sẽ thắng. Sự hiểu biết này, không chỉ dựa trên lý thuyết và qua thực tế lịch sử ngàn năm, nhưng chính là niềm tin của tất cả những ai mà lương tâm chưa bị làm cho mù tối.”

Cuộc đấu trí và đấu lý giữa một mình Kỹ sư Đỗ Nam Hải và rất đông Sĩ quan Công an cao cấp để ép anh phải nhận tội, kéo dài rất nhiều giờ dằng co. Đối với một người sẵn sàng đi ở tù, thì cái Lệnh khởi tố hay Lệnh truy tố chỉ là những vô ích.

Bắt đầu từ 10 giờ sáng đến 10 giờ đêm, đám Công An vẫn không khuất phục được anh ký vào tờ nhận tội.

Cuối cùng, Công An đã phải dùng hạ sách của Tào Tháo, bắt tất cả thân nhân của anh gồm cha mẹ già trên 80 tuổi đang bệnh nặng, chị ruột, em ruột, vợ và con gái anh đến để thuyết phục anh từ bỏ sự chống đối Đảng để được Đảng khoan hồng.

Nếu không, họ sẽ đọc Lệnh bắt và truy tố anh trước mặt họ.

Cha anh, một cụ già trên 86 tuổi, đã kêu khóc với con:

– “… Thôi con ơi! Thầy xin con, nếu con đã không xá kể gì thân mình, thì con cũng thương lấy gia đình cùng với chị em của con, nhất là con gái của con và mẹ của con nữa. Đặc biệt là mẹ của con đang bị bệnh tim rất nặng con đã biết rõ, nếu con có mệnh hệ nào, thì mẹ con làm sao sống nổi. Thầy xin con hãy nghĩ lại…”

Cả nhà cùng khóc lóc và van xin anh như thế.

Là một người con chí hiếu, Anh Đỗ Nam Hải đã vô cùng đau đớn, đành phải ký tên vào một bản văn Công An làm sẵn, đại ý: “Đấu tranh cho dân chủ là có tội và xin được khoan hồng”.

Trước khi miễn cưỡng ký vào tờ giấy “ô nhục”, Đỗ Nam Hải đã nói thẳng vào mặt những người đang lăm lăm trong tay A.K, lựu đạn:

“…Đây là một đòn thù rất là độc ác, rất là hèn hạ của các anh. Các anh biết không thuyết phục được tôi, nên các anh dùng cha mẹ tôi, anh chị em tôi, cả con gái tôi để mà đánh vào tôi, bởi vì các anh biết rằng tôi đã thương yêu những người thân trong gia đình thế nào.

Bố mẹ tôi nay đã trên 80 tuổi rồi, đều là những người bệnh nặng. Tôi biết rằng khi mà tôi bị bắt thì bố mẹ tôi sẽ bị chết lập tức. Bởi vì chữ hiếu, tôi đành phải chấp nhận, nhưng mà các anh không bao giờ có thể làm tôi tâm phục khẩu phục cả. Đây là cái đòn hèn hạ của các anh.”

* * *

Đọc hai chuyện Xưa và Nay vừa dẫn trên, người ta không khỏi buông ra tiếng than:

Chuyện Tam Quốc xảy ra từ thế kỷ thứ 7, thời con người còn man dã, Tào Tháo đã dùng thủ đoạn bắt người thân làm con tin để lôi kéo người tài giỏi về với mình, bị người đời chê bai là gian manh xảo trá trong mưu lược để luôn được lợi, bất chấp đạo lý. Nhưng cách cư xử của Tào Tháo với hai mẹ con Từ Mẫu và Từ Thứ vẫn có lòng nhân và Tháo vẫn có phong độ của người quân tử, vẫn đáng cho người đời sau thán phục.

Ngược lại Công an của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam “anh hùng”, đang ở thời đại văn minh của thế kỷ 21, sao cũng lại dùng hạ sách man rợ trên đối với người chỉ vì khác chính kiến với mình?

Nhưng thủ đoạn, bắt toàn gia, già trẻ bé lớn của người thân, dàn cảnh trước mặt kẻ đối kháng, để làm áp lực trắng trợn, trơ trẽn coi sao mà tiểu nhân, hèn hạ quá vậy! Gian manh, tồi tệ hơn Tào Tháo nhiều.

Chê thay!

Cùng một màn bi hài kịch, cách nhau một ngàn bốn trăm năm, nhưng cách hành xử so với Từ Thứ ngày xưa, ông Đỗ Nam Hải có đạo lý và khí tiết hơn nhiều lắm.

Ông Đỗ Nam Hải chỉ nhượng bộ chứ nhất quyết không hàng Tào.

Ông Đỗ Nam Hải đáng để cho người đời ngưỡng mộ và kính phục.

Khen thay!

Nguyễn Thanh Ty

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

Thuốc tây giả và thực phẩm giết người

Theo hãng thông tấn Ba Lan PAP, được đăng trên trang web của TVN24, kênh truyền hình tin tức lớn của Ba Lan, ngày 3/07/2007, trước áp lực của dư luận xã hội và phản ứng của thế giới, nhà cầm quyền Trung Quốc đã tiến hành kiểm tra hàng loạt thực phẩm và dược phẩm giả mạo và gây độc hại cho con người, đặc biệt với trẻ em như nước ngọt, sữa và bánh kẹo.

Người ta đã bắt giữ nhiều sản phẩm trong đó có 120 thùng dược liệu dùng để bào chế huyết thanh và thuốc chữa bệnh huyết hữu (máu loãng).

Loại thuốc tây giả mạo rất nguy hiểm tới tính mạng của bệnh nhân được phát hiện trong một bệnh viện của tỉnh Hubei.

Cuộc thanh tra đã chọn lọc theo phương pháp ngẫu nhiên 70 siêu thị. Kết quả cho thấy chỉ 35% sản phẩm bánh kẹo có dùng nguyên liệu gelatine đúng theo mức quy định. Nước quả làm đặc được dùng các hợp chất nhân tạo vượt quá 63 lần mức cho phép.

Tuy nhiên, trong bản tường trình, người ta không đưa ra danh sách loại sản phẩm nào bị rút khỏi thị trường và các nhà sản xuất phải chịu những hậu quả ra sao.

Cách đây không lâu, người ta đã đóng cửa 180 nhà máy sản xuất thực phẩm tại Trung Quốc. Kết luận kiểm tra cho hay rằng, trong các mặt hàng thực phẩm các hoá chất độc nguy hiểm cho con người được sử dụng như formaldehyde và các phẩm màu bị cấm.

Trong tháng 5 vừa qua, một quan chức Trung Quốc lãnh án tử hình về tội buôn sỉ thuốc giả mạo. Toà án phán quyết rằng, thuốc đưa ra thị trường đã làm chết ít nhất 10 người.

Trước đó, sự việc tử vong của trên 100 trẻ sơ sinh đã gây xôn xao dư luận Trung Quốc. Trẻ em đã được nuôi bằng sữa bột giả, không hề có chất bổ đã làm chết các em vì bị suy dinh dưỡng.

PAP và DCVOnline cũng đã đưa tin cách đây không lâu về phản ứng của Hoa Kỳ và châu Mỹ Latin đối với thực phẩm và mỹ phẩm nhập từ Trung Quốc.

Hoa Kỳ và một số nước đã cấm đưa vào thị trường nhiều sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc như kem đánh răng, các loại thực phẩm đã chế biến, cá và thức ăn cho gia súc.

Việt Nam cũng là một quốc gia có nguồn thu lớn từ hàng thực phẩm chế biến và đông lạnh xuất khẩu. Trong tháng 4 năm 2007, hàng chục container hàng xuất qua Hoa Kỳ vi phạm an toàn thực phẩm bị trả về.

Các nhà sản xuất và buôn bán tại Việt Nam cũng không kém Trung Quốc bao nhiêu, họ sử dụng hoá chất độc hại để giữ lâu độ tươi sống thực phẩm, rau quả và trừ diệt sâu rầy ở mức không còn ai kiểm soát, trở thành phổ cập, ai ai cũng lo ngại.

Ý thức trách nhiệm với con người và xã hội bị triệt tiêu hoàn toàn trước đồng tiền trong thời kinh tế thị trường cởi mở, đạo đức xã hội suy đồi, băng hoại và nạn tham nhũng bóp chết mọi định chế muốn lập lại trật tự môi sinh.

Trong khi đó, ngoài các mặt hàng gia dụng, hàng thực phẩm, rau quả tươi, mỹ phẩm của Trung Quốc liên quan đến sức khoẻ con người cũng tràn ngập thị trường Việt Nam từ Bắc chí Nam hoàn toàn vượt qua khả năng kiểm soát của chính quyền.

Nhưng người Việt trong nước và cả chính quyền dường như rất xem nhẹ di hoạ này, không chỉ cho hiện tại mà còn lâu dài cho nhiều thế hệ mai sau?

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

Noi gương Trưng Triệu

Nam Dao (Tâm Thức Việt Nam)

Dù ở bên Úc tôi cũng nhận được đầy đủ những hình ảnh tin tức liên quan đến những cuộc biểu tình của đồng bào bên Mỹ phản đối chủ tịch nhà nước Cộng sản Hà nội Nguyễn Minh Triết. Điều làm tôi phấn khởi nhất là qua những hình ảnh mà mình được xem thì có lẽ đây là lần đầu tiên tôi thấy xuất hiện rất nhiều khuôn mặt trẻ phái nữ đứng hàng tiên phong trong những cuộc biểu. Nhìn hình những thiếu nữ trẻ đẹp, cầm cờ vàng, đeo trước ngực tấm biểu ngữ in hình cha Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng, lòng tôi dấy lên một niềm vui hy vọng vì thấy rằng tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại vẫn còng nặng tình với quê hương dân tộc.

Một trong những tấm hình mà tôi thích nhất là hình một thiếu nữ trẻ có mái tóc thề cầm micro dẫn đầu đoàn biểu tình. Đời sống vật chất xa hoa hưởng thụ ở Mỹ cũng chưa quyễn rũ được nàng quên đi những nỗi thống khổ nhục nhã của dân tộc ở quê nhà. Nàng không đến những nơi thanh lịch cầm micro để hát những lời nhạc trữ tình mà nàng đến với đoàn biểu tình dùng micro để nói thay cho những tiếng nói uất nghẹn ở bên nhà và đòi dùm cho họ những quyền tự do căn bản của con người được ghi nhận trong hiến pháp Việt Nam .

Những hình ảnh trên cho thấy phụ nữ Việt Nam ở hải ngoại đâu có thua gì nam nhi dám đứng lên nhận lãnh trách nhiệm của mình đối với quê hương dân tộc. Đây là một bước tiến của phụ nữ Việt Nam ngày hôm nay muốn bình đẳng đóng góp phần mình cho đại cuộc.

Trong nỗi vui đó, lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi buồn xót xa cho thân phận người phụ nữ Việt Nam ở quê nhà. Tôi chợt nhớ tới hình ảnh một thiếu nữ Việt cũng có mái tóc thề đứng loã thể để cho người ngoại quốc đến chọn mua về làm vợ. Cùng một xác thân phụ nữ Việt với mái tóc thề duyên dáng thế mà sao hình ảnh hai cuộc đời lại ngàn trùng khác biệt và vô vàn chua xót. Người ở trong nước thoái hoá trở về sống đời nô lệ cho người ngoại quốc mua vui. Còn người tỵ nạn thì lại như đóa hoa hàm tiếu dưới bầu trời tự do dân chủ. Nếu như người phụ nữ kém may mắn kia có cơ hội vượt biên định cư nơi xứ người thì có lẽ ngày hôm nay nàng cũng sẽ đứng chung với đoàn biểu tình chứ không phải hổ thẹn đứng cho người khác chọn mua mình về làm vợ. Nếu như người phụ nữ đáng thương nọ không phải sống trong một đất nước mà trong đó tên chủ tịch không có cười đểu cáng rêu rao “đàn bà Việt Nam đẹp lắm” để dụ khị người ngoại quốc và “khúc ruột ngàn dặm” về Việt Nam đầu tư, thì có lẽ đời nàng không phải rơi vào 1 khúc quanh đen tối vô vàn tủi nhục như ngày hôm nay. Tư cách của kẻ lãnh đạo đất nước tồi bại như thế thì chuyện nhân phẩm của phụ nữ Việt bị rao bán làm nô lệ tình dục ở những chợ vợ tất không tránh khỏi.

Lời ông Triết kêu gọi người Việt hải ngoại và thế giới nên đầu tư ở Việt Nam vì Việt Nam có gái đẹp càng giúp cho đồng bào hiểu thêm thông điệp của nghị quyết 36 : “hãy khép quá khứ đau buồn mà hướng về tương lai để xây dựng đất nước”.

Ôi! Cái bánh vẽ “xây dựng tương lai” bốc mùi ô uế làm sao!

Khi hô hào cổ võ “hãy khép quá khứ đau buồn mà hướng về tương lai để xây dựng đất nước”, lương tâm ông Triết có cảm thấy nhức nhối hay không?

Ông có cảm thấy nhục quốc sỉ hay không khi mà đem rao bán cái bánh vẽ này cho thế giới nhảy vào dằm bập gái đẹp Việt Nam ?

Và cái tương lai mà ông vẽ ra kêu gọi đồng bào về xây dựng đất nước chỉ là thế ư?

Từ 60 năm qua dân tộc Việt Nam đã phải ôm một quá khứ đau buồn với hàng triệu người bị giết trong những chiến dịch Cải cách ruộng đất , Tết Mậu Thân 1968 hay ở những trại cải tạo, vùng kinh tế mới và những cuộc vượt biên kinh hoàng. Ngày hôm nay dân tộc VN phải trực diện với một hiện tại và tương lai kinh hoàng đưa đất nước trở về sống lại thời đồ đá man ri mọi rợ, người biến thành nô lệ không lối thoát trong một xã hội đồ đểu làm băng hoại tất cả những giá trị đạo đức của cha ông để lại.

Người dân tỵ nạn nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung chỉ khép lại qúa khứ đau buồn để hướng về một tương lai tươi sáng cho đất nước mà thôi. Ngày nào trên quê hương Việt Nam vẫn còn xảy ra những hiện tượng xuất cảng sức lao động người dân ra nước ngoài làm nô lệ, người phụ nữ trần truồng cho khách chọn mua, những kẻ lãnh đạo bán đất cầu vinh thì ngày đó những mỹ từ lừa lọc: “khép quá khứ hướng về tương lai để xây dựng đất nước” vẫn chỉ là những chiếc bánh vẽ nhạt nhẽo mùi vị tuyên truyền láo khoét mà thôi. Và dĩ nhiên, nơi nào có những kẻ bán nước cầu vinh đi qua tất sẽ có đồng bào tỵ nạn và những phụ nữ trẻ Việt Nam, con cháu của Hai Bà Trưng “dàn chào” bằng những biểu ngữ kết án chế độ phi nhân phản dân hại nước.

Nam Dao
July 4, 2007.

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

NHỮNG BÔNG HOA MUỐI

Sáng chủ nhật, chiếc xe nhắm hướng vùng biển La Baule đi tới, ( biển cách Paris 450 cây số). Trên xa lộ vắng xe, nhưng người lái không dám đạp mạnh ga vì sợ radar. Những nơi không để máy thì có cảnh sát nấp đâu đó, chờ người lái nhích lên vài cây số/giờ là thộp ngay. Đến nơi, trời đã xẩm tối và phải đi tìm căn nhà mướn. Khu nhà nằm trong rừng, xa đường xe chạy. Hai bên đường yên tịnh, vắng vẻ, lưa thưa vài căn nhà. Tôi hơi chột dạ, chung quanh toàn là rừng xanh. Thấy trên Internet nhà có hồ tắm, gần biển nên đánh liều làm một chuyến thay đổi không khí, viễn du vùng biển xanh nước mặn.

Phơi nắng như Tây đầm, người Á châu mình ít thích, nếu có thì cũng không nhiều. Thỉnh thoảng đi biển, người viết chỉ ngồi dưới cây dù, không bao giờ phơi nắng, vì da đã ngăm ngăm rồi. Nhưng lần này, lại đổi ý, phơi nắng để biết cảm giác ra sao ! Hai ngày nằm phơi nắng rân rân cơ thể , cảm thấy dễ chịu, bắt đầu thích. Đến ngày thứ ba, da bị đỏ, rát, mặt áo quần vẫn còn nghe đau đau, vào nấp dưới bóng mát cây dù cũng thấy khó chịu, bởi hơi nóng mặt trời. Chịu hết nổi, nhảy ùm xuống biển cho mát, nhưng vừa nhúng chân xuống nước đã vội co chân lên, vì nước biển lạnh như… nước đá, Nhìn quanh, chẳng thấy ai xuống tắm. Biển ở đây thật là kỳ cục, chỉ để cho người ướt chân một cái rồi hối hả vụt chạy lên bờ.

Ngày thứ tư, không ra biển, ở nhà nằm ở bên hồ tắm, nhìn màu nước trong xanh mát mẻ, sáng nào cũng có người lau dọn hồ. Rồi lại nhìn những lùm cây chung quanh, bỗng nhiên tôi nghĩ chuyện đại sự. Hồ tắm ngay giữa rừng, chung quanh hồ có nhiều muỗi, nên tôi nghĩ đến rắn ! Bỗng, một con muỗi rừng chích vào vế một cú, sưng liền, đỏ hỏn, bắt đầu ngứa. Tôi vội vào phòng tiếp tân, chỉ vết muỗi cắn bắt đền cô tiếp tân. Cô cười, coi như là chuyện bình thường, rồi cô đến phòng ăn bên cạnh, lấy muối trộn với dầu ăn, thoa vào chỗ bị muỗi chích ! Tôi nghĩ bụng: Trời! còn xài “thuốc” thời thượng vậy nè ! Nhưng lạ quá ! xức muối vào chỗ mũi cắn vừa đỡ ngứa vừa hết đỏ ngay. Thật tuyệt ! Cô nói, ở đây, cô thường trị muỗi cắn bằng một lọai muối ở vùng Guérande. Tôi nghĩ, muối nào chẳng là muối, cũng từ nước biển làm ra, ở vùng Guérande có gì đặc biệt ? Cô nói, ở Guérande là nơi làm muối cổ truyền. Nghe nói chỗ làm muối là tôi thích ngay lập tức, nên hỏi Guérande ở đâu, có xa không? tôi muốn đến đó. Cô nói, muốn đến đó phải đi theo hướng này, hướng này…

Tôi về “nhà”, lấy xe đi đến vùng Guérande ngay. Xe bắt đầu chạy vào làng Guérande theo mũi tên chỉ, đã nghe mùi đất ruộng. Nhìn từ xa, trên những nóc nhà ở vùng này đều có màu vàng, như là mái ngói đang bị “rỉ sét” vì hơi muối. Qua khỏi khu nhà, gặp ngay cánh đồng muối. Những vựa muối, vách tường làm bằng đá, bằng gỗ đen nằm chung quanh trong ruộng muối, khiến người ta dễ nhìn thấy khi đi ngang qua vùng này.

Đến nơi, (khu tiếp khách) cũng là một cửa tiệm, bán đủ các vật lưu niệm tại địa phương và đủ các loại muối. Hột to có, nhỏ có, đủ cỡ, và đủ màu. Màu xám tro, màu hồng phấn, mầu tim tím, màu trắng… Muối đựng trong những bao bố nhỏ, 250 grammes với giá 5 euro, có để thời hạn dùng. Tôi hỏi cô bán hàng: Tại sao muối có màu, và tại sao có hột lọai to, lọai nhỏ. Các lọai muối này, khác nhau chỗ nào khi dùng. Cô bán hàng vui vẻ giải thích: Lọai muối nhỏ dùng để ăn với xà lách, lọai lớn hơn một tí để hầm thịt, lọai lớn hơn tí nửa để rang, khi muối nổ, nát ra là nồi đã đủ độ nóng, lúc đó mới cho thịt vào, ăn mới ngon, vì thịt được giữ lại chất nước. Tôi lại hỏi: Tại sao muối có màu xám, màu hồng ? Cô bán hàng chỉ hộp muối trong bình nói: Hột lớn, màu xám kết tụ bởi dưới đáy. Muối màu hồng, màu cam do những rong biển li ti nằm trong nước biển. Còn bông muối trắng nổi trên mặt nước là do những luồng gió đông thổi tụ lại. Nghe cô bán hàng nói hay quá, tôi mua luôn mấy gói muối đủ màu, mỗi gói gía 5 euro, và ghi tên xin đi coi ruộng muối. Cô bán hàng hẹn ngày mai tôi trở lại. Chính nông dân làm muối ở đây sẽ hướng dẫn. Tôi sung sướng như vừa khám phá ra như một trò chơi mới lạ bất ngờ, sắp được coi những giọt nước đơn sơ trong lòng đại dương, chảy vào ruộng để biến thành muối.

Phong tục, tập quán ở đây là nghề muối, và sự phong phú chính tại đây cũng là nhờ muối. Ngồi trên xe, tôi nếm thử chút muối vừa mua, chất mặn vừa phải dễ chịu, không cảm thấy chát, mặn như các loại muối khác có một cái gì đó như châm chích vào lưỡi.

Hôm sau, tôi và một số khách khác, được anh hướng dẫn làm tại đây đưa đi xem ruộng muối. Trong ruộng muối, có những lọai cây cỏ thiên nhiên mọc chung quanh. Người dân ở đây khi dùng món xà lách, trộn chung lọai rau này vào, vì những lọai rau này, có chất mặn như muối. Anh hướng dẫn bắt đầu câu chuyện về muối. Ngày xửa ngày xưa, những người dân ở vùng bờ biển này, là nhân chứng bao lần bão tố, bao nhiêu lần thủy triều dâng, khi nước thủy triều rút, dưới ánh nắng mặt trời chiếu vào những vũng nước cạn trong hốc đá, người ta thấy có một lớp muối trắng thiên nhiên . Kể từ đo,ù người ta bắt đầu làm muối thiên nhiên bằng những ô vuông trong ruộng muối .

Những ruộng muối tại vùng Gúerande này đã có từ 2000 năm nay. Thành phố này đã lấy tên đó đặt cho những ruộng muối trên một cái đồi, có độ cao 52 thước. Vào khỏang trước thiên Chúa giáng sinh, trước kỷ nguyên đó, vùng đất này đã là một cái vịnh cách biệt lục địa, cô lập với đại dương. Vịnh có hai mạn đất cát, và ở đây có 125 khối đá lớn, được dựng lên thành hàng màu trắng, với những cái tên khắc trên đá, để chứng tỏ vết tích của giống dân tụ lại rất đông, trong thời kỳ khai thác muối. Ở tại đây, những nhà khảo cổ cũng đã tìm thấy những cây gươm, dao, rìu, nữ trang.. .

Anh hướng dẫn nói: Ruộng muối này rộng 20 triệu mét vuông, với những ô vuông nhỏ hình chữ nhật được phủ một lớp nước biển. Mực nước trong ô vuông cao khỏang 4 cm. Dưới đáy là đất sét để giữ hơi nóng, nhiệt độ nước khi lên đến 37 độ C , lúc đó muối tụ lại 400 grammes trong một lít nước biển ( bạn lấy lấy 400 grammes muối hoà trong một lít nước, sẽ biết độ mặn của nó như thế nào). Công việc làm muối coi tuy dễ, nhưng khá rắc rối và phức tạp, qua một hệ thống đem nước từ biển vào ruộng.

Trung bình người nông dân làm muối, 10 tiếng một ngày. Họ làm muối bốn mùa, phần thu họach trong vòng ba tháng. Tháng 2, và tháng 5 họ “quét” dọn sạch sẽ, vớt cho hết những chất dơ bám vào đất sét, trước khi cho nước biển chảy vào. Họ chùi rửa sạch sẽ trên bờ, từ ô bên này, và ô bên kia. Mỗi 15 ngày, nước dâng, tràn vào trong những đường nước nhỏ, rồi rải quanh để vào những ô vuông nhỏ, người ta phải canh đều mực nước khỏang 4 cm. Lúc đầu, nuớc bốc hơi, muối có 20 grammes/lít. Sau nhiều lần nước bốc hơi, dung lượng muối mỗi lúc mỗi tăng. Đầu tháng 5 giữa tháng 6, người ta canh độ muối, từ ô này, đến ô kia, không để nước bên ô này, tràn qua bên ô khác. Người ta làm “chết” vết nứt trên bờ đê muối, bằng một lọai sình rất mặn, và tuyệt đối giữ không cho đất dính vào.

Muối làm tháng 6 và tháng 9, trường hợp đặc biệt thì kéo tới tháng 10. Nông dân lo hớt những chất sình và rong rêu bỏ đi, và họ bảo vệ những đập nước bằng cách, canh chừng, và đắp đất bùn thường xuyên. Nhưng đôi khi rất cực vì có những cơn bão làm vỡ đập nước. Trong muối có hai lọai, loại nặng chìm xuống dưới, lọai nhẹ nổi trên mặt nước. Hớt muối ở trong mỗi ô vuông, mỗi ngày được 50 ký, dụng cụ là một cây gỗ dài 5 thước. Lớp muối trôi nhẹ phía trên, người ta gọi là bông muối, lọai muối này được gọi là muối đặc biệt, vì có mùi thơm của bông hoa tím, đặc biệt hơn nữa là muối vùng Guérande thơm hơn các vùng khác, vì là nước biển Đại tây dương có một lọai cây dưới nước tỏa ra hương thơm của nó. Nước đến từ đại dương chảy vào ruộng muối và từ từ biến đổi. Nước xanh, đổi thành một lọai nước màu hồng, ảnh hưởng bởi những sợi rong li ti tạo ra màu. Lọai rong này, cho mùi thơm của hoa tím, tạo sự đặc biệt cho muối của vùng Guérande.

Trong những ngày mùa nắng ráo, những người nông dân làm muối, luôn luôn làm việc đúng giờ, cũng như đến điểm hẹn. Họ đi chân trần để không làm hư những bờ đê làm bằng đất sét, giữa những ô vuông muối. Chính yếu của sự thâu họach này là những hột muối lớn, có kích thước khác nhau.

Anh hướng dẫn viên nói tiếp, khi chúng tôi chăm chú nghe một cách say sưa : Nước biển là sản phẩm đầu tiên do những người nông dân lấy để làm muối trong một hệ thống lấy nước từ thế kỷ thứ 9. Ngày xưa, người ta đã biết cách làm muối rất tinh vi, lối làm việc từ đó đến bây giờ vẫn không thay đổi. Và những bông muối này đã mất đi từ thế kỷ 18, bởi những người làm kỹ nghệ muối. Bao nhiêu thế kỷ qua, vùng Guérande vẫn không thay đổi cách làm việc, còn giữ lại những bông muối cổ truyền bằng những ngọn gió. Người ta vớt nó phải vớt thật nhanh, nếu gặp gió mạnh, những bông muối mỏng manh này sẽ rơi chìm xuống đáy.

Thường thường, khi vớt những bông hoa muối này, đàn bà dành làm và dành lấy hết, như một cách để kỷ niệm về những người đàn bà ngày xưa, họ lấy bông muối thay cho tiền lương. Sư thâu họach những bông hoa muối này, hiện bây giờ chỉ có được 1% trên thị trường sản xuất muối. Nghề bông muối cổ điển này, coi như là một thủ công nghiệp ở vùng Guérande. Cứ 20.000 ký muối, mới có 20 ký bông muối. Ngày nay có tới 67 % người ta biết đến muối của vùng Guérande. Muối Guérande nổi tiếng này luôn luôn tiếp tục giữ phẩm chất tốt trong thủ công nghệ muối.

Ngày nay, người dân ở vùng Guérande tương đối dễ sống, vì có tiền lương khá. Mỗi năm có hàng trăm người ghi tên và để học nghề làm muối. Tại trung tâm huấn luyện muối tại đây, cứ 100 người ghi danh, chỉ có 15 người được nhận, để nối tiếp công việc của người xưa để lại. Mỗi năm, trong mùa đông, có 500 ô vuông trong ruộng muối được “hồi sinh ” để những người trẻ khai thác khi hè đến. Bây giờ, có hơn 7000 ô vuông muối, được khai thác bởi 230 nhà sản xuất. Trung bình mỗi năm được 10 triệu ký muối, có năm đặc biệt (1976), lên đến 25 triệu ký. Những năm không có mặt trời, số muối chỉ có 300.000 ngàn ký. Năm 1997, đàn ông cũng như đàn bà làm muối ở đây, có thêm một họat động phụ, ngòai việc chính là nghề muối, họ còn làm việc tại các trường học, để các em nhỏ biết sự họat động của nghề muối, và sự sống ở đây là nghề muối, để các em tôn trọng môi trường thiên nhiên ở vùng này .

Nếu có biển thì người ta sẽ có muối. Trong đất cũng có những mỏ muối.

Thể tích của nước biển được ước lượng: 1 nghìn 370 triệu mét khối, trên 370 triệu cây số vuông trên đại dương. Người ta cho rằng, muối của biển đến từ những tảng đá của núi, và muối cũng do từ núi lửa, và do sự rạn nứt của quả đất. Muối của nước biển, trung bình là 30 grammes/lít, nhưng độ mặn này tùy theo vĩ tuyến của quả địa cầu, và tùy theo thời tiết. Biển Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn trung bình. Biển chết có độ mặn gấp 10 lần nước biển bình thường, lên tới 300 grammes một lít .

Người ta ước tính, nếu nước biển trên các đại dương bốc hơi để biến thành muối, thì số muối đó có thể phủ lấp hết cả diện tích quả đất, với độ dày 37 thước. Chưa kể các vùng lục địa, có những mỏ muối ngầm dưới đất, và những mỏ muối ngầm nằm cách xa biển , có khoảng 100.000 cây số khối về các mỏ muối này. Điều khó nhất, làm sao khai thác những mỏ muối trong lòng quả đất ! Mỏ muối trong lòng quả đất là kết quả của những sự kết tinh, các biển hồi xa xưa bị khô. Những “núi” muối ở trong lòng đất, không có tính chất giống như muối ở biển, bởi muối của biển có nhiều khoáng chất, kim loại, sắt, đồng, kẽm, magnésium…làm tốt cho cơ thể. Muối tham gia vào cuộc sống, muối có nhiệm vụ giữ thăng bằng, chất lỏng trong cơ thể . Nhiều muối quá thì tim sẽ đập lọan, không đủ muối thì người sẽ bị khô nước. Một lít máu trong người, chứa khỏang 6 grammes muối/ lít.

Muối là một gia vị quá bình thường cho các món ăn hàng ngày mà người ta không để ý tới, nhưng có một phần quan trọng nào đó cho đời sống của con người.

Bích Xuân
bichxuanparis@yahoo.com

Thêm bình luận Tháng Bảy 4, 2007

Previous Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Mười 2018
H B T N S B C
« Th7    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Posts by Month

Posts by Category