Posts filed under ‘Biên khảo




Con số 100 triệu nạn nhân

Vừa qua, lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Các Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial) đã được tổ chức long trọng tại Washington DC. Đài tưởng niệm này tọa lạc ở ngả tư đại lộ Massachusetts và đại lộ New Jersey, gần Điện Capitol, tức trụ sở Quốc Hội Mỹ. Phần chính của tượng đài là mô hình một pho tượng Nữ Thần Dân Chủ bằng đồng cao 10 feet do điêu khắc gia Thomas Marsh thực hiện theo mẫu tượng mà những người biểu tình đòi tự do dân chủ ở Trung Quốc đã dựng lên trong cuộc biểu tình tại Quảng Trường Thiên An Môn năm 1989. Đây cũng là pho tượng đã được mô phỏng theo Tượng Nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ ở New York.

Các nhà lãnh đạo Quốc Hội Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao, các nhà lãnh đạo quốc hội từ các quốc gia cộng sản cũ, những người còn sống sót dưới chế độ bạo tàn của Cộng Sản Trung Hoa và các nước khác, lãnh tụ các sắc tộc và những người đã góp phần vào việc xây dựng tượng đài đều đến tham dự. Khoảng 200 người Việt ở vùng lân cận như Washington DC, Virginia và Maryland, hầu hết là nạn nhân CSVN, cũng có mặt. Người Việt tỵ nạn đã đóng góp một phần vào công tác xây dựng này.

Đây là một buổi lễ rất cảm động và nhắc nhở mọi người nhớ đến một sự kiện lịch sử mà nhân loại không bao giờ quên được, đó là sự tàn bạo của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin ghi lại dưới đây một số vụ giết chốc bạo tàn chính đã xẩy ra dưới các chế độ cộng sản và những con số nạn nhân được ước lượng.

Đi tìm co đường chính xác

Bốn nhân vật chính phát biểu trong buổi lể này là Đức Tổng Giám Mục Pietro Sambi, Sứ Thần Tòa Thánh (Apostolic Nuncio) tại Hoa Kỳ, ông Dana Rohrabacher, Dân Biểu liên bang của California, một trong những tác giả của dự luật xây dựng tượng đài này; Dân Biểm Tom Lantos, sinh tại Budapest, Hungary, người sống sót duy nhất của Holocaust, và Tổng Thống Bush là người thuyết trình chính.

Mở đầu, Đức TGM Pietro Sambi đã đọc lời cầu nguyện (invocation). Ngài nói: “Chúng ta có bổn phận phải nhớ đến những người đã chết vì Chủ Nghĩa Cộng Sản, mặc dầu chúng ta không thể nào biết hết danh tánh của họ, nhưng chắc chắn Chúa Jesus biết trên 100 triệu người đã chết vì chủ nghĩa phi nhân này.”

Tiếp đến, Dân Biểu Dana Rohrabacher nhắc lại: “Đúng 20 năm trước, vào ngày 12.6.1987, Tổng Thống Reagan đã nói với nhà lãnh đạo cộng sản Liên Sô Gorbachev rằng hãy phá bỏ bức tường ngăn chia Đông và Tây Đức. Hôm nay chúng ta cùng nhau tưởng nhớ 100 triệu nạn nhân cộng sản và cùng nhau nhớ đến vị tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ Ronald Reagan đã có công gây nên sự sụp đổ của khối cộng sản trên thế giới.”

Dân Biểu liên bang Tom Lantos tuyên bố rằng chúng ta không còn muốn thấy bất cứ nạn nhân nào của Chế Độ Cộng Sản xuất hiện trên địa cầu này. Chế Độ Cộng Sản không bao giờ có cơ hội chiếm ưu thế nữa. Ông nói ông được vinh dự làm việc để đem lại việc thừa nhận rằng làn sóng tương lai sẽ không phải là Một Nữ Thần Cộng Sản hay Hồi Giáo quá khích, nhưng là các xã hội tự do và dân chủ.

Lúc 10 giờ 35 phút, Tổng Thống Bush đã đến đọc một bài diển văn ngắn nhưng đầy ý nghĩa. Sau đây là một đoạn chính:

“Thế kỷ 20 sẽ dược ghi nhớ như là một thế kỷ có nhiều chết chốc nhất trong lịch sử nhân loại. Và hồ sơ của thời đại bạo tàn này được ghi nhớ tại các đài tưởng niệm ở bên kia thành phố này. Cho đến nay Thủ Đô của Quốc Gia chúng ta chưa có đài tưởng niệm các nạn nhân của Chủ Chủ Nghĩa Cộng Sản thống trị, một ý thức hệ đã lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu người đàn ông, đàn bà và trẻ con vô tội. Vậy việc chúng ta họp lại với nhau để tưởng nhờ những người đã chết do các bàn tay của Cộng Sản là điều thích hợp, và dành đài tưởng niệm này để trân trọng sự đau khổ và hy sinh của họ trong lương tâm của thế giới.”

Tổng Thống nhấn mạnh rằng con số chính xác các nạn nhân Cộng Sản này sẽ không bao giờ biết được. Ông nói: “Theo sự ước tính uyên bác nhất, Cộng Sản đã giết hàng chục triệu người ở Trung Quốc và Sô Viết, hàng triệu người ở Bắc Hàn, Cam-bốt, Phi Châu, Afghanistant, Việt Nam, Đông Âu và các phần khác của địa cầu.”

Như vậy, ba nhân vật chủ chốt trong buổi lễ là Đức TGM Pietro Sambi, Tổng Thống Bush và Dân biểu Dana Rohrabacher đều cùng ước tính rằng số nạn nhân của Cộng Sản trên toàn thế giới gồm khoảng 100 triệu người. Nhưng xướng ngôn viên là ông James Robert của đài Radio America có lưu ý: “Có người cho rằng một người chết, một trăm người chết thì họ là những nạn nhân; nhưng 100 triệu người chết thì đó chỉ là con số thống kê. Chúng phải luôn nhắc nhở mọi người để sao cho 100 triệu người đã chết vì Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ không bị quên lãng như những con số thống kê.”

Căn cứ vào đâu để các nhân vật nói trên đã đưa ra con số 100 triệu nạn nhân? Những nơi nào và dưới triều đại nào đã xẩy ra những vụ tàn sát lớn nhất? Đi vào các chi tiết này, chúng ta sẽ thấy rõ hơn phương pháp của Cộng Sản.

Tuy nhiên, trươc khi trình bày về tội ác của Cộng Sản trên thế giới, chúng tôi xin nói qua về công trình xây đài tưởng niệm nói trên.

Công trình xây dựng tượng đài:

Việc xây dựng Đài Tưởng Niệm các Nạn Nhân Cộng Sản đã được nhiều sắc tộc di dân từ các nước cộng sản đến định cư tại Hoa Kỳ đề nghị. Sau đó Dân Biểu Dana Rohrabacher, Nghị Sĩ Claiborne Pell, và Nghị Sĩ Jesse Helms đã đệ nạp dự luật Xây Dựng Tượng Đài Các Nạn Nhân Cộng Sản mang số HR 3000. Dự luật này khi được biểu quyết thành luật đã trở thành Điều 905 của Luật The Public Law 103-199, được đồng thanh thông qua 17.12.1993 và đã được Tổng Thống Clinton ký ban hành.

Đạo Luật The Public Law cho phép The National Captive Nations Committee, Inc. xây dựng, duy trì và hoạt động trong vùng Thủ Đô Wahington DC.

Vì Quốc Hội không chịu đài thọ ngân khoản cho việc xây dựng tượng đài nên “Quỹ Đài Tưỡng Niện Các Nạn Nhân Cộng Sản” (The Victims of Communism Memorial Foundation) đã được thành lập dưới hình thức một hội bất lợi (non-profit organization) và theo Đạo Luật nói trên của Quốc Hội. Tiến Sĩ Lee Edwards được bầu làm chủ tịch. Mục đích của Quỹ này là để xây một tượng đài tưởng niệm ở Washington DC để tưởng nhớ hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản, để vinh danh những người đã kháng cự lại cộng sản có kết quả, và để giáo dục cho các thế hệ hiện tại và tương lai về tội ác của Cộng Sản đối với nhân loại.

Tiến sĩ Lee Edward cho biết chi phí xây dựng tượng đài do các cộng đồng di dân tại Hoa Kỳ đóng góp, bao gồm các sắc dân vùng Baltic như Latvia, Lithuania, Estonia cũng như Trung hoa và Việt Nam. Ngoài ra, các chính phủ Đài Loan, Tiệp Khắc, Ba Lan và ba nước Baltic cũng góp phần.

Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã quyên góp được hơn 33.000 USD và nhờ sự yểm trợ của các cộng đồng bạn, số tiền đó đạt tới trên 66.000 USD và được chuyển ngay đến Quỹ Đài Tưởng Niệm.

Cuối năm 2005, ông Lee Edward nói rằng nếu có đủ số tiền 650.000 USD, việc khởi công có thể bắt đầu tiến hành vào mùa xuân năm 2006 và công trình này sẽ hoàn thành trong vòng 6 tháng sau đó. Nhưng rồi phải đến ngày 28.9.2006, lễ khởi công xây dựng tượng đài mới được cử hành. Số tiền đóng góp về sau lên gần một triệu đô la.

Trong lể khởi công, Tiến sĩ Lee Edwards tuyên bố đài tưởng niệm được xây dựng để nhớ đến hơn 100 triệu nạn nhân bao gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em đã chết tại 25 quốc gia trên khắp thế giới trong thế kỷ vừa qua. Ông cho biết: “Mặt trước bệ tượng đài sẽ là hàng chữ: “Cho hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản và cho tất cả những ai yêu chuộng tự do”, còn mặt sau của bệ là hàng chữ: “Cho tự do và độc lập của các quốc gia và dân tộc bị giam hãm.”

Tiến sĩ Lee Edwards nói rằng những người đóng góp xây dựng tượng đài đã nghe thấy lời kêu than của hằng hà sa số con người bị giết vì tội danh gọi là “kẻ thù của nhân dân”, lời kêu than của vợ hay chồng những người bị tống vào trại lao cải vô thời hạn chỉ vì thuộc gia đình đáng ngờ vực về chính trị. Đó cũng là tiếng kêu than của các trẻ mồ côi, của những họ hàng thân thích như cô chú, anh chị em không dám nhận mối quan hệ với nhau chỉ vì sợ sẽ bị đưa vào trại tập trung như người thân. Ông nói tiếp:

“Bằng những ngôn ngữ khác nhau và từ khắp nơi trên thế giới, họ luôn luôn kêu gào, đừng quên chúng tôi, đừng quên chúng tôi. (Vì thế mà) chúng ta không thể, chúng ta không được phép, và chúng ta quyết không quên những ai đã chết và cả những ai đang chết vì chủ nghĩa Cộng sản.”

Bà Paula Dobriansky, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, nói rằng cái chết của nạn nhân tại các nước Cộng sản là hậu quả trực tiếp và thường là cố tình của các quyết định mà giới lãnh đạo ban hành. Bà nhấn mạnh rằng tượng đài tưởng nhớ này sẽ tồn tại lâu hơn là đời sống của những người xây dựng nó: “Nó sẽ nói với các thế hệ sau về những lầm than mà chủ nghĩa Cộng sản đã gây nên, về những cố gắng tập thể để chống lại chủ nghĩa ấy cũng như nội lực mạnh mẽ của những người từng là nạn nhân của chủ nghĩa ấy, nhưng đã chiến thắng được nó.”

Bà Dobriansky nói thêm rằng sự sụp đổ của các nước Cộng sản Đông Âu cuối thế kỷ trước phải được coi là chiến thắng của tinh thần con người. Đó cũng là chỉ dấu cho thấy rằng tinh thần con người luôn toả sáng cho dù có bị đầy đọa và phá hủy.

Thẩm định tội ác cộng sản:

Chúng ta nhớ lại, hôm 25.1.2006, Nghị Viện Âu Châu đã họp tại thành phố Strasbourg ở miền đông bắc nước Pháp, đưa ra Nghị Quyết số 1481 với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận và 42 phiếu chống, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân quyền tập thể.

Điều 2 của Nghị Quyết tuyên bố rằng những chế độ cộng sản toàn trị từng cai trị ở Trung Âu và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả không loại trừ, có đặc điểm là vi phạm nhân quyền tập thể. Những vi phạm nầy khác nhau tùy theo nền văn hóa, quốc gia và giai đoạn lịch sử, bao gồm cả những hành vi sau đây:

– Ám sát và hành quyết cá nhân hay tập thể, gây chết chốc trong các trại tập trung, để cho chết đói, đày ải, tra tấn, bắt buộc lao động nô lệ, và những hình thức khác về khủng bố thể xác tập thể,

– Ngược đãi vì chủng tộc hay tôn giáo.

– Vi phạm các quyền tự do lương tâm, tự do tư tưởng, tự do phát biểu và tự do báo chí, ngoài ra còn thiếu vắng đa nguyên về chính trị.

Điều 5 của Nghị Quyết nói đến việc cần thiết phải điều tra, truy tố và đưa những người vi phạm ra xét xử.

Trong cuốn “Death by Government” (Chết do Chính Phủ), Rudolph J. Rummel, giáo sư khoa học chính trị tại Đại Học Yale và Đại Học Hawaii, đã liệt kê những chế độ sau đây vào 10 chế độ gây chết chốc nhất (most murderous regimes) trong thế kỷ 20, đó là: Liên bang Soviet, Cộng Sản Trung Hoa, Đức Quốc Xã, chế độ Quân Phiệt Nhật, Cam-bốt dưới thời Khmer Đỏ, Thổ Nhỉ Kỳ dưới thời Young Turks, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Ba Lan và Pakistan dưới thời Yahya Khan.

Giáo sư R.J. Rummel cũng đã liệt kê số nạn nhân bị sát hại trong thế kỷ 20 như sau:

61.911.000 bị chết trong các trại tù Gulag của Liên Bang Xô Viết.
35.236.000 bị chết dưới chế độ cộng sản Trung Quốc.
20.946.000 bị chết vì chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã.
5.964.000 bị chết dưới thời Quân Phiệt Nhật.
2.035.000 bị chết dưới thời Khmer Đỏ.
1.883.000 bị chết dưới chề độ diệt chủng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
1.670.000 bị chết vì cuộc chiến Việt Nam.
1.585.000 bị chết do nạn thanh lọc chủng tộc tại Ba Lan.
1.503.000 bị chết trong thời Young Turks.
1.072.000 bị chết dưới chế độ Tito.

Sau đây là phần tóm lược về tội ác của một số lãnh tụ cộng sản lớn của thế giới:

I.- SƯ TÀN ÁC CỦA LÉNIN: Trường hợp của Liên Sô được coi là trường hợp điển hình nhất của tội ác chống nhân loại của chủ nghĩa cộng sản: Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, Vladimir Lénin lật đổ chế độ quân chủ ở Nga và thành lập Liên bang Xô Viết gồm Nga và 14 nước láng giềng. Từ đó dân Nga phải sống dưới một chế độ cùng khốn.

Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các hồ sơ mật lấy từ Văn Khố Cộng Sản Xô Viết cho biết Vladimir I. Lenin là một lãnh tụ đồ tể gian ác, giết người không gớm tay.

Trong bài “Lenin paints himself black with his own words” (Lenin tự tô đen mình bằng chính ngôn ngữ của mình) đăng trên tờ New York Times, ký giả Richard Bernstein viết:

“Chính trong khoảng thời gian 1917-1922, khi Vladimir I. Lenin lưu vong trở về Trạm Finland ở St. Petersburg, ông ta bị tật nguyền vì vỡ mạch máu, ông ta đã thi hành quyền lực chuyên chế bạo ngược trên toàn Liên Xô, dẫn đầu cho những tiêu chuẩn toàn kiểm trong thế kỷ thứ 20”.

Ký giả Richard Bernstein cho biết các hồ sơ mật cho thấy lãnh tụ Bolshevik Lenin là một người hung hiểm đáng khiếp sợ. Lenin bí mật ra lệnh cho thuộc hạ tổ chức hàng loạt các cuộc thanh trừng đẫm máu và quy mô, treo cổ hàng trăm địa chủ trước nhân dân, cướp đoạt tài sản của Giáo Hội Chính Thống Nga, tàn sát giai cấp tư sản và các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Trong quyển “The Unknown Lenin”, ông Richard Pipes, Giáo sư Sử Học Nga thuộc Đại Học Harvard, ghi nhận rằng yếu tố lạnh người nhất là Lenin đã ra lệnh “tạo sự kinh hoàng” trong quần chúng trên toàn quốc. Hồi đầu tháng 9.1918, Lénin viết: “Cần thiết và khẩn cấp chuẩn bị cho sự kinh hoàng, một cách bí mật”. Tháng 8 năm 1918, Lénin chỉ thị cho bọn cầm quyền tỉnh Penza phải treo cổ ít nhất 100 người, một cách công khai. Lénin truyền lệnh: “Hãy thực hiện chuyện này bằng một phương cách mà người ta sẽ thấy, từ xa hàng trăm dặm, run sợ, biết đến, và gào thét. Họ bị treo cổ, và sẽ treo cổ đến chết bọn địa chủ hút máu”.

II.- TỘC ÁC CỦA STALIN: Năm 1924, Lenin qua đời và Joseph Stalin lên thay thế. Stalin áp dụng triệt để chính sách tập thể hoá nông nghiệp, người nào tỏ ý chống đối liền bị giết hoặc đưa vào các trại lao động tập trung, tiếng Nga gọi là Gulag. Từ năm 1929 đến 1953, có khoảng từ 15 đến 20 triệu người Nga bị thiệt mạng, phần lớn là ở trong các trại tập trung.

Các sử gia ước tính rằng đã có khoảng 1/5 nạn nhân của Stalin chết trong các trại tập trung ở Kolyma, một vùng xa xôi hẻo lánh cách Moscow khoảng 9000 cây số. Cuộc sống trong các trại này dã man và khủng khiếp không thua gì các trại tập trung của Đức Quốc Xã ở Auschwitz, Ba Lan, trước đó, nên thường được gọi là Auschwitz của Nga.

Trước hết các tù nhân bị nhét vào những xe chở gia súc và đưa đến Vladivostok. Trên chặng đường đó, một số người đã bị chết ngạt vì cảnh chen chúc trên xe. Từ Vladivostok, tù nhân bị đưa lên tàu đến Kolyma. Cuộc hải trình dài từ 8 đến 10 ngày. Nhiều người đã chết trong cuộc hải trình này. Có một chiếc tàu chở mấy ngàn tù nhân bị kẹt trong những tảng băng 9 tháng sau mới tới Kolyma và không một tù nhân nào còn sống sót! Một chiếc tàu khác chở 3000 tù nhân tới cảng Madagan, thủ phủ Kolyma, đúng hạn nhưng không còn có tù nhân nào sống sót cả, vì các tù nhân nổi loạn trên tàu, cai tù dùng vòi nước xịt vào phòng giam, biến phòng giam thành một bể nước dưới 40 độ âm. Toàn bộ tù nhân trên tàu đều biến thành những cây nước đá!

Lúc đó ở Kolyma có hơn 100 trại tập trung. Khi vào trại, đa số tù nhân phải làm công việc đào vàng 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày, nhưng chỉ được lãnh khẩu phần là 700 gram bánh mì và một tô xúp bắp cải. Trong trường hợp không đạt được chỉ tiêu, họ bị bớt khẩu phần.

Không phải chỉ ở Kolyma mà ở tất cả các trại tập trung trên khắp lãnh thổ Liên Xô, các tù nhân đều phải sống trong những điều kiện như thế. Hầu hết các tù nhân chỉ có thể sống được trong vòng 2 năm. Các sử gia ước tính có khoảng 90% tù nhân chết trong tù. Năm 1991, sau khi chế độ Liên Xô tan rã, Tổng thống Boris Yeltsin ra lệnh thả 10 tù nhân chính trị cuối cùng trong các trại tập trung!

III.- TỘI ÁC CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG: Trong cuốn “Mao, the unknown story”, bà Jung Chang và chồng là Jon Halliday đã viết:

“Tháng 10 năm 1950 Mao phát động một chiến dịch chống phản cách mạng toàn quốc. Mao cũng đồng thời phát động cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp ở những vùng mới chiếm. Mục tiêu của Mao là phân chia xã hội ra nhiều thành phần: phản cách mạng, kẻ thù giai cấp, gián điệp, tôn giáo, địa chủ, tư sản, phú nông, cho tới kẻ cướp. Mỗi thành phần bị đối xử khác nhau. Mao hạ lệnh mỗi tỉnh phải gay gắt hơn nữa, phải tăng con số người bị bắt theo tiêu chuẩn của Mao. Mao cũng biết người ta ưa thích bạo động, nên Mao muốn những cuộc hành quyết phải được thực hiện ở nơi công cộng, càng được nhiều người chứng kiến la ó càng tốt. Một nhân chứng cho biết ngay giữa Bắc kinh, nhân chứng đã chứng kiến một đám đông đi theo hò reo la ó bao quanh 200 người bị Công An lôi đi trên đuờng phố và bị hành quyết ngay trên viả hè. Các xác chết, mặc dù còn nhỏ máu, được kéo đi khắp đường phố. Một năm sau, khi chiến dịch kết thúc, Mao tuyên bố có khoảng 700.000 người bị giết, nhưng con số thực sự phải khoảng 3 triệu.”

Tác giả cuốn sách cho biết thêm:

“Những người không bị giết thì bị bắt đi lao động cải tạo. Họ bị đưa tới những vùng hẻo lánh và bị bắt làm cho tới khi kiệt lực mà chết, theo kiểu mẫu của những trại tù Gulag của Liên Xô. Mức độ dã man của những phương pháp hành hạ cải tạo viên khiến một nhà ngoại giao Liên Xô phải thốt lên: “Tụi Quốc Dân Đảng cũng không tàn ác tới như thế”. Trong thời gian Mao cai trị, con số người chết vì lao động khổ sai lên đến khoảng 27 triệu.”

IV.- TRƯỜNG HỢP KHMER ĐỎ: Đọc cuốn “When broken glass floats – Growing up under the Khmer Rouge” của Chanrithy Him, hay xem cuốn phim “The Killing Fields”, chúng ta có thể hình dung được vô số những tội ác rùng rợn mà Khmer Đỏ đã thực hiện trong thời gian chúng cai trị. Để truy tố các lãnh tụ Khmer Đỏ, các chuyên viên tư pháp đã đến hiện trường thu thập bằng chứng, lấy lời khai của các nhân chứng và lập biên bản, nên chúng ta có nhiều tài liệu chính xác hơn.

Các chuyên gia đã đánh dấu được hơn 20.000 địa điểm bị nghi là những ngôi mộ tập thể dưới thời Khmer Đỏ và cho đào bới để tìm hiểu những gì đã thật sự xẩy ra tại Cam-bốt trong thòi gian Khmer Đỏ cai trị, từ 14.4.1975 đến 7.1.1979.

Học giả Etcheson cho biết các bằng chứng mới nhất cho thấy đã có từ 2.200.000 cho tới 2.500.000 người đã bỏ mạng dưới thời Pol Pot.

Nên biết, sau khi chế độ Khmer Đỏ sụp đổ, các chuyên gia đã ước lượng trong tổng số 7.100.000 dân Cam-bốt (số liệu 1972) có khoảng 1.700.000 người đã bị giết, Trong khi đó, nhà cầm quyền Cam-bốt cho rằng số người bị giết lên đến khoảng 3.316.000 người.

Theo học giả Etcheson, từ 1.100.000 cho tới 1.250.000 người đã bị xử tử; số còn lại chết vì đói khát, vì lao động cực khổ trong các trại lao động cưỡng bách. Các thành phần sau đây thường bị lựa chọn để tra tấn và đưa đi hành quyết:

1.- Bất cứ ai có liên hệ đến chính quyền cũ hay các chính quyền ngoại quốc.
2.- Những người trí thức hoặc chuyên gia, nhất là những người có đeo kính vì cho rằng họ đã đọc nhiều!
3.- Những người thuộc sắc tộc Việt Nam; những người theo Thiên Chúa Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo và các tu sĩ Phật Giáo.
4.- Những thành phần phá hoại kinh tế (nhắm vào những người giàu có trước đây sống ở thành thị, không có khả năng canh tác).

Thi thể của các nguời bị giết thường được vùi trong các mộ tập thể. Khu vực ở cách phía tây nam Phnom Penh khoảng 15 cây số được gọi là “Killing Fields of Cheung Ek”. Ở đó có khoảng 17.000 người đã bị giết và chôn trong các mộ tập thể. Đa số nạn nhân này trước đó đã từng bị giam và tra tấn trong nhà tù Toul Sleng trước khi được chuyển qua đây để hành quyết.

Các chuyên viên điều tra đã chia các mộ tập thể thành 3 loại:

– Loại 1: mộ tập thể nhỏ, thường là mộ của nguyên một gia đình như cha mẹ ông bà, một ít thân nhân và trẻ con.
– Loại 2: mộ tập thể trung bình, số người bị giết và chôn lên tới 200 người, chủ yếu là các tù nhân bị chọn lựa định kỳ tại các trung tâm giam giữ. Riêng tại trung tâm tra tấn số 21 đã có khoảng 16.000 người bị thanh lọc để bị xử tử trong 3 năm rưỡi.
– Loại 3: mộ tập thể lớn chứa tới 7.000 xác mỗi mộ.

Học giả cho biết loại mộ này được sử dụng khi nhà cầm quyền quyết định thanh toán toàn thể một quận. Chi phí cho các công tác điều tra nói trên đều do Cơ Quan Phát Triển Hoa Kỳ đài thọ thông qua Hiệp Hội Á Châu (Asia Foundation).

Những thủ phạm chính của tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng là các nhân vật nằm trong Angka, tức cơ quan lãnh đạo tối cao của Khmer Đỏ. Sau đây là 3 nhân vật chính: (1) Pol Pot (Saloth Sar): “Anh Cả số 1”, Tổng Thư Ký Đảng Cộng Sản Cam-bốt từ 1963 cho đến khi qua đời vào năm 1998. Ông ta là người lãnh đạo phong trào. (2) Nuon Chea: “Anh Cả số 2”, Thủ Tướng, hiện còn sống. Theo Duch, Giám Đốc Sở An Ninh của Khmer Đỏ, “Nuon Chea là nhân vật chính yếu của các vụ giết chốc.” (3) Ieng Sary (anh vợ của Pol Pot): “Anh Cả số 3”, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Phó Thủ Tướng, hiện còn sống.

V.- TRƯỜNG HỢP CSVN: Trong cuốn “Death by Government”, sau khi trình bày qua lý lịch của Hồ Chí Minh, Giáo sư R.J. Rummel đã mô tả một cách tổng quát về tội ác của Đảng CSVN trong thời kỳ đầu như như sau:

“Khi Việt Minh tranh đấu chống Pháp, họ cũng thực hiện một cuộc chiến tranh bí mật tồi bại chống lại những người quốc gia không cộng sản cạnh tranh với họ. Họ ám sát, hành quyết và tàn sát tập thể tất cả các nhóm quốc gia, kể cả những thân nhân, bạn bè và vợ con của họ. Nhưng những người quốc gia không phải là những nạn nhân duy nhất, “giai cấp thù nghịch” cũng bị “trừng phạt”. Họ cũng thanh toán cả các nhóm Trotskystes và những người khác bị coi là đi lệch chủ nghĩa (tức nhóm xét lại). Hàng ngàn người trong giới trí thức cao cấp và những người Việt sáng giá đều bị tiêu diệt trong thời gian từ 1945 đến 1947 khi cộng sản củng bố quyền hành của họ.”

Các chuyên gia ước lượng trong thời gian từ 1945 – 1947, Việt Cộng đã giết khoảng 50.000 thành phần đảng phái quốc gia và tôn giáo. Ngoài ra, hai biến cố quan trọng sau đã được đa số chú ý, đó cuộc Cải Cách Ruộng Đất năm 1956 và biến cố Tết Mậu Thân năm 1968.

Về nạn nhân của cải cách ruộng đất: Nhật báo Nhân Dân số ra ngày 20.7.1955 cho biết kết quả 6 đợt cải cách ruộng đất đầu tiên có 10.303.004 người bị ảnh hưởng.

Bộ “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000” tập 2, (giai đoạn 1955-1975) do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, cho biết có 172.008 người đã bị đấu tố, tức bị giết. Tuy nhiên, sau khi sửa sai và kiểm tra lại, Đảng và Nhà Nước nhận thấy có đến 123.266 người bị coi là oan (chiếm đến 71,6%).

Về biến cố Tết Mậu Thân: Trong cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” xuất bản năm 1976, Bác sĩ Elje Vannema cho biết số hài cốt tìm được trong 22 mồ chôn tập thể tại Huế sau khi Cộng quân rút lui là 2.326 người. Còn trong bộ “Encyclopedia of the Viet Nam War”, David T. Zabecki nói rằng số hài cốt tìm thấy trong các mồ tập thể là 2.810 người và hàng ngàn người bị mất tích.

Có bằng chứng cho thấy tại nhiều nơi Cộng quân đã bắt các nạn nhân đào hố, sau đó trói thúc ké tay chân họ lại, ném xuống các hố do nạn nhân đào và lấp đất lại chôn sống. Đến tháng 4/1968 người ta tìm thấy mồ chốn 3 Bác Sỉ Tây Đức và bà Krainich (vợ Bác sĩ Krainich) gần khu chùa Tường Vân. Ba giáo sư này đã đến dạy cho Trường Đại Học Y Khoa Huế. Họ đã bị bắt đi sáng 31.1.1968.

Dĩ nhiên, tội ác chống nhân loại của Đảng CSVN còn nhiều, nhưng vì người Việt tỵ nạn chỉ thích viết các bài tố Cộng, tức các bài chửi bới và lên án Cộng Sản vung xích chó, hơn là truy tìm các bằng chứng lịch sử để kết tội, nên sử liệu bị thiếu sót quá nhiều.

Một nhận xét tổng quát:

Để kết thúc bài này, chúng tôi xin trích một đoạn trong cuốn “Livre noir du commumisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản) của ông Stéphane Courtois, Giám Đốc Nghiên Cứu thuộc Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu về Khoa Học của Pháp, nhận xét tổng quát về sự tàn bạo của chủ nghĩa cộng sản:

“Vượt lên trên mức độ tội ác cá nhân, hoặc tàn sát cục bộ địa phương theo hoàn cảnh, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị… Đúng là sau một thời gian ngắn hay dài vài năm ở Đông Âu đến vài chục năm ở Liên Xô và Trung Quốc, cường độ của sự khủng bố có bớt đi, chế độ tự ổn định bằng cách quản lý sự đàn áp thường nhật, sự kiểm duyệt mọi trao đổi, kiểm soát biên giới, trục xuất người ly khai. Nhưng “ký ức về khủng bố” tiếp tục làm cho tin tưởng rằng sẽ có đàn áp, và điều này rất hiệu nghiệm. Không một trường hợp nào thoát khỏi qui luật đó: Trung Quốc, Bắc Hàn, và ngay cả Việt Nam hay Cuba…”

Chúng tôi hy vọng với một số sự kiện lịch sử mà chúng tôi đã trích dẫn trong bài này và nhận xét của ông Stéphane Courtois sẽ giúp người Việt chống cộng hiểu rõ hơn phương pháp cộng sản. Cộng Sản tin rằng sợ sệt (la peur), đói khát (la faim) và ngu dốt (l’ ignorance) sẽ làm cho con người tuân phục. Phá vở ba cái đó, Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ sụp đổ. Các nước Tây Phương đang làm như vậy đối với các chế độ cộng sản còn lại, nhưng không phải bằng bạo động, mà bằng “diễn biến hòa bình.” Mỗi giai đoạn lịch sử dùng một phương pháp khác nhau!

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Đạo Hòa Hảo Trong Lịch Sử

(Trình bày trong LỄ KỶ NIỆM LẦN THỨ 68
NGÀY KHAI ĐẠO PHẬT GIÁO HÒA HẢO tại Toronto, 24-6-2007)

Chân dung Đức Huỳnh Giáo Chủ – hình: http://hoahao.org

1.- BỐI CẢNH ĐỊA LÝ

Phật giáo Hòa Hảo là tông phái Phật giáo do Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) khai sáng ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939), tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), gần biên giới Việt Nam – Cambodia. Do đó, trước khi nói đến Phật giáo Hòa Hảo, chúng ta nên tìm hiểu sơ lược nơi xuất phát đạo Hòa Hảo.

Châu Đốc nguyên đất của Chân Lạp (Cambodia). Vào năm 1757, tại Chân Lạp xảy ra tranh chấp ngôi báu. Chúa Nguyễn là Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat (cai trị Đàng Trong 1738-1765) cử Mạc Thiên Tứ, tổng trấn Hà Tiên, cầm quân qua Chân Lạp, lập Nặc Tôn lên ngôi vua tức Outey II (trị vì 1757-1775).

Nặc Tôn cắt đất Tầm Phong Long tặng chúa Nguyễn và cắt năm phủ Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Trực Sâm (miền nam Treang), Sài Mạt (Bentey Méas) và Linh Quỳnh tặng Mạc Thiên Tứ. Chúa Nguyễn lấy đất Tầm Phong Long đặt thành đạo Châu Đốc, nhập vào dinh Long Hồ (vùng Hậu giang ngày nay), và giao năm phủ cho Mạc Thiên Tứ sáp nhập vào trấn Hà Tiên.(1) Về sau, vua Tự Đức (trị vì 1848-1883) trả năm phủ nầy lại cho Chân Lạp.(2)

Dưới thời các vua nhà Nguyễn, Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang. Sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ chính thức bị nhượng cho Pháp bằng hòa ước 1874, ngày 5-1-1876, thống đốc Pháp là Duperré ký nghị định cải tổ hành chánh, chia Nam Kỳ lục tỉnh thành 4 khu vực hành chánh (circonscription administrative) là Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac. Mỗi khu vực hành chánh được chia nhỏ thành nhiều tiểu khu hành chánh (arrondissement administratif). Bassac là vùng phía nam sông Hậu, được chia thành các tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng.(3) Tiểu khu Châu Đốc tức tỉnh Châu Đốc sau nầy, là nơi có làng Hòa Hảo quận Tân Châu.

Như thế, có thể nói vùng Hòa Hảo, Tân Châu, Châu Đốc là vùng đất nhập Việt tịch trễ nhất trong lịch sử Việt Nam, vào năm 1757 và chỉ hơn một trăm năm sau thì bị Pháp xâm chiếm.

2.- PHẬT GIÁO TỨ ÂN

Người Việt trước đây vốn theo tam giáo Phật, Nho, Lão. Trong ba đạo giáo trên, lúc đầu, Phật giáo phát triển mạnh dưới thời nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1226-1400). Qua thời nhà Lê (1428-1789), do ảnh hưởng từ khi Minh thuộc (1407-1428), Nho giáo càng ngày càng thịnh hành.

Vào thế kỷ 17, nước ta xảy ra nội chiến giữa hai họ Trịnh Nguyễn. Chúa Trịnh mượn cớ tôn phò vua Lê, hùng cứ đất Bắc. Chúa Nguyễn muốn tách ra tự lập ở phương Nam, chống lại chúa Trịnh và ở vào thế chống lại vua Lê.

Trong giai đọan chống lại vua Lê, chúa Nguyễn không thể nói chuyện “trung quân”, và đề cao Nho giáo. Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ. Để tạm thời thay thế Nho giáo, các chúa Nguyễn phát triển Phật giáo, dùng Phật giáo làm nền tảng tư tưởng và tinh thần, để có thể tập hợp quần chúng. Các chúa Nguyễn cho xây dựng chùa chiền khắp nơi, mời cả tăng sĩ Trung Hoa sang giảng đạo.

Lúc đó, ở miền Nam, di dân mới bắt đầu khai canh, khẩn hoang, mở ruộng, lập vườn. Mọi nỗ lực tập trung vào việc sản xuất nông phẩm, xây dựng nông nghiệp. Làng mạc mới được tổ chức, chưa có chùa chiền, chưa có tăng lữ, chưa có thầy dạy chữ. Trong khi đó, nhu cầu tâm linh của di dân rất khẩn thiết và rất quan trọng trong cuộc sống mới. Di dân cần một điểm tựa tinh thần để vững tin trên bước đường mạo hiểm, khai phá.

Đáp ứng nhu cầu nầy, năm 1851, Đoàn Minh Huyên (1807-1856) dựa trên nền tảng giáo lý nhà Phật, đã khai sáng một tông phái Phật giáo mới là Bửu Sơn Kỳ Hương (Núi quý hương kỳ diệu), còn được gọi là đạo Lành, tại làng Long Kiến, Chợ Mới, An Giang. Ông chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, giản dị hóa nghi thức Phật giáo cho phù hợp với đời sống nông dân, không có tăng sĩ, không cất chùa mà tổ chức khẩn hoang, lập trại cho nông dân vừa sản xuất vừa tu học. Về tu nhân, Đoàn Minh Huyên khuyến khích dân chúng luôn luôn đền đáp “tứ đại trọng ân” (bốn ân lớn) là; ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ, ÂN ĐẤT NƯỚC, ÂN TAM BẢO (trong đạo Phật), ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LỌAI. Điều đáng chú ý là ngoài “tứ đại trọng ân”, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không có giáo lý gì khác được đưa ra, và căn bản vẫn là cách tu tập theo Phật giáo cổ truyền.

Lúc bấy giờ, các quan chức địa phương nghi ngờ Đoàn Minh Huyên hoạt động chính trị, nên chuyển ông về chùa Tây An trên núi Sam (cũng ở An Giang) để dễ kiểm soát. Có thể vì vậy, dân chúng gọi ông là Phật thầy Tây An.(4) Sự nghi ngờ của các quan chức nhà Nguyễn chứng tỏ Phật thầy Tây An đã được khá đông quần chúng tin theo, nên các quan chức lo ngại ông nổi dậy.

Thông thường, các tổ chức thế quyền của các tôn giáo liên kết với các thế lực cầm quyền để phát triển. Các nhà cầm quyền cũng thích liên kết với các tổ chức thế quyền của tôn giáo để củng cố và bảo vệ quyền lực. Ngay như Phật giáo Việt Nam trước đây, được các triều đại Lý Trần hỗ trợ, và ngược lại các tăng lữ Phật giáo ủng hộ hai triều đại Lý, Trần.

Điểm đặc biệt của Phật giáo Tứ Ân là xuất phát từ dân chúng, chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh và đời sống của dân chúng, không có hệ thống giáo quyền, không dựa vào chính quyền, và không phục vụ chính quyền. Nhu cầu đời sống của dân chúng lúc đó là tổ chức canh tác, khai khẩn đất hoang, sản xuất nông nghiệp.

Phật thầy Đoàn Minh Huyên từ trần năm 1856 tại chùa Tây An. Lúc bấy giờ, tại miền Nam, xuất hiện nhiều vị sư theo khuynh hướng Bửu Sơn Kỳ Hương như Phật Trùm mà không ai biết tên, Đức Bổn sư Ngô Văn Lợi (hành đạo khoảng 1870-1890), Sư Vải Bán Khoai (hành đạo khoảng 1901-1902) và Nguyễn Đa (gốc Bình Định, hành đạo cuối thế kỷ 19).(5)

Phật thầy Tây An có 12 đại đệ tử gọi là Thập nhị hiền thủ, trong đó nổi tiếng nhất là Trần Văn Thành và Nguyễn Văn Thới. Trần Văn Thành, thường được gọi là Cố Quản, giữ chức chánh quản cơ, khởi nghĩa chống Pháp ở Láng Linh (An Giang) cuối năm 1872, nhưng bị thất bại và mất tích năm 1873. Nguyễn Văn Thới (1866-1927), thường được gọi là Ba Thới, tác giả bộ Kim cổ kỳ quan, là một tác phẩm chú giải và khai triển giáo lý tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Giai đọan Ba Thới và bộ Kim cổ kỳ quan có thể xem là thời kỳ chuyển tiếp từ Phật giáo Tứ Ân sang một tông phái mới là Phật giáo Hòa Hảo.

3.- PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) do Đức thầy Huỳnh Phú Sổ thành lập tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang), ngày 18 tháng 5 năm kỷ mão (4-7-1939). Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 25 tháng 11 năm kỷ mùi (15-01-1920), là con trai đầu của ông Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm, một gia đình nông dân trung lưu.

Tiếp nối Phật giáo Tứ Ân, đạo Hòa Hảo chủ trương cải cách đạo Phật theo đúng với đời sống thực tế của nông dân, không thiết lập giai cấp tăng lữ, không tổ chức giáo quyền, không tích lũy giáo sản, không chú trọng đến hình thức, không làm chùa nguy nga, không tạc tượng, đúc chuông, không đốt vàng mã, khuyến khích các nghi lễ giản dị trong việc thờ phụng, cưới xin, tang lễ.

Sự nghiệp truyền giáo của Đức thầy Huỳnh Phú Sổ có thể chia thành hai giai đọan:

Giai đọan thứ nhất (1939-1942): Từ khi khai đạo, Đức thầy Huỳnh Phú Sổ vừa thuyết pháp, vừa sáng tác nhiều kệ giảng, dựa trên giáo lý nhà Phật, khuyên người gắng sức tu hành để thoát những tai ương do thời cuộc đưa đến. Những kệ giảng của Đức thầy thuần túy bằng tiếng Việt, rất giản dị, lại có vần điệu, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ và dễ lập lại hằng ngày trong cuộc sống, nên rất dễ phổ biến. Trong giai đọan nầy Đức thầy đã sáng tác năm sách kệ giảng, gồm tổng cộng 3,602 câu thơ.

Phật giáo Hòa Hảo càng ngày càng phát triển, khiến người Pháp lo ngại. Ngày 18- 5-1940, tức khoảng một năm sau ngày khai đạo, Pháp giải Đức thầy Huỳnh Phú Sổ từ làng Hòa Hảo về Châu Đốc để điều tra. Sau đó, Pháp đưa ông về Sa Đéc, rồi về làng Nhơn Nghĩa, rạch Xà No, tỉnh Cần Thơ, quản thúc từ ngày 23-5-1940. Nhiều tín đồ Hòa Hảo được tin, liền tìm đến thăm. Vì vậy, sau ba tháng ở Cần Thơ, người Pháp đưa ông lên Sài Gòn, an trí tại nhà thương điên Chợ Quán.(6) Ngày 5-6-1941, người Pháp lại dời Huỳnh giáo chủ về Bạc Liêu. Do sự can thiệp của quân đội Nhật, Huỳnh giáo chủ được thả và được đưa về sống ở Sài Gòn từ tháng 10-1942.

Giai đọan thứ hai (1942-1947): Do hoàn cảnh chính trị, từ năm 1942 Đức thầy Huỳnh Phú Sổ bắt đầu tiếp xúc với các nhân vật chính trị Nam phần, và bắt đầu dấn thân vào con đường họat động chính trị. Năm 1944, Huỳnh Phú Sổ thành lập Bảo An Đoàn PGHH tại một số tỉnh miền Tây.

Vào đầu năm 1945, về mặt đạo, ông tiến hành thành lập ban trị sự tỉnh hội PGHH. Đức thầy cho xuất bản sách Cách tu hiền và sự ăn ở của một người bổn đạo bằng văn xuôi, lưu loát, minh giải về “tứ ân, tam nghiệp, thập ác, bát chánh” trong đạo, và giảng về nghi thức thờ phụng, cúng lạy, tang lễ, hôn nhân…

Cũng trong năm 1945, về phương diện chính trị, Huỳnh giáo chủ lập Việt Nam Vận Động Hội để tranh đấu đòi độc lập và thống nhất cho xứ sở. Từ đây, có thể nói Đức thầy Huỳnh Phú Sổ tham gia tích cực vào cuộc vận động cho nền tự do dân chủ của đất nước. Khuynh hướng nầy được Đức thầy bày tỏ trong bốn câu đầu bài “Quyết rứt cà sa”, thơ thất ngôn liên hoàn, sáng tác năm 1946 như sau:

“Thấy dân thấy nước nghĩ mà đau,
Quyết rứt cà sa khoác chiến bào,
Đuổi bọn xâm lăng, gìn đất nước,
Ngọn cờ độc lập phất phơ cao…”(7)

4.- ĐẠO HÒA HẢO BỊ VIỆT MINH ĐÀN ÁP

Tình hình Việt Nam và thế giới biến chuyển nhanh chóng do việc Hoa Kỳ thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Nhật Bản là Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngày 9-8-1945. Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện ngày 14-8-1945, thì cũng trong ngày nầy, tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ cùng các lãnh tụ đảng phái dân tộc thành lập Mặt Trận Quốc Gia Việt Nam Thống Nhất (MTQGVNTN). Mặt trận nầy kết hợp Việt Nam Vận Động Hội (Hòa Hảo), Cao Đài, Tịnh Độ Cư Sĩ, Liên Đoàn Công Chức, Thanh Niên Tiền Phong và nhóm trí thức. Việt Minh không tham gia mặt trận nầy.

Ngày 21-8-1945, MTQGVNTN tổ chức cuộc mít tinh khổng lồ tại Sài Gòn, có thể lên tới khoảng 200,000 người tham dự, kêu gọi dân chúng đoàn kết, hy sinh tranh đấu cho nền độc lập của đất nước. Tuy có công khơi động phong trào yêu nước lên cao độ, nhưng MTQGVNTN không mạnh dạn nắm lấy chính quyền, để cho Mặt trận VM nhanh tay tổ chức biểu tình, cướp chính quyền như ngoài Hà Nội. Ngày 25-8-1945, Trần Văn Giàu, thuộc VM tuyên bố thành lập Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời (Lâm ủy Hành chánh).

Trước đó, tại Âu Châu, Đức đầu hàng ngày 7-5-1945. Đại diện Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp thượng đỉnh tại Potsdam, gần Berlin, quyết định về tương lai nước Đức. Bên cạnh đó, ngày 26-7-1945, cũng từ Potsdam, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa cùng gởi cho Nhật một tối hậu thư, buộc Nhật đầu hàng vô điều kiện. Về vấn đề Đông Dương, tối hậu thư quyết định rằng quân đội Nhật sẽ bị giải giới ở Bắc vĩ tuyến 16 bởi quân đội Trung Hoa, và ở nam vĩ tuyến 16 bởi quân đội Anh, và không nói gì đến việc ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật về nước.

Pháp liền nhân cơ hội nầy, theo quân Anh trở lại Đông Dương. Khi đại tá Cédile nhảy dù xuống Tây Ninh ngày 22-8-1945, thì 5 ngày sau, tức ngày 27-8-1945, Trần Văn Giàu gặp Cédile để thương thuyết.

Tức thì, Lâm uỷ Hành chánh của VM bị phản đối mạnh mẽ. Việt Minh liền họp cùng MTQGVNTN ngày 4-9-1945 tại trường Mỹ Nghệ Gia Định (gần bệnh viện Nguyễn Văn Học), dưới sự chủ tọa của Đức Huỳnh Phú Sổ, đồng ý cải tổ Lâm uỷ Hành chánh. Cuộc cải tổ nầy được thông qua trong cuộc họp đêm 7-9-1945 tại trụ sở Tổng công đoàn đường De la Grandière (đường Gia Long), theo đó Phạm Văn Bạch làm chủ tịch Lâm uỷ Hành chánh, Trần Văn Giàu làm phó chủ tịch kiêm uỷ trưởng quân sự. Huỳnh Phú Sổ được mời làm cố vấn trong Lâm uỷ Hành chánh.

Chỉ hai ngày sau (9-9), Trần Văn Giàu tung người bao vây bắt Huỳnh Phú Sổ tại văn phòng, nhưng ông thoát được. Việt Minh tìm bắt giết những nhân vật quan trọng của Hòa Hảo như Huỳnh Thạnh Mậu (em ruột Huỳnh Phú Sổ), Nguyễn Xuân Thiếp, Trần Ngọc Hoành tại Cần Thơ; Chung Bá Khánh, Đỗ Thiều, Võ Văn Thời tại Trà Vinh, Vĩnh Bình; đồng thời VM ra lệnh giải tán MTQGVNTN, và bắt các lãnh tụ của mặt trận nầy.

Trong khi đó, với sự giúp đỡ của Anh, Pháp đưa quân vào Sài Gòn, dần dần tái chiếm toàn bộ Nam Kỳ. Ngày 5-2-1946, tướng Leclerc tuyên bố tại Sài Gòn rằng Pháp đã hoàn tất việc bình định Nam Kỳ và nam Trung Kỳ. Ngày 5-3-1946, quân lính Anh chính thức chấm dứt nhiệm vụ và rút ra khỏi Việt Nam.(8)

Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ vẫn tiếp tục hoạt động chống Pháp. Ngày 21- 9-1946, ông chính thức thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, được đồng bào miền Tây hưởng ứng mạnh mẽ. Tuyên ngôn của Dân Xã Đảng do Huỳnh Phú Sổ công bố, nhấn mạnh: “Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thiệt thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: “chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân”. Đảng Dân Xã chủ trương “toàn dân chánh trị, thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào.”(9)

Một lần nữa, Việt Minh lại mời Huỳnh Phú Sổ hợp tác. Tuy bề ngoài tỏ ra đoàn kết, nhưng từ tháng 12-1946, nghĩa là từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh với Pháp, VM đưa ra ba mật lệnh cho nhân viên, bằng tất cả các cách, triệt hạ uy tín Đức Huỳnh Phú Sổ, phá vỡ tổ chức Dân Xã Đảng, và thủ tiêu các lãnh tụ của đảng nầy.(10)

Những cuộc xô xát giữa Dân Xã Đảng và VM càng ngày càng trầm trọng. Ngày 16-4-1947, Bửu Vinh, chi đội trưởng Vệ Quốc Quân, và Trần Văn Nguyên, thanh tra chính trị miền Tây, mời Đức Hùynh Phú Sổ đến họp để giải quyết các cuộc xung đột giữa lực lượng hai bên tại Sa Đéc. Nhân đó, đoàn của Đức Huỳnh Phú Sổ bị tấn công tại kênh Đốc Vàng Hạ (thôn Tân Phú, Kiến Phong). Việt Minh đem ông đi mất tích.(11) Tín đồ Hòa Hảo tin rằng ông chưa chết, nhưng cho đến nay (2007), 68 năm sau biến cố kênh Đốc Vàng Hạ, chưa có tin tức gì cụ thể về việc ông còn sống.

Sau khi Đức thầy Huỳnh Phú Sổ mất tích, Đức ông Huỳnh Công Bộ, phụ thân của Đức thầy, đứng ra lãnh đạo PGHH cả về mặt đạo, lẫn mặt đời. Lực lượng Hòa Hảo lúc đó vừa chống Pháp, vừa chống VM. Tuy nhiên, cũng có khi quân Hòa Hảo bắt tay với Pháp chống VM. Ở miền Tây, lực lượng Hòa Hảo do 4 nhân vật chính chỉ huy là: 1) Trần Văn Soái (Năm Lửa) ở Cái Vồn, Cần Thơ và Vĩnh Long. 2) Nguyễn Giác Ngộ ở Chợ Mới, An Giang. 3) Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ở An Giang, và Cần Thơ. 4) Lâm Thành Nguyên ở Châu Đốc và Hà Tiên.(12)

Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo trước 1975


5.- ĐẠO HÒA HẢO TỪ 1954 ĐẾN 1975

Chiến tranh chấm dứt năm 1954. Theo Hiệp định Genève (20-7-1954) nước Việt Nam bị chia hai ở sông Bến Hải, ngang qua vĩ tuyến 17. Hồ Chí Minh và đảng Lao Động tức đảng CSVN, cai trị phía bắc, chính phủ Quốc gia dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại ở phía nam.

Lúc đầu các thế lực Hòa Hảo ủng hộ và tham gia chính phủ Ngô Đình Diệm cải tổ ngày 24-9-1954, như các ông Trần Văn Soái (quốc vụ khanh, ủy viên Quốc phòng), Lương Trọng Tường (tổng trưởng Kinh tế), Nguyễn Công Hầu (tổng trưởng Canh nông).(12)

Dần dần, chính phủ Ngô Đình Diệm muốn tập trung quyền lực vào trung ương, quy tập các lực lượng chính trị và giáo phái vào tay chính phủ. Ngày 27-1-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm ban hành nghị định số 41-NV, cấm Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng (Dân Xã Đảng) của PGHH, không được hoạt động.(13) Có thể vì chính sách tập trung quyền lực về trung ương của chính phủ, hai tháng sau, các nhân vật Hòa Hảo trong nội các Ngô Đình Diệm từ chức ngày 30-3-1955.(14) Từ đó, rạn nứt giữa chính phủ Diệm và các giáo phái càng ngày càng trầm trọng.

Chính phủ Diệm mở chiến dịch Đinh Tiên Hoàng do đại tá Dương Văn Đức chỉ huy từ 5-6-1955 đến 29-12-1955, bình định miền Tây. Chính phủ đặt các tướng Hòa Hảo là Trần Văn Soái (Năm Lửa) và Lê Quang Vinh (Ba Cụt) ra ngoài vòng pháp luật, tiến đánh căn cứ đóng quân của các tướng nầy từ Cần Thơ xuống tới Châu Đốc

Sau chiến dịch Đinh Tiên Hoàng là chiến dịch Nguyễn Huệ từ ngày 1-1-1956, tiếp tục bình định miền Tây, do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ngày 2-3-1956, tướng Trần Văn Soái tuyên bố trở về hợp tác với chính phủ Diệm. Ngày 13-4-1956, tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) bị bắt ở Chắc Cà Dao, gần Long Xuyên. Ngày 11-6-1956, Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên án tử hình tướng Lê Quang Vinh. Ngày 4-7-1956, Tòa án Quân sự nhóm ở Cần Thơ, tuyên án tử hình tướng Lê Quang Vinh một lần nữa. Ông bị hành quyết sáng ngày 13-7-1956 tại nghĩa địa Cần Thơ.(14)

Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã thành công trong việc tập trung quyền lực vào tay chính phủ, tiêu diệt các giáo phái, nhưng cũng chính vì vậy, chính phủ đã phá hủy mạng lưới các cơ sở chống cộng hạ tầng của PGHH, mà chính phủ không thể thay thế được, tạo cơ hội cho cộng sản xâm nhập vùng nông thôn miền Tây.

Ngày 1-11-1963, chính phủ Ngô Đình Diệm bị đảo chánh. Thật lạ lùng, người đảo chánh ông Diệm chính là người đã vâng lệnh ông Diệm đánh phá Phật giáo Hòa Hảo năm 1956, tướng Dương Văn Minh. Từ năm 1964, Phật giáo Hòa Hảo tái phục hồi hoạt động, bầu lại Hội đồng Trị sự Trung ương và các ban Trị sự địa phương các tỉnh. Tuy nhiên, tình hình thay đổi sau ngày 30-4-1975.

6.- ĐẠO HÒA HẢO BỊ ĐÀN ÁP SAU BIẾN CỐ 30-4-1975

Từ sau ngày 30-4-1975, khi cộng sản cầm quyền, Hội đồng Trung ương và các ban Trị sự địa phương PGHH bị giải tán và cấm hoạt động. Tổ đình PGHH bị cô lập. Chẳng những đàn áp, Cộng Sản Việt Nam (CSVN) còn bắt giết hay giam cầm dài hạn những nhà lãnh đạo PGHH.

Trước sự phản đối của dư luận ở trong cũng như ngoài nước, năm 1999, Liên Hiệp Quốc gởi một phái đoàn đến điều tra về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Lúc đó, nhà nước CSVN mới lập Ban Đại diện (chứ không phải ban Trị sự) PGHH ngày 25-6-1999. Quy chế mới của Ban Đại diện quốc doanh PGHH hủy bỏ đạo kỳ màu dà, rút gọn sấm giảng của Đức thầy, hủy bỏ Đại lễ tưởng niệm Đức thầy hằng năm…(15) Ban Đại diện “quốc doanh” nầy do Nguyễn Văn Tôn, tức Mười Tôn làm trưởng ban.(16)

Khi ban Đại diện quốc doanh PGHH do Mười Tôn đứng đầu được thành lập, ông Lê Quang Liêm, nguyên là Trưởng ban Trị sự Trung ương PGHH cuối cùng trước năm 1975, mới hoạt động trở lại dưới danh hiệu PGHH THUẦN TÚY (PGHHTT). Dầu không được nhà nước CS chấp nhận, nhưng PGHHTT được nông dân hưởng ứng và tin theo đông đảo. Nhà nước CS liền ra lệnh quản chế ông Lê Quang Liêm từ tháng 3-2003, cho đến tháng 8-2004 mới chấm dứt.

Nhà nước CSVN tiếp tục đàn áp việc hành đạo và bắt bớ tín đồ PGHH, đến nỗi ngày 5-8-2005, hai tín đồ PGHH tự thiêu ở An Giang. Người thứ nhất là ông Võ Văn Bửu tại xã Mỹ An, quận Chợ Mới, và người thứ hai là ông Trần Văn Út tại bắc Vàm Cống quận Châu Thành.

Tin mới nhất, ngày 6-6-2007, do ông Nguyễn Văn Cội, phát ngôn viên khối PGHHTT cung cấp cho đài Á Châu Tự Do, nhà nước CSVN hiện đang giam giữ 14 chức sắc và tín đồ thuộc Giáo HPGHHTT, và kêu án từ 4 năm đến chung thân khổ sai, vì tranh đấu đòi hỏi tự do tôn giáo.(17)

Nói chung, chế độ CSVN đàn áp PGHH có thể vì các lý do chính sau đây:

– Thứ nhất, CSVN rất lo sợ các đòan thể hay các tôn giáo có tổ chức quần chúng. Tuy không tổ chức hệ thống giáo hội, nhưng “tín đồ Hòa Hảo là quần chúng có tổ chức”,(18) và tổ chức khá chặt chẽ, nên CSVN rất lo sợ và đề phòng PGHH.

– Thứ hai, có thể nói, trong suốt thời gian chiến tranh vừa qua, CSVN khó thâm nhập vào những khu vực có tín đồ PGHH. Những làng Hòa Hảo là những làng thanh bình nhất tại miền Nam. Vì vậy, CSVN trả thù PGHH đã gây trở ngại họat động của CSVN từ 1945 đến 1975.

– Thứ ba, do việc Đức thầy Huỳnh Phú Sổ bị CSVN hãm hại, CSVN biết rằng PGHH không phục tòng CSVN.

– Thứ tư, đa số tín đồ của PGHH là nông dân. Cộng sản Việt Nam theo chủ trương của Mao Trạch Đông, lấy nông thôn bao vây thành thị, và xem nông dân là thành phần nòng cốt của cuộc cách mạng. Thế mà nông dân miền Tây tin tưởng vào PGHH hơn là tin tưởng CSVN. Đối với CSVN, đó là một “tội lỗi” to lớn của PGHH, mà CSVN không thể dung thứ được.

– Thứ năm, trước việc CSVN đàn áp PGHH, các tín đồ PGHH, với truyền thống bất khuất, đã đứng lên tranh đấu đòi TỰ DO TÍN NGƯỠNG, tức đòi NHÂN QUYỀN và DÂN QUYỀN, là điều mà CSVN rất cấm kỵ.

– Cuối cùng, các tôn giáo khác như Phật giáo, Ky-Tô giáo La-Mã, các tông phái Tin Lành, có thế quốc tế, nên CSVN có phần dè dặt khi đụng chạm, có thể bị dân chúng các nước trên thế giới phản đối, gây ảnh hưởng xấu đến ngoại giao hay ngoại thương. Trái lại, PGHH là một tôn giáo thuần túy Việt Nam, không có thế quốc tế. Ngoại trừ những vi phạm nhân quyền trầm trọng, ít ai can thiệp giúp PGHH Vì vậy, CSVN dễ mạnh tay với PGHH mà ít sợ phản ứng quốc tế.

Đó là những lý do chính khiến CSVN đàn áp không nương tay những sinh họat của PGHH hiện nay ở trong nước.

KẾT LUẬN

Nói chung, Phật giáo Tứ Ân và PGHH xuất hiện đúng lúc theo nhu cầu tâm linh của nông dân miền Tây nam Việt Nam, và là tôn giáo gắn liền với lịch sử dân tộc. Đạo Phật đã được giản dị hóa, phù hợp với tâm thức và đời sống của nông dân, nên được nông dân tin theo rất đông. Có thể nói, Đức Phật Thầy Tây An và Đức thầy Huỳnh Phú Sổ là những vị tổng tuyên úy Phật giáo của nông dân Nam Kỳ.

Điều lạ lùng nhất là PGHH không có chùa, không có giáo hội, không có tăng sĩ, không nghi lễ xa hoa, và PGHH chỉ có những ban trị sự để tín đồ tự quản lý với nhau, chỉ có những câu kinh tiếng kệ đơn giản, phổ thông, không tiếng Phạn, hoàn toàn bằng tiếng Việt. Thế mà PGHH đã đưa cả một hệ thống triết lý cao siêu là đạo Phật, đến tận từng cá nhân, từng gia đình, từng mái nhà, và trở thành kim chỉ nam hướng dẫn đời sống tâm linh cũng như đời sống xã hội cho cả một khối dân khổng lồ hàng triệu nông dân miền Tây, để mọi người cùng sống đạo, sống lương thiện, hài hòa với mọi người, cùng thực hành đạo pháp ngay trong đời thường.

Hiện nay, ai cũng đồng ý rằng dưới sự cai trị của chế độ CS, tình trạng văn hóa, luân lý, đạo đức của xã hội Việt Nam chúng ta đang suy thoái trầm trọng. Trong tiến trình dân chủ hóa tòan cầu, chắc chắn chế độ CS không thể tồn tại lâu dài. Sẽ đến lúc tự do dân chủ trở lại trên quê hương Việt Nam. Khi đó, chắc chắn PGHH sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc phục hưng nền văn hóa, luân lý và đạo đức cổ truyền của dân tộc.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 24-6-2007)

——————————————————————————–

CHÚ THÍCH

1. Quốc sử quán nhà Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, quyển X, bản dịch tập 1, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 166.

2. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, quyển hạ, Houston: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 446.

3. Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Saigon: 1906, tr. 338.

4. Hùynh Ngọc Trảng chủ biên, Sổ tay hành hương Đất phương Nam, Nxb. TpHCM, 2002, tr. 389. Cũng theo tác giả sách nầy, danh xưng Tây An có thể bắt nguồn từ sắc chỉ của vua Thiệu Trị ban cho Doãn Uẩn là “An Tây mưu lược tướng quân”, vì ông đã có công bình định miền Tây.

5. Các tài liệu viết về Phật thầy Đoàn Minh Huyên và các vị trong tông phái nầy, dựa trên tài liệu của: http://hoahao.org/default.asp?catid=21&nid=7530

6. Tại miền Nam, có câu ca dao: “Bao giờ Chợ Lớn hết vôi / Tàu Tây hết chạy, thì tôi hết khùng.” Có thể câu ca dao nầy nhắm chỉ Huỳnh giáo chủ vì ông đã từng viết quyển Kệ dân của người khùng dài 476 câu, xuất bản lần đầu năm 1939, và nay Đức Huỳnh giáo chủ bị Pháp (Tây) bắt an trí ở nhà thương điên Chợ Quán, gần Chợ Lớn.

7. Ngoài địa chỉ Internet trên đây, tài liệu viết về Đức thầy Huỳnh Phú Sổ còn theo sách: Sấm giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, do Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai ấn hành, Houston: 2004.

8. Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Paris: Editions Du Seuil, 1952, tr. 176.

9. Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo Hải ngọai, sđd. tr. 533.

10. Lữ Giang, Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến Việt Nam, quyển 1, tái bản lần thứ nhất, California: 1999, tr. 366. Mật lệnh lần thứ nhất ngày 26-12-1946 của Kiều Tấn Lập, giám đốc Sở chính trị thuộc Nha công an; mật lệnh thứ hai của Phạm Hùng, ngày 30-1-1947, xứ ủy Nam Bộ; mật lệnh thứ ba của Nguyễn Văn Tây, thanh tra chính trị miền Tây Nam Bộ.

11. Tài liệu theo: http://hoahao.org/default.asp?catid=21&nid=7530 (trích ngày 12-6-2007).

12. Đoàn Thêm, 1945-1964, Việc từng ngày, Hai mươi năm qua, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tt. 156-157.

13. Trần Nguơn Phiêu, Những ngày qua, bút ký, Texas: Nxb. Hải Mã, 2005, tr. 101.

14. Đoàn Thêm, sđd. tt. 167, 199.

15. Trần Nguơn Phiêu, sđd. tr. 102.

16. Theo nguồn tin của một người quê Long Xuyên, hiện sinh sống tại Toronto. Cũng theo nguồn tin nầy, trước năm 1975, Mười Tôn nguyên là một tín đồ Hòa Hảo, vì tranh chấp đất đai, gây ra án mạng, nên bỏ theo CS để tránh tù tội. Năm 1975, Mười Tôn là Tỉnh đội trưởng tỉnh đội Long Châu Hà. Long Châu Hà là một tỉnh ghép khi CSVN mới cầm quyền sau 1975, gồm Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Về sau, chia lại tỉnh thì Long Xuyên-Châu Đốc đổi thành An Giang, Hà Tiên đổi thành Kiên Giang.

17. Theo các bản tin của đài Á Châu Tự Do (RFA) trong các ngày liên hệ.

18. Trần Nguơn Phiêu, sđd. tr. 67.

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Tám 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Posts by Month

Posts by Category