Posts filed under ‘Bình luận




Việt Nam, Ðảng là ai mà ăn trùm ?

VIỆT NAM: ĐẢNG LÀ AI MÀ ĂN TRÙM ?
16 Năm Vẫn Không Xây Dựng Nổi Đảng viên ?
Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước” là khẩu hiệu tuyên truyền được lập đi lập lại nhiều lần từ Đại hội đảng X năm 2006 bởi Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng,nhưng đảng lại “ăn trùm” tất cả, ra lệnh cho mọi người làm theo ý mình mà chẳng có trách nhiệm gì với dân thì có lạ không ?

Nhưng Đảng là ai, của trên Ba triệu đảng viên, của 85 triệu người dân hay chỉ là của riêng những người may mắn được lọt vào Bộ Chính trị. Trong trường hợp của khóa X, có 14 người may mắn đó được xếp theo thứ tự : Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư; Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng; Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước; Trương Tấn Sang, Bí thư Trung ướng Đảng; Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội; Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Phùng Quang Thanh, Đại tướng (mới lên từ Thượng tướng ngày 6-7-07), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trương Vĩnh Trọng, Bí thư Trung ương đảng; Lê Thanh Hải; Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng; Nguyễn Văn Chi, Bí thư Trung ương đảng; Hồ Đức Việt, Bí thư Trung ương đảng và Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hà Nội.


Tất cả những chủ trương, chính sách của đảng từ xưa đến nay đều do Bộ Chính trị quyết định trước rồi mới chuyển xuống cho Nhà nước thi hành nên bảo “không bao biện” là không đúng. Còn việc có “làm thay” hay không thì hậu qủa của các vụ can thiệp của các Tổ chức, Ban, Ngành, Đảng ủy Tỉnh, Thành của Đảng vào công tác điều hành của Nhà nước; Lấn sang trách nhiệm hiến định làm Luật của Quốc hội; Che dấu tội phạm hay an thiệp sâu vào các vụ Điều tra tội phạm của ngành Tư pháp, Công an như vụ băng đảng Năm Cam, tham nhũng PMU 18, các Chương trình Xây dựng cơ bản, lãng phí Miá Đường, Xi Măng, Bến cảng, Bắt cá xa bờ, Xóa đói giảm nghèo đến “ăn đất” ở Đồ Sơn, uống dầu ở Công ty Dầu khí, Buôn lậu ở Air Việt Nam v.v…thì có ai không biết ?

Bằng chứng đã rành rành như trong phát biểu của Nguyễn Văn An, Cựu Chủ tịch Quốc hội trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-7 (2007) :

Hỏi : Ông nghĩ sao khi thực tế thời gian qua cấp ủy Đảng tại một số nơi can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền?

Đáp : “Nếu Đảng trực tiếp chỉ đạo làm thay các cơ quan nhà nước thì Đảng đã tự cho mình trở thành cơ quan quyền lực nhà nước song song và đứng trên cơ quan quyền lực nhà nước. Nếu lẫn lộn sẽ dẫn tới nghịch lý là Đảng có quyền quyết định song lại không chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn người đứng đầu cơ quan nhà nước không có quyền quyết định lại phải chịu trách nhiệm trước nhân dân theo pháp luật. Như vậy, nếu quyền hạn và trách nhiệm tách rời nhau thì cơ quan nhà nước sẽ trở thành hình thức, trách nhiệm cá nhân sẽ không được đề cao, toàn bộ thiết chế bộ máy nhà nước sẽ rối loạn. Đó là điều tối kỵ!”

“Thời gian qua, sự can thiệp của cán bộ trong cấp ủy vào UBND một số địa phương, vào hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và xét xử của ngành tòa án đã cho chúng ta những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Nếu sai phạm để xảy ra ở cấp trung ương thì kỷ cương phép nước sẽ bị rối loạn, hậu quả sẽ là khôn lường.”

Đó là những điểm đặc thù đến kỳ quặc của nền chính trị “đảng là cha thiên hạ”, “trên bảo dưới không nghe” , “cha chung không ai khóc”, “quan liêu, tham nhũng cứ thong dong tồn tại”, “hành chính chồng chéo” đang diễn ra ở Việt Nam ngày nay.

Vì vậy mà trong kỳ Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng X (từ ngày 5 đến 14/7/2007) vấn đề “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị” đã được đặt lên hàng đầu.

Sau đó mới bàn đến các vấn đề nổi cộm khác như : “Đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới; Cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII; Giới thiệu nhân sự lãnh đạo các cơ quan nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định.”

Nhưng “đổi mới” như thế nào ? Có thay “cái cũ” bằng “cái mới” hay cứ nói “đổi mới” mà vẫn làm như cũ ?

Mạnh nói trong buổi khai mạc Hội nghị V ngày 5-7 (2007) : “Như các đồng chí đã biết, trong phương hướng, mục tiêu xây dựng Đảng, Nghị quyết Đại hội X đã xác định phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, đồng bộ với đổi mới kinh tế; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là khâu mấu chốt, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các nguyên tắc chung đã được xác định là : Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; phải bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội.”

Mạnh nói tiếp : “Theo hướng đó, khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực : lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.”

“Đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đảng định hướng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu, phương thức hoạt động; đồng thời, phát huy tinh thần dân chủ, sáng tạo trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ; thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước… Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải thường xuyên gắn với đổi mới phong cách và lề lối làm việc ở từng cấp theo hướng thật sự dân chủ, thiết thực, nói phải đi đôi với làm.”

NĂM SAU XẤU HƠN NĂM TRƯỚC

Nói như vậy thì đảng đã “bao trùm” từ gốc đến ngọn chưa hay mới lưng chừng một nửa ?

Nhưng tại sao mãi tới bây giờ, hơn một năm sau ngày Đại hội X (4/2006) mà cấp Lãnh đạo vẫn còn loay hoay chưa biết bắt đầu công tác “Xây dựng đảng” (XDĐ) từ chỗ nào ?

Trong Báo cáo XDĐ của khóa IX, cũng do Mạnh làm Tổng Bí thư, Ban chấp hành đảng đã báo cáo trước đại hội : “Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy còn yếu. Quan hệ giữa Ðảng và nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém trong công tác tư tưởng chính trị, công tác vận động quần chúng, công tác tổ chức cán bộ, công tác quản lý nhà nước và những khó khăn phát sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế – xã hội.”

“Không ít tổ chức đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, không làm tròn vai trò hạt nhân chính trị và nền tảng của Ðảng, không đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở, thậm chí có những tổ chức cơ sở đảng tê liệt, mất sức chiến đấu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Ðảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ðảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.”

“Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Ðảng. Ðó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Ðảng, của chế độ.”

“Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa nêu gương, chưa làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Việc xử lý kỷ luật đối với những người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở ngành, địa phương, đơn vị chưa kịp thời, kiên quyết.”

Ô hay, trong 5 năm cầm quyền (2001-2006), Mạnh và Ban Chấp hành khóa IX chỉ “ăn không ngồi rỗi”, không có việc gì làm hay chỉ biết ăn mà không chịu làm nên xấu xa mới tồn tại ngổn ngang đến thế ?

Nhưng trước Mạnh, những tệ nạn trong đảng chưa xây dựng nổi cũng đã tồn tại từ khóa VII, được Tổng Bí thư Đỗ Mười trao lại cho Lê Khả Phiêu khóa VIII. Hết hạn, không giải quyết nổi Phiêu lại đổ sang cho Mạnh tại Đại hội khóa IX (19-04-2001).

Phiếu báo cáo : “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút. Công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém, bất cập; công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu hiện trì trệ. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước, tính tích cực của các đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân. Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu.”

Phiêu bảo: “Những khuyết điểm nêu trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và chủ yếu là do nhiều cấp uỷ và tổ chức đảng, kể cả Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng chỉ đạo chưa tập trung và kiên quyết; chủ trương, biện pháp thiếu đồng bộ; chưa chỉ đạo tốt việc kết hợp tự phê bình và phê bình với kiện toàn tổ chức, đổi mới cơ chế, chính sách, chỉnh đốn các khâu quản lý kinh tế, tài chính và tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên…”

Phiêu khuyến cáo đảng phải : “Chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Trên cơ sở tổng kết hai năm thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục đưa việc tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ và tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp thường xuyên và theo định kỳ, không làm qua loa, chiếu lệ, hình thức; vận động nhân dân góp ý phê bình cán bộ, đảng viên….Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hoá, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách của Đảng; đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng sai trái…”

Nhưng tại Đại hội X, tài liệu đảng vẫn viết : “Công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Ðảng. Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong Ðảng và trong hệ thống chính trị, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Ðảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên. Còn thiếu những quy chế cụ thể bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức…”

“…Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Chậm nghiên cứu và ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; chậm xây dựng các cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Ðảng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc, thực hiện nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi.”

Như vậy thì cái đảng này đã và đang làm gì cho đất nước và dân tộc từ 32 năm qua ? Họ “đổi mới” kinh tế để tồn tại, nhưng lại lạm dụng sự thành công để nuôi dưỡng tham nhũng, làm giầu cho thiểu số lãnh đạo, để cho các tệ nạn xã hội tự do sinh sôi nẩy nở làm băng hoại đời sống văn hóa và tinh thần của người dân, nhất là thế hệ trẻ.

Nếu tính từ thời Đỗ Mười làm Tổng Bí thư đảng năm 1991 thì đảng CSVN đã trải qua 16 năm không “chỉnh đốn, xây dựng” được những chứng hư tật xấu của cán bộ, đảng viên, trong đó hành dân lấy tiền là chính.

Cũng trong những năm này, họ đã kiên quyết duy trì “tập trung dân chủ” để nuôi dưỡng độc tài đảng trị, tiêu diệt tự do ngôn luận, xâm phạm nhân quyền và vi phạm các quyền dân chủ hiến định cho chính họ viết trong Hiến pháp.

Do đó, dù kết qủa của Hội nghị V có hứa hẹn gì chăng nữa nhưng nếu đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không chịu trả quyền làm chủ đất nước cho nhân dân thì bộ mặt đen đuốc của Việt Nam vẫn cứ như bây giờ.

Sự gian dối, thêm, bớt của báo chí trong nước, cách riêng hai tờ Nhân Dân và Tuổi Trẻ, trong bài tường thuật lại cuộc phỏng vấn Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết của đài truyền hình Mỹ, CNN, trong vụ Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bỏ tù đã khiến Hội đồng Giám mục Việt Nam phải lên tiếng phủ nhận đã chứng minh điều này .

Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa,Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam viết thư gửi Nguyễn Minh Triết:

“Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :

“Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ“, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý,

“Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau :

Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi “ là không đúng sự thật”.

Thật ra thì trong bài Phỏng vấn của CNN, không có câu nói của Triết, nhưng Triết vẫn để cho báo chí trong nước bịa ra tin bịp bợm để đánh lừa dư luận.

Việc này xẩy ra chỉ một ngày sau khi Mạnh khai mạc Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng để bàn về công tác “khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ” thì còn gì xấu hổ hơn không ?

Phạm Trần
(07/07)

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Đảng Cộng Sản Việt Nam sau khi hội nhập quốc tế

“… Khó khăn của đảng cộng sản là đội đá vá trời khi cố bảo vệ cái không thể bảo vệ (lý luận cộng sản), duy trì cái không thể duy trì (chế độ chuyên chế độc đoán độc đảng)…”

Việc hội nhập quốc tế là một sự kiện sâu sắc nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như của nước Việt Nam, ta trong lịch sử hiện đại.

Sự hội nhập được đặt ra sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ rồi tan rã, từ khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu biến mất.

Sự hội nhập quốc tế được đánh dấu bằng việc nước Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc từ tháng 9-1977, ký văn bản Công ước Quốc tế về Nhân quyền (1948) vào năm 1982.

Cuộc hội nhập được thúc đẩy mạnh sau khi Đảng Cộng Sản Liên Xô và Liên Bang Xô Viết tan rã tháng 8 năm 1991 ; Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc tháng 11-1991 ; bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ tháng 7-1995 và ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) tháng 7-2000.

Có thể nói việc hội nhập quốc tế của Việt Nam được coi là sâu sắc, hoàn thiện sau khi gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào cuối năm 2006.

Những yêu cầu quan trọng sau khi hội nhập

Cuộc hội nhập vào cộng đồng quốc tế đặt ra cho Đảng Cộng Sản Việt Nam những đòi hỏi to lớn, mới mẻ, những trách nhiệm và nghĩa vụ trọng yếu đối với nhân dân cũng như đối với cộng đồng quốc tế.

Cho đến nay, đảng cộng sản đã đáp ứng những yêu cầu ấy ra sao ? Những yêu cầu quan trọng nhất đối với chính quyền cộng sản Việt Nam sau khi hoà nhập là gì ?

Đó là:

– Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, kể cả các cam kết đối với nhân dân Việt Nam mình, không có thể tránh né sau bức màn “chủ quyền quốc gia” như họ thường viện ra trước đó.

– Các nước đều bình đẳng, đều bị ràng buộc như nhau, dù to, nhỏ, chế độ chính trị, trình độ kinh tế, pháp chế, văn hóa, không có trường hợp ngoại lệ, miễn trừ…

– Có đi có lại, có trách nhiệm với nhau, không thể một chiều, vô lý, bất công, bất bình đẳng, chỉ đòi điều có lợi, không làm đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ, cam kết với nước khác, chỉ thực hiện theo lựa chọn những cam kết và điều khoản có lợi.

– Toàn bộ các cam kết quốc tế là một thể thống nhất về chính trị, kinh tế, tài chính, văn hóa, pháp lý, an ninh… không thể tách rời, chỉ thực hiện những mặt này mà bỏ qua những mặt khác.

Những điều lợi và bất lợi của chính quyền cộng sản Việt Nam sau khi hội nhập

* Những điều lợi chủ yếu:

– Có nguồn đầu tư lớn để khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh, sau khi phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ và trụ cột là Liên Xô gẫy gục ; có điều kiện để xây dựng lại toàn bộ hạ tầng cơ sở, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển đất nước với tốc độ khá cao…

– Thoát khỏi thế bị cô lập về chính trị sau khi gia nhập tổ chức ASEAN và vào Liên Hợp Quốc, nay lại vào WTO ; có điều kiện để nâng cao uy tín quốc tế.

– Tăng thêm các nước bạn bè, mở rộng giao thương, hợp tác hữu hảo nhằm giữ vững hoà bình ổn định cho đất nước sau chiến tranh lâu dài.

* Những điều bất lợi cho chính quyền độc đảng:

– Hội nhập vào sinh hoạt quốc tế là việc làm miễn cưỡng của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì họ hiểu rằng nó đe dọa ngày càng lớn đến nền thống trị độc đảng kiểu chuyên chính toàn trị của họ.

– Gia nhập sân chơi quốc tế gồm phần lớn là các nước dân chủ đa đảng theo chế độ dân chủ đại nghị, với những luật chơi dân chủ, công khai, minh bạch, thượng tôn luật pháp, chống lại độc đoán và chuyên chế, Việt Nam sẽ hoặc là buộc phải thích nghi, buộc phải thực hiện dân chủ hóa để hoà nhập trọn vẹn và thuận lợi, hoặc vẫn giữ nguyên bản chất độc đoán để cưỡng lại nề nếp chung, để bị cô lập và gặp nhiều vấp váp trở ngại, tổn thất, thua thiệt và thất bại cho đất nước.

– Những bất lợi và mâu thuẫn chủ yếu nhất là : những giá trị được công nhận và thực hiện phổ biến trên sân chơi quốc tế là dân chủ đa nguyên đa đảng, nhân quyền, bình đẳng, các quyền tự do rộng rãi của công dân như tư do tư tưởng và ngôn luận, tự do báo chí và xuất bản, tự do bầu cử và tín ngưỡng, ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp tách rời, độc lập với nhau để kiểm soát, cân bằng quyền lực, tính công khai, minh bạch mâu thuẫn với chế độ độc quyền chuyên chế của đảng cộng sản, với bản chất toàn trị của chế độ đàn áp mọi sự bất đồng chính kiến, với bộ máy tuyên truyền kiểu cưỡng ép, nhồi sọ và lừa dối mỵ dân, với chế độ lập pháp, hành pháp và tư pháp đều là công cụ của đảng phục vụ đảng.

Khôn ngoan kiểu khôn vặt

Vừa qua lãnh đạo đảng đã khôn ngoan kiểu khôn vặt, làm ra vẻ tôn trọng và thực thi những cam kết quốc tế theo luật chơi chung, bằng cách áp dụng chiến lược chọn lọc (selective approach), thực hiện những cam kết kinh tế, tài chính trước những cam kết liên quan đến chính trị, những cam kết với quốc tế trước những cam kết liên quan trực tiếp đến người dân trong nước.

Do đó họ đã khẩn trương sửa chữa và bổ sung các luật lệ liên quan đến tiếp nhận vốn đầu tư ODA và FDI, thu hút thêm vốn nước ngoài vào các công trình chung, đến thuế xuất nhập khẩu, cải cách hành chính, nhưng cố trì hoãn những thay đổi về chính trị liên quan đến sự lãnh đạo duy nhất độc đoán của đảng cộng sản, tù chối quyền công dân là tư nhân ra báo và xuất bản, trao đổi bình đẳng các văn hóa phẩm… Họ làm ra vẻ “khôn ngoan” chọn ăn những món ngon ngọt trước, để lại những món cay đắng khó nuốt sau, để với thời gian họ càng gặp những trớ trêu gay gắt, tiến lui đều khó.

Khởi đầu, cuối năm 2006, họ trưng ra những nụ cười cố làm ra vẻ chân thành và đậm đà, bắt tay khá chặt, còn lắc lên lắc xuống vài lần, gọi nhau là “bạn thân thiết”, nhưng trong nội bộ thì căn dặn nhau phải cảnh giác, thực chất Hoa Kỳ và các nước tư bản phương Tây vẫn là “thù”, không phải là đối tác (partner) gì hết, vì nguy cơ chết người “diễn biến hoà bình” đến từ đấy.

Họ mở hội, cờ quạt trống kèn, chiêu đãi linh đình, áo gấm sặc sỡ để “lại quả” hai món quà lớn của Nhà Trắng là gỡ bỏ cái mũ lừa CPC (những quốc gia cần quan tâm đặc biệt) xấu xí và cấp cho cái PNTR (quy chế quan hệ thương mại bình thường và thường trực) béo bở.

Họ còn mừng rơn khi ông Bush đến tận Hà Nội xoa đầu các quan chức chóp bu, phong cho xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “chú hổ con”, để từ cái danh hiệu ấy chính quyền cộng sản rắp tâm thực thi cái bản chất “hổ báo” của mình nhằm lăm le xơi thịt một loạt các chiến sĩ dân chủ ngay sau đó.

Họ nghĩ sai lầm rằng khi tư bản đã đầu tư sâu, quen mùi lợi nhuận thì sẽ cắn câu không thể nhả mồi theo lời dạy của Marx, do đó họ mặc sức thực hiện một loạt phiên toà “bịt miệng” thời trung cổ, không hiểu rằng ở các nước dân chủ còn có ngành lập pháp, công luận, ngành truyền thông và các cơ quan nhân quyền làm đối trọng trong cán cân quyền lực.

Theo đà chủ quan và tùy hứng, họ làm một số việc quá đáng, làm tràn ly, như ngoại trưởng Khiêm hứa hẹn với ngoại trưởng Rice trả tự do cho anh Nguyễn Vũ Bình rồi lờ tịt, như các phiên toà “bịt miệng” ô nhục ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội, như ông Triết hẹn đi Mỹ rồi lại thay đổi hành trình sang Bắc Kinh trước, như công an gây sự kiểu mất dạy với các bà Việt Nam và Hoa Kỳ, Na Uy ngay trước toà đại sứ Mỹ, rồi báo công an Hà Nội dùng những từ ngữ xấc xược với các dân biểu và nhà ngoại giao Mỹ…

Những bài học và sức ép mới

Việc hội nhập thế giới sẽ thuận buồm xuôi gió nếu như đảng cộng sản nhận ra sâu sắc những đặc điểm và giá trị cơ bản của thế giới ngày nay, nhận ra những bất cập của mình để thay đổi tận gốc cách nghĩ của mình, thay đổi tận gốc não trạng cũ của mình cho thích hợp, lấy lợi ích nhân dân làm mục đích tối cao, từ bỏ những tư duy bè phái, ích kỷ, lấy lợi ích riêng của đảng cộng sản làm trọng. Thế nhưng đảng cộng sản đã bị lãnh đạo theo một hướng khác hẳn, giữ nguyên não trạng chính trị cũ, lấy độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản làm mục tiêu để duy trì đặc lợi, nên việc hội nhập gặp vô vàn trở ngại và đổ vỡ, để vấp phải bế tắc và thất bại tất yếu.

Vì lẽ ấy, chính quyền độc đảng toàn trị đang học những bài học vỡ lòng sâu sắc ngay sau khi vừa hội nhập vào cộng đồng quốc tế.

Những bài học và sức ép như thế sẽ ngày càng nhiều, thêm sâu sắc và phong phú, đến từ mọi phía:

1. Trước hết từ các chiến sĩ dân chủ tiêu biểu cho khát vọng tự do vốn có của xã hội, tiêu biểu cho lương tâm thời đại, hàng ngũ ngày càng đông đảo, dày dạn và ngoan cường, mà những cuộc đàn áp tàn bạo của cường quyền chỉ thúc đẩy mạnh mẽ thêm ; nhân dân hiểu rõ thêm về các chiến sĩ dân chủ và thêm quý mến các anh chị em dân chủ.

2. Từ xã hội công dân vốn bị bóp ngẹt chặt đang ngày càng có điều kiện nảy nở và lớn lên nhanh trong quá trình mở cửa, mở rộng giao lưu, thông thương, tự do thông tin, tự do ngôn luận và tự do báo chí cũng như bước đầu tự do xuất ngoại du lịch và du học, mà đảng phải buộc lòng mở ra theo mức độ, lan vào cả trong quốc hội và bộ máy chính quyền cũng như trong các đoàn thể và cả vào đảng cộng sản. Văn nghệ sĩ, trí thức, tuổi trẻ, lao động, nông dân, đảng viên thường ở cơ sở và công dân bình thường không còn sợ bạo quyền như xưa, đang và sẽ đòi quyền tự do nhiều hơn, đòi quyền lợi, đòi công bằng, bình đẳng cho đến cả tự do bầu cử, ứng cử và đa nguyên đa đảng…

3. Sức ép từ bên ngoài, trước hết từ cộng đồng người Việt ngày càng giàu kinh nghiệm, giàu ý chí và quyết tâm, tiếp sức mạnh mẽ cho trong nước và vận động quốc tế có hiệu quả, từ Bắc Mỹ, châu Âu đến Úc châu và các nước khác.

4. Sức ép từ ngay các nhà đầu tư quốc tế và các tổ chức kinh tế tài chính của thế giới như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) ; họ đòi hỏi quản lý vốn đầu tư chặt chẽ, giải ngân gọn đúng thủ tục, chống tham nhũng nghiêm, có luật pháp minh bạch và ngành tư pháp độc lập, xử án công bằng phù hợp luật quốc tế. Những thông báo định kỳ xếp thứ bậc về tham nhũng, về tự do báo chí, về tính công khai minh bạch, về tư pháp công bằng, về hành chính thuận lợi, về rủi ro trong kinh doanh, về môi trường kinh doanh… có tác dụng phơi bầy thực trạng Việt Nam ra công luận mà bộ máy tuyên truyền trong nước không có cách gì che dấu. Nó tạo nên sức ép quốc tế và trong nước khá mạnh trong đổi mới thật sự.

5. Ngay ở trong đảng cộng sản sự rạn nứt là không tránh khỏi, sự chia rẽ là tất yếu, với nhiều nhận thức khác nhau, đối lập nhau không thể điều hoà, về cả lý luận và thực tiễn trên hầu hết các vấn đề của cuộc sống. [Chẳng hạn như về thành tích lịch sử của đảng cộng sản ; về sai lầm của đảng ; về các nhà lãnh đạo ; về vai trò lý luận Mác Lênin ; về đổi mới ; về chống tham nhũng ; về quan hệ quốc tế, quan hệ Việt-Trung, Việt-Mỹ ; về xây dựng văn hóa ; về hội nhập quốc tế…].

Những người bảo thủ giáo điều thường ở hàng ngũ quan chức trung cao cấp có quyền chức bổng lộc nhiều, nghĩ nhiều đến danh dự, vinh hạnh, thành tích, lợi ích cá nhân, thường tự mãn, ít chịu học tập, suy nghĩ, tự rèn luyện, lại ưa dạy dỗ người khác. Chưa có khuynh hướng hay phe cấp tiến trong lãnh đạo (trong trung ương và bộ chính trị).

Những người có cách nhìn thức thời, cấp tiến, phóng khoáng, dân chủ thường là người có tư duy độc lập, ham tìm hiểu thế giới, lòng mở đón cái mới, có phương pháp hoài nghi khoa học để tự tìm ra sự thật lẽ phải, tự vượt lên hiểu biết cũ của chính mình, cầu tiến bộ, không chịu kém người, không chịu để dân mình hèn kém dân tộc khác. Nhiều nhà văn hóa, giáo dục, văn nghệ sĩ, trí thức có ít nhiều phẩm chất như thế. Sinh viên, học sinh trung học, du sinh được hướng dẫn tốt cũng có phẩm chất ấy. Đảng viên thường, không quyền lực, về hưu và dân thường, với “tính bổn thiện”, với bản năng trong sáng, hiền hậu cũng có nhận thức như thế tuy đơn giản, còn tự phát. Không ít nhà kinh doanh chân chính muốn làm ăn lương thiện, làm giàu bằng tài trí bản thân, giới ngoại giao tiếp xúc nhiều với thế giới và tiếp thu được những thành tựu của nền văn minh quốc tế cũng có ít nhiều phẩm chất này.

Giữa hai loại người này là đông đảo đảng viên bị rập khuôn, thực dụng, cuộc sống dễ chịu, khấm khá sau gian khổ thiếu thốn kéo dài, vừa lòng với vài cải thiện trong đổi mới, có thái độ tùy thời, chưa thức tỉnh để dấn thân làm chủ xã hội, làm chủ cuộc đời mình và gia đình. Đây là đại khối cần tiếp cận và thức tỉnh dần, khi có thời cơ, họ có thể bừng dậy và dấn thân hàng loạt, thành phong trào, cao trào.

Trở ngại và lối thoát trong quá trình hội nhập

Trong chính sách đối ngoại, đảng cộng sản vẫn đang bị chi phối bởi hai hướng : ngả theo Trung Quốc hay ngả theo các giá trị phổ quát của thời đại là dân chủ, nhân quyền và phát triển bền vững. [Hồi ký của Trần Quang Cơ, nguyên thứ trưởng ngoại giao, từng chuẩn bị lên bộ trưởng, cho thấy cuộc đấu tranh gay gắt này.]

Từ Đại hội VII (1991), đảng cộng sản ngả theo Trung Quốc nhưng cố làm ra vẻ thăng bằng, đi trên dây, làm cho hội nhập đầy mâu thuẫn, chồng chéo ; tiến lên lại lùi lại, không nhất quán, vừa tiến vừa ghè lên chân mình. Trung Quốc đã tận dụng những lấn cấn đó để lấn đất, lấn biển, kiềm chế để kiếm lợi.

Mâu thuẫn nội bộ về sự lựa chọn chính sách đối ngoại trong thời hội nhập càng thêm gay gắt, biểu hiện ngày càng công khai và đòi hỏi giải quyết rõ ràng vì lợi ích lâu dài của dân tộc.

Đã có ý kiến trong đảng cộng sản là thái độ phụ thuộc Trung Quốc chỉ có hại cho đất nước, bị khinh thường và uy hiếp, mất đất mất biển mất tài nguyên. Thời đại mới, thuyết địa lý-chính trị (geopolitic) không còn tác dụng, nên dựa hẳn vào các giá trị và lực lượng dân chủ của thời đại, vào Liên Hợp Quốc và pháp luật quốc tế trong khi vẫn giữ quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc.

Trở ngại nguy hiểm nhất cho quá trình hội nhập quốc tế là một thế lực cực kỳ nham hiểm được Bắc Kinh nuôi dưỡng theo bản chất bá quyền nước lớn, biểu hiện qua uy quyền còn tồn tại của hai vị thái thượng hoàng Mười và Anh, với “tay trong” hiện nay là viên tổng bí thư Nông Đức Mạnh, và những người thực sự cầm đầu ngành cảnh sát, an ninh, bảo vệ đảng cộng sản, bảo vệ quân đội, tình báo, phản gián, nói chung là guồng máy kiểm soát. Chính thế lực này đã cản phá, trì hoãn việc bình thường hóa và ký Hiệp định buôn bán với Hoa Kỳ, trì hoãn Việt Nam vào WTO, ép ông Triết phải bái yết Bắc triều trước chuyến đi Mỹ… Tình hình đổi mới và hội nhập tùy thuộc ở sự lộng hành của thế lực nguy hiểm này và khả năng đẩy lùi để đi đến loại bỏ.

Đảng cộng sản đang trên quá trình đi xuống vì lý luận bế tắc, đổi mới chồng chéo không đồng bộ, nhận thức của xã hội đang thức tỉnh khá nhanh thời mở cửa, giao lưu quốc tế và internet; và họ cũng bị quốc tế thúc ép đi vào những giá trị thời đại.

Khó khăn của đảng cộng sản là đội đá vá trời khi cố bảo vệ cái không thể bảo vệ (lý luận cộng sản), duy trì cái không thể duy trì (chế độ chuyên chế độc đoán độc đảng). Một cán bộ cộng sản lão thành đã “nhạt đảng” gần 20 năm, vừa bỏ đảng, tâm sự : “Ta nên có chút lòng thương hại cho bọn quan chức chóp bu đang “cố chịu đấm ăn xôi, nhưng xôi lại hỏng”; họ biết rõ là chủ nghĩa Mác Lênin đã hết thiêng, họ biết tỏng cụ Hồ của họ vô đạo đức đến đâu, họ thấy rõ đang bị dân khinh và dân chửi, họ cũng thừa biết chủ nghĩa cộng sản hiện thực bị cả thế giới nguyền rủa vì tội ác chồng chất thật sự ra sao, nhưng họ không có đủ dũng khí để thừa nhận sự thật. Họ đang cố bảo vệ những điều mà chính họ không còn mảy may tin tưởng. Bi kịch đáng thương mà cũng đáng trách, và đáng đời !

Lối thoát duy nhất của đảng cộng sản là trở về với dân tộc, thực hiện một cuộc đột phá chiến lược đồng bộ theo bốn hướng :

– Đổi mới mọi mặt (trọng yếu nhất là về chính trị) ;

– Trả lại đầy đủ mọi quyền tự do cho nhân dân ;

– Hoà giải với cộng đồng ta ở nước ngoài trên cơ sở bình đẳng ;

– Gắn bó với thế giới dân chủ, văn minh.

Lời kết

Thời gian ủng hộ chúng ta. Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào thế giới mới là thời cơ hiếm quý chưa từng có. Cố gắng kiên trì theo phương hướng đấu tranh đúng, phối hợp chặt chẽ trong ngoài nước, phong trào dân chủ trong nước sẽ còn phát triển mạnh, những hạt giống đã nảy mầm, thành hạt, thành cây, thành vườn cây xanh, đang thành rừng.

Vì những hoạt động kiên trì có hiệu quả theo chủ trương đường lối đúng đắn của chúng ta thích hợp hoàn toàn với thời kỳ hội nhập trọn vẹn của Việt Nam vào cộng đồng thế giới và đang biến thành hiện thực sinh động hàng ngày.

Bùi Tín
(Warsawa, tháng 6-2007)

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Tại sao nhiều người chết vì ô nhiễm?

Dân chủ khác độc tài như thế nào? Chế độ độc tài chuyên bịt miệng, bịt cả tai dân chúng, bằng cách kiểm soát thông tin, báo chí. Dân không được tự do nói, nên cũng mất nhiều cơ hội nghe.

Nhưng trên thế giới này có bao người tu theo phương pháp bớt nói bớt nghe. Có người còn nhập thất, tịnh khẩu để tâm hồn được trong sạch và bình an hơn, tại sao lại than phiền về chuyện nhà nước kiểm soát báo chí? Thưa bởi vì những người tu hành họ tự nguyện sống như vậy, còn dân chúng một nước sống dưới chế độ độc tài không được tự do lựa chọn mà bị bắt buộc sống như thế. Hơn nữa, khác với nhà tu kín, một xã hội kiểm soát thông tin gây rất nhiều tai hại. Có thể làm chết người.

Bữa trước mục này đã trình bày về những “làng ung thư” ở Việt Nam. Ðó là một thí dụ. Nhà máy hóa chất Lâm Thao bỏ rác và chất thải ra cánh đồng, không đường mương, không ống cống từ năm 1959 đến nay. Ở làng Thạch Sơn, tỉnh Phú Thọ mùa màng bị hư, cá sống không nổi, dân cư ngụ chung quanh đã bị nhiều thứ bệnh gần nửa thế kỷ. Tại sao tình trạng đó cứ kéo dài mãi cho đến nay, khi thấy hơn một trăm người chết vì bệnh ung thư, mới được báo động?

Nếu trả lời rằng, chỉ vì chế độ độc tài gây nên, nhiều người sẽ chê là mình thiên vị, động cái gì cũng đổ tội cho chế độ! Người ta sẽ giải thích chẳng qua vì nước mình nghèo, rằng, vì dân trí mình thấp, vân vân. Nhưng nghĩ cho kỹ đi thì thấy nguyên do lớn nhất là vì dân không được nghe thông tin đầy đủ. Hãy khoan nói chuyện dân sợ chính quyền như sợ cọp, không dám lên tiếng. Không ai nói cho họ nghe rằng, rác và nước thải từ nhà máy hóa chất rất nguy hiểm, hễ ở gần chúng là phải tự đề phòng. Không ai nói cho họ biết rằng, họ có quyền bắt buộc các nhà máy phải đem rác và nước thải đi biến hóa cho nó hết độc, hoặc đem chôn thật xa. Dù nhà máy đó là của một công ty tư bản hay của nhà nước cộng sản thì người dân cũng có quyền đó! Không phải vì nhà nước lúc nào cũng nói, “Ðảng ta chỉ có một mục đích là phục vụ nhân dân” mà cái hóa chất do công ty nhà nước thải ra nó cũng sinh ra tử tế, không làm nhân dân bị nhiễm độc đâu!

Trường hợp các xã Kim Thành, xã Nam Sơn, làng Cờ Ðỏ ở Nghệ An cũng vậy. Chỉ khi hàng trăm người chết vì ung thư một cách bất thường, lúc đó mới làm các quan trên động tâm. Mà nguyên nhân thì cũng vì môi trường sống bị nhiễm độc. Nguồn gốc gây nhiễm độc là những kho hóa chất trừ sâu DDT đã bỏ từ lâu mà không ai quan tâm đến việc làm cho sạch. Chất DDT đã được biết là gây độc hại cho sức khỏe con người ngay từ khi loài người còn dùng để trừ sâu. Từ nửa thế kỷ nay nhiều quốc gia đã cấm dùng DDT vì nó di hại mùa màng, cây cỏ, cầm thú và hại cho sức khỏe con người. Ở các nước tự do dân chủ thì khi tin tức đó được loan truyền ra, người dân thấy ai còn dùng chất DDT là họ lập tức phản đối. Ai chứa chất DDT gần nơi họ sống, ai để cho mặt đất bị nhiễm chất DDT là họ phản đối. Nói không nghe, họ đi kiện! Các nhà báo thấy một vụ kiện có thể là một đề tài báo động cho hàng ngàn nạn nhân khác của chất DDT, thế nào cũng tới điều tra, viết bài. Những hội bảo vệ người tiêu thụ, bảo vệ môi trường sống sẽ gây phong trào buộc nhà nước phải kiểm tra nơi nào còn bị chất DDT tác hại thì lo ngăn ngừa.

Nhưng ở nước ta thì suốt bao nhiêu năm người dân Nghệ An không được nghe nhà báo nào đến hỏi tại sao giếng nước làng có màu vàng, tại sao nhiều người trong một gia đình cùng chết vì bệnh ung thư. Không ai nói cho họ biết rằng, nhà nước có bổn phận giữ nguồn nước sạch sẽ cho dân chúng sử dụng. Cho tới khi một tỉnh Nghệ An có hàng chục xóm với số người chết vì ung thư tăng lên đến kinh ngạc, mới có người báo động. Mà ngay trong loại tin tức nóng hổi này, nhà báo biết cũng không được nói. Khi phát hiện một xóm ung thư ở thị xã Tân An, chỉ cách Sài Gòn bốn chục cây số, một tờ báo tiến bộ và năng động như tờ Thanh Niên ở Sài Gòn cũng chỉ đăng lại một bản tin của thông tấn xã nhà nước chứ không được phép đưa phóng viên đi điều tra riêng!

Nhà máy sản xuất nhôm ở Tân An cũng thải chất độc ra sông Nhân Hòa không khác gì nhà máy hóa chất Lâm Thao ở Phú Thọ. Trong suốt bao nhiêu năm “lãnh đạo đất nước” đảng cộng sản đã không quan tâm đến việc bảo vệ môi trường. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Liên Xô người dân Nga mới biết đất nước họ ô nhiễm nhất thế giới.

Tại sao lại không có ai lên tiếng báo động về những mối nguy trong môi trường sống? Vì trong chế độ độc tài đảng trị xã hội không tạo khung cảnh cho những tiếng nói như vậy được phát lên một cách tự nhiên. Ở các nước tự do dân chủ người ta tạo được một khung cảnh như vậy. Nếu nhà báo đi qua một nơi thấy hóa chất thải bừa bãi, họ thấy ngay đây là một đề tài đáng viết để báo động độc giả. Nếu một phụ huynh thấy con em mình bị bệnh lạ họ sẽ đi hô hào những phụ huynh khác cùng đi tìm hiểu nguyên nhân. Có những hội bảo vệ môi trường mọc lên khắp nơi để gìn giữ không cảnh sống lành mạnh cho mình và cho người khác. Hiện tượng này cũng giống như trong cơ thể chúng ta có những hệ thống tự phòng, tự chữa bệnh. Nếu có chất độc nhiễm vô phổi, vô bao tử, thân thể người ta bèn bị ngứa, phải ho ra, phải nôn ra cho hết chất độc, rồi người ta biết cái gì phải tránh, phải ngăn ngừa. Một xã hội tự do cũng có những phản ứng tự nhiên như cơ thể để tự chữa trị, đông y gọi là kinh mạch điều hóa, khí huyết lưu thông. Một xã hội độc tài ngăn không cho cơ thể được sống tự nhiên, hệ thống tự chữa bệnh bị bế tắc!

Trong nước chắc chắn rất nhiều người biết các nhà máy hóa chất có thể gây tai hại cho đất đai và nguồn nước, mạch nước. Tại sao trong bao nhiêu năm không có những phong trào lên tiếng đòi phải có luật lệ bảo vệ môi trường sống? Khi đã có luật rồi, tại sao không có phong trào đòi thi hành luật đứng đắn để bảo vệ người dân lành?

Vì kinh mạch đã bế tác. Báo chí không được thông tin tự do. Việt Nam không có những hội tư nhân lo việc bảo vệ môi trường sống. Những người lo lắng cho môi trường không có chỗ họp nhau lại để cùng lên tiếng báo động đồng bào. Ở nước tự do dân chủ nào người ta cũng có những phong trào bảo vệ môi trường. Ở một nước độc tài toàn trị thì đảng cầm quyền muốn bao thầu hết mọi chuyện; những người quan tâm về một vấn đề gì cũng không được phép tự họp nhau lo chung. Ðến tôn giáo mà đảng cầm quyền cũng chỉ công nhận một giáo hội Phật Giáo, giáo hội khác đã sinh hoạt từ bao đời nhưng không theo đảng thì cũng bị cấm. Không có quyền tự do lập hội nên người ta cũng mất luôn quyền thông tin, báo động khi thấy những triệu chứng nguy hiểm. Giống như một cơ thể sinh vật mất khả năng chế tạo bạch huyết cầu, mất khả năng tự kháng độc. Chế độ độc tài gây ra bệnh “liệt kháng” (aids) cho thân thể của xã hội.

Trong tuần này Ngân Hàng Thế Giới phát hành bản phúc trình về nạn ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc. Bản báo cáo cho biết có chừng 750,000 người Trung Hoa chết mỗi năm do tình trạng không khí ô nhiễm gây nên. Ðây là kết quả của những cuộc nghiên cứu của các chuyên viên quốc tế và của chính phủ Trung Quốc. Nhờ bản phúc trình đó người bên ngoài biết có những làng bị nhiễm độc vì hóa chất suốt năm này sang năm khác, từ nửa thế kỷ nay. Dân làng ăn rau, trái cây, gạo, sinh bệnh. Nhiều thứ trái cây và rau còn được đóng hộp bán ra nước ngoài. Hiện nay Trung Quốc chiếm 12% thị trường rau và trái cây xuất cảng. Những chất độc thông thường nhất là do kim loại như chì, cadmium và thiếc, nhiễm trong đất, trong nguồn nước. Trong số 20 thành phố bị coi là ô nhiễm nhất thế giới, có 16 thành phố thuộc Trung Quốc. Bản phúc trình của Ngân Hàng Thế Giới đã bị cắt bớt một phần ba trước khi ấn hành, theo lời yêu cầu của chính phủ Bắc Kinh. Vì họ sợ những chi tiết “gây ấn tượng” quá có thể làm mất ổn định trong xã hội! Như đã trình bày trong mục này tuần trước, dân chúng Trung Quốc bắt đầu quan tâm đến môi trường sống rất nhiều. Hàng chục ngàn dân ở Hạ Môn đã biểu tình phản đối việc xây dựng một nhà máy hóa chất trị giá hàng tỷ Mỹ kim, vì lo môi trường sẽ bị nhiễm độc. Ðiều mà chính phủ Bắc Kinh lo ngại là sẽ có những phong trào bảo vệ môi trường chống lại chính sách bưng bít của đảng cộng sản! Sau Thiên An Môn, sau Pháp Luân Công, nay lại đến môi trường, cơ thể xã hội Trung Quốc vẫn còn bất an! Ðảng cộng sản có thể chấp nước và không khí bị nhiễm độc gây chết người, miễn là người ta chết một cách thầm lặng!

Chế độ cộng sản đã làm chết hàng triệu người chỉ vì người dân không được tự do thông tin, dù những tin tức phi chính trị như bệnh tật, dịch cúm, ô nhiễm. Trong nhiều trường hợp, quyền được nói đi đôi với quyền tự do hội họp. Vì có nhiều chuyện hơi phức tạp, có khi khó hiểu, một người nói không đủ khiến mọi người phải nghe. Phải tụ họp nhau lại, cùng lên tiếng mới, người này làm chứng cho người kia, lúc đó mới được lắng nghe. Khi có những chuyện không hiển nhiên nhưng đe dọa tới sức khỏe, mạng sống của nhiều người, càng cần phải khua chiêng gióng trống để đánh thức đồng loại. Tức là phải có nhiều người họp nhau lại mà nói. Hai quyền tự do, ngôn luận tự do và hội họp tự do không thể tách rời nhau được. Một nước muốn tiến bộ cần rất nhiều hội đoàn tư nhân tự động đứng ra lo cho những nhu cầu chung, của từng nhóm người hay của cả xã hội. Cần phải có một xã hội công dân năng động, cần báo chí tự do. Trong khung cảnh tự do dân chủ, dân được hưởng những quyền bình thường như thế. Ðó là một điểm khác nhau giữa tự do với độc tài.

Ngô Nhân Dụng (@Người Việt)

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Ngọn Đèn Con Đòi Lay Gió Cả

Rohrabaker: “Tôi không ngờ Tổng thống Bush lại nói chuyện với chính quyền băng đảng Việt Nam”

Lộng Trời Xanh – Con Rắn Nước Vẽ Bùa
Năm ngoái, trên trang mạng của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 24-4-2006, một bài viết của học giả Carl Thayer có tiên đoán rằng: “ông Nguyễn Minh Triết, 64 tuổi, người tỉnh Bình Dương, đã giữ chức bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000, được nhiều người coi là một nhà cải cách đã góp phần thúc đẩy bộ máy kinh tế của cả nước…. Nếu ông Triết đắc cử thì Việt Nam sẽ có sự chuyển biến trong chức vụ chủ tịch nước, từ một nhà địa chất qua một người có rất nhiều khả năng và thành tích giúp Việt Nam hòa nhập vào thế giới bên ngoài”.

Trong đoạn trình bày trên đây của học giả Carl Thayer, có 3 điểm cần được nói rõ thêm:
Một là, nhân dân tỉnh Bình Dương đều biết tường tận con người ông Nguyễn Minh Triết, từ thời ông còn là Tỉnh ủy Sông Bé, đã độc quyền tổ chức vượt biên bán chính thức để thu vàng khối trong những năm cuối thập niên 1970 của thế kỷ trước, và đã tích cực góp phần thúc đẩy bộ máy kinh tế của ông nói riêng, và của công an Sông Bé nói chung, theo cách hiểu nôm na của quần chúng nhân dân về “bộ máy kinh tế”.

Hai là, ông Nguyễn Minh Triết, và cả Kỹ sư Địa chất Trần Đức Lương, người tiền nhiệm của ông, chỉ được quốc hội VN hợp thức hóa chỉ thị của Bộ chính trị (BCT), chứ không từng được bất kỳ người dân VN nào bầu cử cả. Tức là, trên bình diện cả nước, ông chưa từng tranh cử và đắc cử lần nào. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đã từng khẳng định tại buổi họp mật của Bộ Chính Trị ngày 2-11-2004 ở Hà Nội, rằng: “…Trong bang giao quốc tế, khi tiếp xúc với những nhân vật lãnh đạo do dân bầu, trong khi mình cũng là lãnh đạo nhưng lại không do dân bầu, thì vấn đề ngoại giao cũng vất vả lắm chớ không đơn giản đâu…”. Cái không đơn giản đầu tiên là những điều mà lãnh đạo không do dân bầu của ta “xin thay mặt nhà nước và nhân dân VN để…” thế này, thế kia… đều chỉ có giá trị của sự lếu láo cao độ.

Ba là, về khả năng và thành tích của ông Triết giúp VN hòa nhập vào thế giới bên ngoài, thì còn cần phải được xét lại, dựa trên những hoạt động đối ngoại của ông từ khi nhậm chức đến giờ.

Vào cuối tháng 2 năm 2007, Chủ tịch nước (CTN) Nguyễn Minh Triết đã có 3 ngày thăm viếng hữu nghị xứ Chùa Tháp. Ông đã phải đối diện với một cuộc biểu tình khá lớn của sư sãi và cư sĩ người Miên gốc Việt tại đây nhằm đòi hỏi quyền tự do hành đạo cho các giáo hội ngoài quốc doanh ở trong nước. Theo bản tin của VOA ngày 27-2-2007, một lực lượng hùng hậu cảnh sát chống biểu tình của Campuchia đã được huy động để bảo vệ vị quốc khách của họ tại đây. Trong trường hợp cựu CTN Trần Đức Lương hay bất kỳ ai khác trong BCT của ta sang đất Chùa Tháp, thì cảnh sát Nam Vang vẫn phải làm cùng một công việc bảo vệ đó. Tức là, nguời ta chống toàn bộ lãnh đạo của ta, chứ không chỉ chống riêng cá nhân CTN Nguyễn Minh Triết hay bất kỳ một cá nhân nào trong ban lãnh đạo Hà Nội.

Ngày 21-5-2007, Tổng thống Đức Horst Köhler, nguyên thủ Âu châu đầu tiên viếng thăm Việt Nam sau “những ngày đen tối nhất của nhân quyền Việt Nam”, theo lời một tổ chức nhân quyền Đức. Trong diễn văn đọc tại bữa tiệc khoản đãi vào buổi tối hôm đó, Tổng thống Köhler, cũng là nguyên TGĐ Ngân Hàng Thế Giới, đã nói rõ quan điểm của ông đối với sự kiện những nhân vật bất đồng chính kiến bị bắt giam hàng loạt ở VN trong mấy tháng gần đây: “Tinh thần thượng tôn pháp luật, sự công bằng và sự minh bạch không phải chỉ cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Chúng sẽ tạo nền tảng cho một xã hội tân tiến, một xã hội mà những công dân của nó có thể tham gia vào việc xây dựng một cách cởi mở và với tinh thần phê phán. Tôi đã ý thức rất rõ khi dùng chữ phê phán, bởi vì sự đa dạng về quan điểm không chỉ là một điều vô cùng bình thường trong một xã hội tân tiến, mà nó còn góp phần cho việc xây dựng xã hội đó nữa“. Trong cuộc họp báo với các phóng viên quốc tế ở Hà Nội tiếp theo sau buổi gặp gỡ với CTN Nguyễn Minh Triết, ông Köhler đã tuyên bố: “Tôi đã thông báo cho ông Triết biết về sự lo ngại của Âu châu trước chiến dịch đàn áp những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam”. Lo ngại là từ ngữ ngoại giao được dùng thay cho chữ phản đối. Đáp lại lời khuyến cáo của Tổng thống Köhler, CTN Nguyễn Minh Triết vẫn cho rằng “Việt Nam cần giữ ổn định chính trị hơn, và chỉ bắt tù những người vi phạm pháp luật”. So ngược lại những vụ bắt bớ mấy tháng qua, ai cũng thấy, rõ ràng, chức năng đầu tiên của pháp luật VN ta là phải có sẵn một tội danh phạm pháp nào đó cho mỗi người dân. Điều này nhắc nhớ đến bức Thư Ngỏ Gửi BCH/TƯ/ĐCSVN trước đây của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang: “Chủ trương ổn định chính trị tức là muốn xây dựng một chính quyền vì chính quyền. Điều đó không nên làm và không thể làm được”. Còn theo Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do ngày 27-6-2007, thì “cái mà người ta gọi là sự ổn định có khi chỉ là sự tồn tại của một hệ thống lạc hậu”.

Cũng trong tháng 5-2007, ngay sau chuyến công du Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, nghe đâu CTN Nguyễn Minh Triết lại phải vất vả thân hành sang triều kiến Bắc Kinh. Ngày 31-5-2007, CTN ta còn phải tăng ca tiếp đón trọng thể ngài La Cán, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Trung Quốc, ngay tại Hà Nội. Nếu ông Carl Thayer coi đây là một thành tích đối ngoại, thì người VN hẳn phải coi lại thiện chí của vị học giả này.

Nửa tháng sau đó, CTN Nguyễn Minh Triết sang Mỹ, “dinh lũy cuối cùng của bọn đế quốc đang dẫy chết”. Ông đã chuẩn bị thế nào và đã được đón tiếp ra sao?

Binh Lửa Bay Rồng Đá – Còn Đây Vũng Trâu Đầm…
Giáo sư Phạm Hoàng An (bút danh Anh ngữ là J. Peter Pham), Giám đốc Viện Nghiên cứu Nelson về Quốc tế và Công chúng Sự vụ của Đại học James Madison (Mỹ), trên tuần san Anh ngữ Asian Times gần đây, đã khuyến cáo rằng: “Chính quyền Bush không nên bỏ qua những lợi điểm về địa chính trị và chiến lược Việt Nam đang đưa ra để có ‘bảo đảm an ninh’ chống lại bất cứ sự xâm lấn dần về phía Nam của Trung Quốc trên con đường xây dựng vị thế đại cường”. Trên tạp chí National Interest Online ngày 11-6-2007, Gs An còn nhấn mạnh rằng: “Việt Nam là chướng ngại lớn nhất của Trung Quốc trong việc bành trướng và kiểm soát khu vực này”. Điều đó cho thấy rằng những chuyến đi khấu tấu của lãnh đạo ta nhằm trấn an hay hứa hẹn với Bắc Kinh trước chuyến công du Hoa Kỳ của CTN Nguyễn Minh Triết có thể hiểu là một việc tất yếu, không có không được.

Nó chỉ không tất yếu đối với Mỹ, bởi vì, theo Giáo sư Brantly Womack, một chuyên gia về quan hệ Việt-Trung của Đại học Virginia (Mỹ), thì “lý do cơ bản khiến Hoa Kỳ phải lưu tâm nhiều hơn tới Việt Nam là những lý do có liên hệ với chính bản thân Việt Nam, chứ không phải vì mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc”. Từ đó, bên cạnh lý do chính yếu là các chiến dịch ruồng bắt các nhà dân chủ ở VN, có thể nỗ lực khấu tấu nói trên cũng là một trong những nguyên nhân khiến bộ phận truyền thông của Nhà Trắng đã thả bóng dư luận trên nhật báo Anh ngữ The Straits Times của Singapore, rằng Mỹ sẽ không đón tiếp CTN Nguyễn Minh Triết như quốc khách; và sau đó phóng thêm tin là chính phủ Mỹ có thể sẽ đình chỉ chuyến công du của ông Triết. Thi sĩ Bùi Giáng cũng từng thả đâu đó mấy câu lục bát nghe cứ vang như Sấm: “trái mít ra quả sớm chiều – đại ca chủ tịch còn nhiều bận tâm…”.

Trên thực tế, Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ đã có nhiều nỗ lực chuẩn bị và chính thức tổ chức nhiều lần các cuộc tiếp xúc trao đổi về đề tài Nhân Quyền & Dân Chủ của VN với đại diện các tổ chức Dân chủ hóa VN trước khi tiếp đón CTN Nguyễn Minh Triết:

Ngày 15-3-2007, Thượng nghị sĩ Jim Webb đã chia sẻ với Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm rằng trong bang-giao Việt-Mỹ, Hà Nội đừng nên nghĩ là chỉ có một bên là Bắc Bộ Phủ và bên kia là Nhà Trắng. Theo ông Webb, cuộc bang giao đó là một thế tay ba, và một góc của tam giác đó là gần 2 triệu người Việt thành công vượt bực mà giờ đây đang mang quốc tịch Mỹ.

Ngày 18-4-2007, trong bức thư gửi cho bà Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice, Dân biểu Frank Wolf đã viết: “Cuối cùng, tôi nghĩ là Cộng đồng người Mỹ gốc Việt… phải được tham dự vào trong mọi cuộc đối thoại với lãnh đạo của Hoa Kỳ trong tương lai…”.

Ngày 29-5-2007, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã tổ chức buổi gặp gỡ giữa Tổng thống George W. Bush cùng Phó tổng thống Dick Cheney với các ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân; ông Đỗ Thành Công, đại diện Đảng Dân Chủ Nhân Dân; Ông Lê Minh Nguyên, đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền; và Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, đại diện của Tổ chức Quốc tế Yểm trợ Cao Trào Nhân Bản. Hai người khác được mời nhưng không có điều kiện đến dự là Kỹ sư Đỗ Nam Hải và Giáo sư Nguyễn Chính Kết, đại diện của Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền ở VN. Theo phóng viên Tâm Việt thì về mục tiêu, “đây là một cuộc gặp gỡ mà ông Bush nhắm được trao đổi thực sự với một số tổ chức hay lực lượng chính trị hiện đang hoạt động ở trong nước chứ không phải chỉ là với cộng đồng các nơi, hay những tiếng nói cá lẻ trong phong trào dân chủ đang phát triển mạnh ở VN”. Còn theo nội dung trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do, ông Đỗ Hoàng Điềm cho biết: “Tổng thống Bush ngỏ ý muốn tìm hiểu về tình trạng tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam… Sau đó ông Bush có nói rất rõ ông muốn lắng nghe ý kiến của các đại diện những tổ chức dân chủ là những biện pháp nào cần sự giúp đỡ và Hoa Kỳ có thể làm được gì để hỗ trợ cho tiến trình dân chủ ở Việt Nam”. Bên cạnh nội dung dân chủ và nhân quyền mà Tổng thống Bush quan tâm, nhiều nguồn dư luận đánh giá rằng cuộc hội đàm tại phòng bầu dục của Nhà Trắng này còn là một lá thư không niêm gửi đến ban lãnh đạo Hà Nội về loạt bài báo gần đây vu cáo cho Việt Tân là một tổ chức phản động khủng bố.

Ngày 05-6-2007, tại Hội nghị Praha về dân chủ toàn cầu, tổ chức tại Tiệp Khắc, Ông Bush nói: “Trong con mắt của Hoa Kỳ, những nhà đối kháng dân chủ hôm nay sẽ là những lãnh đạo dân chủ của ngày mai. Vì vậy chúng tôi đang tiến hành nhiều bước mới để củng cố sự hỗ trợ của chúng tôi”.

Ngày 12-6-2007, nhân dịp khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản tại thủ đô Hoa Kỳ, ông Bush đã lên án tội ác Cộng sản một cách nặng nề.

Ngày 14-06-2007, Phó tổng thống Hoa Kỳ Dick Cheney đã có buổi hội đàm với Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, đại diện Phong Trào Dân Chủ Việt Nam.

Trong hai ngày 19 và 20-6-2007, các dân biểu Mỹ gốc Việt Trần Thái Văn, Hubert Võ đã tập họp một phái đoàn 15 người đến gặp các nghị sĩ, dân biểu lưỡng đảng Hoa Kỳ và các giới chức cao cấp của Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao và Cơ quan Mậu dịch Hoa Kỳ.

Ngày 20-6-2007, một ngày trước khi gặp CTN Nguyễn Minh Triết, bà Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi đã gặp gỡ Pháp sư Thích Giác Đức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích , Ủy ban Điều hợp Liên minh Dân chủ Nhân quyền Việt Nam; và ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân; với sự tham dự của nữ dân biểu đảng Dân Chủ Loretta Sanchez. Theo ông Điềm, nội dung trao đổi với bà Pelosi chỉ giản đơn là những đòi hỏi về sự thăng tiến và ngang bằng giữa Quyền Làm Ăn với Quyền Làm Người cho nhân dân Việt Nam.

Về phía VN, Chính phủ và Nhà Nước ta cũng đã lần lượt thực thi các yêu cầu tiên quyết của Mỹ là:”Với đợt bàn giao chiều 8/3 tại Đà Nẵng, đến nay phía Mỹ ̃đã đưa về nước 859 bộ hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh VN”. Quan trọng và gần gụi hơn với thời sự nhân quyền, là trả tự do tức khắc cho nhà báo Nguyễn Vũ Bình và Luật sư Lê Quốc Quân, trước khi CTN Nguyễn Minh Triết lên chiếc chuyên cơ bay sang Mỹ.

Bâng Khuâng Xa Mã – Nửa Chiều Quân Vương
Dù vậy, Mỹ vẫn lạnh lùng, không chiêu đãi CTN Nguyễn Minh Triết đúng theo nghi thức đón tiếp quốc khách ở hàng nguyên thủ quốc gia. Không có 21 tiếng súng chào mừng hay duyệt hàng quân danh dự (ngại khơi nhớ những ngày binh lửa?). Không được trải thảm đỏ đón tiếp (e rằng trùng màu quốc kỳ của khách?). Không có thông cáo chung sau buổi hội kiến với tổng thống Mỹ (có thể vì còn khác biệt quan điểm Đông-Tây về ý niệm nhân quyền chăng?). Không được đọc diễn văn trước lưỡng viện quốc hội (vì ngài Chủ tịch nước VN đã gặp bà Chủ tịch Hạ viện Mỹ?). Không có quốc yến cho buổi tối mà chỉ được đãi món cá vược (dễ nuốt hơn cá basa?). Cũng không được nghỉ đêm ở phòng dành riêng cho quốc khách trong Nhà Trắng như ông Tony Blair chỉ mấy tuần trước đó. Nói chung là tất cả đều có những lý do riêng của nó chứ không hẳn chỉ giản đơn gộp chung là …không xứng đáng!

Chưa hết, CTN của ta còn phải vất vả thay đổi lịch trình và lộ trình liên tục để đánh lạc hướng các đoàn người biểu tình bủa vây phản đối; đến mức phải hủy bỏ dự định tham dự ủng hộ tinh thần phiên tòa kháng án vụ thuốc khai quang màu da cam; sau đó lại phải hủy bỏ luôn cuộc họp báo đã dự trù. CTN của ta đã chẳng màng chuyện đi xe không trương quốc kỳ đúng theo nghi thức ngoại giao; cũng không quản ngại đi tắt cửa hậu vào những nơi cần vào.

Từ New York, phóng viên Nguyễn Hùng của đài BBC đã tường thuật rằng: “Để đi vào khách sạn ở New York, ông Nguyễn Minh Triết phải đi nhanh vào một con đường nhỏ được phủ kín bởi những lớp vải, giống như ông Triết đương chui vào ống cống để vào khách sạn. Tôi chỉ chụp được một tấm hình với cái lưng của ông Nguyễn Minh Triết”.

Đã vậy, hệ thống Homeland Security hậu khủng bố 11-9 dày đặc của Mỹ còn để cho lọt lưới hai “tên phản động”, một Mỹ chính gốc và một Mỹ gốc Việt, lớn tiếng cắt ngang bài thuyết trình cổ võ đầu tư của CTN Nguyễn Minh Triết.

Những sự cố hết sức đáng tiếc này khiến cho những ai từng nghĩ rằng CTN Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là “những con gà công nghiệp của Mỹ” đã phải suy nghĩ lại. Hoặc, trong chuyến Mỹ du vào tháng 9 năm nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nỗ lực chứng tỏ điều đó một cách tích cực hơn để gỡ thể diện trong BCT. Ít ra là cũng phải đề bạt ngay chức Phó thủ tướng cho đương kim Bộ trưởng GDĐT Nguyễn Thiện Nhân, một người từng tốt nghiệp đại học danh gia thế phiệt Havard của Mỹ và nói tiếng Mỹ không cần ngập ngừng đợi thông dịch từng câu như ngài CTN, cho dù ông Nhân chỉ mới làm bộ trưởng được hai năm nay.

Sóng Nhịp Lẻ – Đò Sang Lệch Chuyến…
Bên cạnh những vất vả liên tục đó còn là những cuộc họp báo của lãnh đạo giới lập pháp Hoa Kỳ, và những chất vấn đặt thẳng ra với CTN Nguyễn Minh Triết:
Ngày 21-6-2007, dân biểu lưỡng đảng Hoa Kỳ họp báo tại phòng Báo Chí của Hạ viện, cảnh cáo về tình trạng vi phạm nhân quyền leo thang tại VN. Dân biểu Zoe Lofgren cho biết đã đệ nạp nghị quyết HR506 yêu cầu thu hồi quy chế Ngoại thương Bình thường & Vĩnh viễn (PNTR), và đưa Việt Nam trở vào danh sách Các quốc gia cần đặc biệt quan tâm (CPC).

Dân biểu Dana Rohrabaker cho rằng Hoa Kỳ đã lầm lỗi khi bỏ phiếu thuận cho CSVN gia nhập WTO, và nhấn mạnh rằng “Tôi không ngờ Tổng thống Bush lại nói chuyện với chính quyền băng đảng Việt Nam”. Dân biểu Chris Smith lên án nặng nề sự cố nhà nước CSVN đã tung ra một cuộc đàn áp đồng loạt có hệ thống đối với những người ủng hộ dân chủ ở VN.

Dân biểu Ed Royce, một bạn thân của Ts Nguyễn Thanh Giang, đã phóng thật lớn tấm hình lịch sử của Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trong phiên tòa ngày 30-3-2007 ở Huế, đặt trước ống kính truyền hình quốc tế trong buổi họp báo http://www.youtube.com/watch?v=Dzk1WmmHoBI. Ông cho biết những tấm hình này sẽ được gửi đến Tổng thống Bush và các bạn đồng viện, để toàn thể các cơ quan lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ biết rõ sự thật về tình trạng tự do dân chủ bị bóp nghẹt tại Việt Nam.

Cũng trong ngày 21-6-2007, theo hồ sơ lưu của quốc hội Hoa Kỳ, trong một buổi họp thân mật tại Capitol Hill, CTN Nguyễn Minh Triết đã được Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi cùng một số các nhà lập pháp cao cấp Hoa Kỳ tận tình chiếu cố, truy vấn đến tận cùng suốt bốn tiếng đồng hồ về vấn đề nhân quyền bị vi phạm trầm trọng ở VN, tới mức điều này trở thành mục tiêu chính của buổi họp, khiến CTN của ta phải liên tục tránh né và không thể đề cập được chút gì về lãnh vực thương mại. Trong cuộc phỏng vấn sau buổi họp này, chính dân biểu Ed Royce đã xác nhận với báo giới thái độ tránh né của CTN Nguyễn Minh Triết.

Mẩu Càn Khôn Lăn Lóc – Gào Thét Sóng-Hoa-Văn
Thái độ “hữu nghị” vừa lạnh vừa nhạt và chủ tâm xỉ vả liên tu bất tận như bom trải thảm của Mỹ đối với một Chủ tịch nước như vậy quả thực là có phần khiếm nhã. Xin được chia sẻ sự cảm thông ở đây với CTN Nguyễn Minh Triết, đồng thời, cũng thấy cần phải vinh danh sức chịu đựng bền bỉ của ngài Chủ tịch. Tuy nhiên, nếu công tâm nhìn lại lần lượt quá trình hoạt động phi nhân phi pháp của Đảng và Nhà nước ta từ Hội Nghị APEC 14 tới nay, người ta có thể hiểu được ý nghĩa của câu ngạn ngữ “Nhân Nào – Quả Đó”, dù rằng không một ai dám chắc nhà nước Mỹ sẽ long trọng trao tặng nhà nước VN bốn chữ vàng đại tự theo truyền thống Bắc Kinh.

Đây là một kinh nghiệm lớn mà ngài CTN đã gặt hái được, bởi qua đó, cả người khiếm thị cũng phải thấy ra giá trị của hai chữ “chủ quyền” không chỉ giới hạn trên mặt địa dư lãnh thổ, mà còn cả trên mặt sỉ diện nữa. Có người cho rằng đây là cái nhục quốc thể. Có người lại công khai bất đồng chính kiến trên đài Chân Trời Mới: ngài Chủ tịch không do dân bầu, tức không phải đại diện của quốc gia, thì không thể gọi đó là mối nhục quốc thể, nếu có thì đó chỉ đơn thuần là những hành động làm nhục đảng thể của ngài.

Gì thì gì, khi mà lãnh đạo ta chưa tự mình gột bỏ được tâm thức nô lệ và tập quán cầu cạnh, thì khó mà trách kẻ khác chỉ coi mình đáng hạng tay sai, cho dù phần thưởng có thể là những củ cà rốt dài gần bằng cây gậy. Mới hay, từ Chống Mỹ Cứu Nưóc tới Lạy Mỹ Cứu Đảng là một khoảng cách tương đương với bề dày sợi chỉ đỏ xuyên suốt XHCN.

Điều đáng phiền không ngừng ở đó. Ngay cả phản ứng của ngài CTN và phái đoàn của ta, trước khi, trong khi, thậm chí cả sau khi đem chuông đi đánh xứ người, cũng có lắm điều, nói theo cách của Ts Nguyễn Thanh Giang, là quả thực rất đáng phàn nàn.

Tổ Quốc Tôi – Nhức Nhối Yếm Son…
Ghi nhận đầu tiên về sự đáng phàn nàn có lẽ phải là lời giới thiệu đất nước không mấy khéo của CTN Nguyễn Minh Triết nhằm thu hút doanh nhân và du khách nước ngoài đổ tiền vào VN, với chủ điểm chính yếu và chính thức là hãy đến để thưởng thức những cô gái VN duyên dáng thướt tha.

BBC: “Để đi vào khách sạn ở New York, ông Triết phải đi nhanh vào một con đườngnhỏ được phủ kín bởi những lớp vải, giống như ông Triết đương chui vào ống cống để vào khách sạn”
Chĩnh Nước Gốc Cau – Ôm Khoanh Trời Cũ…
Phóng viên Tuấn Nguyễn của VietnamNet đã đưa tin về hoạt động tiếp cận một số Việt kiều ở New York ngày 18-6-2007 với bài viết có tựa đề “>
Cũng trong bài này, khi nhận định về độc đảng-đa đảng, ông Triết đã tự gợi ý và trình bày bằng một lý luận rất bình dân: “Hôm rồi, nhà báo Mỹ Paul hỏi tôi một câu hỏi khó rằng Việt Nam hiện nay chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, trong tương lai, chúng ta có thực hiện đa đảng không? Tôi nói như ông thấy, bên Mỹ có hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa. Bên Pháp rất nhiều Đảng. Vừa rồi qua Thụy Sỹ thấy nước này cũng nhiều Đảng lắm. Nhưng tôi không bao giờ thấy Tổng thống Pháp nói Tổng thống Mỹ: Ông Mỹ ơi, ông nên có nhiều Đảng hơn, chứ không phải chỉ hai Đảng”.

Nếu đây không phải là bài bản mà BCT buộc CTN Nguyễn Minh Triết học thuộc lòng trước khi đi, thì qua lý luận đó, ông Triết đã biểu hiện sự nhầm lẫn hoặc thiếu kiến thức phân biệt cấu trúc số với cấu trúc cơ chế quốc gia của riêng ông, khi so sánh hệ thống lưỡng đảng và đa đảng phái tại nhiều nước và sau đó đề cập tới cả địa vị nữ hoàng tại Anh Quốc để biện minh cho lý do cấm đoán hoạt động của mọi đảng phái khác tại Việt Nam.

Nhiều phần, chẳng ai nỡ nghĩ rằng CTN của ta chỉ biết cộng trừ nhân chia các con số là hết mức. Người ta chỉ dám đoan chắc rằng ông Triết chưa hẳn đã có được những kiến thức căn bản về sự phối hợp các thành tố không thể thiếu của một nền dân chủ đích thực, bao gồm: Ý thức dân chủ của người dân, Môi trường dân chủ của xã hội và sau hết mới là Cơ chế dân chủ của quốc gia, trong đó có sự hiện diện của đa đảng và tam quyền phân lập để cân bằng và kiểm soát toàn bộ cơ chế.

Còn ở đoạn giải thích cho lý luận vừa kể áp dụng vào chế độ độc đảng ở VN, ngài CTN Nguyễn Minh Triết đúc kết rằng: “Rõ ràng, do điều kiện lịch sử, đặc điểm của từng nước mà dân ở đó họ chấp nhận”. Đúng! Chỉ khác ở chỗ là tất cả các dân tộc ngoài VN đều chấp nhận thể chế chính trị của nước họ thông qua Trưng cầu Dân ý hoặc bầu cử bằng lá phiếu thật của mỗi cử tri. Cũng đúng luôn, như lời giải thích thêm của ngài CTN: “Mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử khác nhau. Từ đặc điểm của mình, mình chọn mô hình nào cho thích hợp”. Quan trọng là ở chỗ ai chọn: Dân tự chọn hay đảng chọn dùm? Ngắn gọn: Dân chủ hay không là ở đó. Không thể dùng cụm từ “điều kiện lịch sử” mập mờ để phô ý ẩn dụ về một loại sứ mạng tự phong và phi dân tộc nào đó. Còn chữ “mình” được dùng hai lần trong mệnh đề thiếu trong sáng này có tác dụng nhân đôi tính nhập nhằng cao cấp pha lẫn tính đểu cáng hạ cấp!

Dường như Kỹ sư Đỗ Nam Hải đã từng trình bày rất rõ về điểm này trong rất nhiều bài viết. Lãnh đạo ta ngại đọc, không muốn đọc, đọc không hiểu, hay hiểu rất rõ mà vẫn duy ý chí và coi thường dân trí bằng những đúc kết tương tự vừa kể, chỉ để gia hạn cái chỗ ngồi?

Xa Là Trời Sao – Gần Là Đom Đóm…
Ở New York, CTN Nguyễn Minh Triết, trong cơn xúc động, đã bảo rằng: “Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, là máu của máu Việt Nam”… Rồi lặp lại, “Cộng Đồng người Việt ở nước ngoài là khúc ruột ly hương ngàn dặm”…. Hóa ra, ngài CTN dù nói tiếng Mỹ không trôi, nhưng có lẽ cũng ít nhiều biết đọc tiếng Pháp. Ông Bảy Trấn, trên một trang báo Người Sài Gòn trước đây đã dẫn chứng câu “là máu của máu” từ một danh nhân Pháp, để nói tới những người cóp lại, trong đó có cả Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoặc giả, ngài Chủ tịch đương nhiệm không rành cả tiếng Mỹ lẫn tiếng Pháp, và cứ ngỡ rằng đó là danh ngôn của Bác chăng? Chuyện nhỏ! Dùng một câu nói cho kêu của người khác, đúng là chuyện nhỏ. Chỉ có làm ra vẻ như điều cóp nhặt đó là do chính mình chế ra mới là đáng xấu hổ, nếu còn khả năng xấu hổ.

Cũng không có gì đáng nói về sự khác biệt trên cái nhìn thống nhất của lãnh đạo ta về bọn lưu manh đĩ điếm lưu vong trước đây với một “Cộng Đồng Người Việt” (viết hoa) cùng huyết thống đang ly hương ngàn dặm ngày nay. Quy luật thôi. Nhất là trong thời buổi “đèn cờ mạt vận chờ sọt rác” hôm nay mà có được một số ngoại tệ từ nước ngoài gửi về hàng năm cao gấp năm lần giá trị dầu thô bơm từ lòng biển, cao hơn cả tổng lượng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ và Âu châu gộp lại hồi năm ngoái, thì sá gì một cụm từ thân mật để biểu diễn sự xúc động cần thiết! Sự xúc động đó đã dâng lên cao điểm khi ngài CTN biểu hiện sự lo lắng “băn khoăn khi tiếng Việt của bà con đang mai một” trong “Cộng Đồng Người Việt” ở nước ngoài, nên đã chỉ thị cho Đại sứ quán của ta ở Mỹ phải sớm xúc tiến “các hoạt động học tiếng Việt” cho bà con ta bên đó.

Có đáng nói chăng là thái độ trốn chạy, đi ngược lại nỗi xúc động vừa kể, trên đường kiều vận của ngài CTN Nguyễn Minh Triết và cả phái đoàn có sứ mạng lớn lao là những sứ thần của VN ta. Trốn chạy từ New York qua tới California. Thật khó hiểu biết bao, là với thanh thế như vậy mà sao rốt cục phái đoàn chỉ có thể bịa chuyện tiếp xúc với một vài người rồi thổi phồng lên thành tập thể? Nhìn vào con số vài ba Việt kiều trong đám thực khách 100 người ở Asia Society với phần lớn là doanh nhân Á Đông, trong lúc có hàng ngàn người Việt tập họp ở bên kia đường, mà ngài Chủ tịch không dám bước qua bắt tay hay chào hỏi, thì người đọc biết ngay, làm sao phỉnh họ được? Đáng tiếc là điều này cứ tiếp diễn, lặp lại ở khắp nơi mà ngài CTN đi qua. Kể cả Washington DC là mặt trận đối ngoại trọng yếu. Kể cả Quận Cam là mặt trận kiều vận chính yếu. Mà sao phái đoàn chỉ cốt lo sao cho có những bài báo đánh lừa độc giả trong nước, như thể là, sau thủ đô nước Mỹ, phái đoàn đã có điều kiện đặt chân đến thủ đô tỵ nạn của bể “máu của máu Việt Nam” ở Mỹ, vậy thôi?

Mà cũng không cứ gì người Việt ở ngoài phái đoàn bị quên lãng. Ngay trong đoạn mở đầu bài diễn văn mồi chài ở New York, ngài CTN đã chào hỏi tuy niềm nở nhưng không thiếu phần cung kính đối với ngài Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Marine, trong khi quên phứt ngài Đại sứ Việt Nam tại Washington Nguyễn Tâm Chiến đang ngồi cùng bàn. Cho dẫu ông Nguyễn Tâm Chiến có từng nổi danh là “Lãnh Sự Sờ Mông” ở Hồng Kông trước đây đi nữa, thì dù gì cũng thể, cũng là một lãnh đạo của Nhà Nước ta ở giữa quần chúng, lại nằm ngay trong sân chơi nhà người, không thể không nhắc đến như vậy được!

Và có đáng phiền nữa chăng là đài Truyền Hình VN đã phát hình cùng nguyên văn lời khẳng định chắc nịch của ngài CTN Nguyễn Minh Triết trong bối cảnh một buổi họp nhỏ, thân mật và giới hạn ở New York, rằng: “Những đối tượng trong nước nhận tiền những cá nhân, tổ chức nước ngoài là vi phạm pháp luật”. Có nghĩa là, trong số ngoại tệ nhiều tỷ USD của kiều bào gửi về nước hàng năm, những tờ giấy trăm rơi vào tay những nhân vật từng viết kiến nghị gửi lãnh đạo đảng, thì tức khắc đều biến thành “bằng chứng” để lãnh đạo ta kết án và bỏ tù họ. Lãnh đạo chứ không phải luật pháp.

Như vậy, để giúp đỡ một cách thiết thực cho mọi đối tượng trong nước không bị vi phạm pháp luật vì đã nhận tiền những cá nhân hay tổ chức nước ngoài, có nên chăng, “Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, là máu của máu Việt Nam”, bao gồm cả những cá nhân và tổ chức, hãy Lập Tức Ngưng Ngay việc gửi tiền gây họa cho mọi đối tượng nhận tiền ở trong nước?

Có vậy, bà con sẽ không bao giờ nghe những lời than phiền từ nhiều triệu “nạn nhân nhận tiền” đang ở trong nước, một khi mà bà con thực thi lời kêu gọi của CTN Nguyễn Minh Triết nhằm triển khai nghị định 36: “Bà con hướng về Tổ quốc với niềm tin vì Đảng này vì nhân dân, từ nhân dân mà ra, và nếu có vấn đề gì thì góp ý thẳng thắn, thật tình; mong bà con thường xuyên về lại với quê hương, Tổ quốc”. (Xin bà con thứ lỗi cho cách sắp xếp chữ VN không mấy “sõi” trong lời kêu gọi này của CTN, đăng trên VietnamNet ngày 19-6-2007).

Nghị định 36Bis triển khai này còn được cập nhật tại chỗ bởi ba phần thưởng lớn đính kèm (như những món quà thân tình của CTN): Một là “Kể từ 1/9/2007, bà con kiều bào khi về nước sẽ được miễn thị thực” (người sao chép xin phép thêm vào chữ “visa” cho đủ nghĩa). Hai là “Về vấn đề nghĩa trang của binh lính chế độ Sài Gòn cũ ở Bình Dương, Chủ tịch cho biết, gần đây, Nhà nước đã chuyển khu nghĩa trang này cho dân sự quản lý. Vì thế, bất cứ bà con nào có thân nhân ở đó đều có thể về thăm, tu sửa” (CTN đã quen nói năng mộc mạc chân thành như vậy, bà con nghe rõ và hiểu cả chứ?). Và ba là “Nhà nước cũng đang có kế hoạch tạo điều kiện để bà con muốn về mua nhà cửa sẽ thuận lợi hơn”. Nói chung, như CTN khẳng định: “Sẽ cố gắng làm để bà con có điều kiện về quê hương đất nước, xây dựng quê hương”. Nhưng, xin bà con rán nhớ là đừng làm phiền (cho tiền và gây họa) cho bất kỳ ai ở trong nước!

Mặt Đất Tròng Trành – Ma Hoa Nhảy Múa…
Câu nói “Việt Nam là một đất nước, chứ không phải là một cuộc chiến tranh”, trong nhiều năm, được coi như biểu tượng cho quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ. Tác giả câu nói đó là cựu Đại sứ VN ở Bangkok và cũng là cố Thứ trưởng Ngoại giao VN Lê Mai, trưởng nhóm đàm phán bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ trong những năm đầu thập kỷ 90. Chỉ tiếc là ý nghĩa của nó đã mất gần 20 năm để trôi tới Washington DC.

Thêm gần 20 năm sau nữa, 2007, ngài CTN Nguyễn Minh Triết để lại Washington DC một ấn tượng mạnh mẽ khác, mà nếu chuyển sang Việt ngữ, đại khái nó sẽ là: Hà Nội vừa là một địa danh tươi đẹp, lại vừa là biểu hiện đặc tính tráo trở của bộ phận lãnh đạo tối cao một nhà nước. Vì sao vậy?

Trước hết là sự tráo trở đối với dư luận Mỹ. Kết quả APEC 14 là những hứa hẹn tươi đẹp. Tương tự với những bước cuối của VN vào WTO. Tuy nhiên, bốn tháng qua ở VN là một giai đoạn sấm sét đối với những nhân vật chủ trương đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa VN một cách ôn hòa. Các cơ quan nhân quyền quốc tế đánh giá rằng đó là 4 tháng tồi tệ nhất của nhân quyền VN trong 20 năm qua. Trước khi CTN Nguyễn Minh Triết đi Mỹ.

Ed Royce và tấm hình Bịt miệng tại buổi họp báo

Sau những buổi họp tràn đầy những hứa hẹn với Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Peloci rồi với Tổng thống Mỹ George W.Bush, ngài CTN Nguyễn Minh Triết nhận lời phỏng vấn của hãng thông tấn Associated Press (AP). Ký giả Foster Klug đã đặt tựa cho bài viết ngày 22-6-2007 này là: “Lãnh đạo VN tuyên bố: Không cần phải cải thiện tình trạng nhân quyền”. Qua đó, nhiều triệu độc giả Mỹ được biết rõ hơn về lãnh đạo Hà Nội khi CTN Nguyễn Minh Triết lặp lại lần nữa: “Vấn đề không phải là cải thiện (nhân quyền ở VN) hay không. VN có một khung sườn luật pháp riêng, và bất cứ ai vi phạm đều bị trừng phạt”. Nhờ đó mà người Mỹ, kể cả chính giới lẫn báo giới, đều phải tìm hiểu và có khi đã rõ là VN có nhiều hơn một khung sườn luật pháp. Điều mà ngài CTN nhắc tới đó một khung sườn luật pháp dành riêng cho dân đen và những nhân vật đấu tranh cho dân chủ. Đảng ta còn có một khung sườn luật pháp riêng khác nữa, dành cho cán bộ từ cấp thấp nhất cho tới cấp thứ trưởng, có tên là Xử Lý Hành Chánh. Khung sườn sau cùng dành riêng cho cấp thứ trưởng trở lên được gọi là Tabu, có nghĩa là không được nói tới, đụng tới.
Dân biểu Ed Royce tuyên bố rằng: “Nhân quyền rõ ràng là vấn đề nổi cộm nhất. Chúng ta phải nhìn thấy một sự chấm dứt về lối hành xử này nếu muốn quan hệ (giữa hai nước) được phát triển”.

Ông Sherman Katz, một nhân vật cao cấp về quan hệ thương mãi quốc tế của Cơ quan Hỗ trợ Hòa bình Thế giới Carnegie nói rằng Việt Nam “phải biết rằng một phần của cái giá để làm ăn với Hoa Kỳ, nếu mong muốn được chính phủ Hoa Kỳ giúp đỡ, là hãy làm cho sạch sẽ những vấn đề nhân quyền này”.

Nẻo Ao Vườn – Bao Rãnh Bẩn Thèm Trôi…
Sau đó là sự tráo trở đối với nhân dân Việt Nam. Báo chí ở đây đưa tin: “Trong phụ trương đặc biệt của nhật báo kinh tế uy tín hàng đầu nước Mỹ (Wall Street Journal) với lượng phát hành 2,2 triệu bản, Việt Nam được giới thiệu là ngôi sao mới đang lên của châu Á với những thành tựu mới về kinh tế, sự thay đổi vị thế trên trường quốc tế, thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài”. Bạn đọc ở đây không phải ai cũng có thể truy cập internet nên rất dễ tin rằng đó là bài báo chính quy của tờ Wall Street Journal.

Trên thực tế, đó là bài cậy đăng rất mắc tiền (có người rành chuyện cho biết có thể lên tới 2 tỷ đồng VN cho 3 trang cậy đăng, một ngày), nói nôm na là quảng cáo, từ trang B13 đến B16 của số báo ra ngày 20-6-2007, có ghi hàng tít trên cùng là “Special Advertising Section” để phân biệt với bài chủ lực. Nguyên trang B16 là quảng cáo của ngân hàng nông nghiệp Agribank. Ba trang kia có chêm thêm 2 mẩu quảng cáo của hãng bia Hadita và công ty du lịch Jetabout Asia Vacation. Phần còn lại là những bài tuyên truyền tự viết sẵn của người cậy đăng, bao gồm luôn cả 2 bản tin của báo Thanh Niên.

Người cậy đăng ở đây là phái đoàn công du của ta. Tuy nhiên, người trả tiền cậy đăng là công ty tài chánh đối tác Agribank. Những mánh khóe lừa phỉnh tương tự có thể được áp dụng trên cả một số báo nổi tiếng khác ở Mỹ, kể cả tờ Washington Post hay tờ New York Times. Họ sẵn sàng đăng bất cứ bài viết gì của bất cứ ai dưới danh mục “Quảng Cáo Đặc Biệt”, miễn là người cậy đăng trả tiền tươi. Điều xấu hổ tầng một ở đây là nhà nước ta chủ trương đánh lừa nhân dân trong nước bằng một thứ vốn liếng văn hóa ma mãnh. Điều xấu hổ tầng hai ở đây là báo chí trong nước lại rạp người chuyên chở cái chủ trương lừa phỉnh đó đến độc giả của mình.

Ghếch Bóng Chĩnh Tương – Con Vằn Say Bả
Một phỉnh lừa khác dành cho nhân dân ở đây, chính là màn tấu hài có sự xuất hiện của nhân vật Nguyễn Cao Kỳ ở Quận Cam. Báo chí bên đó, từ rất lâu, đã có rất nhiều bài viết về vị chính khách mạt vận trở cờ này. Chẳng ai còn coi ông ta là người Việt, nói gì là một cựu lãnh đạo. Trên thực tế hơn ba thập kỷ qua, ông Kỳ không lãnh đạo được ai, cũng chẳng còn một đàn em tùy tùng nào, đừng nói là bạn. Ông không nghĩ ra được điều gì cho có hồn, mà cứ hễ mở miệng là mọi người phải bịt mũi. Ông ấy đã chết từ 1975. Người miền Nam có thể bực ông Thiệu, nhưng người ta chỉ khinh ông Kỳ. Nếu ông ấy chết thật từ năm 1975 có lẽ còn hay hơn. Do vậy, những phát biểu của ông Kỳ chẳng có giá trị gì ngoài đó, chỉ khiến người nghe phải rửa tai.

Nhiều người trong nước, dù khác chiến tuyến với ông Kỳ trước đây, cũng cảm thấy sỉ nhục khi có một hàng binh lơ láo như ông Kỳ về đầu quân. Những người còn chút liêm sỉ đều như vậy, bất luận là quốc gia hay cộng sản. Ngoại trừ lãnh đạo ta. Chó chết chẳng để da. Cái sai của lãnh đạo ta nằm ở chỗ tưởng rằng vẫn còn xài được chút gì từ một kẻ vô liêm sỉ. Xài ông ấy trong cảnh chót của vở hài ở Quận Cam là không đáng cái vé máy bay, có khi lại gây phản cảm: Chỉ có kẻ thậm ngu mới xài thằng phản, huống gì đó là một thằng phản cực tồi.

Những lời vô sỉ của ông Kỳ có lẽ đã làm nhiều người mất khẩu vị trong bữa ăn rất đắt tiền vé vào cửa ở St Regis Resort hôm đó. Bởi đã có người vừa nghe lời phát biểu của ông Kỳ xong là ứng khẩu đọc ngay một câu thơ của cố thi sĩ Vũ Cận: “Đừng bao giờ trung tiện cao quá hậu môn”, kỳ lắm.

Rất tiếc là đã có người chụp ảnh và có người chú thích cái bắt tay giữa một kẻ chuyên đi chui bằng cửa hậu với một đứa chuyên phóng uế bằng cửa trước.

Com Đom Đóm Soi Đèn – Tìm Dấu Hoa Văn…
TIFA là chữ viết tắt của Trade and Investment Framework Agreement, có nghĩa là Hiệp ước chung cho hoạt động Đầu tư và Giao thương. Những hoạt động này bao gồm luôn cả quy trình hợp tác, kiểm soát và tranh tụng giữa các nước giao thương trong khuôn khổ hiệp ước. Mỹ đã ký chung với khối ASEAN một hiệp định khung TIFA vào tháng 9-2006, rồi ký song phương với từng hội viên trong Hiệp Hội ASEAN, ngoại trừ Việt, Miến, Lào.

Lý ra VN đã có thể ký song phương với Mỹ hiệp định khung này từ giữa tháng 3 vừa qua, lúc Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm sang Washington DC để làm việc với Văn phòng Thương mại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, BCT ta đã để dành việc ký kết này tới tháng 6, hầu giúp việc tuyên truyền về chuyến công du của CTN Nguyễn Minh Triết cho …thêm phần long trọng.

Theo phân tích của Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, thì trên thực tế, Khung hiệp ước TIFA này không quan trọng như lãnh đạo ta đã nghĩ hay đã cố làm cho việc ký kết nó trở thành một kết quả quan trọng. Nó chỉ là viên gạch lót đường cho 3 hiệp ước kế tiếp mới thực sự quan trọng. Đó là 1) BIA, hiệp ước đầu tư song phương; 2) PTA, hiệp ước ưu đãi giao thương; và 3) FTA, hiệp ước giao thương tự do.

Đan xen với 3 hiệp ước song phương này là một quy chế nhiều lần tốt hơn cả Tối Huệ Quốc hay các ưu điểm của WTO. Đó là Quy chế Ưu đãi Thuế quan, General System of Preferences viết tắt là GSP. Theo đó, một số quốc gia nghèo được Mỹ ưu đãi miễn thuế cho một số mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ trong một thời gian hạn định nào đó. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để nhận là các quốc gia nghèo đó phải không là cộng sản hoặc không chứa quân khủng bố, đồng thời, phải chấp nhận các sinh hoạt tự do lập hội tự quản và công đoàn độc lập; phải cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lao động và bảo vệ môi sinh.

Có thể CTN Nguyễn Minh Triết đã được nghe qua về quy chế ưu đãi GSP trong chuyến công du này. Hy vọng VN sẽ điều chỉnh tốt và chuẩn bị kịp để đăng ký vào tháng 6 năm tới.

Dư Âm Lịch Sử – Rì Rầm Chân Tháp Đổ…
Trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA hôm thứ Ba 19-6-2007, khi được hỏi vì sao con số các hợp đồng giữa VN với Mỹ lại bị bớt đi, ông Murray Hiebert, Trưởng Ban Đông Nam Á của Phòng Thương mại Hoa Kỳ cho biết: “Có nhiều cơ hội tại Việt Nam, nhưng nhiều công ty Mỹ muốn đầu tư vào Việt Nam thấy rằng tệ nạn quan liêu được khắc phục hơi chậm. Các công ty cũng nói rằng họ muốn thấy Việt Nam minh bạch hơn, cải tiến chế độ pháp quyền, bảo vệ mạnh mẽ quyền tài sản trí tuệ, và đối phó với những tệ nạn như tham nhũng. Tất cả những thứ đó làm tăng thêm chi phí cho các công ty của Mỹ muốn đầu tư vào Việt Nam, và đó cũng là những điều mà các công ty Mỹ muốn có dịp nói với ông Triết khi ông đến đây. Họ không chỉ muốn nói những điều tốt mà Việt Nam đang làm, mà còn muốn nhân dịp này nói cho ông biết những khó khăn của họ, những điều mà họ thấy không dễ dàng như họ đã tưởng”. Nghĩa là …vẫn để vặn.

Cùng ngày, theo hãng thông tấn AFP, Công ty Daihatsu Motor, một chi nhánh của tập đoàn sản xuất xe hơi Nhật Bản Toyota Motor, cho biết sẽ rút lui khỏi hoạt động sản xuất xe hơi ở Việt Nam, vì bị đánh thuế quá cao, đặc biệt là đối với các phụ tùng xe hơi nhập cảng. Cty Daihatsu đã lựa chọn một thời điểm rất “phản động” đói với nhà nước ta.

Dù sao, những thành quả kinh tế qua những ký kết trên giấy mới đây tại Mỹ cũng rất đáng khích lệ. Sinh dễ-Nuôi khó. Giữ cho được những doanh nhân mới này quả khó, bởi không phải đây là lần đầu tiên thương gia Mỹ vô lại VN sau cuộc chiến. Nhiều công ty Mỹ đã bỏ cuộc trước đây, kể cả Daimler-Chrysler. Càng khó giữ hơn nữa nếu lãnh đạo ta không thực thi các điều kiện cải tổ luật pháp theo đúng luật chơi kinh tế thị trường chính thống, kể cả luật lao động, luật xuất nhập khẩu, luật bảo vệ tác quyền…. Báo chí ở đây trong nhiều thập kỷ qua đã từng đăng rất nhiều bài ca tụng thành quả mồi chài doanh nhân ngoại quốc vào nước, nhưng lại rất lẳng lặng khi họ cuốn gói ra đi, và người Việt chỉ được biết qua báo chí nước ngoài. Hy vọng lần này khác. Mong sao những thành qua ký kết này sẽ khởi động một cuộc cách mạng kinh doanh ở đây cho kịp bước lân bang.

Con Sộp Phùm Vỗ Hão – Bóng Hoa Lay…
Thêm một ghi nhận khác lạ nữa là sau chuyến đi nhớ đời này của CTN, báo chí ở đây quên hẳn tập quán “Điểm Báo Thế Giới” về chuyến công du của lãnh đạo ta. Dư luận quốc tế đã nói gì?

Ngày 11-6-2007, nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborca đã có bài bình luận về hiện tượng Nhà nước VN phải thả tù chính trị theo lời yêu cầu của Mỹ trước chuyến công du của CTN.

Ngày 22-6-2007, hãng thông tấn Ba Lan PAP nhấn mạnh chủ trương của Tổng thống Bush về sự ủng hộ cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN, bằng cả lời nói lẫn hành động, cho dù là VN đã phải thả hai tù nhân chính trị trước khi Chủ tịch nước VN sang Mỹ.

Ngày 23-6-2007, tờ Le Figaro của Pháp đề cập đến một nghịch lý ngoại giao: Vì sao khi ông Triết mời gọi du khách và các nhà đầu tư vào VN thì lại bị cử tọa vặn hỏi về chiến dịch càn quét các nhà đấu tranh ôn hòa cho dân chủ ở VN trong suốt mấy tháng qua? Cũng như nhận định của Le Figaro, báo Le Monde trích lời của phát ngôn viên Nhà Trắng rằng, “ông Bush không thể nào không đề cập đến vấn đề đàn áp nhân quyền tại VN”.

Ngày 23-6-2007, tờ Los Angeles Times tường thuật lại cuộc biểu tình của người Việt hải ngoại tại Dana Point buổi chiều hôm trước, nơi chủ tịch Triết tổ chức nói chuyện và chiêu đãi các doanh nhân. Cô Tina Trần, một sinh viên 19 tuổi, nói với báo LA Times rằng, “phía VN phát triển về mặt kinh tế, nhưng trong lĩnh vực quan trọng nhất, tức là nhân quyền, người dân VN không trở thành ‘giàu có’ hơn”.

Cái Phù Du Giả Chết – Vật Vờ Trôi…
Có hai bài học mà Nhà Nước ta thu hoạch được từ chuyến công du của CTN Nguyễn Minh Triết vừa qua:
Một là Bài học ngoại giao: Thế giới đánh giá chính xác hơn, về xu thế hỗ trợ tiến trình dân chủ hóa của Mỹ, về lộ trình của Việt Nam trong khung cảnh toàn cầu hóa hôm nay, và về vai trò của lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại VN. Điểm gặp của ba bên nhiều phần sẽ ngày càng gần với điểm “khai mở cho dân tộc sinh lộ tự do, dân chủ, đa đảng, đa nguyên mà toàn dân khát mong và thời đại đòi hỏi”, như lời kết lá Thư Ngỏ ngày 26-6-2007 của Khối 8406.

Hai là Bài học “36”: Từ chuyến đi Mỹ của cựu Thủ tướng Phan Văn Khải năm 2005 tới chuyến công du của CTN Nguyễn Minh Triết 2007, cái nhìn của Nhà nước VN đối với Cộng Đồng Người Việt ở nước ngoài hẳn phải có nhiều thay đổi. Ts Nguyễn Thanh Giang nói đúng: “Ngày nay không thể còn áp dụng mãi thủ đoạn Goben, cứ nói lấy được thì rồi sẽ được nữa”.

Nhìn chung, lời nhận định tóm lược của Giáo sư Âu Dương Thệ và ông Lê Hồng Hà qua buổi phỏng vấn của đài RFA mới đây khá chính xác: “Chuyến đi này diễn ra không được ‘thuận buồm xuôi gió’ mà ngược lại chuyến đi đã bị những trận ‘cuồng phong chính trị’ từ nhiều hướng tấn công”.

Không phải chỉ trước khi CTN Nguyễn Minh Triết tới Mỹ, mà ngay sau khi ông Triết về tới VN, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ lại tiếp đón để chính thức tường trình kết quả cuộc họp thượng đỉnh tại Nhà Trắng cho các đại diện những tổ chức hoạt động dân chủ hóa VN và để thu thập thêm ý kiến của họ.

Rút cục, đối với đảng viên và quần chúng ít thông tin ở đây thì nhà nước ta đạt được một số thành quả hồ hởi nhất định. Đối với ký giả phóng viên trong nước thì bài thu hoạch là cần phải dè chừng vì không thể nhắm mắt vượt mặt hệ thông tin điện tử ngày nay. Đối với thành viên phái đoàn thì cho dù đã thấy ra gần hết sự thật, đối sách tốt nhất vẫn là phải thông báo trong vòng giới hạn. Đối với Trung Ương thì kết quả chỉ ở tầm thấp, lợi bất cập hại. Còn đối với BCT thì chuyến đi này là một trọng điểm khai thác ở nhiều góc cạnh khác nhau cho nhiều khuynh hướng khác nhau.

Hệ quả thấy được ngay là BCT ta phải họp khẩn ngay sau khi CTN Nguyễn Minh Triết về tới Nội Bài. Trọng tâm là 3 điểm chính:
1) Biện pháp đối phó (và “khai thác thành quả” nội bộ) là thay đổi một số nhân sự lãnh đạo;
2) Đẩy mạnh cải tổ đường lối kinh tế cho phù hợp với luật chơi quốc tế; và
3) Phải giải quyết ngay những bức xúc mới tinh, trong đó, sợi dây đu của trò xiếc đối ngoại chòng chành, và quan trọng hơn, VN không thể chỉ là một nước gia công.

28-6-2007
Đinh Tấn Lực
Chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Q3, TP/HCM.
Chú thích: Tất cả dữ kiện được truy cập từ mạng Google và YouTube. Tất cả tiểu tựa và tựa bài được trích từ tập Xem Đêm của cố thi sĩ Phùng Cung.

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

Trung Ương Đảng họp kỳ V chỉ để hành tội người làm báo

“… cứ mỗi lần đảng tìm cách siết báo chí thì những người làm báo lại có cách tự cởi trói mình …”

ĐẢNG CÀNG SIẾT, BÁO CHÍ CÀNG MUỐN CỞI

Tình trạng ”Xa rời tôn chỉ mục đích” và ”Thương mại hoá” của báo chí Việt Nam đã tới mức báo động khiến Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam phải họp kỳ V đầu tháng 7/2007 để bàn về ”Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”.

Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tư tường – Văn hoá Trung ương giải thích tại sao có kỳ họp quan trọng này: “Cùng với Chỉ thị 22-CT/TW và một số thông báo, chỉ thị quan trọng khác của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lần đầu tiên, Ban Chấp hành T.Ư bàn chuyên sâu về công tác báo chí. Nói như vậy để thấy rõ hơn một điều, trong mọi giai đoạn cách mạng, nhất là những giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt, Ðảng ta luôn dành cho báo chí sự quan tâm sâu sắc, sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên.” (Báo điện tử ĐCSVN, 20-6-2007)

Nhưng tại sao ba vấn đề chuyên môn này, lẽ ra chỉ cần giải quyết ở Ban Tư tưởng-Văn hoá lại phải triệu tập cả Ban Chấp hành Trung ương đảng để giải quyết ? Có vấn đế gì lấn cấn, xung khắc mà Bộ Chính trị không giải quyết nổi ?
Xung khắc nội bộ về đường lối, chủ trương hay bị áp lực phải thi hành các cam kết ràng buộc bởi Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization, WTO), theo đó, muốn phát triển kinh tế Việt Nam phải có thông tin thông thoáng, mà đảng Cộng sản Việt Nam phải khẩn trương rà soát lại tư tưởng đảng viên, thay đổi phương pháp tuyên truyền và chỉnh đốn lại đội ngũ báo chí ?

Dù thế nào chăng nữa thì về mặt nổi, Tô Huy Rứa đã giải thích phần nào lý do có kỳ họp V của Trung ương đảng: “Bên cạnh ưu điểm nổi bật và thành tích to lớn đã nêu, hoạt động báo chí và công tác lãnh đạo, quản lý báo chí những năm qua cũng bộc lộ một số yếu kém cần nhìn nhận đúng, tìm giải pháp khắc phục có hiệu quả. Một bộ phận không nhỏ người làm báo, kể cả một số cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước về báo chí; chưa thấy rõ và thực thi đầy đủ trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân của người làm báo. Chưa bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, của ngành, địa phương, đoàn thể mình. Chưa quan tâm đúng mức việc nêu gương, cổ vũ nhân tố mới, điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt, tạo khí thế, niềm tin để thực hiện các quyết sách lớn của Ðảng và Nhà nước…”

Nhưng bên cạnh tình hình nội bộ, ông Rứa không quên vin vào yếu tố “thù địch” bên ngoài để giảm thiểu tính nghiêm trọng của “nội thù”. Ông Rứa nói: “Một nguyên nhân nữa, không thể xem nhẹ là những tác động tiêu cực từ bên ngoài, khi ngấm ngầm, lúc lộ liễu. Các thế lực cơ hội, thù địch đã và đang triệt để lợi dụng báo chí và một số nhà báo không vững vàng về bản lĩnh chính trị để xâm nhập, tác động, lôi kéo, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” trong lĩnh vực thông tin, báo chí”.

“Ðể báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong những năm sắp tới, các cơ quan báo chí và những người làm báo cần quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc: Báo chí đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ðảng, vừa là tiếng nói của Ðảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, vừa là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cổ vũ toàn Ðảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”

Thì ra gay cả những người làm công tác tuyên truyền cũng quên cả những nguyên tắc cốt lõi rằng “báo chí phải do đảng lãnh đạo toàn diện”, là “tiếng nói của Đảng” và phải “tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Hay trong thời đại của nền Kinh tế thị trường, những người làm báo đã nhận ra nếu để cho Đảng tiếp tục “bịt mắt dẫn đi” thì làm sao báo chí có thể mở mắt ra để hội nhập và theo kịp với thế giới ?

THIẾU SÓT LÂM NGUY

Chi tiết hơn ông Rứa là tiết lộ của Lê Doãn Hợp, Ủy viên Trung ương đảng, Bộ trưởng Thông tin – Văn hoá, về lý do khiến Trung ướng đảng phải họp. Ông Hơp viết trong Tạp chí Cộng sản, số 131/2007: “ Bên cạnh các thành tựu và ưu điểm cơ bản vừa nêu, hoạt động báo chí nói chung, công tác quản lý báo chí nói riêng ở nước ta đang bộc lộ những hạn chế, yếu kém cần phải nhanh chóng khắc phục sớm.” Những yếu kém đó là:

“Thứ nhất, khá nhiều cơ quan báo chí và nhà báo thông tin sai sự thật, thể hiện chủ yếu ở mảng bài viết về các vụ án.”

“ Thứ hai, đó là sự thiếu nhạy cảm về chính trị, đưa thông tin không có lợi cho quốc gia, gây bất lợi cho hoạt động kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và công tác đối ngoại. Một số cơ quan báo chí và nhà báo thường sa đà vào “mảng tối”, mặt trái của đời sống xã hội, tạo nên bức tranh ảm đạm, bi quan về đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.”

“Thứ ba, một số cơ quan báo chí và nhà báo sa đà vào các thông tin dung tục, giật gân, tình dục, bạo lực, mê tín dị đoan, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam, làm suy giảm tính định hướng, tính giáo dục và tính thẩm mỹ của báo. Đây là xu hướng đáng báo động trong hoạt động báo chí. Những câu chuyện phòng the tục tĩu, tự nhiên chủ nghĩa, những hình ảnh hở hang, khêu gợi những câu chuyện về đồng bóng, bói toán, gọi hồn… có nơi, có lúc rộ lên làm xôn xao dư luận.”

“Thứ tư, có cơ quan báo chí thực hiện chưa nghiêm túc định hướng thông tin; thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích đã được quy định trong giấy phép do Bộ Văn hoá – Thông tin cấp; chấp hành không đầy đủ, không đúng các quy định của pháp luật về báo chí. Dạng vi phạm này có chiều hướng ngày càng gia tăng và chủ yếu xảy ra ở các số phụ, số cuối tuần, cuối tháng, số chuyên đề. Một số cơ quan chủ quản xin ra báo, tạp chí rồi phó mặc cho cơ quan báo chí.”

Ông Hợp nói : “ Đã xảy ra trường hợp cơ quan báo chí “bán cái”, để tư nhân “núp bóng” hoặc thao túng. Đây cũng là một trong những vấn đề “nóng” cần có sự điều chỉnh trong quá trình quản lý hoạt động báo chí, đặt ra nhiều vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật Báo chí trong thời gian tới.”

“Thứ năm, lãnh đạo một số cơ quan báo chí không thực hiện đúng các quy định của Luật Báo chí, không chấp hành nghiêm túc sự chỉ đạo và định hướng thông tin đã được phổ biến trong các cuộc giao ban, cho đăng tải các thông tin không có lợi, làm lộ bí mật nhà nước, gây thiệt hại đến lợi ích của đất nước, của nhân dân.”

Ông Hợp còn tố : “Thậm chí, đã có trường hợp cán bộ của một số cơ quan báo chí có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật, bị cơ quan công an bắt giữ vì liên quan tới các vụ việc tiêu cực, lừa đảo, chạy án hoặc có hành vi sách nhiễu. Đã có hiện tượng liên kết không lành mạnh giữa một số phóng viên, hoặc giữa một số lãnh đạo cơ quan báo chí nhằm đánh vào một số tổ chức, cá nhân theo kiểu “hội đồng”… Có trường hợp báo chí đăng tải điều tra, kiểm tra, thanh tra chưa có kết luận chính thức, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, gây mất đoàn kết nội bộ của các tổ chức, cơ quan. Trong số đó, cũng có những người vì tư lợi đã biến ngòi bút của mình trở thành công cụ cho phe, nhóm trong những cuộc tranh giành, đấu đá với mục đích trục lợi. Điều này cho thấy trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận nhà báo bị suy giảm đến mức đáng lo ngại.”

Trong một nước Cộng sản như Việt Nam, chỉ có một đảng cầm quyền, mà báo chí không coi luật lệ của Nhà nước ra gì thì cái đảng này có còn chút uy tín gì trong nhân dân ?

Nghiêm trọng hơn, theo tiết lộ của ông Hợp đã có những người làm báo “ trở thành công cụ cho phe, nhóm trong những cuộc tranh giành, đấu đá với mục đích trục lợi”, nhưng những kẻ đó quyền thế ra sao mà có thể lập ra các phe, nhóm trong đảng để điều khiển báo chí ?

Ngoài những kẻ có chức, có quyền thì ai có thể làm được làm táo bạo này để trục lợi và phô trương thanh thế ? Hay là một số người làm báo không còn chịu đựng được sự kiểm soát, trói tay của đảng nên đã tìm hậu thuẫn trong đảng để phá rào, biến tờ báo thành cơ sở kinh doanh riêng ?

Nhưng trong suốt bài báo, không thấy ông Hợp hé lộ đầu mối nào về “băng, đảng” và cũng không hề “đổ tội” cho “những thế lực thù địch” hoặc “diễn biến hoà bình” là thủ phạm đã xúi báo chí ”Xa rời tôn chỉ mục đích” và ”Thương mại hoá”.

Sự khác biệt giữa ông Hợp và ông Rứa cho thấy là tuy cùng nói về những căn bệnh của báo chí, hai người đã không cùng nhìn về một phía. Ông Hợp cho thấy đã có những người làm báo đổi màu, biến thành kẻ “nội thù” của đảng trong khi ông Rứa lại cho rằng khuyết tật này còn do “các thế lực cơ hội, thù địch đã và đang triệt để lợi dụng báo chí và một số nhà báo không vững vàng về bản lĩnh chính trị để xâm nhập, tác động, lôi kéo, thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” trong lĩnh vực thông tin, báo chí.”

Nhưng dù có nhìn nhận hay không việc kiểm soát báo chí đang là vấn đề nan giải của đảng thì sự thật đã rõ ràng là : Có một số không nhỏ cán bộ làm báo đã tìm cách vượt ra khỏi vòng vây của đảng để được viết tự do và làm báo tự do.

NGHIÊM TRỌNG HƠN NHIỀU

Ngặt một nỗi là tình hình lại không giản dị có bấy nhiêu mà còn nghiêm trọng hơn nhiều. Bài phân tích chi tiết của Hồng Vinh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung Ương, Cơ quan hướng dẫn tư tưởng và báo chí của đảng CSVN đã nói ra điều này.

Hồng Vinh viết trong báo điện tử của Trung ương đảng (20-6-2007) : “Khuynh hướng ”thương mại hoá” đưa đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Về chính trị, ”thương mại hoá” khiến báo chí – bộ phận thuộc lĩnh vực tư tưởng – văn hoá của Đảng, dần dần trở thành đối tượng kinh doanh, bị động nhất với các loại hàng hoá thông thường khác vì mục tiêu lợi nhuận. Về văn hoá: làm rối loạn và đảo lộn các giá trị thẩm mỹ, giá trị xã hội; cản trở việc xây dựng con người mới. Về an ninh tư tưởng, là điều kiện để các thế lực thù địch chống phá cách mạng, lợi dụng thực hiện ”diễn biến hoà bình”, ”tự diễn biến” trong nội bộ thông qua báo chí, nhất là mạng intemet…”

Cựu Tổng Biên tập báo Nhân Dân còn nói: “Có thể nói, ”xa rời tôn chỉ mục đích” và ”thương mại hoá” là hai xu hướng tiêu cực có mới quan hệ nhân/quả: xa rời tôn chỉ mục đích có nguyên nhân sâu xa từ khuynh hướng ”thương mại hoá”; càng chạy theo khuynh hướng ”thương mại hoá”, càng xa rời tôn chỉ mục đích; cả hai cùng hướng đến mục tiêu lợi nhuận. Nguy hiểm hơn, cũng do chạy theo lợi nhuận, bị chi phối bởi lợi nhuận, hai khuynh hướng này còn là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ”bán cái” và những dấu hiệu ”núp bóng” để tư nhân hoá báo chí rất đáng lo ngại trong thời gian gần đây.”

Nhưng phản ứng của các báo muốn “thương mại hoá” để sinh lợi nhuận ra sao ? Hồng Vinh không tiếc lời chỉ trích: “Vấn đề đặt ra là: ”thương mại hoá” và ”xa rời tôn chỉ, mục đích” dù đã sớm được phát hiện, phân tích và uốn nắn trong nhiều văn kiện của Đảng, nhưng vì sao không được ngăn chặn, đẩy lùi, mà còn có chiều hướng tăng lên? Trong thực tế, đã có một bộ phận cán bộ, phóng viên, thậm chí, cả cán bộ lãnh đại, quản lý báo chí cho rằng: trong điều kiện KTTT, báo chí phải tự giải quyết bài toán tài chính, ”thương mại hoá” báo chí là cần thiết, tất yếu, không thể can thiệp và điều chỉnh. Thậm chí, có người còn ngộ nhận, xem ”thương mại hoá” như là biểu hiện của xu thế dân chủ trong thông tin báo chí, là dấu hiệu hội nhập với cách thức làm báo của thế giới hiện đại (!?).”

“Đó là nhận thức lệch lạc cần được uốn nắn. Nếu cho rằng, “thương mại hoá” là không thể ngăn chặn được nghĩa là chấp nhận tính tự phát của báo chí, phủ nhận sự cần thiết phải lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước. Nếu chúng ta cho rằng, “thương mại hoá” là cần thiết để có nguồn tài chính, nghĩa là chúng ta đồng nhất báo chí – sản phẩm văn hoá tinh thần với các sản phẩm hàng hoá thông thường khác…Nguyên nhân của nhận thức đó do sự mơ hồ về chính trị, lẫn lộn giữa cái gọi là ”tự do báo chí” kiểu tư sản với quyền tự do ngôn luận trong chế độ XHCN, thoát ly quan điểm của Đảng về vai trò, chức năng tư tưởng-văn hoá của báo chí cách mạng; không nắm vững Luật báo chí.”

Hồng Vinh đã báo động: “Vấn đề ”thương mại hoá”, ”xa rời tôn chỉ, mục đích” trong hoạt động báo chí, đã đến độ bức xúc; thậm chí, có những dấu hiệu không thể xem thường, như tư nhân hoá báo chí; không chấp hành ý kiến chỉ đạo của Đảng.”

Qua ba tiếng nói “cột trụ” của ngành Tư tưởng – Văn hoá về tình trạng xuống cấp thê thảm và chệch hướng tư tưởng nghiệm trọng của Báo chí sau hơn 20 năm Đổi mới, không ai còn nghi ngờ việc Hội nghị V của Ban Chấp hành Trung ương đảng sẽ phải đưa ra Nghị quyết dành lại quyền kiểm soát báo chí bằng những biện pháp kỷ luật cứng rắn nhất.

Nhưng thực tế đã chứng minh, cứ mỗi lần đảng tìm cách siết báo chí thì những người làm báo lại có cách tự cởi trói mình. Bằng chứng đã được chứng minh vì ngay từ năm 1992, Ban Bí thư Trung ương (khoá VII) đã than phiền về ”Khuynh hướng thương mại hoá, chạy theo lợi nhuận đơn thuần” của làng báo mà đến bây giờ, chuyện đâu vẫn không những chỉ còn đó mà còn lan rộng hơn.

Tệ nạn này còn được nhắc lại trong Chỉ thị 22/CT-TW ngày 7/10/1997 của Bộ Chính trị khoá VIII , qua lời phê bình: ”Một bộ phận báo chí, xuất bản bị khuynh hướng thương mại và cơ chế thị trường chi phối, chạy theo thị hiếu tầm thường…”

Từ đấy tập quán nói đi nói chứng bệnh cũ của Báo chí đã thành thói quen của Bộ Chính trị nên việc này lại tiếp tục diễn ra trong Thông báo số 162-TB/TW của Bộ Chính trị khoá IX; Thông báo số 41 TB/TW và Thông báo số 68-TB/TW của Bộ Chính trị khoá X; Quyết định số 388/QĐ-CP và Chỉ thị số 37/2006/TC-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Xem như thế thì Báo chí và Đảng ai mạnh hơn ai ? Có ai nói ai nghe không mà sao ròng rã suốt 15 năm, từ 1992 đến 2007, đảng nói thì cứ nói, người làm báo cứ lách mà làm ?

Chẳng nhẽ Đảng đã làm toàn những chuyện “nước đổ đầu vịt” nên khi “cá đối đã bằng đầu” thì không còn ai nghe ai ?

Phạm Trần
04/07/07

1 Bình luận Tháng Bảy 4, 2007

Việt Nam cần một phong trào xanh

Hàng trăm đồng bào từ tỉnh Tiền Giang đang lên Sài Gòn biểu tình, mang theo những biểu ngữ chống tham nhũng, cường quyền, áp bức trong hai tuần lễ vừa qua. Bà con bây giờ đã đổi chiến thuật, không tụ lại thành một đoạn mà chia thành nhiều nhóm xuất hiện trên các đường phố cùng một lúc hoặc liên tiếp nhau, công an hốt đám này sẽ còn đám khác. Những đoàn người đi trên nhiều đường sau tụ tập ở đường Võ Thị Sáu, một trụ sở “tiếp dân” của trung ương đảng cộng sản, và trước trụ sở cảnh sát ở đường Nguyễn Trãi. Ngày Thứ Hai đầu tuần này, trong số các biểu ngữ cầm tay có thêm tên các tỉnh Bình Dương, Ðồng Tháp, An Giang, Vũng Tàu. Trong khi đó, trước cửa nhà khách chính phủ và trụ sở Quốc Hội ở Hà Nội, hàng trăm đồng bào từ miền xa tới tụ họp “khiếu oan.”

Nếu là người ngoại quốc không biết gì về chế độ cộng sản thì chúng ta sẽ nói: “Chỉ có mấy trăm người biểu tình, con số nhỏ quá chẳng đáng kể”. Nhưng ai là người Việt Nam, hoặc đã từng sống dưới chế độ cộng sản, thì biết rằng những người dám họp nhau tới con số hàng trăm để đi kêu oan như vậy, đó là những người can đảm cùng mình. Nhiều đồng bào ở Sài Gòn cho biết công an đã bám sát đoàn người biểu tình, chỉ chờ lệnh là động thủ; cứ một người dân biểu tình là có hai ba công an chìm nổi đi kèm. Một thanh niên đưa máy lên chụp ảnh đã bị công an đòi tịch thu máy, năn nỉ lắm mới được “giảm án” chỉ tịch thu con chíp trong máy chụp hình điện tử.

Hiện tượng dân từ miền quê lên Hà Nội hay Sài Gòn đi biểu tình đã diễn ra từ nhiều năm qua, nhưng trước và trong dịp có hội nghị APEC năm ngoái thì họ bị dẹp hết. Phần lớn các vụ biểu tình đều là do nông dân bị quan chức nhà nước cộng sản cướp đất. Một người kể anh có khu đất trị giá 2 triệu đồng một mét vuông, bị “quy hoạch” lấy đất làm của công, trả cho anh bằng một phần mười giá đó. Sau khi cướp đất rồi, các quan chức mới đem bán lại cho các nhà tư bản Việt hay ngoại quốc, giá là 10 triệu đồng một mét vuông.

Một điều đáng nói là trước những cảnh dân nghèo thật sự vô sản đi kêu gọi tấm lòng thương người của các quan chức “vô số tài sản” xin họ trả lại đất hoặc đền bù xứng đáng cho dân, thì báo chí ở Việt Nam không nói gì đến cả. Tất cả 600, 700 tờ báo tại Việt Nam đều là của đảng cộng sản. Ðảng cho phép viết cái gì thì được viết cái đó. Khi có người bị đánh, đập cho tới bị chết, báo chí và đài phát thanh, vô tuyến truyền hình cũng sẽ không dám nói tới.

Chế độ cộng sản luôn luôn bưng bít tin tức, tất cả những tin nào bất lợi cho đảng đều không được loan báo. Ðiều này dễ hiểu, một chính quyền độc tài không bao giờ chấp nhận tự do báo chí. Nhưng cũng có lúc báo chí ở trong nước được phép đăng những tin xấu. Ðọc báo của công an thì thấy không biết bao nhiêu là tệ nạn xã hội. Trộm cướp, băng đảng, gian lận thi cử, đạo lý suy đồi, rất nhiều tin vẫn được phép lên mặt báo.

Tại sao chính sách kiểm duyệt của đảng Cộng Sản Việt Nam lại chọn tin xấu này cho đăng mà cấm ngặt không cho đăng một số tin xấu khác? Ðiều cấm đoán quan trọng nhất là giới truyền thông không được loan tin có những dân dám đứng lên chống lại đảng, không được vạch ra những tội lỗi lớn của quan chức trong đảng. Những tin đó có thể khích động người dân khắp nơi, và một phong trào chống đối có thể bộc phát. Ngoài ra, những tin xấu khác họ coi là chấp nhận được. Vì phần lớn những tội ác tình và tiền mà các báo của công an đăng lên đều có thể quy trách nhiệm cho các cá nhân. Vả lại, chắc không người Việt Nam nào lại đứng lên đòi đảng cộng sản thay đổi đường lối giáo dục, đòi xây thêm bệnh viện miễn phí, hay đòi đảng phải sửa chữa đường, cầu cho bớt tai nạn lưu thông chết người! Sau khi đã sống quen trong một xã hội có quá nhiều tệ đoan, người dân coi đó là chuyện tự nhiên, không ai nghĩ nguyên nhân gây ra những tệ đoan đó là do chế độ chính trị thối nát, tham nhũng sinh ra. Mà nếu có ai nghĩ đảng cộng sản chịu trách nhiệm làm cho đạo lý xã hội suy đồi, thì họ cũng bận tâm đến nhiều vấn đề khác lớn hơn, trực tiếp liên hệ tới họ hơn, không để thời giờ quan tâm đến các tệ đoan nhỏ nữa. Những vụ quan lại tham nhũng ăn cắp hàng chục triệu Mỹ kim, những vụ quan chức buôn lậu ma túy, nuôi băng đảng trong xã hội đen, dù có làm xôn xao dư luận một thời gian rồi sau đó cũng chìm vào quên lãng. Chỉ khi nào người dân ý thức được rằng, chính tình trạng một đảng độc quyền cai trị là nguyên nhân gây ra những tệ nạn đổ lên đầu dân tộc, lúc đó mới hy vọng người dân đứng lên tỏ thái độ.

Có một hiện tượng đang xảy ra ở Việt Nam có thể đánh thức đồng bào chúng ta về những cái họa của một chế độ độc tài. Ðó là sự suy đồi trong môi trường sống, do chế độ độc tài gây ra, khiến rất nhiều người chết. Một đảng độc quyền không bao giờ lo dân lật đổ bằng lá phiếu, cho nên không lo lắng đến sức khoẻ của người dân. Ðến khi nhiều người chết quá, mới tìm cách chữa; nhưng một guồng máy độc tài cũng không chữa trị gấp cho dân nhờ. Vì các quan chức đều do đảng chọn chứ không phải do dân chọn. Ðây là một thảm họa của dân tộc, không những người đang sống bây giờ chịu độc hại mà còn đe dọa sinh mạng của nhiều thế hệ sau này nữa.

Ai theo dõi báo chí điện tử ở trong nước đều biết hiện nay có nhiều làng ở Việt Nam được gọi tên là “làng ung thư.” Phóng viên báo điện tử VietNamNet đầu Tháng Hai năm nay đã viết về một làng ở Lâm Thao, Phú Thọ, với số người bị bệnh ung thư lên quá cao. Có hơn một trăm người chết vì ung thư, có một họ chết 25 người. Nguồn gốc gây ra bệnh, theo người dân đoán, là do những chất thải từ một nhà máy làm phốt phát và các hóa chất khác. Từ cuối năm 2005, dân làng Thạch Sơn đã kêu cứu, chính quyền cấp tỉnh, huyện tìm cách che đậy nhưng cuối chính quyền trung ương đã phải tới “nghiên cứu.”

Chính quyền cộng sản không thể đổ lỗi cho “chất độc da cam” trong vụ này được. Vì nhà máy phốt phát Lâm Thao ở ngoài Bắc và đã hoạt động từ năm 1959. Theo bản tin trong nước thì “toàn bộ xỉ và rác thải, nước thải… của nhà máy này” được tuôn đổ “trực tiếp ra gần khu dân cư sinh sống mà không hề qua xử lý.” Nhà báo mô tả rõ, “Các chất thải này không đường ống, không bờ bao, tự do chảy thẳng ra cánh đồng Thạch Sơn 24h/24h,” tức là suốt ngày đêm. Người dân không ai biết nguồn nước ô nhiễm đó là một nguyên nhân gây ra những chứng bệnh phổi, bệnh mắt, vàng da. Nhưng họ biết rằng, hoa màu bị giảm, số sản xuất giảm mất từ 50% đến 80%, có chỗ mất tất cả. Nhiều gia đình bỏ trồng trọt, đào ao nuôi cá. Nhưng khi trời mưa chất độc tràn vào, cá chết.

Ðó là một làng ở Phú Thọ, gần Hà Nội cho nên được ngó tới. Tại miền Nam, vào Tháng Tư năm nay báo Thanh Niên in bản tin nhà nước cho biết có 2 khu phố ở thị xã Tân An được gọi là “xóm ung thư” vì số người chết tăng lên nhiều trong hai năm gần đây. Một người dân cho rằng, nguồn nước đã bị ô nhiễm do nhà máy sản xuất nhôm thải nước ra sông Nhơn Hòa.

Ðến Tháng Năm 2007, tờ báo trên mạng lại đăng tin về một “làng ung thư” khác ở Nghệ An. Ðã có người dân xã Kim Thành, huyện Yên Thành, nói rằng, quê anh là nơi “ra ngõ gặp ung thư.” Có hàng trăm người đã chết, có gia đình sinh ba con, cả ba đều mắc bệnh ung thư. Nhà báo phải dùng những chữ “chết chóc một cách ghê rợn.” Nhưng làng đầu tiên ở Nghệ An được phát hiện là một “làng ung thư” là làng Cờ Ðỏ, huyện Diễn Châu. Người dân còn gọi là “làng chết.” Ở xã Nam Sơn, huyện Ðô Lương, số người chết vì ung thư lên cao, được gọi tên là “làng virus hủy diệt,” nhà báo mô tả là “có mức độ khủng khiếp không kém” làng Cờ Ðỏ. Làng ung thư mới được phát hiện khác là Phong Yên, xã Hưng Hòa thuộc thành phố Vinh.

Tại sao Nghệ An có nhiều “làng ung thư” như vậy? Theo nhà báo tường thuật những lời giải thích của giới chuyên môn thì nguyên nhân chính cũng là môi trường sống bị ô nhiễm. Tại Ðô Lương, người ta biết có những kho thuốc DDT trừ sâu từ mấy chục năm trước, kho nay đã bỏ nhưng mặt đất bị ô nhiễm vì chất độc vẫn còn nguyên. Nước giếng đào bị ô nhiễm đến vàng ố. Tại Yên Thành, cũng do những kho thuốc DDT của hợp tác xã để lại di họa. Những gia đình sống ở xa các nền đất kho DDT, hoặc ở nơi đất cao hơn nền kho DDT thì không bị ung thư như các nhà ở gần. Cả làng vẫn phải dùng nước giếng, trừ mấy gia đình xây được bể chứa nước mưa.

Dân các làng trên đã làm “kiến nghị lên cấp trên nhưng chưa thấy cơ quan nào kiểm tra.” Một tai nạn khác giáng xuống đầu dân làng Cờ Ðỏ là một cái đập xây ngay đầu làng. Ðập thiết kế sao không biết nhưng nước tràn đã làm ô nhiễm, “có bao nhiêu rác thải, xác chết động vật, bao bì đựng thuốc trừ sâu đã thải xuống sông.” Nhà báo viết, “Làng Cờ Ðỏ như cái túi đựng rác.”

Những hiện tượng “làng ung thư” và “xóm ung thư” trên hầu như không gây nên những phản ứng mạnh nào trong tâm lý đồng bào trong nước. Tuần trước, mục này đã nhắc tới phản ứng của dân chúng thành phố Hạ Môn, Trung Quốc. Khi biết có dự án dựng một nhà máy hóa chất dùng nguyên liệu dầu lửa mà chính quyền đã ký kết với một công ty Ðài Loan. Hàng chục ngàn người dân biểu tình, và chính quyền cộng sản đã phải ngưng dự án hàng tỷ Mỹ kim này. Cuộc biểu tình trên diễn ra nhờ mọi người liên lạc, kêu gọi nhau qua Internet.

Dân ở các làng quê Nghệ An, Việt Nam không bao giờ dùng đến Internet. Dân thành phố thì còn mải những chuyện khác, không biết đến những “làng ung thư.” Nhưng chúng ta biết rằng, nếu nước ta có tự do lập hội, nếu báo chí được tự do hơn, sẽ có nhiều nhà trí thức Việt Nam, nhất là giới thanh niên, sinh viên, sẽ lên tiếng. Tuổi trẻ là tuổi muốn sống có lý tưởng, họ sẽ coi việc bảo vệ môi trường sống là một trách nhiệm chung, một nghĩa vụ cứu nước. Họ sẽ thấy không thể phó mặc việc bảo vệ môi trường cho nhà nước, mà mọi người dân phải họp nhau lại gây phong trào bảo vệ sự sống. Cần một phong trào xanh trong nước Việt Nam, do chính người dân làm lấy. Không thể để một guồng máy chính quyền vô trách nhiệm lãnh đạo đất nước hết đời cha đến đời con, để di họa cho các thế hệ mai sau. Nếu chế độ này còn tồn tại, người dân bị cướp đất cứ việc đi biểu tình, trong khi rác thải, nước thải đầy chất độc sẽ tiếp tục gây họa cho người dân. Lại thêm một lý do khác khiến chúng ta không thể chấp nhận sống với một chế độ độc tài.

Ngô Nhân Dụng
(@nguoivietonline)

Thêm bình luận Tháng Bảy 4, 2007

Giữ hình ảnh văn hóa

“… Nhà nước nên thấy, du khách vào VN đâu có mong đợi xem các nhà cao tầng làm chi …”

Khi bạn cất bước du lịch, bạn hình dung như thế nào về nơi sắp đến? Và mong đợi những gì? Thí dụ, khi tới thăm Thái Lan sẽ là hình ảnh những ngồi chùa vàng và các tu viện bên rừng, bên suối. Hay nhắc tới Cam Bốt là bạn nghĩ ngay tới khu Đế Thiên Đế Thích. Hay như Lào trầm lắng và thơ mộng, hay như Singapore sạch bóng và tối tân, và vân vân. Du lịch Việt Nam đang phải gay gắt cạnh tranh với những hình ảnh như thế với các nước bạn láng giềng, và đã tự tạo ra cho mình được hình ảnh độc đáo nào chưa?

Du lịch là một kỹ nghệ dễ dàng tăng tốc nhiều hơn các kỹ nghệ khác trong khi đầu tư thường lại ít hơn. Du lịch cũng là một kỹ nghệ giàu tính nhân bản và xã hội hơn mọi ngành khác, vì sẽ nuôi được cả các em bé đánh giày, các cô gái mát-xa, các bác tài lái xe xích lô, các nhà nghỉ và khách sạn, các tiệm ăn, và vân vân.

Theo bản tin e-Travel Blackboard phổ biến hôm Thứ Năm 28-6-2007, du lịch VN dự kiến sẽ tăng đều mỗi năm 14% trong 5 năm tới. Như thế là mức tăng nhiều gần gấp đôi mức tăng trung bình kinh tế cả nước.

Bản tin đó dựa vào bản phúc trình ‘Opportunities in Vietnam Tourism Industry’ (Cơ Hội Trong Kỹ Nghệ Du Lịch Việt Nam), thực hiện do công ty nghiên cứu thị trường RNCOS. Bản tin viết là vào năm 2006, đã có khoảng 3.6 triệu du khách quốc tế bay vào Việt Nam, và tiên đoán với sức tăng đó thì Việt Nam “trong một thập niên tới sẽ trở thành một trong mười điểm hàng đầu để đến du lịch trên thế giới… Các kỹ nghệ liên hệ du lịch như hàng không, giao thông và đón tiếp khách sẽ hưởng lợi lớn nhờ sức tăng này…”

Tuy nhiên, bản tin khô khan đó không nói lên được cảm xúc của một người bình thường, đặc biệt là một người Việt Nam hải ngoại. Bản tin chỉ là những con số dự kiến, không nói lên cảm xúc. Thí dụ, cảm xúc của một du khách quốc tế, như Tây hay Mỹ, khi nghĩ về VN ra sao? Có thấy nóc chùa vàng trong tâm tưởng như khi nghĩ tới Thái không? Cần hình ảnh, tất nhiên. Việt Nam cần hình ảnh. Người Việt hải ngoại thì không cần suy nghĩ nhiều, vì lúc nào hình ảnh cũng đầy ắp. Như chiếc áo dài thiếu nữ, như chiếc nón lá, hay cổng chùa Vĩnh Nghiêm, hay nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, hay mặt tiền Chợ Bến Thành… Nhưng du khách quốc tế chưa có nhiều hình ảnh như thế.

Đặc biệt, nhiều hình ảnh bi đát vẫn đang làm u ám cảnh quan về Việt Nam, mà các bản tin quốc tế đều đặn mỗi ngày vẫn có, qua các thông tấn AP, AFP, Reuters, DPA. Thí dụ chuyện nước tương đen, nước mắm bẩn, rau muống kênh nước đen, đụng xe hàng ngày, và vân vân. Đó là những hình ảnh mà không dễ bị đánh bạt bởi tà áo dài hay chiếc nón lá. Đặc biệt, nếu Sở Dược Phẩm và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đột ngột ra lệnh cấm nhập cảng các loại cá hay tôm Việt Nam vào các hải cảng Hoa Kỳ vì lý do thủy sản nhiễm độc, như FDA tuần này đã ra lệnh cấm nhập nhiều loại cá Trung Quốc, thì không chỉ ngành ngư nghiệp VN ảnh hưởng, mà du lịch cũng vấp váp.

Vì khi những hình ảnh này hiện lên truyền hình Mỹ thì tự nhiên thành một ấn tượng không hay cho người xem.

Trong hai tuần qua, có vài hình ảnh cũng hiện trên truyền hình Hoa Kỳ ghi lên một số ấn tượng tiêu cực cho du lịch VN. Đó là hình ảnh hàng ngàn người Việt hải ngoại biểu tình chống chủ tịch nước CSVN Nguyễn Minh Triết, và hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trên các bích chương người Việt cầm theo. Thế giới nhìn qua TV như thế, và thấy ngay một hình ảnh tương tự kiểu Thiên An Môn ở Bắc Kinh.

Do vậy, nhu cầu trước tiên (và cả lâu dài) của nhà nước Hà Nội là làm cho thế giới nhìn thấy đất nước thực sự đổi mới, và chính phủ thật tâm lắng nghe những tiếng nói bất đồng và sẵn lòng thay đổi.

Còn một khía cạnh khác để xây dựng hình ảnh cho Việt Nam là đi tìm những nét văn hóa độc đáo để tiếp thị cho du lịch. Tức là gìn giữ những hình ảnh mà thế giới nhìn qua là khó quên. Nhưng chính ngay điều này cũng đòi hỏi chính phủ CSVN và các cấp cán bộ đừng vì ham lợi nhỏ mà làm hại cả nước lâu dài.

Thí dụ như chuyện xảy ra năm 2004, khi ngôi làng xưa cổ tới 1,000 tuổi của VN kêu cứu. Theo các báo nhà nước lúc đó thì ngôi làng Hòa Mục thuộc phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, đã tồn tại hơn 1.000 năm, chứa đựng những giá trị văn hóa, và một bản sắc cộng đồng dân cư độc đáo. Vậy mà ngôi làng cổ duy nhất còn sót lại của thủ đô này đang sắp sửa biến mất, nhường chỗ cho những dự án xây dựng chung cư cao tầng, theo lời kêu cứu lúc đó.

Thực sự, ham chi cái lợi nhỏ. Hãy hình dung Bangkok của Thái Lan, nơi đất thủ đô ngày càng hẹp và đang trở thành một trung tâm du lịch và tài chánh Đông Nam Á, nhưng chớ hề có chuyện xóa sổ các ngôi chùa, dù nhỏ thế nào, để xây nhà cao tầng nhằm dư phòng cho quốc tế thuê. Làm sao mà mấy cái hộp bê-tông và xi-măng thay nổi nét đẹp và sức quyến rũ du khách như mái cong của chùa…

Hay như trường hợp mới xảy ra ngay tuần này. Báo Hà Nội Mới, số ngày 29-6-2007 dựa theo tin kư giả Uy Viễn (Tiền Phong) cho biết một ngôi đền cổ xây từ năm 1028 đang gặp cơ nguy bị lấn đất.

Bản tin nhan đề “Đền Đồng Cổ: Lời thề còn, lẽ nào để đền bị lấn mất?” viết rằng, trích:

“…Đền Đồng Cổ nay thuộc phường Bưởi-quận Tây Hồ-Hà Nội, thờ thần Trống Đồng. Tương truyền, nhờ thần Trống Đồng ở Đan Nê- Yên Định- Thanh Hóa báo mộng, Vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã) đã đánh tan quân Chiêm Thành và trừ được loạn Ba Vương, tránh cuộc soán ngôi đẫm máu khi Vua cha Lý Thái Tổ qua đời.

Nhớ ơn thần, Vua Lý Thái Tông cho xây đền ở tây bắc thành Thăng Long năm 1028, định lệ hàng năm đến ngày 4/4 âm lịch bá quan văn vơ phải đến tế lễ. Các triều đại tiếp nối thường đến Đền Đồng Cổ dự hội thề, đọc: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh tru diệt”. Ngày này trở thành lễ hội hàng năm của người dân Đông Xã-phường Bưởi…” (hết trích)

Vậy mà bây giờ UBND Quận Tây Hồ làm công việc cắm mốc giới theo bản đồ 1994, chứ không theo bản đồ năm 1986 trong hồ sơ di tích quốc gia, và “…tiểu ban quản lý đền Đồng Cổ khẳng định, nếu căn cứ vào bản đồ 1994 thì đền chỉ nằm từ mép sông Tô Lịch đổ vào mép đường Hoàng Hoa Thám, mất tới 2/5 diện tích đất.”

Thế là thêm một cơ nguy xóa sổ một nét đẹp văn hóa Việt Nam. Nhà nước nên thấy, du khách vào VN đâu có mong đợi xem các nhà cao tầng làm chi.

Đó là chuyện ở Hà Nội. Bây giờ tới chuyện Sài Gòn: vị Ni Sư Giảng Sư Phật Học hiện trụ trì ngôi chùa Triều Châu, thuộc Giaó Hội Phật Giáo Việt Nam (nghĩa là, giaó hội hợp pháp và thân nhà nứơc), ở Quận Gò Vấp, Sài Gòn, đã gửi đơn khiếu nại vì công an dùng bạo lực trục xuất, chiếm chùa… Hồ sơ gồm nhiều Đơn đã gửi tới nhiều giới chức trong nứơc nhưng vẫn vô ích. Điều hết sức quan ngại rằng có vẻ như đây không đơn giản là chuyện chiếm chùa vì lý do liên hệ “giáo hội ngoài luồng.” Nên thấy rằng, chùa này nằm trong một nghĩa trang, và có vẻ như nhà nước muốn chơi trò xã hội đen để chiếm chùa, rồi tương lai sẽ quy hoạch, xóa sổ cả chùa Triều Châu lẫn nghĩa trang. Ai cũng biết rằng đây là đất vàng, đất bạc, nhưng Thành Uỷ tin là chơi trò xã hội đen sẽ làm cho Thành Uỷ không mang tiếng quy hoạch dự án cả trên đất chùa, mà chỉ mượn tay cô hồn các đảng chiếm chùa rồi sau đó đám cô hồn sẽ xin hiến chùa, thì tự nhiên có đất rộng mà xây đủ thứ. Thế nên, Thành Hội Phật Giáo cũng có vẻ như bó tay.

Nơi đây xin ghi lại Đơn Cầu Cứu gần nhất:
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc Lập Tự Do HạnhPhúc
Gò Vấp ngày 7 tháng 05 năm 2007

ĐƠN CẦU CỨU (LẦN 4)

V/v: Xin cứu giúp tập thể chư ni chùa Triều Châu thoát khỏi sự tấn công khủng bố của nhóm người lạ mặt.

Kính gởi:

– Thường Trực Thành Uỷ TP. HCM

– Ông Huỳnh Ngọc Thành Trưởng Ban Tôn Giáo TP. HCM

– Hòa Thượng Thích Trí Quảng, Trưởng Ban Tôn Giáo TP. HCM

– Trưởng Ban Hoằng Pháp GHPGVN

– Bí Thư Quận Uỷ Quận Gò Vấp
Kính thưa Quý Cấp Lãnh Đạo.

Chúng tôi là tập thể tu sĩ và Phật tử Chùa Triều Châu số 67/22A Phan Văn Trị, F5, Q.Gò Vấp, TP.HCM gồm:

Phạm Thị Hoàng, Pháp danh Nhuận Tâm; Phạm Thị Đào, Pháp danh Huệ Tâm; Tôn Nữ Thùy Giang, Pháp danh Huệ Tánh; Nguyễn Thị Kim Hồng, Pháp danh Diệu Liên; Trần Thị Ngọc Thu, Pháp danh Tâm Nguyện.

Đồng kính đơn khẩn thiết kêu cứu đến Đảng, Nhà nước TP.HCM và Q.Gò Vấp giúp đỡ chúng tôi thoát khỏi sự khủng bố về tinh thần và thể xác của một số người lạ mặt và chó dữ đang xâm chiếm vào chùa Triều Châu kể từ ngày 28/08/2006 đến nay.

Tập thể tu sĩ và Phật tử chùa Triều Châu đã có nhiều đơn kêu cứu đến các Cấp Lãnh Đạo, Đảng, Nhà nước Tp HCM và địa phương xin giúp đỡ bảo vệ an toàn tính mạng, ổn định chổ ở để tu hành, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo Hiến Pháp Luật nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nhưng đến nay chưa được quý cấp Đảng và Nhà Nước can thiệp nên chúng tôi tiếp tục làm đơn khẩn thiết kêu cứu xin giúp đỡ cho chúng tôi sớm thoát khỏi cảnh mất an ninh, giữa TP.HCM mà Chư Ni và Phật tử Chùa không có điện phải chịu cảnh tối tăm, không thể học bài được, tất cả các cửa Chùa đều bị đập phá, bảng Chùa thì bị bọn lạ mặt đến căng vải đỏ che lấp, bảng hiệu Chùa Triều Châu và địa chỉ, thân nhân và Phật tử phương xa không thể tìm thăm các thầy tu được. Hiện tại Chư Ni chùa Triều Châu đang bị khủng bố cả ngày lẫn đêm giữa TP.HCM vang danh là tự do tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.

Tập thể Tu Sĩ, Phật Tử chúng con xin kêu cứu các Cấp Lãnh Đạo, quan tâm đến chùa Triều Châu đã hoạt động thuần túy theo GHPG Việt Nam từ 15 năm qua. Chúng tôi hết sức biết ơn của Đảng và Nhà Nước.

Trước khi được sự giúp đỡ của Quý Ban tôi xin trân trọng biết ơn.

Nơi nhận:

– Tòa soạn báo Lao Động
– Văn phòng nhà báo Trần Bạch Đằng
– Tòa soạn báo Công An

Đồng kư tên:

TN. Nhuận Tâm (Phạm Thị Hoàng)
TN. Huệ Tâm (Phan Thị Đào)
TN. Huệ Tánh (Tôn Nữ Thùy Giang)
Ts. Diệu Liên (Trần Thị Kim Hồng)
Tu. Tâm Nguyện (Nguyễn Ngọc Thu).”
Thực sự, sao có chuyện ngang ngược như thế? Vì sao Giáo Hội PGVN không cứu nổi chùa này? Có phải vì Thành Uỷ quyết tâm xóa sổ chùa này hay không?

Nếu những cán bộ Thành Uỷ chỉ nhìn ở tầm mức vì lợi nhỏ như thế, thì làm sao làm nổi vừa hòa hài xã hội và vưà tạo dựng được hình ảnh văn hóa cho du lịch VN? Gìn giữ được các hình ảnh văn hóa tôn giáo như thế, thực sự mới là chiến lược lâu dài cho du lịch VN vậy. Xin làm ơn, hãy tha cho các ngôi chùa.

Trần Khải

Thêm bình luận Tháng Bảy 2, 2007

Những Điều Trái Ngược Qua Lời Phát Biểu Của Ông Nguyễn Minh Triết

Tin Little Saigon – Trong tiết mục Một ngày qua ống kính SB-TN, hôm nay hai thông tín viên Thanh Toàn và Ðăng Minh tìm hiểu về những điều trái ngược qua lời phát biểu của ông Nguyễn Minh Triết trong lần viếng thăm Hoa Kỳ, và ý kiến của người Việt tại hải ngoại. Mời quý vị cùng theo dõi trong phóng sự đặc biệt sau đây (video 3 phút).

Thêm bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Phóng Sự Ðặc Biệt: Tang Lễ Cựu Tướng Nguyễn Chánh Thi

Tin Lancaster – Như tin SB-TN đã loan, cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, một vị tướng của quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng là chứng nhân của suốt một thời gian lịch sử trong hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa Việt Nam, đã qua đời tại thành phố Lancaster tiểu bang Pennsylvania, hưởng thọ 84 tuổi. Hôm nay thông tín viên của SB-TN tại Hoa Thịnh Ðốn gửi về bản tường trình đặc biệt về tang lễ của vị tướng này, mời quý vị cùng theo dõi trong bản tin đặc biệt của SB-TN sau đây (video 3 phút).

Thêm bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Những Cảm Nghĩ Về Lời Phát Biểu Của Ông Nguyễn Cao Kỳ

Tin Little Saigon – Việc ông Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện trong buổi tiệc tiếp đón Chủ tịch nhà nước Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Minh Triết tại khách sạn Saint Regis vào cuối tuần vừa qua, và đưa ra lời phát biểu chào mừng đã gây nên làn sóng phẫn nộ đối với cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Thông tín viên SB-TN là Thanh Toàn và Ðăng Minh tìm hiểu về sự kiện này, và gởi về bản tường trình đặc biệt sau đây (video 3 phút).

Thêm bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Nhìn Lại Cuộc Biểu Tình Chống Nguyễn Minh Triết Tại Nam California

Tin Dana Point – Sau những ngày sôi động về các cuộc biểu tình chống phái đoàn Cộng sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết, hôm nay tiết mục Một ngày qua ống kính nhìn lại những hình ảnh này, để cho thấy tuổi trẻ Việt Nam đã không làm ngơ trước những biến chuyển của đất nước, mà đã đóng một vai trò rất quan trọng trong những sinh hoạt biểu tình vừa qua. Thanh Toàn tường trình từ Dana Point trong phóng sự đặc biệt sau đây (video 3 phút).

1 Bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Ðộc tài là chất độc

Mạng lưới Express ở Việt Nam đăng lại một bản tin hàng ngày theo báo Dân Trí. Một người lái xe “đi công tác” từ thành phố Vinh, Nghệ An, đi tới thị trấn Hưng Nguyên. Xe đang chạy thì gặp cảnh sát công lộ ngăn lại. Tài xế Tăng Hồng Hà đạp thắng, xe chưa kịp ngừng thì anh bị một viên đại úy “tổ tuần tra giao thông” dùng gậy đập vào đầu. Trán chảy máu, người chao đảo, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Trưởng chi công an huyện Hưng Nguyên nhận là thuộc cấp đã làm sai, phải bị kiểm điểm. Nhưng viên đại úy thì không nhận tội, nói rằng anh chỉ đưa cây gậy lên làm dấu hiệu cho xe ngừng, vô tình gây thương tích. Ý nói: Người lái xe tự đập đầu vào cây gậy của cảnh sát! Có tin được không? Nếu ai tin lời ông Nguyễn Minh Triết nói rằng, nước Việt Nam có tự do dân chủ, thì mới tin anh đại úy cảnh sát này.

Tại sao một anh cảnh sát lưu thông lại hung dữ, đánh bể đầu người ta như vậy? Nếu hỏi ông Nguyễn Minh Triết, ông sẽ trả lời rằng, anh đại úy cảnh sát này “hành động theo ý riêng,” và một hành động như vậy chắc chắn “không phải là điều tốt.” Và ông Triết sẽ hứa chính phủ Việt Nam “sẽ có biện pháp thích hợp để xử lý.” Ông có thể còn nói thêm, “Ðây là một lỗi lầm của nhân viên thừa hành chứ chính sách của chính phủ không chủ trương làm như thế.”

Chúng ta có thể đoán ông Nguyễn Minh Triết sẽ nói vậy, vì đó là những lời ông nói khi giải thích về hành động một công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý giữa phiên tòa ở Huế. Nhưng chúng tôi đề nghị ông Nguyễn Minh Triết đừng dùng biện pháp nào “xử lý” ông công an bịt miệng. Vì ông ta chỉ hành động một cách máy móc, theo phản ứng tự nhiên, không kịp suy nghĩ gì cả. Cả đời ông ta đã được huấn luyện để làm công việc đó. Bắt tội ông ta là oan! Còn viên đại úy cảnh sát tuần tra giao thông thì đáng phạt thật. Ðánh bể đầu người ta, không lẽ bỏ qua? Nhưng nếu định truy tố anh ta thì nên điều tra thật kỹ lưỡng. Hãy hỏi tại sao anh ta lại có hành động hung dữ đối với người dân như thế? Có phải cha mẹ anh dạy con như thế hay không? Hay là khi đến trường bị thầy, cô giáo đầu độc, sinh ra tính ác? Có phải anh bị bà xã cằn nhằn, sinh ra nóng nảy hay chăng? Hay là chính cái chế độ sử dụng những người như anh đã tạo nên thói quen coi thường sinh mạng người dân, tự coi họ có quyền hành hạ người dân một cách thản nhiên như vậy?

Những hành động của viên đại úy cảnh sát lưu thông hay viên công an bịt miệng người giữa tòa tuy xảy ra trong những hoàn cảnh khác nhau rất nhiều nhưng đều cùng diễn tả một tình trạng xã hội Việt Nam. Ðó là tình trạng một xã hội sống dưới chế độ độc tài quá lâu năm. Chế độ đó dựa trên guồng máy công an cảnh sát cho nên trao cho những giới chức này rất nhiều quyền hành. Tất cả các chế độ độc tài đều phải dựa trên guồng máy công an, mật vụ. Phải chia quyền lợi cho quý vị này, vì họ là những giường cột nâng đỡ chế độ, là lá chắn bảo vệ chế độ, là những người lính xung phong tấn công vũ bão khi có ai dám đứng lên chỉ trích, phê bình chế độ.

Những người cảnh sát, công an có hành động hung bạo chỉ là một triệu chứng dễ thấy nhất về tính chất cực độc của một nhà nước độc tài. Ðộc tài là một thứ chất độc. Nó độc hại vô cùng. Nó phải dùng bạo lực để bắt dân vâng lời, nếu không thì không người dân nào chịu sống làm nô lệ mãi. Khi vua quan chuyên dùng bạo lực để khép dân chúng trong vòng “ổn định” của nhà nước, thì cả xã hội cũng bắt chước theo. Cả xã hội sống trong bạo lực, sống bằng bạo lực. Quý vị có đọc những truyện ngắn và những vở kịch của Nguyễn Huy Thiệp thì hiểu. Tại sao trong đó có nhiều người hành động một cách tàn ác, bất nhân với những thái độ thản nhiên, hờ hững như vậy? Ở đâu mà có những bác sĩ chuyên phá thai ở bệnh viện để lấy xác phôi thai đem về nuôi lợn bán? Ở đâu có cảnh cô con chờ bố nằm ngủ thì cầm búa bổ lên đầu bố? Vì xã hội đã sống thản nhiên với tội ác như vậy từ lâu. Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, học trò giết thầy. Tất cả các quy tắc “đạo đức cũ” xóa bỏ hết. Chỉ cần hết lòng trung thành với đảng, tuyệt đối theo đúng chính sách, thằng nọ tố cáo thằng kia làm sai lời lãnh tụ, đó là “đạo đức cách mạng” mà ông Hồ Chí Minh vẫn dạy đảng viên của ông.

Nhưng bạo lực riêng thôi chưa đủ độc hại. Những ông Bokassa, Idi Amin chuyên dùng bạo lực, ách độc tài không trụ được bao lâu. Những chế độ của Hitler, Pol Pot không phải chỉ dùng bạo lực. Họ còn một guồng máy tuyên truyền để kéo dài chế độ nữa. Nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn viết trong bài diễn văn gửi cho Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển, khi ông được trao giải Nobel về văn chương năm 1970, nhưng không được đi lãnh: “Chúng ta đừng quên rằng bạo lực không bao giờ đứng một mình, nó không bao giờ tồn tại được nếu đứng một mình. Nó phải liên kết với dối trá.”

Hai guồng máy đó dựa vào nhau mà sống. Solzhenitsyn giải thích thêm: “Bạo lực tìm thấy chỗ trú ẩn duy nhất của nó là gian dối. Sự dối trá tìm được bạo lực là chỗ nâng đỡ duy nhất. Bất cứ kẻ nào coi bạo lực là phương tiện thì cũng đều lấy gian dối làm quy tắc sống.”

Một người đã sống trong “trại học tập cải tạo” của Stalin nhiều năm, rồi phải sống trong một xã hội Liên Xô hơn nửa đời người, nghẹt thở dưới ách kiểm soát tinh vi của công an mật vụ và của guồng máy tuyên truyền ngụy tạo dối trá trâng tráo, cho nên Solzhenitsyn đã nhìn thấu mối tương quan giữa gian trá và bạo lực như thế. Ông Hồ Chí Minh đã học tập, giác ngộ và nhập cảng toàn thể hai bộ máy bạo lực và dối trá đó vào nước ta. Và đảng Cộng Sản Việt Nam bảo rằng họ đời đời biết ơn ông ấy.

Solzhenitsyn giải thích rằng, chế độ độc tài “không cần phải luôn luôn bóp cổ, xiết họng người ta.” Họ chỉ cần bắt người dân vâng theo những lời giả trá, chỉ cần đồng lõa với dối trá, như vậy là đủ “ổn định” xã hội rồi.

Nhưng khi người dân tập sống chung với sự giả trá cả một đời, người ta sẽ mất thói quen sống lương thiện. Trẻ em lớn lên trong xã hội như vậy, sẽ không phân biệt được thiện và ác. Hãy đọc năm lời dạy của Hồ Chí Minh dành cho nhi đồng. Có câu nào khuyên các em phải sống thật thà, phải kính yêu cha mẹ hay không? Ðó là những thứ “đạo đức cũ,” mà ông Hồ coi là “đứng ngược đầu” khi so sánh với đạo đức cách mạng của ông.

Cho nên một chế độ độc tài sẽ đầu độc cả xã hội. Một nhà văn châu Mỹ La tinh, Mario Vargas Llosa, cũng diễn tả ý đó. Ông nói, “Chế độ độc tài làm nhiễm độc tất cả những thứ mà nó nắm trong tay; từ các định chế chính trị cho tới mối tương quan giữa cha và con.” Những cuốn tiểu thuyết của Llosa mô tả xã hội nơi ông sống, trong những giai đoạn họ phải chịu đựng chế độ độc tài. Trước đây 20 năm, Llaso là một tiếng nói lẻ loi ở Peru, khi ông kêu gọi phải bảo vệ quyền tư hữu và tự do kinh doanh. Vị tổng thống thời đó, Alan Garcia nhất định theo Chủ Nghĩa Xã Hội, quyết định phải quốc hữu hóa các ngân hàng. Năm 1990 ông Llaso ra ứng cử tổng thống, nhưng may mắn thua ông Alberto Fujimori. Nhờ không trúng cử, Llaso tiếp tục viết, bây giờ ông nhất định chỉ làm một nhà văn để được nói sự thật. Bộ tiểu thuyết bốn cuốn “Trò Truyện Trong Giáo Ðường” của ông kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày của những người dân bình thường. Ông muốn mô tả “cái chế độ độc tài nó không phải chỉ tự giới hạn trong việc kiểm soát sách báo hay cấm người dân không được sinh hoạt chính trị. Không! Chế độ độc tài nó tạo ra cả một hệ thống để thấm nhập vào tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống con người.”

Ngày nay, ông tổng thống cũ Alan Garcia trở lại chấp chánh sau khi ông Fujimori bị tố cáo quá độc tài, bị lật đổ, phải sống lưu vong. Llaso nhận xét: “Bây giờ, ông Garcia đang cai trị lần nữa, nhưng chính ông Garcia ngày xưa đó lại đang là một người cổ vũ mạnh nhất cho một nền kinh tế tư bản ở Peru! Buồn cười không?”

Llosa đã sống lưu vong trong nhiều năm, và ông có dịp so sánh cuộc sống tự do khác với đời sống dưới chế độ độc tài. Trong một cuốn tiểu thuyết khác, “Bữa Tiệc Của Con Dê,” có đoạn ông viết về cái thú vui khi một người sống tự do. “Nó sướng lắm. Cái tách cà phê đó, hay cái ly rượu rum đó đều có vị ngon hơn, hít một hơi khói thuốc hay bơi trong đại dương giữa một ngày nóng bức, cái cuốn phim mình coi chiều Thứ Bảy hay điệu nhạc nghe trên radio, tất cả mọi thứ đem lại cho mình một thú vui êm ái trong thân thể và trong tinh thần, khi mình được hưởng cái thứ mà nhà độc tài Trujillo đã lấy mất của người dân Dominican trước đây 31 năm: tự do!”

Không cần nói nhiều, chúng ta hiểu được những điều mà Solzhenitsyn hay Llaso diễn tả. Một chế độ độc tài là một thứ chất độc. Nó xâm nhập cơ thể và đầu óc mọi người dân sống trong đó. Thử hít thở không khí tự do đi, người ta có thể cảm thấy sống dưới chế độ độc tài nó độc hại thế nào.

Anh đại úy cảnh sát giao thông đập vỡ đầu anh tài xế Tăng Hồng Hà, anh ấy hành động đúng theo thói quen của một người xưa nay vẫn được trao toàn quyền sinh sát trong phạm vi hoạt động của mình. Thằng nào ông bảo không vâng lời ngay thì ông đánh bỏ mẹ nó đi! Nền văn minh xã hội chủ nghĩa đã tạo nên thái độ và cung cách hành sử đó. Anh công an bóp miệng ông thầy tu cũng vậy. Anh phản ứng rất tự nhiên khi thấy người nằm trong bàn tay quản lý của mình bỗng dưng to tiếng. Ở một tòa án bình thường, một quốc gia bình thường, người cảnh sát sẽ chờ quan tòa đập chày và lên tiếng cảnh cáo, rồi ra lệnh đưa “bị cáo” ra khỏi tòa khi gây ồn ào. Nhưng Việt Nam không phải là một xã hội bình thường. Người dân đã sống trong chế độ độc tài hơn nửa thế kỷ, anh công an tự nhiên thấy công việc của mình là phải thò tay bị miệng! Anh ta không có ý định xấu. Cái chế độ bao trùm lên xã hội đã tạo cho anh lối phản ứng vũ phu và thiếu văn minh như vậy! Ông Nguyễn Minh Triết đừng có phạt anh ta. Hành động của anh là tiêu biểu cho cả chế độ Stalin nít mà ông Hồ Chí Minh đã đem từ Nga về nước ta. Có buộc tội ai, phải trở về từ ông Hồ.

Chất độc do một chế độ độc tài đem tiêm nhiễm vào trong xã hội chỉ được giải đi khi nào không còn chế độ độc tài đó nữa. Khi nào người dân được phép nói sự thật, nói thẳng, không lo tự kiểm duyệt; khi đó xã hội sẽ bắt đầu thay đổi. Người công an sẽ khác. Người cảnh sát giao thông cũng sẽ khác. Rồi trẻ em sẽ được học những nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Những giá trị tạo nên các xã hội an lành, lương thiện hơn. Chính vì biết như vậy cho nên những ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Lý, Trịnh Vũ Bình, Nguyễn Văn Ðài, bà Lê Thị Công Nhân v.v… cứ mỏi miệng yêu dầu đảng cộng sản cho người dân Việt được sống tự do hơn.

Ngô Nhân Dụng
(@NguoiVietOnline)

Thêm bình luận Tháng Sáu 27, 2007

ĐÃ ĐẾN LÚC CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CSVN PHẢI THAY ĐỔI TƯ DUY

Trong chuyến công du của chủ tịch Nguyễn minh Triết đến Hoa Kỳ vừa qua có rất nhiều điều khiến cho chúng ta cần phải suy nghĩ. Đây là thời điểm quan trọng của lịch sử để đất nước Việt Nam tiến lên ngang tầm thế giới nếu các nhà lãnh đạo ĐCSVN biết nhìn lại chính mình. Thật vậy, khi VN được vào WTO, được Hoa Kỳ gạt tên trong danh sách CPC và được hưởng quy chế PNTR cùng những quyền lợi khác là thời diểm mà VN đã cam kết thực thi tất cả những quyền căn bản về tự do, dân chủ, nhân quyền đã được quy định trong bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, các công ước quồc tế và những điều lệ mà một thành viên WTO bắt buộc phải thi hành.

Nhưng rất tiếc trong thời gian vừa qua chính quyền CSVN với sự độc đoán và hành xử riêng theo bản chất sẵn có đã quên đi tất cả những lời cam kết, gia tăng đàn áp thô bạo các thành phần bất đồng chính kiến trong nước, vu khống và bịa đặt ra những điều không có thật để kết tội những nhân vật đấu tranh ôn hòa bất bạo động cho quyền tự do dân chủ, một quyền bất khả xâm phạm mà cả loài người tiến bộ đều phải tôn trọng và hoan nghênh. Hành động này đã khiến cho các quốc gia trên thế giới đồng thanh lên án. Vừa qua, các nghị quyết lên án ĐCSVN như: NQ 77 của Tiệp Khắc, NQ 1481 của hội đồng Châu Âu cùng với sự lên tiếng của các dân biểu QH Hòa Lan, Canada, Austrialia, Ba lan… cũng như các cơ quan độc lập về nhân quyền khắp nơi trên thế giới và nhất là sự đồng thanh lên tiếng phản đối của các dân biểu, nghị sĩ Quốc hội Hoa Kỳ đã khiến cho cuộc đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân VN rạng ngời ánh sáng, cùng với sự tiếp sức hào hùng không thể thiếu của đồng bào VN hải ngoại trong thời gian qua đã chứng minh cho chính quyền CSVN thấy rằng thời điểm độc tài, độc đoán sẽ không còn chỗ đứng trong lòng dân tộc nữa.

Nếu các nhà lãnh đạo ĐCSVN muốn mình vẫn còn tồn tại thì ngay từ bây giờ phải thay đổi tư duy, phải chấp nhận có cạnh tranh lành mạnh từ kinh tế lẫn chính trị trong một thể chế đa nguyên, phải tôn trọng quyền tự do chọn lựa của toàn dân trong vai trò lãnh đạo đất nước. Bởi vì với thể chế đa nguyên thì tất cả các đảng phái đều có quyền độc lập ngang nhau, nếu đường lối của ĐCSVN phù hợp với ý muốn của nhân dân thì sẽ được nhân dân tín nhiệm qua cuộc bầu cử tự do để điều hành đất nước, các đảng phái khác sẽ giữ vai trò đối lập và giám sát để tránh cho guồng máy chính quyền không đi vào con đường độc tài, độc đoán đầy dẫy bất công, tham nhũng và thối nát không phương cứu chữa như hiện nay.

Chuyến công du của ông Triết trong lúc này đã là một khó khăn và bài học cho ông suy gẫm để tìm cho mình con đường đúng ở tương lai, ngoài sự đoàn kết biểu tình đông đảo chưa từng thấy của cộng đồng Việt nam hải ngoại, một rừng hình ảnh về sự bịt miệng cha Lý cùng với hình của luật sư Nuyễn văn Đài, luật sư Lê thị Công Nhân anh hùng…., cuộc họp của ông Triết với các dân biểu cao cấp trong Quốc hội Hoa kỳ là thời gian đen tối nhất, bởi vì tất cả các dân biểu hiện diện đều lên án về hành động vi phạm nhân quyền, đàn áp thô bạo những người bất đồng chính kiến mà chính quyền CSVN do ông lãnh đạo đã thách thức lương tri của cộng đồng nhân loại. Với sự đồng tâm nhất trí của người VN hải ngoại khiến cho ông Triết phải lén đi vào cửa sau Tòa Bạch ốc để gặp TT Bush.

Tuy nhiên, với những gì mà ông Triết đã nói và trả lời báo chí, với sự tránh né và vu khống các nhà bất đồng chính kiến để chạy tội, chứng tỏ rằng não trạng của ông ta đã có vấn đề. Ông Triết nói rằng:

1/ Tại VN không có chuyện bắt giam người bất đồng chính kiến mà chỉ giam người vi phạm luật pháp mà thôi. Câu trả lời này hầu như là một câu châm ngôn mà ĐCSVN ban ra để cho tất cả những thành phần cán bộ từ trung ương xuống địa phương đều phải nói giống nhau như vậy. Thực tế ai ai cũng biết là tất cả các nhà tranh đấu cho tự do và dân chủ tại VN họ chỉ tranh đấu ôn hòa và bất bạo động, họ chỉ thực hiện cái quyền mà Hiến pháp do chính ĐCSVN ban ra năm 1992. Điều 69/HP quy định: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do được quyền thông tin..v.v… Cha Lý giữ vai trò cố vấn cho các phong trào tranh đấu dân chủ chống lại mọi bất công, cường quyền mà ĐCSVN đã và đang áp đặt vào nhân dân là việc làm hợp lý với lương tâm của người chăn chiên theo tinh thần của Chúa. Các phong trào và đảng phái của những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ một cách ôn hòa, bất bạo động. Họ chỉ đòi hỏi ĐCSVN phải sửa sai những định kiến sai lầm đúng với những gì mà đảng thường nói hàng ngày là chính quyền do dân, vì dân…., họ chỉ chủ trương một đất nước đa nguyên để người dân có quyền tự do chọn lựa người tài phục vụ đất nước chớ họ không bao giờ chủ trương lật đổ hoặc giải thể ĐCSVN, vậy thì họ vi phạm cái gì trong hiến pháp. Câu trả lời của Nguyễn minh Triết là một ngụy biện gian dối đã thách thức lương tri và sự nhận thức của loài người.

Thực tế chính điều 88 bộ luật hình sự mà ĐCSVN dựa vào để bắt và gán ghép cho các nhà bất đồng chính kiến với các bản án đã được viết sẵn một cách vô lý là vi phạm trắng trợn vào điều 69 hiến pháp. (nên nhớ hiến pháp là một định chế để cho QH căn cứ vào đó mà phê chuẩn luật pháp để khỏi vi hiến, rất tiếc QH Việt nam là do đảng lập ra, cho nên luật pháp VN chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi của đảng. Vì vậy mà có rất nhiều điều vi hiến nhưng vẫn được thi hành. Chẳng hạn như việc cho công an bịt miệng cha Lý trước tòa, không cho thân nhân tham dự phiên tòa, không cho cha Lý tự biện hộ, cho công an mang súng đứng 2 bên khóa tay cha Lý cũng như đưa LS Nguyễn văn Đài, LS Lê thị Công Nhân mặc quần áo tù trên Ti Vi, cho phép báo chí một chiều của đảng đăng bài vu khống tội trạng trong khi tòa án chưa xử là việc làm vô nhân đạo mà chính ngay cả luật pháp vi hiến của VN cũng chưa có điều khoản nào quy định như vậy).

2/ Về tôn giáo ông Triết nói rằng: tại VN trong các chùa, nhà thờ, các nơi hành đạo…. đều được tự do hành đạo. Thực tế điều này chỉ xảy ra trong những chùa, nhà thờ và các nơi do đảng cho phép và quản lý. Còn những nơi không nằm trong sự quản lý của đảng như : hầu hết các chùa thuộc GHPGVNTN, GHPGHH thuần túy, một số hệ phái tin lành…. chẵng những không được tự do hành đạo mà các vị lãnh đạo tinh thần này còn phải bị quản chế một cách khắt khe và nghiệt ngã nội bất xuất, ngoại bất nhập như trường hợp của nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Thiện Minh và các vị khác thuộc GHPGVNTN, của ông Lê Quang Liêm GHPGHH thuần túy, của các Mục sư Quang, Chính..v.v.. cùng với một số Linh mục Công giáo là những điển hình mà chính quyền CSVN dù có biện minh cở nào cũng không sao che lấp được.

3/ Ông Triết so sánh rằng: Trước năm 1975 khi các cán bộ nằm vùng của Đảng cũng hoạt động ôn hòa nhưng vẫn bị bắt và bị bỏ tù, một sự so sánh qúa ngây thơ và khờ khạo. Thực tế ai ai cũng biết là sự hoạt động của các cán bộ nằm vùng của ĐCSVN trước 1975 là nhằm mục đích chỉ điểm ám sát các viên chức cao cấp và tướng tá trong chính quyền để làm suy yếu chế độ VNCH, giựt mìn xe đò, phá cầu giao thông, pháo kích vào chợ búa nơi đông dân, pháo kích vào trường học (trường hợp ở Cai Lậy) để gây hoang mang và sợ hãi trong nhân dân. Sau hơn 32 năm chìm vào dĩ vãng, nhân dân trong nước cũng như kiều bào hải ngoại đã có phần quên đi những nỗi đau thương đầy nước mắt này, nhưng tự nhiên hôm nay ông Triết đã khơi lại khiến cho sự căm thù lại có dịp trào dâng trong lòng của mọi người dân Việt.

4/ Ông Triết đã dùng những lời nói văn chương bóng bẩy mà ông đã được chế độ VNCH dạy dỗ khi ông còn là sinh viên Đại học Sài Gòn để hô hào và khuyến khích kiều bào VN hải ngoại đem tiền của về Việt Nam xây dựng Quê hương, Tổ Quốc nhưng thực chất là để làm giàu thêm cho các đảng viên và thành phần lãnh đạo như ông, cũng như cũng cố địa vị, thành trì vững chắc cho chế độ CS được ngự trị muôn đời trên đất nước. Biết bao nhiêu người nhẹ dạ về VN kinh doanh để rồi bị cách làm việc về cơ chế chính quyền CS gài bẫy đành phải trắng tay mà còn bị tù đầy nữa, trường hợp của thương gia Hòa Lan Trịnh Vĩnh Bình, của một số Việt kiều ở Mỹ về VN kinh doanh là những bằng chứng.

Ông Triết hô hào người Việt hải ngoại nên xóa bỏ hận thù để thương yêu nhau, nhưng chính cá nhân ông và nguyên bộ máy chính quyền của ông có biết thương người không khi hàng ngày Công an, mật vụ cứ rình rập theo dõi để bắt những ai dám lên tiếng tranh đấu cho quyền tự do dân chủ. Nếu giả sử Cộng đồng VN hải ngoại không giàu có và thành đạt như ngày hôm nay thì ông Triết và chính quyền CSVN có chịu từ bỏ tội danh phản quốc để thay vào những từ: Việt kiều yêu nước, kiều bào là cánh tay nối liền, là một phần của dân tộc không thể tách rời, là khúc ruột ngàn dặm của quê hương đất nước hay không?. Dĩ nhiên hiện nay vẫn có một số ít đồng bào hải ngoại còn nghe và tin tưởng vào sự dối trá của CSVN, trong số đó đáng chê trách nhất là Nguyễn Cao Kỳ (nhân vật đã từng đứng trong hàng ngủ lãnh đạo đất nước trước 1975 chống lại cuộc xâm lăng của Cộng Sản). Nguyễn cao Kỳ đả phản bội lại ý muốn của toàn dân, phản bội lại quê hương, tổ quốc và con đường chính nghĩa quốc gia. Nguyễn cao Kỳ không có quyền và tư cách gì để kêu gọi đồng hương tiếp tay làm giàu thêm cho ĐCSVN cả.

5/ Ông Triết cũng nói rằng: bất đồng chính kiến là chuyện bình thường, ngay cả trong gia đình có 5, 7 người vẫn có những ý kiến khác nhau, ông rất tôn trọng nhân quyền và những ý kiến bất đồng. Nói thì rất hay, nhưng tại sao không cho người dân có quyền lập đảng, lập hội đoàn để bênh vực quyền lợi chính đáng cho người cô thế, không cho quyền ra báo chí tư nhân, còn quyền tự do ứng cử như đảng tuyên truyền chỉ là hình thức mỵ dân để lừa đảo quốc tế mà thôi, bởi vì tất cả phải qua sự sàn lọc của MTTQ là cơ quan đắc lực do lập ra đảng. Kể cả khi kiểm phiếu các ứng cử viên mặc dù đả được đảng chọn nhưng vẫn không được có mặc, như vậy mà gọi là công bằng và tự do dân chủ hay sao?. Không biết khi nói và trả lời theo sự chỉ định của đảng như vậy lương tâm ông Triết có bị cắn rứt hay không? Trong quá khứ những lời hứa của các nhà lãnh đạo CSVN khi ra nước ngoài đều không được thực thi đúng mức tại trong nước. Tôi xin các nhà kinh doanh nước ngoài phải cân nhắc điều này khi muốn làm ăn với VN.

Câu nói của cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu: Đừng tin vào những gì Cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm vẫn là chân lý cho những ai còn tin vào Cộng sản. Cuộc công du nước Mỹ của chủ tịch Nguyễn Minh Triết là nỗi đau và nhục nhã, đau là vì đại đa số cộng đồng VN hải ngoại đã biểu tình chống đối đại quy mô chưa từng có từ trước đến nay, còn nhục nhã là không được Hoa Kỳ đón rước theo nghi thức hàng quốc khách, đã bị các dân biểu quốc hội Hoa Kỳ chất vấn và phản đối thẳng về sự vi phạm nhân quyền, đàn áp tàn bạo các nhà đấu tranh dân chủ, được Tổng thống Bush cảnh báo là VN bắt buộc phải đổi mới về chính trị song song với kinh tế nếu muốn được làm bạn thân thiện với Hoa Kỳ và các nước tự do trên thế giới, cũng như được sự hết lòng phục vụ quê hương của cả khối cộng đồng VN hải ngoại.

Đã đến lúc ĐCSVN phải từ bỏ quyền lực độc đoán của mình để chấp nhận những thành phần có tài có đức trong cộng đồng dân tộc phục vụ đất nước, thể chế đa nguyên là con đường duy nhất đưa đất nước tiến lên theo đà văn minh của thế giới. Một Nguyễn cao Kỳ và một vài nhân vật nịnh hót khác không thể đại diện cho cả cộng đồng VN hải ngoại, càng không thể giữ vững được ngai vàng mãi mãi cho dù ĐCSVN có dâng hiến thêm đất đai VN cho quan thầy Trung Cộng.

Chân lý lúc nào cũng là chân lý và sự thật lúc nào cũng vẫn là sự thật. Việc báo chí và các đài phát thanh, truyền hình VN tường thuật lại cuộc công du Hoa Kỳ của ông Nguyễn minh Triết nhưng không ghi đầy đủ cuộc hội kiến của QH Hoa Kỳ, nhất là bỏ qua lời nói về nhân quyền của TT Bush với ông Triết là một thiếu sót không thể tha thứ được. Các nhà lãnh đạo CSVN nên biết rằng nếu trong thời gian sắp tới không mở rộng quyền tự do dân chủ và nhân quyền thì vấn đề VN bị đưa trở lại danh sách CPC, bị thu hồi quy chế PNTR và các quyền lợi khác là trong tầm tay và quyền hạn của QH Hoa Kỳ. Dư âm của những oan hồn thời cải cách ruộng đất ở miền Bắc, oan hồn của những mồ chôn tập thể ở Huế vào tết Mậu Thân, những nỗi oan ức của thời đánh tư sản mại bản sau 1975 mà cho đến bây giờ chưa khắc phục được vẫn còn đó. Xin đừng vì danh lợi đê hèn cá nhân mà quên đi quyền lợi chung của tổ quốc và nhân dân.

Nếu vũ lực đã không làm cho thế giới ngưng tiến bộ, nếu đàn áp đã không làm sai lạc được sự thật, mà chỉ là một vết nhơ trong lịch sử thì thiết tưởng vũ lực và đàn áp chưa phải là biện pháp tốt nhứt để che đậy những quan niệm lỗi thời phản tiến bộ. Kính xin quý vị lãnh đạo chính quyền CSVN, quý vị cán bộ đảng viên bảo thủ, quý vị trong lực lượng công an, quân đội nhân dân VN phải tự vấn lương tâm, suy nghĩ lại việc làm của mình để tìm con đường đi đúng cho quê hương và đất nước.

Ngày 26/6/2007
Hoàng Trung Chánh

Thêm bình luận Tháng Sáu 27, 2007

Những điều lẽ ra…

Đứng dậy đi và…quên quá khứ đi!

Ai căm thù ai đây?

“… Không có gì đẹp hơn là khi cả nước nhìn nhau như anh em, dù là bất đồng và phảỉ chấp nhận bất đồng cuả nhau…”

Lẽ ra, lẽ ra… Đáng lý ra, đáng lý ra… Hay: phải chi hồi đó… Phải chi mà… Chúng ta có quá nhiều lần để nói lên những lời hối tiếc. Rằng lý ra chúng ta đã có thể làm đẹp hơn, làm hay hơn. Và nếu ai cũng có thể đoán trước những bất trắc, sai lầm để tránh thì thế giới này đẹp biết là bao nhiêu.

Những chuyện linh tinh thì có quá nhiều, khó tránh nổi. Mỗi khi chúng ta bị phạt vì cách láí xe thế này, thế nọ, và rồi chúng ta lại tự hối tiếc rằng phải chi mình đi chậm lại, hay quẹo cho đúng theo đèn, và vân vân. Mỗi khi có chuyện gây gổ trong nhà, rồi chúng ta lại phải làm hòa, và trong lòng lại tiếc phải chi nhẫn nhịn trước, để buồn lòng nhau mà chi.

Nhưng có những chuyện hối tiếc cũng không kịp nữa. Và không gì có thể đền bù, vì không còn là chuyện nhỏ nữa. Một người đã chết, là đau thương cho cả một gia đình. Một người vào tù, là đau đớn cho cả một gia đình. Thời gian rồi sẽ làm quên đi mọi chuyện, sẽ xóa nhòa mọi chuyện, nhưng vẫn không thể làm người chết sống lại.

Và đó là những vết thương lớn cuả quê nhà. Chủ Tịch Nước CSVN Nguyễn Minh Triết trong buổi tiệc đêm Thứ Sáu ở Dana Point, một thành phố biển cách thủ đô tị nạn Little Saigon, đã nói rằng không có gì đẹp bằng lòng yêu thương, rằng căm thù mà chi nữa, rằng hãy cùng góp sức xây dựng lại cho Mẹ Việt Nam…

Phảỉ chi mà, người chết nghe những lời này mà sống lại được. Cuộc chiến thống nhất quê nhà thì đã xong rồi, phải chi mà, đúng vậy, phảỉ chi mà… lúc đó Miền Bắc thật tâm làm hòa với Miền Nam sau khi toàn thắng thì hay biết mấy.

Hàng trăm ngàn người vào tù cải tạo, và nhiều người không còn sức để chờ ngày ra tù. Hàng triệu người bị đẩy đi kinh tế mới, lên rừng, lên thác, để lại thành phố cho những kẻ chiến thắng kiêu căng. Cả triệu người ùa ra biển vượt biên, trong đó số người bỏ mạng ngoàì khơi không ít.

Đúng rằng đó là chuyện quá khứ. Nhưng chính phủ CSVN chưa bao giờ thật tâm nói tới chữ hối tiếc.

Kiêu căng tới nỗi Vũ Hạnh lôi mấy cuốn sách mới in lại cuả Dương Nghiễm Mậu ra giữa chợ để lấy roi đánh (nói theo kiểu văn chương cuả truyện “Nhan Sắc,” cuả nhà văn họ Dương). Trời ạ, 32 năm rồi đấy.

Căm thù tới nỗi mới mấy tuần trước còn cấm nhiếp ảnh gia Nick Út triển lãm, dù mọi giấy phép và vấn đề tổ chức đã sửa soạn xong. Có phảỉ chỉ vì tấm ảnh người anh cuả nhiếp ảnh gia Nick Út mặc áo trận phi công VNCH? Hay vì lý do nào khác.

Đó là những chuyện mới xảy ra vài tuần nay. Chưa cần nhắc tới chuyện ông Trần Đức Lương áp lực Mã Lai và Indonesia đập vỡ các tượng đaì thuyền nhân ở đảo Pulau Bidong và đảo Galang mấy năm trước.

Và bây giờ ông Nguyễn Minh Triết kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên quá khứ, “ôm lòng căm thù mà chi”, nhưng thực sự nên thấy, những người thất trận không có quyền đòi hỏi gì, vì luôn luôn quả bóng nằm trên sân kẻ thắng trận.

Những gì ông Triết hứa hẹn, như bỏ visa nhập cảnh, hay giúp mua nhà dễ dàng, vân vân, thực sự chỉ nhìn người Việt hải ngoại như người vụ lợi, cần về VN để tìm lợi riêng, và như thế đã nhìn sai vấn đề.

Tôi tin rằng rất nhiều người Việt hải ngoại không còn lòng căm thù quốc cộng nữa, mà đại đa số đều mong muốn quê nhà có nhân quyền thực sự, có các quyền tự do căn bản thực sự cho người dân. Đaị đa số không nhìn Việt Nam như chỗ để nghỉ hè, nghỉ mát để cần phảỉ miễn visa. Đại đa số cũng không nhìn VN như nơi để về hưu dưỡng già, để cần mua nhà thủ tục dễ dàng.

Và đại đa số cũng không dễ bị nhà nứớc mua chuộc, dù hôm nay chính phủ và các sở tình báo CSVN tiền rừng bạc biển. Nhà nước có thể hỏi hải ngoại rằng giá bao nhiêu thì có thể họ sẽ bán linh hồn? Một căn nhà Phú Mỹ Hưng? Một số tiền? Hay gì nưã?

Thực sự, nhà nước nên thấy đại đa số doanh nhân về VN kinh doanh đều muốn VN kinh tế vững mạnh, muốn tạo thêm việc làm cho dân Việt quốc nội. Chứ còn đâu có bao nhiêu trong họ dễ dàng bán linh hồn cho CSVN…

Phải chi mà, đúng là phảỉ chi mà… nhà nước CSVN thực sự nhìn Miền Nam như anh em một nhà từ 1975 thì xong từ lâu rồi. Cũng hệt như Hoa Lục khi đón nhận Hồng Kông và vẫn tôn trọng các quyền căn bản cuả người dân Hồng Kông, và đã xem mô hình tài chánh Hồng Kông như khuôn mẫu đáng học hỏi.

Không phải chuyện Bắc Kinh đã ký cam kết giữ nguyên trạng 50 năm cho Hồng Kông đâu. Mà đơn giản chỉ vì, Bắc Kinh không nhìn dân Hồng Kông như kẻ thù. Trong khi đó, Hà Nội lại nhìn dân Sài Gòn như kẻ thù.

Đaì BBC hôm 25-6-2007 có bản tin ghi lời ông Võ Văn Kiệt trên báo Singapore, trích:

“…Trả lời phỏng vấn cuả một tờ báo Singapore, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bày tỏ sự không hài lòng về tốc độ cải cách ở Việt Nam.

Ông Kiệt tỏ ý thất vọng là chính phủ hiện nay cuả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã không tăng tốc tiến trình đổi mới để theo kịp thế giới toàn cầu hóa…”

Trong bản tin, đài BBC ghi thêm:

“…Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt cuả BBC, ông Võ Văn Kiệt lên tiếng rằng nên đối thoại với những người bất đồng chính kiến.

Ông nói với BBC khi ấy rằng “chính kiến khác nhau, ý kiến khác nhau là bình thường, và điều quan trọng là cần phải có đối thoại, nói chuyện với nhau một cách sòng phẳng…”

Chuyện ông Kiệt nói thì chỉ là chuyện ông Kiệt nói. Còn công an làm lại là chuyện cuả công an. Nhưng đây là chỗ lý thú để ông Nguyễn Minh Triết suy ngẫm.

Trong khi chính phủ bắt hàng loạt các nhà bất đồng chính kiến, thì ông Triết kêu gọi những người hải ngoại, đại đa số là bất đồng chính kiến với Hà Nội, hãy về làm ăn kinh doanh và quên quá khứ.

Thực sự, quá khứ đã quên rồi. Chuyện trước mắt là đối thoại với người trong nước còn không chịu làm, thì làm sao chính phủ thật tâm đối thoại với hải ngoại? Tới mấy tảng đá trên đảo xa còn bị đánh vỡ để trả thù, thì tất nhiên bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý là điều dễ hiểu.

Phải chi mà Hà Nội nhìn Sài Gòn như anh em thật sự, như Bắc Kinh từ 10 năm nay nhìn về Hồng Kông, thì đâu cần tới chuyến đi cuả ông Triết hôm nay làm chi.

Chuyện qua rồi, thôi bỏ, dù là khó quên lắm, nhưng vì nghĩa lớn cũng sẵn sàng. Dù rằng người chết không thể sống lại. Vậy thì cùng nhìn về tương lai đi. Tuy nhiên, chuyện bây giờ làm gì, vẫn là trong quyền cuả nhà nước Hà Nội trước hết. Và toàn dân mong đợi rằng, trước hết, nhà nước hãy trả tự do cho các nhà dân chủ, hãy nhìn họ như anh em để đối thoại trước hết. Không có gì đẹp hơn là khi cả nước nhìn nhau như anh em, dù là bất đồng và phảỉ chấp nhận bất đồng cuả nhau. Và hãy cho những người bất đồng đó quyền tự do phát biểu, tự do báo chí… Không phải là đẹp sao?

Trần Khải

Thêm bình luận Tháng Sáu 26, 2007

Làm báo kiểu Hà Nội

“… chỉ có các phóng viên cuả phía Việt Nam thì dường như bị hỏng tai hết cả, hay không hiểu tiếng Mỹ …”

ĐƯA TIN MỘT CHIỀU

Làng báo nhà nước cộng sản Việt Nam đã để lại nước Mỹ hình ảnh tồi tệ nhất cuả họ sau chuyến viếng thăm 5 ngày cuả Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết. Họ không những chỉ nói một nửa sự thật mà còn ngụy tạo tin để đánh lừa dư luận.

Thứ nhất, taị Nữu Ước ngày 18-6, chặng dừng chân đầu tiên cuả Triết, những phóng viên được tháp tùng đã tường thuật không thiếu một chữ lời phủ nhân để đánh lừa dư luận cuả Triết nói rằng ở Việt Nam “không hề có chuyện bắt bớ, xét xử vì lý do bất đồng chính kiến….Những người này vi phạm pháp luật Việt Nam và phải được xử lý theo pháp luật Việt Nam. Họ hoạt động có tổ chức, kết nối trong nước, ngoài nước, nhận tiền, lập đảng này đảng khác, lên kế hoạch lật đổ chế độ. Hành động như vậy không thể chấp nhận được”.

Các báo này cũng đề cao tuyến bố có sắp đặt trước cuả Triết nhằm vào người Việt tị nạn sống tại Hoa Kỳ, theo đó, kề từ ngày 1/9 (2007), người Việt về nước không cần phải thị thực sổ thông hành và thân nhân cuả các quân nhân VNCH tử trận chôn tại Nghĩa trang Quân đội ở Thủ Đức nay có thể tự do đến chăm nom, sửa sang vì nay Nghĩa trang này đã được chuyển quyền quản lý từ Bộ Quốc phòng sang cho tỉnh Bình Dương.

Nhưng những phóng viên viết bài đã quên rằng chế độ không chỉ bắt giam những người lính VNCH còn sống từ sau ngày 30-4-1975 mà đã “bỏ tù” cả những người chết chôn ở Nghĩa trang này từ 32 năm qua !

Những tờ báo không có người được phép đi theo thì hoặc đã đăng lại bài tường thuật cuả báo có phóng viên gửi đi, hay in “nguyên con” bài viết một chiều cuả Thông tấn Xã Việt Nam mà không hề có lời phản bác. Trong khi các đài phát thanh, hay thông tấn quốc tế viết về các hoạt động cuả Triết ở Nữu Ước, đã không quên đề cập đến những lời lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do ngôn luận cuả các tổ chức nhân quyền, tôn giáo, báo chí, chính phủ và các dân biều, nghị sĩ Mỹ, nhất là đối với các vụ bắt giam những người bất đồng chính kiến từ đầu năm đến nay.

Thứ hai, chủ trương đề cao “Việt kiều” và “rào trước đón sau “ để chỉ viết về những điều tốt cuả chuyến đi còn phản ảnh trong bài Bình luận cuả báo Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền cuả trung ương đảng trong số ra ngày 18-6-07. Báo này viết: “Một nhân tố quan trọng trong việc phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là hơn 1,5 triệu kiều bào Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ðảng và Nhà nước ta có chính sách nhất quán coi Việt kiều là một bộ phận không thể tách rời, luôn đánh giá cao tấm lòng hướng về Tổ quốc và những đóng góp cuả kiều bào vào sự nghiệp phát triển đất nước. Chính phủ Hoa Kỳ công nhận sự đóng góp cuả Việt kiều đối với sự phát triển kinh tế cuả Hoa Kỳ. Chuyến thăm cuả Chủ tịch nước sẽ chuyển thông điệp hòa hợp dân tộc tới cộng đồng Việt kiều một cách mạnh mẽ và cụ thể hơn.”

“Việt Nam và Hoa Kỳ có những điểm khác nhau về thể chế, cơ cấu kinh tế, xã hội, trình độ phát triển, ở cách xa nhau nửa vòng quả đất. Do thiếu thông tin, nên một bộ phận nhỏ người Hoa Kỳ vẫn giữ thái độ thiếu thiện cảm với Việt Nam. Một số bất đồng, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, là rất nhỏ so với lợi ích chung cuả cả hai nước và cần được giải quyết thông qua đối thoại.”

“Xu thế ủng hộ Việt Nam vẫn là chủ đạo, phát triển quan hệ kinh tế – thương mại là trung tâm trong quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ.”

Trước khi rời Việt Nam ông Triết cũng đã lạc quan nói với hãng thông tấn nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN): “Chuyến đi diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước đang tiến triển tích cực, các mặt hợp tác phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, đem lại nhiều kết quả thiết thực đáp ứng lợi ích và nguyện vọng cuả nhân dân hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ. Tôi sẽ trao đổi với Tổng thống Bush và các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ về những biện pháp cụ thể nhằm tăng cường tính hiệu quả và ổn định cuả quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Tôi sẽ gặp những người dân Hoa Kỳ cũng như người Việt Nam đang sinh sống ở Hoa Kỳ để góp phần thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, tăng cường sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa hai dân tộc. Tôi cũng sẽ gặp gỡ lãnh đạo giới doanh nghiệp Hoa Kỳ và khuyến khích họ làm ăn nhiều hơn nữa với Việt Nam…”

“…Tuy hai bên vẫn còn một số bất đồng, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, nhưng tôi tin rằng những khác biệt này là rất nhỏ so với lợi ích chung cuả hai nước và cần được giải quyết thông qua đối thoại. Với nỗ lực và thiện chí cuả cả hai bên, tôi tin rằng quan hệ hai nước sẽ phát triển hơn nữa trong thời gian tới, phục vụ lợi ích cuả hai dân tộc, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực châu Á.”
Về mục tiêu kinh tế-thương mại thì ông Triết đã đạt được. Liên lạc mậu dịch giữa Việt Nam và Mỹ sẽ tăng từ 4 tỉ Mỹ kim hiện nay có thể lên đến khoảng 10 tỉ Mỹ kim sau chuyến đi cuả Triết. Nhưng về mặt chính trị thì ông Triết đã ra về tay không, nhất là trong giấc mơ “tăng cường sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa hai dân tộc”.

Bởi vì chính phủ Mỹ không coi chuyến viếng thăm cuả ông Triết là “cuộc thăm viêng cuả một quốc khách” (state visit) mà chỉ là cuộc thăm, tuy chính thức, nhưng bình thường là làm việc mà người Mỹ gọi là “working visit”, nên không có các nghi lễ dành cho quốc khách như có đội quân danh dự dàn chào, 21 tiếng súng đại bác mừng, chào cờ hai quốc gia tại Tòa Bạch Ốc, dự tiệc cuả Tổng thống Bush khoản đãi hay được mời đọc diễn văn trước lưỡng viện Quốc hội, không có Thông cáo chung (Final Comunique) vv…

Báo chí Mỹ cũng chỉ coi sự có mặt cuả ông Triết và phái đoàn Việt Nam ở Mỹ là “low profile”, không quan trọng bằng tin chiến sự ở Iraq, tình hình chính trị Do Thái-Palestinian, Ba Tư (Iran) hay vấn đề Luật Di dân cuả Nước Mỹ đang gặp khó khăn tại Quốc hội.

Thậm chí trong bản tin đầu giờ ngày 22-6 -07 cuả đài phát thanh CBS, phóng viên cuả đài này tại Tòa Bạch Ốc đã không loan tin về nội dung cuộc thăm Bạch Ốc cuả Nguyễn Minh Triết mà ngược lại đã có bài tường thuật chi tiết về cuộc biểu tình chống ông Triết bên ngoài Tòa Bạch Ốc cuả khoảng 2000 người Việt Nam. Các đài truyền hình Mỹ cũng “bỏ qua” chuyện cuả Triết, ngoại trừ đài CNN và hãng tin AP (Associated Press) đã có cuộc phỏng vấn riêng với ông Triết, sau cuộc họp với Tổng thống Bush.

Trong hai cuộc phỏng vấn này, ông Triết đã lặp lại quan điểm Việt Nam không cần phải thay đổi về lập trường nhân quyền và dân chủ tự do vì mỗi nước có luật lệ, lịch sử và tập quán đối xử với công dân cuả họ riêng.

Có một chi tiết ‘ngoại giao’ đáng chú ý là chính phía Việt Nam đã yêu cầu Toà Bạch Ốc bỏ phần trả lời báo chí, sau khi ông Triết và Tổng thống Bush kết thúc lời phát biểu sau cuộc họp riêng dài 30 phút cuả họ. Các nhà báo có mặt dự đoán ông Triết “ngại” trả lời các câu hỏi về nhân quyền cà các vụ đán áp trong nước.

Còn việc như báo Nhân Dân hy vọng “chuyến thăm cuả Chủ tịch nước sẽ chuyển thông điệp hòa hợp dân tộc tới cộng đồng Việt kiều một cách mạnh mẽ và cụ thể hơn.” thì hoàn toàn thảm bại vì ông Triết đi đến đâu cũng bị những người biều tình chống đối đuổi theo đến đó, từ Nữu Ước đến Hoa Thịnh Đốn và sang California, chặng dừng chân cuối cùng cuả ông Triết.

Sự phủ nhận này còn được chứng minh bằng những biểu ngữ lên án chế độ đàn áp dân chủ, nhân quyền. Ảnh Linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại tòa án Huế ngày 30-3- 07 và những tấm hình ông Triết bị gạch mặt hình chữ X cũng được người biểu tình mang theo.

HAI NGÀY NGỘT NGẠT

Thứ ba, trong thời gian ngót 2 ngày cuả ông Triết tại thủ đô nước Mỹ, ngoài việc đọc bài diễn văn kêu gọi đầu tư tại Phòng Thương mại Mỹ và chứng kiến việc ký kết các Thoả hiệp hợp tác Thương mại, ông Triết có hai cuộc gặp quan trọng: Chiều ngày 21-6 gặp các Lãnh tụ Quốc hội cuả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, và trưa ngày 22/6 vào Toà Bạch Ốc gặp Tổng thống Bush.

Theo thông lệ thì khi gặp các lãnh tụ Quốc hội, khách thường được tiếp như một người thân quý cuả cơ quan lập pháp và các lãnh tụ cũng được nghe những lời cảm ơn cuả khách về sự ủng hộ cuả Quốc hội đồi với những quan hệ ngọai giao và kinh tế giữa hai nước.

Riêng Việt Nam thì nếu không được Quốc hội thông qua đạo luật bình thường quan hệ kinh tế giữa hai nước thì Việt Nam chưa được gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, WTO, như đã xảy ra hồi đầu năm 2007.

Nhưng cuộc viếng thăm Quốc hội cuả ông Triết lại không bình thường như trông đợi. Hai lãnh tụ, Chủ tịch Hạ viện Bà Dân biểu Nancy Pelosi và Lãnh tụ khối đa số Thượng viện, Nghị sĩ Dân chủ Harry Reid, và Nghị sĩ Mitch McConnell, Lãnh tụ phe thiểu số Cộng hòa tại Thương viện đã nói cho ông Triết nghe đầy tai về những than phiền và quan tâm cuả các đồng viện cuả họ về những vụ bắt bớ và đàn áp dân chủ, nhân quyền và hạn chế các quyền tự do cuả Việt Nam trong thời gian gần đây.

Chủ tịch Nancy Pelosi nói với báo chí: “Dân chủ ở Việt Nam và liên lạc Thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là hai vấn đề hàng đầu trong cuộc thảo luận.” (Democracy in Vietnam and the U.S.-Vietnam trade relationship were two issues at the top of the agenda.)

Trước lúc ông Triết bước vào Quốc hội, nhóm Dân biểu quan tâm đến Việt Nam mà phần đông thuộc đảng Cộng hòa như Frank Wolf (Virginia), Chris Smith (New Jersey), Tom Davis (Virginia), Ed Roy (California) và Bà Zoe Lofgren (Dân chủ, California) đã họp báo lên án Việt Nam vi phạm nghiêm trọng nhân quyền và đòi Việt Nam phải thả ngay lập tức và vô điều kiện những người tù chính trị và tôn giáo.

Vài ngày trước khi ông Triết đến Mỹ, các nhà lập pháp này cũng đã viết thư cho Bộ Ngọai giao, Tổng thống Bush và đề nghị với các Lãnh tụ Quốc hội rằng Việt Nam phải bị đặt trở lại danh sách các nước “đáng quan tâm” (Countries of Particular Cerncern, CPC) nếu Việt Nam tiếp tục giam giữ các tù nhân lương tâm và không giữ lời cam kết tôn trọng dân chủ, nhân quyền và tự do, nhất là quyền tự do tôn giáo.

Một Dự luật có nội dung như thế đã được Bà Dân biểu Zoe Lofgren đệ nạp tại Hạ Viện.

Riêng Thượng nghị sĩ Cộng hòa Chuck Hagel, tiểu bang Nebraska thì nói rằng các vụ bắt người bất đồng chính kiến cuả Việt Nam là hành động không thể làm ngơ và là việc đáng quan tâm cuả nước Mỹ. Ông yêu cầu Tổng thống Bush nói cho Nguyễn Minh Triết biết như thế.

Sự việc thì như vậy nhưng báo chí Hà Nội chỉ đưa tin rất “đại khái chủ nghĩa” về cuộc gặp gỡ không “xuôi buồm thuận gió” cuả ông Triết tại Quốc hội. Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) viết : “Tại cuộc gặp và trao đổi ý kiến với Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi ở trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng nhất và mong muốn xây dựng mối quan hệ đối tác hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Hoa Kỳ trên nền tảng sâu rộng, hiệu quả và vững chắc vì những lợi ích chiến lược lâu dài chung cuả cả hai nước và hai dân tộc….”

“…Chủ tịch Nguyễn Minh Triết cho rằng việc hai bên còn tồn tại một số ý kiến khác nhau về quan niệm và phương thức đảm bảo quyền con người là điều bình thường do hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa và tập quán khác nhau. Sự khác biệt này là rất nhỏ so với lợi ích chung và tiềm năng hợp tác rộng lớn giữa hai nước….”

“Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ Nancy Pelosi bày tỏ tin tưởng chuyến thăm này sẽ góp phần định hình rõ hơn mối quan hệ nhiều mặt giữa hai nước. …Thượng nghị sĩ Harry Reid, lãnh đạo phe đa số tại Thượng viện, Thượng nghị sĩ Mitch McConnell, lãnh đạo đảng Cộng hòa tại Thượng viện bày tỏ ủng hộ quan điểm về một nước Việt Nam hòa bình, ổn định sẽ góp phần duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực và trên thế giới.”

Đến sự việc diễn ra tại Tòa Bạch Ốc hôm 22/6/07 thì báo chí Việt Nam đã xác nhận thêm lần nữa điều mà họ vẫn thường phủ nhận là họ đã được lệnh chỉ thông tin những gì có lợi cho nhà nước.

Tuyên bố chính thức cuả Tổng thống Bush, sau cuộc họp riêng, được Tòa Bạch Ốc phổ biến viết rằng ông đã: “Giải thích với Chủ tịch (Nguyễn Minh Triết) rằng chúng ta muốn có những liên lạc tốt đẹp với Việt Nam. Và chúng ta cũng đã đạt được những liên lạc tốt đẹp về kinh tế. Chúng ta đã ký kết một Thoả hiệp khung về Thương mại và Đầu tư. Và tôi rất lấy làm cảm kích về sự phát triển cuả nền kinh tế Việt Nam.”

“Tôi cũng nói rất rõ rằng, để giúp cho sự giao hảo phát triển sâu rộng hơn, điều quan trọng cho tình hữu nghị cuả chúng ta là phải có sự quan tâm mạnh mẽ về nhân quyền, tự do và dân chủ. Tôi đã giải thích sự tin tưởng mãnh liệt cuả tôi rằng xã hội chỉ có thể giầu mạnh khi người dân được cho phép phát biểu tự do và thờ phượng tự do.”

(I explained to the President we want to have good relations with Vietnam. And we’ve got good economic relations. We signed a Trade and Investment Framework Agreement. And I was impressed by the growing Vietnamese economy.

I also made it very clear that in order for relations to grow deeper that it’s important for our friends to have a strong commitment to human rights and freedom and democracy. I explained my strong belief that societies are enriched when people are allowed to express themselves freely or worship freely.)

Để trả lời về điểm này, Nguyễn Minh Triết đáp lại, qua thông dịch viên, vẫn theo bản tin cuả Tòa Bạch Ốc: “Tổng thống và tôi đã có sự trao đổi quan điểm thằng thắn và cởi mở về những vấn đề có thể chúng ta còn khác nhau, đặc biệt về các vấn đề liên quan đến tôn giáo và quyền con người. Mục đích cuả chúng ta là chúng ta nên tăng cường trao đổi với nhau để có sự hiểu biết lẫn nhau tốt đẹp hơn. Và chúng tôi cũng quyết tâm không để cho những khác biệt ảnh hưởng đến trên tất cả, vấn đề quyền lợi rộng lớn hơn.”

(Mr. President and I also had direct and open exchange of views on a matter that we may different [sic], especially on matters related to religion and human rights. And our approach is that we would increase our dialogue in order to have a better understanding of each other. And we are also determined not to let those differences afflict our overall, larger interest.)

Các hãng tin quốc tế Mỹ AP (Associated Press), AFP cuả Pháp (Agent France Press) và Reuters cuả Anh và các Đài phát thanh quốc tế có mặt tại Tòa Bạch Ốc hôm 22/6/07 đều tường thuật trung thực lời tuyên bố cuả ông Bush và ông Triết.

Riêng chỉ có các phóng viên cuả phía Việt Nam thì dường như bị hỏng tai hết cả, hay không hiểu tiếng Mỹ, nên họ chỉ viết về điều ông Triết nói.

Tỉ dụ như thông tín viên Anh Tuấn cuả báo điện tử VietNamnettuy có mặt tại Tòa Bạch Ốc nhưng đã không điếm xỉa gì đến những điều Tổng thống Bush nói về nhân quyền và tự do. Anh Tuấn gửi tin về Hà Nội: “Đề cập tới những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ hai nước, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho biết, ông và Tổng thống Bush “đã trao đổi thẳng thắn và chân tình về những vấn đề hai bên còn nhiều khác biệt, nhất là vấn đề tôn giáo và dân chủ”.

Phóng viên đài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) cũng “giả câm, giả điếc” trước câu nói rành mạch cuả Tổng thống Bush. Đài này cũng chỉ chủ ý tường thuật câu đáp lời cuả ông Triết: “ Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cảm ơn sự đón tiếp chân tình cuả Tổng thống và sự mến khách cuả nhân dân Hoa Kỳ trong 4 ngày vừa qua. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng phát biểu với báo giới, cho biết: Ông và Tổng thống Bush đã trao đổi nhiều vấn đề còn có nhận thức khác nhau, nhất là về tôn giáo và nhân quyền. Hai bên thống nhất cách tiếp cận là cần tăng cường đối thoại để hiểu biết lẫn nhau, quyết tâm không vì khác biệt này để ảnh hưởng đến mối quan hệ to lớn cuả hai nước.”

Hai tỉ dụ này đã đại diện cho cách tường thuật về cuộc gặp Bush-Triết trên toàn thể báo in và điện tử cuả Việt Nam.

XUYÊN TẠC TIN TỨC

Thứ tư, ngoài phần tin tức một chiều, hãng Thông tấn xã Việt Nam và báo Vietnamnet còn làm trò cười cho thiên hạ khi hai cơ quan này đăng tin mà không giải thích để người đọc có cảm tưởng như là hai báo Wall Street Journal và Washington Post đã “tự ý” đăng trang trọng trên báo cuả họ về hình ảnh Việt Nam và Thư gửi nhân dân Mỹ cuả Nguyễn Minh Triết trong thời gian thăm Mỹ.

Trên số báo ra ngày 21-6-07, VietNamNet viết: “Ngày 20/6/2007, nhân thời điểm Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đang ở thăm chính thức Mỹ, báo Wall Street Journal- nhật báo kinh tế uy tín hàng đầu nước Mỹ, đã đăng một phụ trương đặc biệt về VN gồm 4 trang, tập trung giới thiệu hình ảnh mới cuả VN.”

“Nổi bật trong các bài viết là hình ảnh Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bắt tay Tổng thống Mỹ Bush chụp tại Hà Nội nhân dịp APEC 2006, hình ảnh tháp rùa Hồ Gươm…”

“Việt Nam được giới thiệu là ngôi sao mới đang lên cuả châu Á với những thành tựu mới về kinh tế, sự thay đổi vị thế trên trường quốc tế, thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý cuả các nhà đầu tư nước ngoài, các ưu đãi đầu tư cuả Việt Nam, việc Việt Nam đang hợp tác với Microsoft về bảo vệ bản quyền, các sân golf cuả Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách…”

“Phụ trương này được đăng trên ấn bản phát hành toàn cầu cuả Wall Street Journal (WSJ) với tổng số lượng phát hành khoảng 2,2 triệu bản, trong đó ở châu Âu là khoảng hơn 114 nghìn bản, châu Á – Thái Bình Dương khoảng 80 nghìn, riêng tại Mỹ gần 2 triệu bản.”

“Đây là lần đầu tiên WSJ đăng phụ trương về Việt Nam. Phụ trương này do Công ty 2B Media cuả Việt Nam và Công ty Partner Concepts tại Mỹ phối hợp thực hiện….”

Phụ trang này có nhiều bài viết để quảng cáo về một nước Việt Nam mới từ trang 13 đến trang 15. Nhưng VNNET lại quên phứa đi điểm quan trọng là Phụ trang này được Wall Street Journal đề rõ ràng ngay trên đầu là “Special Advertising Section”, có nghĩa là trang Quảng cáo có trả tiền.

VNNET giả bộ như không biết nên không viết rõ như thế nên có thể gây hiểu lầm cho người theo dõi rằng tờ Wall Street Journal đã tự ý làm như thế để ca tụng Việt Nam nhân chuyền thăm Mỹ cuả Nguyễn Minh Triết.

Đến ngày 22-6, đúng vào ngày có cuộc gặp giữa Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Bush thì Thông tấn xã Việt Nam lại diễn lại trò đánh lừa dư luận bằng bản tin: “Hà Nội (TTXVN) – Báo “Bưu điện Oasinhtơn”(Washington Post) , tờ báo có số phát hành lớn nhất ở Mỹ, ngày 21/6 đã đăng bức thư có chữ ký cuả Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói về quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.”

“Đăng kèm bức thư này là ảnh Chủ tịch Nguyễn Minh Triết bắt tay Tổng thống Mỹ George Bush, phía sau là bức tượng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng cuả Việt Nam và bức ảnh Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đang đứng xem Tổng thống Bush gẩy đàn bầu trong chuyến thăm Việt Nam tháng 11/2006….”

“…Bức thư cuả Chủ tịch Nguyễn Minh Triết viết: “Mặc dù hai nước cách xa nhau về địa lý, nhưng Việt Nam và Hoa Kỳ có lịch sử quan hệ gần như ngay từ khi nước Mỹ ra đời.

….Quan hệ giữa hai nước chúng ta đã trải qua một quá khứ thăng trầm và đáng buồn. Ngày nay, vì cả lợi ích trước mắt và lâu dài cuả hai nước, Việt Nam và Hoa Kỳ đang nỗ lực cùng nhau xây dựng một chương mới trong lịch sử giữa hai nước. Với Việt Nam, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ luôn luôn là một đối tác quan trọng và cam kết hợp tác nhiều mặt cuả chúng tôi là chắc chắn….”

Lá thư cuả ông Triết được đăng nguyên trang 19, phần A, không đề “Special Advertising” (Quảng cáo đặc biệt), giống như Lá thư, đăng cùng ngày (22-8-07) trên trang 7 cuả báo Washington Times, cuả một số cộng đồng người Việt ở Mỹ và các tổ chức đấu tranh Dân chủ-Tự do trong nước gửi Tổng thống Bush yêu cầu ông áp lực với Nguyễn Minh Triết trả tự do cho những tù nhân lương tâm và buộc Việt Nam phải tôn trọng dân chủ, nhân quyền và các quyền tự do cuả người dân.

Cả hai Thư ngỏ này đều phải trả tiền cho tờ báo nhận đăng. Một nhân viên phòng quảng cáo cuả tờ Washington Post xác nhận Thư cuả ông Triết đã do Tòa Đại sứ Cộng sản Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn đem đến tòa soạn đăng có lệ phí.

Đối với nhiều độc giả, nhất là người dân ở Việt Nam thì không thể biết thư cuả ông Triết cũng như Phụ trương đăng trên báo Wall Street Journal là phải trả tiền. Giá tối thiểu cuả mỗi trang báo như thế là 100 ngàn Mỹ kim, nếu không có sự trợ giúp lấy giá đặc biệt cuả tờ báo.

CON MỒI NGUYỄN CAO KỲ

Nếu bài nói chuyện cuả ông Triết ở Nữu Ước đã không nói đúng sự thật về các vụ đàn áp những người bất đồng chính kiến trong nước thì chặng dừng chân chót cuả ôngTriết ở Nam California lại gây chia rẽ thêm người Việt Nam khi ông Triết sử dụng con bài hết thời Nguyễn Cao Kỳ để quảng cáo cho chế độ.

Ông Triết nói tại buổi tiệc tiếp tân: “Đến đây, tôi thực sự xúc động được gặp bà con, trong không khí cởi mở, thân mật như thế này. Anh Nguyễn Cao Kỳ đang ở Việt Nam nhưng khi nghe chuyến thăm cuả Đoàn có cuộc gặp gỡ ở đây đã bay về Mỹ và có mặt ở đây hôm nay.”

“Điều đó nói lên cái gì? Điều đó nói lên rằng chúng ta là người Việt Nam, dù quá khứ thế nào đi nữa, bây giờ hãy yêu thương nhau, đoàn kết với nhau vì chúng ta cùng một mẹ hiền Việt Nam, cùng hướng về Việt Nam. Có phải như vậy không?” (VNNET, 23-6-07)

Theo tường thuật cuả thôngtín viên Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) thì có khoảng 1.000 “bà con kiều bào tại bang California và nhiều địa phương khác ở Hoa Kỳ” tham dự buổi tiếp tân, nhưng không nói rõ có bao nhiêu trong số này là người cuả Hà Nội hay thân chế độ.

TTXVN tường thuật: “Tại buổi chiêu đãi và gặp mặt, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có bài phát biểu ý kiến quan trọng gửi đến toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng và hơn ba triệu người Việt Nam ở nước ngoài nói chung….”

“Chúng ta là người Việt Nam”, ông Triết nói, “ bây giờ hãy thương yêu nhau, hãy đoàn kết bởi vì chúng ta cùng một mẹ hiền Việt Nam. Trong gia đình, bạn bè có lúc cũng còn giận nhau, chúng ta hãy gác lại tất cả để đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam vững mạnh hùng cường, sánh vai cùng bạn bè thế giới. Với ý chí, bản lĩnh Việt Nam và sự đoàn kết, thống nhất cuả mỗi người Việt Nam, chắc chắn chúng ta sẽ thành công. Nếu ai đó còn ngần ngại, hãy nói với họ rằng mẹ hiền Việt Nam lúc nào cũng dang rộng vòng tay đón nhận tất cả những người con cuả mình về với Tổ quốc… Không có lý do gì để những ngần ngại này làm ảnh hưởng tới khối đoàn kết, ảnh hưởng tới nhiệm vụ xây dựng đất nước”.

“Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định, Ðảng và Nhà nước Việt Nam không bao giờ thành kiến đối với những người còn có ý kiến khác biệt, trái lại luôn mong tất cả bà con người Việt Nam ở ngoài nước đều có nhiệt tình, thiện ý xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, vững mạnh.”

“Do những thông tin chưa đầy đủ, một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài chưa có dịp về quê hương để tận mắt chứng kiến những đổi thay nhanh chóng, tiến bộ đáng mừng cuả đất nước… Chúng ta phải làm sao thông cảm với nhau, chia sẻ với nhau và hướng đến một mục tiêu chung nhất là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”.

Được Tổng lãnh sự Việt Nam ở San Francisco, Trần Tuấn Anh mời, Nguyễn Cao Kỳ đáp lễ : “ Bài nói cuả Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gây xúc động lớn đối với tôi.

Tôi trước đây đã từng đứng ở bên kia đấu trường với Chủ tịch. Những gì tôi được nghe hôm nay được xuất phát từ tình cảm, trái tim cuả một người dân Việt. Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên và có thể nói rất cảm động. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nói về dân tộc, về đất nước. Tôi nghĩ, tôi không thể nói thêm gì hơn là tôi hoàn toàn chấp nhận tiếng nói cuả một dân tộc, một người Việt Nam.

Dù muốn dù không, đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt đối với người Mỹ, tôi là một thứ biểu tượng cuả một bộ phận khác bên này cuả người Việt. Vì vậy, sự hiện diện cuả tôi ngày hôm nay, sau khi trở về Việt Nam, tôi muốn nói với đồng bào Việt Nam, đặc biệt những người từng dưới sự chỉ huy cuả tôi là: Ngày hôm nay, mọi bất hòa đã chấm dứt.

Ngày hôm nay, chúng ta kỷ niệm sự kiện này nhân dịp Chủ tịch nước đến Mỹ, cùng nhìn về tương lai. Ở đây không có vấn đề Quốc – Cộng. Ở đây chỉ có vấn đề Việt Nam và dân tộc Việt.

Tôi muốn nhắn lời cảm ơn chân thành đến anh em trong nước 3 năm nay đã đón tiếp tôi. Tôi biết ơn những lời nói từ tâm hồn một người lãnh đạo cuả đất nước Việt Nam, một sự nâng niu gắn bó dân tộc. Xin cám ơn mọi người và xin cám ơn Chủ tịch, một người yêu nước”. (VNNET, 23-6-07)

Phóng viên Việt Ân cuả báo Quân đội Nhân dân viết khác một chút:“ Tiến sĩ Trần Tuấn Anh mời ông Nguyễn Cao Kỳ phát biểu. Vui cùng mọi người, ông lại nghẹn ngào:

“Kính thưa ngài Chủ tịch nước, bài nói cuả ngài gây nên sự ngạc nhiên lớn. Bởi vì không giáo điều, mà là lời cuả một con dân đất Việt. Thật cảm động… Từ Việt Nam sang dự cuộc gặp mặt này chỉ để nói rằng tôi đã 78 tuổi, ngày càng nhận thấy những người từng theo tôi và chịu sự chỉ huy cuả tôi trước đây, nay hãy sống trong tình yêu thương, tận tụy xây dựng non sông, đất nước.”

Nguyễn Cao Kỳ, từ 3 năm qua đã quên mình từng một thời lấy tư cách lãnh đạo quân đội, đẩy không biết bao nhiêu chiến sĩ quân lực VNCH vào cõi chết để chống xâm lăng Cộng sản từ miền Bắc. Sau khi được Hà Nội cho phép quay về Việt Nam làm ăn, sinh sống, ông Kỳ đã có những lời nói “quy hàng” và “tung hô” chế độ Cộng sản làm đau lòng thân nhân cuả những người đã hy sinh cho tổ quốc và đồng đội còn sống sót, đang sống vất vưởng ở Việt Nam.

Với những lời nói ca tụng Nguyễn Minh Triết và chế độ Cộng sản ở California hôm 23/6/07, Nguyễn Cao Kỳ đã tự tay cắt bỏ chút nhân cách nhỏ nhoi còn sót lại trong con người ông ta mà không biết đã tự chui đầu vào dây thòng lọng.

Nhưng vấn đề Quốc-Cộng lại chưa bị xóa tan như ông Kỳ nghĩ mà càng rõ rệt và xa cách nhau hơn, sau chuyến thăm Mỹ cuả Nguyễn Minh Triết.

Phạm Trần
25/06/07

Thêm bình luận Tháng Sáu 26, 2007

Thư không niêm thứ 2 gởi ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nước CHXHCN Việt Nam

Thư gởi
ông Nguyễn Minh Triết
Chủ Tịch Nước CHXHCN Việt Nam.

Đây là thư không niêm thứ 2 mà tôi gởi đến Ông. Trong thư ngày 23/6/2007, tôi có tự giới thiệu rồi nên thư này tôi vào thẳng vấn đề cần nêu lên với ông Chủ Tịch.

Trong bữa ăn tại khách sạn Saint Regis Resort thành phố Dana Point cũng thuộc Quận Cam nhưng cách “thủ đô tị nạn” của chúng tôi khooảng 40 cây số, mà truyền thông trên đất nước của ông tuyệt đối cấm truyền thông tư nhân lại khoe là ông tiếp xúc với kiều bào hải ngoại (!). Lãnh đạo cộng sản Việt Nam gian trá thì cả nước biết, Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản càng biết rõ hơn, và truyền thông lẫn những nhà chính trị thế giới cũng biết, nhưng cũng vừa vừa phải phải thôi chớ trắng trợn như vậy người ta cười ông và “đồng chí” của ông đến thúi đầu ông à!
Xe chở Triết không dám cắm cờ ở Dana Point, Nam California

Cũng trong bữa ăn đó khi nói chuyện với những người có mặt trong phòng ăn mà khoảng một nửa thực khách do ông dẫn theo từ Việt Nam, ông ra vẻ bình tĩnh, lại thêm tí ti nụ cười làm dáng, nhưng thật ra trong thâm tâm ông bối rối lắm. Tôi nói ông bối rối, bằng chứng là cả đoàn xe mà ông dẫn một phái đoàn cấp quốc gia dù là quốc gia cộng sản độc tài, lại không dám cắm lá cờ máu của ông để tránh bị Cộng Đồng tị nạn cộng sản đang dàn chào không nhận ra ông ngồi trên xe nào. Ông bảo Đại Sứ của ông tại xứ này “báo cáo” cho ông biết, “trên thế giới có vị lãnh đạo nào từ quốc gia gốc đến thăm kiều bào của mình tại Hoa Kỳ mà lại sợ kiều bào của mình như ông không”. Trong phần nói chuyện của ông, có đoạn ông nói: “… bà con hải ngoại hãy quên quá khứ mà đoàn kết xây dựng đất nước …”

Nhóm chữ “quên quá khứ” mà ông Chủ Tịch sử dụng, đồng nghĩa với nhóm chữ “khép lại quá khứ” mà hai ông cựu Thủ Tướng cộng sản Võ Văn Kiệt với Phan Văn Khải sử dụng, trong thời gian ông Khải chuẩn bị thăm Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 2005.

Thưa ông Chủ Tịch,

Tôi không hiểu tại sao đến nay là 32 năm sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, ông và “đồng chí” của ông trong nhóm lãnh đạo cộng sản nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, lại dụ dỗ Cộng Đồng tị nạn cộng sản quên quá khứ đau thương của mình để đoàn kết xây dựng đảng cộng sản của ông vững mạnh mà ông nói là xây dựng đất nước?

Về phần tôi, tôi rất muốn mọi quá khứ trôi vào quên lãng, nhưng không được ông à! Vì cái quá khứ mà ông và các “đồng chí” của ông gây ra trên quê hương Việt Nam, trên thể xác lẫn tâm hồn của mọi người dân Việt, độc ác quá, tàn bạo quá, cay đắng quá! Đây là sự thật khách quan mà các ông không thể nào phủ nhận được. Tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện tại, để có điều kiện hướng đến một tương lai tốt đẹp. Nghĩa là chính ông và các “đồng chí” của ông, phải làm ngược lại những gì mà các ông đã làm sai từ những ngày đầu năm 1975 và sau đó, mà rõ ràng nhất là 6 vấn đề sau đây:

– Vấn đề thứ nhất. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những ngày trước đó, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang trong các Tổng Y Viện và Quân Y Viện, các ông đã vô cùng tàn nhẫn khi quẳng Họ ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi các ông bảo “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ các ông có trách nhiệm bồi thường tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho Họ. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ.

– Vấn đề thứ hai. Các ông đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài sản khác của chúng tôi, mà các ông sử dụng nhiều nhóm chữ khác nhau để che đậy cái gian trá lọc lừa của các ông. Tài sản của chúng tôi bị các ông chiếm đoạt, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ các ông phải hoàn trả tất cả những tài sản ấy lại, đồng thời bồi thường thiệt hại đúng mức trên những tài sản ấy. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ.

– Vấn đề thứ ba. Các ông không thông qua một cơ quan luật pháp nào khi bắt giam 222.809 quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa cũ, đưa vào hơn 200 trại tập trung trong mục đích tẩy não mà các ông gọi là “cải tạo”, và hành hạ tinh thần lẫn thể xác cho đến 17 năm mới thả hằng trăm người cuối cùng, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ các ông phải bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân chính trị chúng tôi, trong ngần ấy thời gian bị giam giữ. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ!

Vấn đề thứ tư. Chắc ông Thủ Tướng không thể nào quên trong 10 năm đầu kể từ những ngày cuối tháng 4 năm 1975, khi mà những công dân Việt Nam Cộng Hòa cũ không thể sống nổi sự kềm kẹp chính trị, nên đành phải liều chết tìm đường đến bến bờ tự do với cái giá phải trả thật là khủng khiếp! Lúc ấy, các ông gọi chúng tôi là bọn ngụy quân ngụy quyền, bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn ăn bơ thừa sữa cặn, bọn đĩ điếm lưu manh rác rưởi của xã hội, ..v..v… Thôi thì các ông dùng tất cả những chữ nghĩa nào mà chửi rủa được là mang ra sử dụng để sỉ vả nhục mạ chúng tôi, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ Bộ Chính Trị của ông phải chánh thức xin lỗi Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản tại hải ngoại, và rút lại những lời sỉ nhục đó. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ!

– Vấn đề thứ năm. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc. Tưởng được yên bình vĩnh cửu trong lòng đất nơi đây, nhưng với bản chất vô nhân của các ông đã “thêm một lần tàn sát thi thể Họ” qua hành động đào xới mồ mả, vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng do bản chất gian trá vi phạm những điều mà các ông đã ký kết, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ các ông phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn cảnh như lúc các ông tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ!

– Và vấn đề thứ sáu. Ông và các “đồng chí” lãnh đạo của ông, phải trả những quyền căn bản của con người và những quyền được sống tự do cho 83 triệu công dân trên quê hương Việt Nam, mà bản Hiến Pháp của các ông thừa nhận.

Nếu các ông hành động được như vậy, tôi tin rằng Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại sẽ vui lòng khép lại cái quá khứ kinh hoàng đó! Chớ các ông nói theo cái ngôn ngữ mà ông Hà Sĩ Phu gọi là thứ “ngôn ngữ lộn ngược trong xã hội xã hội chủ nghĩa” ngày nay, làm sao Cộng Đồng chúng tôi tin các ông được, nói gì đến cái việc quên quá khứ! Còn nếu ông và các “đồng chí” cùng lãnh đạo với ông vẫn cho rằng, sáu vấn đề nêu trên là các ông không sai, thì đừng bao giờ các ông nghĩ đến bất cứ phương thức nào để cầu mong mà các ông gọi là “vận động” Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại quên đi cái quá khứ đắng cay tàn bạo do các ông gây ra.

Xin ông Chủ Tịch vui lòng nghiền ngẫm kỹ sáu vấn đề vừa nêu, rõ ràng là không hề chứa đựng điều gì ngoài sự thật, cũng không chứa đựng những gì mà ông có thể xem tôi mang lòng thù hận cả. Và tôi nhấn mạnh rằng, ở đây tôi đòi lại những gì mà Cộng Đồng tị nạn chúng tôi và 83 triệu dân trong nước đã mất vềchính trị lẫn vật chất, do tính gian trá lọc lừa cướp đoạt của các ông, chớ không phải tôi xin các ông đâu nhé!

Xe chở Triết không dám cắm cờ ở New York

Thưa ông Chủ Tịch,

Dưới đây là tôi ghi lại quan điểm của vài đảng viên cộng sản lão thành mà nay những vấn đề đó vẫn còn nguyên ý nghĩa.

– Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Trong buổi họp mật tại Bộ Chính Trị ngày 2/11/2004, sau phần phát biểu ứng khẩu, những vị quyền lực nêu câu hỏi: … Và câu hỏi phụ, Bác là nhà khoa học, đi đó đi đây ở ngoại quốc rất nhiều, vậy điểm yếu của giới khoa học của mình khi giao lưu với quốc tế là gì?

Ông Lê Đăng Doanh trả lời. …Những cán bộ khoa học Việt Nam công tác ở ngoại quốc, rõ ràng là Việt Nam có phát triển, nhưng chỉ là phát triển so với chính mình ở giai đoạn trước đây chớ không có nghĩa là phát triển so với các quốc gia khác, nhưng cũng lộ ra nhược điểm rất lớn: Đó là “cái mũ kim cô” trên đầu. Cho nên lúc nào cũng ngập ngừng, muốn nói mà không dám nói vì sợ đủ điều khi trở về nước. Vừa rồi tôi sang Singapore, ông Viện Trưởng Trường Đại Học Quản Lý hỏi tôi: “Việt Nam của ông có được tự do phát ngôn hay không”. Tôi trả lời: “Tại Việt Nam chúng tôi tự do phát ngôn thì có, nhưng quyền tự do sau khi phát ngôn thì tôi không bảo đảm”. Cái câu hỏi của ông Viện trưởng trường đại học trên đây cho thấy mức độ tự do cởi mở, mức độ trách nhiệm của các nhà khoa học Việt Nam khi ra ngoại quốc, đã làm cho họ trở nên thấp kém so với kiến thức của họ.

– Ông Trần Độ, cựu tướng cộng sản của ông. Trong tập nhật ký Rồng Rắn của ông, khi nói đến những trường hợp điển hình về thối nát, ông viết: “Những điều đó lác đác báo chí có tường thuật, nhưng phải nghe được người dân nói với nhau ở hè phố, ở góc chợ, ở khắp mọi nơi, mới thấy rõ được bức tranh thật của xã hội. Một xã hội mà ta mơ ước và lý tưởng hóa, lại tồn tại trong hiện thực như vậy, thì có thể coi là ta xây dựng được một xã hội tốt đẹp hay chưa?”

Ông nêu câu hỏi: Cuộc cách mạng Việt Nam đã đem lại được cái gì cho nhân dân Việt Nam? Rồi ông tự trả lời: Cứ xem xã hội Việt Nam hiện nay, cuộc sống Việt Nam hiện nay, ai cũng thấy một nét lớn rất là đau lòng, là “tất cả những gì xấu xa, tàn bạo, mà cách mạng đã có lúc xóa bỏ và đập tan, thì nay, chẳng những nó được khôi phục lại hoàn toàn, mà còn khôi phục mạnh hơn, cao hơn, do những người nhân danh làm cách mạng!”

Ông cho rằng: Đảng tự đưa ra điều 4 của Hiến Pháp rồi bắt nhân dân phải chấp nhận sự lãnh đạo duy nhất của đảng. Trong Hiến Pháp có những điều khoản nói về quyền dân chủ của dân, nhưng 3 điều dân chủ căn bản là tự do ngôn luận, tự do bầu cử, và tự do lập hội, thì bị chôn vùi bởi những đạo luật rất ư là phản động với những thủ đoạn bỉ ổi! Với khẩu hiệu “sống theo pháp luật”, nhưng thực tế thì đảng sống trên pháp luật, chỉ có dân đen mới sống trong pháp luật, với lại pháp luật thì trái ngược với Hiến Pháp. Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật, mà thành phần đầu tiên gây ra là lãnh đạo đảng. Không thể nào chống tham nhũng được, vì lãnh đạo đảng là độc tài toàn trị, là nguồn gốc của mọi tiêu cực trong xã hội, dẫn đến tình trạng một xã hội phản dân chủ, nếu đảng chống tham nhũng cũng là đảng tự chống đảng sao!

Ông viết tiếp: Từ lâu nay, đảng cộng sản quan niệm xây dựng chủ nghĩa xã hội là mang lại hạnh phúc cho nhân dân, vì vậy chống chủ nghĩa xã hội là chống lại hạnh phúc của nhân dân, và như thế là phản động. Rồi ông tự nêu câu hỏi: Có thật là chủ nghĩa xã hội mang hạnh phúc cho nhân dân không? Hiện thực ở Việt Nam từ năm 1979 về sau, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước đã mang lại kết quả như thế nào? Tại sao đại hội lần thứ 6 đổi mới lại cứu được nhân dân? Tại sao Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội hơn 70 năm mà không thể đứng vững? Các quốc gia vùng Đông Âu theo Liên Xô cũng đều thay đổi, phải chăng là nhân dân các quốc gia đó bất bình với chế độ xã hội chủ nghĩa? Tại sao chỉ có từ các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là từ Việt Nam, đến hằng mấy triệu người bất kể hiểm nguy sống chết khi ra đi tìm đường sống ở các nước khác? Bộ máy tuyên truyền nói là toàn thể nhân dân đã lựa chọn thể chế xã hội chủ nghĩa, nhưng thực chất có ai hỏi ý kiến dân đâu mà nói là dân chọn lựa!

– Tiến sĩ Trần Thiện Tâm. Trong thư đề ngày 1/12/2004, ông nhắc đến ông Trần Đại Sơn, cựu Đại Tá quân đội cộng sản của ông. Trong cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do ngày 15/11/2004, ông Sơn phát biểu: “Việt Nam chúng tôi dưới sự lãnh đạo của cộng sản thì làm gì có pháp luật. Lệnh của Bộ Chính Trị muốn bắt ai thì bắt, muốn tha ai thì tha, muốn xử ai bao nhiêu năm thì ra lệnh cho tòa án xử. Tòa án tại Việt Nam chúng tôi, không bao giờ xử theo luật mà xử theo lệnh của lãnh đạo. Lãnh đạo càng cao càng tham nhũng mạnh, làm gì có người lãnh đạo tử tế. Bây giờ đảng cộng sản Việt Nam nát lắm rồi, đừng để nó nồng lên mũi không ai ngửi được”.

Nhắc đến đây, giáo sư Tâm chợt nhớ đến tiên sinh Hoài Nam Tử có dạy rằng: Đức ít mà ân sủng nhiều, tài ít mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn, chính là ba đại họa. Những nhà lãnh đạo cao nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng ta, có đủ ba cái đại họa này, vì vậy mà nó trở thành đại họa cho dân tộc Việt Nam là cái kết quả đương nhiên!

Giáo sư Tâm như tự trách trong nỗi lòng đắng cay chua xót : “Như vậy là chúng ta đã xây dựng một xã hội mà mọi giá trị đều bị đảo lộn: “Tốt thành xấu, xấu thành tốt, có công thành tội, có tội trở thành có công.

Tôi xin hỏi nhỏ ông Chủ Tịch: “Ông nghĩ gì về nhận thức từ những đồng chí của ông mà tôi nêu trên?”

Các ông ấy là những đảng viên nhiều tuổi đảng hơn ông, là những người có bằng cấp ngang ông và cao hơn ông, cũng là những cán bộ hàng lãnh đạo đã cùng ông quyết tâm đánh chiếm “Việt Nam Cộng Hòa” chúng tôi mà các ông gọi là “giải phóng”. Bây giờ những đảng viên ấy nhận ra điều sai lầm không thể tưởng tượng được, thì cuộc đời đã phí vào điều mà các ông ấy “tưởng đi làm cách mạng hóa ra đã đi lộn ngược”. Trong nhật ký Rồng Rắn của ông Trần Độ, sau khi ôn lại chặng đường dài gần hết cuộc đời mà ông “tưởng là làm cách mạng”, tác giả vừa tự trách với nỗi đắng cay vô tả: “Vậy là, chính ta lại xây nên cái mà ta đã đập tan nó …”.

Xin chào ông Nguyễn Minh Triết, Chủ Tích nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam./.

Houston, 24 tháng 6 năm 2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 26, 2007

Nguyễn Minh Triết thiếu hiểu biết


Nguyễn Minh Triết thiếu hiểu biết, mà còn cho thấy ông khinh thường
những người đến nghe ông nói, cứ coi họ cũng ngu dốt không biết gì cả.
Ai trói buộc nước ta trong một khuôn khổ cố định?

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Nguyễn Minh Triết đã tự đánh mất tính tự trọng tối thiểu!

Âu Dương Thệ

Ngay ngày đầu đặt chân lên đất Mĩ, bị chính giới và báo chí Mĩ chất vấn cũng như kiều bào phản đối, Nguyễn Minh Triết thay vì nhìn nhận việc bắt giam và bỏ tù những người dân chủ đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền theo phương pháp phi bạo lực là hành động vi phạm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên hiệp quốc, trong đó VN cũng là thành viên. Ông Triết đã lại dở trò cãi chày cãi cối.

Ông Triết cố đấm ăn xôi (Biếm hoạ của HatKa)

Ông ta bảo rằng: „Chúng tôi đấu tranh đòi độc lập dân tộc, tự do dân tộc cũng chính là giành quyền con người.“. Nhưng ông Triết đã lờ đi một sự thực là, các quyền con người là tự do dân chủ mà hàng bao triệu người Việt phải hi sinh trong các cuộc chiến vừa qua thì hiện nay chỉ có một thiểu số rất nhỏ được hưởng. Đó là những phần tử có quyền lớn và có rất nhiều tiền của ở trong Trung ương ĐCSVN. Họ đang sống phè phỡn trên tiền bạc tham nhũng và sự lộng quyền coi thường sinh mạng người dân và tài sản của đất nước. Thái độ độc tài, đàn áp và cuộc sống đế vương của một số phần tử này không khác bọn thực dân đã từng cai trị VN trước đây. Còn trên 80 triệu dân VN đã bị tước tất cả các quyền căn bản, như quyền tự do tư tưởng, báo chí, tín ngưỡng, lập hội, đi lại… Rất đông đảng viên ĐCSVN cũng phải chịu chung một số phận như vậy!

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 12 vào 20/5 vừa qua cả nước và thế giới đã thấy tận mắt lối làm ăn tái diễn kiểu 99% trúng cử của các ứng cử viên do ĐCSVN đưa ra. Nhưng Nguyễn Minh Triết đã vẫn ngụy biện khi đặt chân tới Mĩ:

„Kỳ bầu cử Quốc hội, một nhóm người kêu gọi phải tăng người ngoài Đảng vào Quốc hội, tôi nói Đảng, Nhà nước Việt Nam đâu có cấm, thực hiện đăng ký ứng cử công khai.“

Nguyễn Minh Triết còn lớn tiếng bào chữa cho việc họ cố duy trì chế độ độc đảng, bằng cách bảo là mỗi nước có một đặc điểm và rằng, người dân VN đã chấp nhận chế độ tộc tài toàn trị: „đặc điểm của từng nước mà dân ở đó họ chấp nhận“. Ở đây ông Triết đã cố lờ đi một việc quan trọng là, suốt mấy chục năm nắm quyền đã có lần nào nhóm lãnh đạo CSVN trưng cầu ý kiến nhân dân một cách tự do dân chủ xem có ai đồng ý với họ? Người dân muốn Nguyễn Minh Triết trả lời thẳng thắn!

Nguyễn Minh Triết còn khoe là là, một đảng cầm quyền, nhưng có nhiều tổ chức khác thì như vậy cũng là có dân chủ: „Nếu một đảng thì có các cơ chế để lắng nghe ý kiến của người dân.“

Ông dẫn chứng, như sự hiện diện của Mật trận Tổ quốc và nhiều đoàn thể nhân dân trong Mặt trận này! Nhưng ông Triết đã không dám nói thực và nói thẳng là, MTTQ do ai đẻ ra và đẻ ra để làm trò gì? Nó có thực quyền hay chỉ là cây kiểng để cho nhóm lãnh đạo bảo thủ độc tài trưng làm trò chơi mà thôi?

Những ngụy biện và lí luận cùn trên đây của Nguyễn Minh Triết không có gì mới và cũng không khác gì với những người lãnh đạo trước đây của ĐCSVN. Vì thế những ai tin tưởng hay chờ đợi một nhận thức cởi mở và thành thực của Nguyễn Minh Triết sẽ vô cùng thất vọng.

Ngoài ra, trong ngày đầu đặt chân lên Mĩ, xứ sở của một trong những nước khai phóng chế độ dân chủ đa nguyên trên thế giới, Nguyễn Minh Triết đã đưa ra nhận xét và so sánh giữa một số nước dân chủ đa nguyên cũng như giữa hai chế độ độc tài nhất nguyên và dân chủ đa nguyên thật là lạ lùng, một người có trình độ kiến thức trung bình cũng không hiểu được. Nguyễn Minh Triết bảo rằng, chế độ chính trị đa nguyên ở Mĩ, Pháp, Anh, Đức…khác nhau, nơi thì có Thủ tướng, nơi thì có Tổng thống hay Nữ hoàng… Để từ đó ông Triết lớn biện hộ cho chế độ độc đảng của CSVN:

„Chính trị thế giới muôn màu muôn vẻ, tại sao lại bắt Việt Nam phải theo một cái khuôn cố định nào đó. Đó là đòi hỏi hết sức vô lý. Mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử khác nhau. Từ đặc điểm của mình, mình chọn mô hình nào cho thích hợp. „

Nguyễn Minh Triết đã viện dẫn những khác biệt về tên gọi một số cơ quan của nhà nước trong các chế độ dân chủ đa nguyên. Nhưng ông Triết đã cố lờ đi một số nguyên tắc quan trọng rất căn bản có chung trong các chế độ dân chủ đa nguyên, nó hoàn toàn đối nghịch với chế độ toàn trị độc đảng của CSVN. Đó là, dù có những tên gọi những người cầm đầu hành pháp hay lập pháp… khác nhau ở từng nước, nhưng các xã hội dân chủ đa nguyên có những nguyên tắc chung cơ bản trong việc vận hành của đất nước là sự phân quyền độc lập và bình đẳng giữa ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đó cũng là những xã hội pháp trị; nếu tổng thống, thủ tướng hay nữ hoàng làm sai thì người dân, các đoàn thể và báo chí có quyền phê bình. Nếu họ vi phạm pháp luật, tham nhũng… hay đàn áp nhân dân thì đều bị trừng trị trước pháp luật. Đó cũng còn là những xã hội mà báo chí được tự do, còn được gọi là Quyền thứ tư trong nước sau ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp!

Trong khi đó, tại những chế độ chính trị nhất nguyên, độc tài toàn trị như ở VN hiện nay thì đảng cầm quyền, tức ĐCSVN hiện nay, nắm độc quyền toàn bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó một số người có quyền lực nhất tự do tung hoành và thao túng mọi hoạt động trong xã hội. Quốc hội làm bù nhìn; Thủ tướng chỉ biết gật, cả cái quyền bổ nhiệm hay cách chức bộ trưởng cũng không có. Còn tư pháp và các toàn án thì chỉ xử theo lệnh của những người có quyền lực. Trên 600 cơ quan báo chí và đài hoàn toàn nằm trong tay sinh sát của Ban Tuyên giáo Trung ương của ĐCSVN!

Những sự khác biệt giữa hai chế độ dân chủ đa nguyên và độc tài toàn trị rõ ràng như ngày và đêm, đen và trắng. Nó được ghi trong tất cả các sách giáo khoa sơ đẳng về chính trị học. Ai có kiến thức trung bình cũng đều biết. Nhưng Nguyễn Minh Triết, người đứng đầu của chế độ –được ghi là có trình độ Đại học- lại làm một công việc so sánh và phân tích đến độ lạ lùng và ngớ ngẩn như thế! Hoặc giả ông Triết biết nhưng vẫn cố nói như vậy để đánh lận trắng đen. Trong trường hợp này Nguyễn Minh Triết đã bán lương tâm và bán linh hồn cho quyền lực, cho ngôi báu! Nếu như thế thì Nguyễn Minh Triết đã tự chứng minh, ông ta không còn đặt giá trị tự trọng nữa. Ông đã coi sự dối trá cao hơn sự thực, coi lợi ích vị kỉ và nhất thời của nhóm độc tài cao hơn tất cả!

Những tuyên bố vào ngày đầu của Nguyễn Minh Triết đặt chân tới Mĩ trong tư cách là Chủ tịch nước đã cho thấy thái độ hành xử quyền hành của ông như thế nào: Lí luận cùn, ngụy biện và dối trá! Điều này chứng tỏ Nguyễn Minh Triết thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức và thiếu tự trọng!

Những đức tính và khả năng này rất cần thiết ở một người lãnh đạo. Nhưng nó đã vắng bóng trong con người Nguyễn Minh Triết!

Người ta thường đánh giá một chế độ qua thái độ hành xử của người cầm đầu. Thái độ và tư cách của Nguyễn Minh Triết phản ảnh trình độ và tư cách của nhóm lãnh đạo hiện nay của chế độ độc tài toàn trị. Một người đã tự đánh mất lòng tự trọng thì sẽ không còn được ai tôn trọng! Một người lãnh đạo mà tồi tệ đến như thế thì sự tồi tệ và tàn bạo của chế độ là điều không làm ai ngạc nhiên!

Âu Dương Thệ

* Những đoạn trích là từ trong bài „Chủ tịch nước: Chúng tôi bảo vệ nhân quyền“ lấy từ báo Tiền phong online ngày 20.6.07

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Lựa chọn chính trị (3): của Hoa Kỳ, qua chuyện đối lập Việt Nam, trong bối cảnh địa-chính trị

Hoằng Danh

1. Đột ngột ra khỏi danh sách CPC, tổ chức Hội nghị APEC, nhận được PNTR, gia nhập WTO – những thắng lợi ngoại giao dồn dập này khiến hình ảnh Việt Nam sáng chói vào những tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007.

2. Chính Hoa Kỳ đã đính ngôi sao này lên vòm trời, vì trong bốn sự kiện vừa nêu đã có đến ba là từ quyết định trực tiếp hoặc quyết định có tính quyết định của quốc gia này. Sự kiện còn lại thì siêu cường số một cũng đóng vai trò chủ chốt trong thành công đầy màu mè của nó, khi vị Tổng thống Mỹ chống chuyên chế mạnh mẽ nhất lại có những hoạt động giúp tô điểm cho nền toàn trị và ngó lơ trước những người đang tranh đấu chống lại ách bạo quyền đó.

Ngày 03 tháng Hai 2007 đã “đi vào lịch sử” khi nó vốn là ngày mà đế quốc không được phép có sự “khoe mẽ” nào trên đất Việt Nam của Đảng Cộng sản, thì Đại sứ Hoa Kỳ lại có cuộc trao đổi trực tuyến hoành tráng, làm lu mờ cả meeting và phát biểu nhàm chán năm nào cũng như năm nào của lãnh đạo sở tại, bởi ông Marine công khai nói đến quan hệ chiến lược giữa đầu sỏ đế quốc với một sừng sỏ chống đế quốc.

Cũng đã có tin về việc Mỹ sẽ tiến hành tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh trên vùng biển Việt Nam. Rồi trong khi lệnh cấm vận vũ khí vẫn duy trì đối với Trung Quốc, nó lại được tháo khoán cho quốc gia láng giềng phía nam.

3. Vừa đến đích (ít ra là trong quan niệm của một số giới quyền lực, thành quả là “đích” đến để khoa trương), theo truyền thống “tự lực cánh sinh” của mình (ít ra là sau khi đã dựa dẫm đến hết mức), không cần đến bàn tay đính lên của Hoa Kỳ nữa, Việt Nam tiếp tục tự chói sáng trên bầu trời bằng cuộc chiến công khai, khốc liệt, phi pháp và bỉ ổi của cả hệ thống bạo lực và truyền thông toàn trị chống lại các nhà hoạt động dân chủ mà vốn vũ khí của họ chỉ là lòng quả cảm và ngôn luận.

4. Cuộc đàn áp lần này là được suy đoán theo nhiều hướng khác nhau: sự nín nhịn quá lâu của phe bảo thủ, có sự giật dây từ bên ngoài, có những thế lực trong nước muốn phá hoại các chuyến công du sang Mỹ, v.v… Tuy vậy, có một điều dễ thống nhất, là bộ máy toàn trị đã và đang hành động một cách có hệ thống chứ không hề là những việc làm bột phát về chiến lược hay sách lược. Nhìn vào hành xử của họ đối với các nhà hoạt động dân chủ và khối dân oan từ trước khi có cuộc đàn áp đến nay, ta dễ dàng nhận ra những toan tính có sẵn về các bước đi chiến thuật, về các biện pháp và thời điểm… đối với từng đối tượng cụ thể [1] .

Và cái bối cảnh quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ mà cả hai bên đều phô diễn đó đã biến thành ngay một thứ mồi cho giới toàn trị nhử các nhà hoạt động dân chủ và đưa họ vào tròng.

5. Ngoài chuyện đàn áp hung hãn, bất chấp mọi chuẩn mực sơ đẳng nhất về pháp luật và đạo đức, đối với bên ngoài, thái độ của giới cầm quyền Việt Nam cũng không thua gì. Dường như họ muốn chứng tỏ rằng sẽ càng gia tăng cường độ và phạm vi đàn áp trước sự gia tăng phản ứng các nước dân chủ. Đó là một thái độ thách thức công khai đối với cộng đồng quốc tế.

6. Khinh khỉnh đối với châu Âu và những nước như Úc, Canada… khi các nước này hoặc chính trị gia tại đó phê phán chiến dịch đàn áp bất đồng chính kiến tệ hại nhất trong hai mươi năm qua. Trơ tráo chụp mũ các tổ chức nhân quyền quốc tế, mà vốn tiếng nói của họ không một tổ chức hay chính quyền dân chủ nào dám coi thường. Hành xử một cách thô bạo và vô liêm sỉ, bất chấp chuẩn mực ngoại giao với bất kỳ ai trực tiếp liên hệ với giới phản kháng ngoài “chương trình chính thức”…

7. Còn với Hoa Kỳ, Việt Nam thật sự đã đánh vỗ mặt.

Bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân vừa từ Mỹ về sau khi tham gia khóa học về xã hội dân sự do chính Quốc hội Mỹ tài trợ, phớt lờ sự lên tiếng của những chính trị gia có liên quan vốn được xếp trong nhóm uy tín hàng đầu nước Mỹ.

Hạ nhục dân biểu Hoa Kỳ khi “dàn quân” ngay trước mũi Loretta Sanchez, không cho tiếp xúc với vợ những nhà bất đồng chính kiến, vu vạ bà tiếp tay cho “khủng bố” bằng cả một chiến dịch truyền thông. Đó là còn chưa kể họ đặt điều một cách ngờ ngệnh đến không thể tưởng tượng rằng bà gây áp lực với Đại sứ Micheal Marine tổ chức cuộc gặp những phần tử chống đối, rằng bà đã vi phạm chính Hiến pháp Hoa Kỳ…

Tiếp tục đàn áp và xét xử không ngơi nghỉ những người phản kháng ôn hoà ngay khi cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ thường kỳ đang diễn ra.

Không ngại ngần nhổ cả lên chữ tín ngoại giao khi lời hứa trực tiếp của một Phó thủ tướng nhiều quyền lực với hành pháp Hoa Kỳ cũng bị nuốt.

Khi cả Hạ viện Mỹ tuyệt đối đồng thanh (chuyện hiếm hoi trong một xứ sở mà hoàn toàn đồng thuận trong quan điểm riêng là điều không tưởng) về nghị quyết chỉ trích chuyện nhân quyền Việt Nam, nhà cầm quyền toàn trị vẫn tiếp tục lu loa về cái gọi là “công việc nội bộ” như một trò đùa ngôn từ.

8. Họ đùa đến mức thật lòng dạy bảo lại cho Hoa Kỳ như thế nào là pháp quyền và dân chủ, luôn vênh mặt trên truyền thông và cả những trao đổi trực tiếp, bằng những lời lẽ mà chỉ có những kẻ trâng tráo nhất trong lịch sử loài người mới không biết ngượng mà nói ra, về việc chỉ có “những kẻ vi phạm pháp luật” bị xử phạt ở Việt Nam chứ không bỏ tù người bất đồng chính kiến, không có tù chính trị.

Giới cầm quyền Việt Nam đang nói với Hoa Kỳ và thế giới mà như chỉ đang nói với đám (mà họ muốn là và coi là) dân ngu của họ. Thái độ ngạo nghễ như vậy khi nói những điều trơ trẽn ở mức hoàn toàn lộ liễu chỉ có được thể giải thích rằng hoặc là do xem người ta quá ngu ngốc, hoặc do chính mình quá ngu ngốc mà tưởng người ta ngu ngốc hay không thể nhận ra cái ngu ngốc của mình. Trường hợp này, là cả hai.

9. Trò đùa của giới toàn trị đối với Hoa Kỳ cũng đã được nâng lên đến “tầm cao mới”, họ không chỉ xem cường quốc này là đối tượng để dạy bảo mà còn là đối tượng để… răn đe. Đến là nực cười, khi chính giới cao cấp Hoa Kỳ ngày càng tỏ một thái độ đồng thuận và cứng rắn với chiến dịch đàn áp tại Việt Nam, phản ứng của nhà nước toàn trị là đưa công an ra đáp lễ.

Tờ Công an Nhân dân (mà ai cũng biết là cơ quan ngôn luận gì), trong một bài hồi gần đây, sau phỉ báng Quốc hội Mỹ (“cố tình đánh lận con đen”) đã dùng văn phong của một bản văn cấp nhà nước mà nói rằng: Cũng phải thẳng thắn nói rằng, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đang có lợi ích chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Việt Nam sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và cởi mở về những vấn đề mà phía Hoa Kỳ quan tâm, để tăng cường hiểu biết giữa hai bên và không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực. Nhưng Việt Nam không bao giờ chấp nhận những thái độ áp đặt, kẻ cả, có xu hướng can thiệp vào công việc nội bộ của nước mình.

Đây chính là lời răn đe – theo đúng nghĩa đen – được Hà Nội tung ra với thông điệp đe doạ đến quan hệ chiến lược giữa hai bên.

10. Trước nay Hà Nội vẫn bất chấp cộng đồng quốc tế trong vấn đề dân chủ và nhân quyền, nhưng lần này thái độ của họ “dũng mãnh” và tự tin đến lạ thường, vì sao vậy? Cùng với sự đánh tráo và tráo trở trong văn hóa chính trị toàn trị Việt Nam, thói kêu ngạo cộng sản – như một phần của sự ảo tưởng từ trong bản chất của chủ thuyết này – vẫn là một đặc điểm khó mà có thể gột bỏ của họ.

Bên cạnh việc ảo tưởng quá sớm về vị thế kinh tế và chính trị trên trường quốc tế tạo được trong thời gian gần đây, vốn từ thực chất đến biểu hiện đều xuất phát từ sự vận hành và quan hệ tư bản chủ nghĩa, Hà Nội cũng ảo tưởng quá sớm về vị thế chiến lược của mình trên bàn cờ toàn cầu và trong quan hệ với Hoa Kỳ. Với những gì đã thể hiện, giới cầm quyền toàn trị nghĩ rằng vị thế này có thể cho phép họ bất chấp dân chủ và nhân quyền, thậm chí buộc thế giới dân chủ phải dung dưỡng cho sự chuyên chế của họ.

11. Ai cũng đã rõ, trên phạm vi châu Á, vị thế của Trung Quốc đang nhanh chóng củng cố và bành trướng, và theo truyền thống, chuyển động của nó trước tiên lại hướng xuống phía nam. Cũng theo truyền thống, dù muốn hay không, dù ở mức độ nào và theo nghĩa nào, Việt Nam vẫn trở thành một tiền phương trước sự bành trướng này.

Sự bành trướng thế và lực – mà nay đã lên tới vũ trụ – của một quốc gia cộng sản Khổng giáo (đáng sợ hơn nhiều so với cộng sản ở phía tây) khiến Hoa Kỳ phải nhanh chóng có sự điều chỉnh thích hợp về địa-chính trị trên nhiều mặt, kể cả quân sự. Vị trí tiền phương của Việt Nam khiến quốc gia này trở nên quan trọng trong chiến lược đó.

12. Việt Nam, sau khi hoàn toàn thất bại trong việc sử dụng ASEAN như một đối trọng kiềm chế tham vọng trên biển của Trung Quốc, đã âm thầm thay đổi tư duy chiến lược và tìm đến một đối trọng khác. Đó chính là Hoa Kỳ, vốn cũng đang có chủ đích xác lập vai trò đối trọng trước thế lực đang lên của Trung Quốc tại châu Á, và cần đến Việt Nam như một điểm hiện diện của thế và lực tại Đông Nam Á gần với Trung Quốc nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam cần đến như một đồng minh ý thức hệ trong một thế giới mà chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phần co cụm đáng kể tại châu Á [2] . Việt Nam cũng cần người láng giềng này ban cho một quan hệ thân thiện, cần thiết cho việc tập trung phát triển kinh tế, xã hội.

Trung Quốc thì cần Việt Nam được đặt trong vòng ảnh hưởng của mình, để ngăn ngừa sự hiện diện của thế lực Mỹ.

Và ở đây, trên lãnh thổ Việt Nam và biển Đông, cũng như trên khắp vùng Đông Nam Á, Trung Quốc không cần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ không cần Trung Quốc. Nếu có chăng thì chỉ là cái đối trọng để hù dọa và khuyên bảo, ve vãn Việt Nam ngả về phía mình.

13. Nhìn vào cục diện hiện nay của quan hệ tay ba này, trong bối cảnh địa-chính trị, Hoa Kỳ dường như yếu thế nhất và Việt Nam là mạnh “thế” nhất.

Trung Quốc thì “yên vị” với vị trí địa lý tự nhiên, không cần phải “bôn ba” và nhọc lòng ve vãn, đổi chác để có sự hiện hiện nào đó, như Hoa Kỳ phải làm. Các căn cứ quân sự tại Hải Nam và Hoàng Sa chắc hẳn đã tạo được “tầm ảnh hưởng” đến bắc và trung phần Việt Nam. Đó là còn chưa kể không biết họ còn đang thực hiện những công trình gì tại những đảo đã chiếm được ở Trường Sa nhằm mở rộng cái tầm đó về hướng nam. Điều duy nhất cần làm là trong khi thực hiện chiến lược vết dầu loang, họ cố gắng tạo cho Việt Nam một cảm giác an ninh lãnh thổ và an toàn chính trị.

Với Hoa Kỳ, cường quốc này đã rời khỏi Đông Nam Á khá lâu, để tái hiện diện, dường như họ sẽ phải làm lại từ đầu dù với bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào, vậy thì chọn phương án tốt nhất là Việt Nam… Chủ động khai thông những chướng ngại rất lớn trên con đường hội nhập của quốc gia cựu thù, những hứa hẹn và thực tế nguồn lợi kinh tế từ đầu tư và thị trường Mỹ, sự hậu thuẫn tại các định chế kinh tế thế giới và hứa hẹn một vai trò lớn hơn trên trường quốc tế dành cho Việt Nam, thậm chí còn ngầm mở ra khả năng về một sự bồi thường chiến tranh trá hình (vụ kiện tác nhân cam)…; Hoa Kỳ phải làm nhiều việc như thế chỉ là để đem lại cho Việt Nam cảm giác rằng không chỉ là lợi ích kinh tế to lớn mà còn nhiều lợi ích chính trị trên bình diện quốc tế, cũng như một sự an toàn lãnh thổ trước sự bành trướng lúc ẩn lúc hiện của phương bắc.

Nhận thấy vị trí địa lý quan trọng của mình trong tính toán chiến lược của Hoa Kỳ, trước tình hình cường quốc này ngày càng nôn nóng về sức mạnh quân sự không minh bạch của Trung Quốc, Việt Nam trở nên mạnh “thế” trước Hoa Kỳ. Cái thế đó càng được củng cố hơn nữa khi nhận ra sự chuyển hướng, nhích lại gần nhau của hai cựu thù này, Trung Quốc cũng đã điều chỉnh cách hành xử. Sự thân thiện trong quan hệ Việt – Trung sau sự kiện đổ máu oan của người Việt trên vịnh Bắc bộ (tháng Giêng 2005) chính là kết quả từ sự chuyển hướng chiến lược của Việt Nam.

Việt Nam nay đang ở vào cái thế được cả hai cường quốc Thái Bình Dương này ve vãn. Trò đi dây của Việt Nam nay đã quá rõ.

14. Sự yếu thế của Hoa Kỳ về địa-chính trị trong quan hệ bộ ba này chính là cái đem lại cho Việt Nam thái độ trịch thượng, đã công khai tráo trở mà lại còn lên mặt dạy bảo lại và răn đe Hoa Kỳ.

Khi cơ quan ngôn luận của công an thay mặt cho nhà nước lên tiếng nhắc Hoa Kỳ không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực, Hà Nội đang đòi hỏi Washington phải chấp nhận và dung túng cho họ trong việc đàn áp những người đối lập để đổi lấy một quan hệ chiến lược.

Chuyến thăm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đến Trung Quốc trung tuần tháng Năm vừa rồi đã diễn ra trong khi đang chuẩn bị cho chuyến đi Hoa Kỳ. Phát biểu của ông Triết trong chuyến đi đã được các báo Đảng ở Việt Nam in rất đậm: Trung Quốc là đối tác hàng đầu. Chuyến thăm này đã được dự trù từ trước, trong bí mật, hay chỉ được thực hiện khi Mỹ gia tăng phản đối chiến dịch đàn áp dân chủ, như một cách thức dằn mặt đối tác bên kia bờ Thái Bình Dương – về phía Việt Nam, và là động thái chớp thời cơ – về phía Trung Quốc?

15. Có phải Việt Nam ở vào vị thế mà vì chiến lược địa-chính trị, Hoa Kỳ buộc phải nhượng bộ dưới bất cứ giá nào, kể cả vứt bỏ giá trị tối thượng của một xã hội dân chủ để vừa phải đem lại các nguồn lợi kinh tế và chính trị cho Việt Nam, vừa phải dung túng cho chuyện đàn áp dân chủ và nhân quyền?

Với những biểu hiện suốt từ sau APEC đến nay, trong tính toán của giới toàn trị, có lẽ là vậy.

16. Việt Nam có một vị trí chiến lược, là cửa ngõ đi vào Đông Nam Á và nằm trên tuyến đường biển quan trọng nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Câu này hiện diện trong tài liệu giáo khoa ở Việt Nam. Nó đúng, nhưng hoàn toàn không đủ.

Điểm đầu tiên để xác định chiến lược địa-chính trị chính là biết “đọc” và đọc kỹ bản đồ, điều mà tôi e rằng những người có trách nhiệm ở Việt Nam đã không làm hoặc không thể làm.

17. Đông Nam Á gồm các nước trong vành đai địa giới Myanmar – Thailand – Malaysia – Indonesia – Philippines – vùng biển phía nam Trung Quốc giáp với Việt Nam. Phía bắc Đông Nam Á là Trung Quốc, nam là Australia, đông là Thái Bình Dương và tây là Ấn Độ và Ấn Độ Dương. Trong vành đai này là vùng biển mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa (cũng là từ chuẩn của bản đồ thế giới) và Việt Nam gọi là biển Đông.

18. Việt Nam là cửa ngõ đi vào Đông Nam Á nhưng không phải là cửa ngõ duy nhất, và cũng không phải là cửa ngõ đối với tất cả.

Việt Nam chỉ là cửa ngõ Đông Nam Á đối với Trung Quốc mà thôi, và cũng chỉ là cửa ngõ đường bộ. Với sự lớn mạnh của hải quân, đảo Hải Nam và Hoàng Sa đã quân sự hoá ở những mức độ nhất định, rồi các hải cảng hùng hậu ven biển phía nam, trong đó kể cả Hongkong và Macau, cửa ngõ trên biển để tiến vào Đông Nam Á của Trung Quốc chưa bao giờ rộng mở như lúc này.

Nga không cần cửa ngõ Việt Nam vì chiến lược địa-chính trị của họ nay rất thực tiễn. Lãnh thổ vắt ngang Âu-Á của họ cho phép họ kiểm soát tốt những vùng họ muốn kiểm soát, nên quan tâm hàng đầu của họ là những vùng địa lý thân thuộc chứ không phải một vùng xa lắc của một cựu đồng minh Soviet.

Việt Nam cũng không hề là cửa ngõ của Mỹ vì Mỹ không muốn tiến lên phía bắc từ đây, và quanh Việt Nam cũng không phải là những chốn mà Hoa Kỳ cần chinh phục trong khó khăn.

19. Mà thật ra dường như vấn đề cửa ngõ vào Đông Nam Á cũng chỉ có Việt Nam tự nhấn mạnh. Thời còn chia cắt, họ cho rằng cuộc chiến là do vị trí cửa ngõ giữa hai chiến tuyến ý thức hệ ở Đông Nam Á. Sau năm 1975 cho đến trước khi mất chỗ dựa vào Liên Xô, vai trò cửa ngõ càng được nhấn mạnh hơn nữa do “mộng bành trướng của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh”. Hiện nay, trước sự lớn mạnh và tham vọng trên biển của Trung Quốc, dường như Việt Nam lại muốn “làm mình làm mẩy” với Hoa Kỳ về vai trò cửa ngõ này.

20. Thực tế, ngoài Trung Quốc vào Đông Nam Á trực tiếp bằng con đường Việt Nam, thì người ta có thể vào Đông Nam Á theo những hướng khác nhau. Khái niệm “cửa ngõ” cũng chỉ theo nghĩa tương đối tùy theo nơi xuất phát. Chẳng hạn các nước Đông Bắc Á khác hay các nước bên kia Thái Bình Dương, kể cả Hoa Kỳ, để vào Đông Nam Á, thì Philippines là cửa ngõ quan trọng hơn nhiều so với Việt Nam vì nước này giữ vị trí chắn dọc rìa phía đông của các nước Đông Nam Á, và cực bắc của nó (gồm cả một số đảo) cùng với phía nam Đài Loan tạo thành cái cửa mà phần lớn tàu bè vào Đông Nam Á theo hướng đông đều phải qua. Các căn cứ quân sự lớn của Mỹ trước đây tại khu vực này được đặt ở Philippines là vì vậy.

21. Với chiều dài bờ biển trải dọc biển Đông, Việt Nam kiểm soát được các di chuyển từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương ư? Lại là một ảo tưởng.

Một phần hai chiều dài đó đã phải chia sẻ tầm ảnh hưởng với phần lãnh thổ nối dài đến đảo Hải Nam và Hoàng Sa, vậy đó chỉ là hai người bạn kiểm soát lẫn nhau mà thôi. Đó là chưa kể vịnh Bắc bộ, mà vị trí chỉ như một cái hốc, không có vai trò trong tuyến thông thương đông – tây quốc tế.

Hơn một phần hai chiều dài bờ biển còn lại của Việt Nam thì chia sẻ ở mức độ như nhau với các nước lớn là Philippines, Malaysia, Indonesia trong việc “dòm ngó” vào lưu thông hàng hải.

Một điểm đặc biệt chú ý, Việt Nam cũng hay nhắc rằng nước này nằm trên hải lộ có eo biển Malacca, là điểm huyết mạch giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đây là cách hiểu lập lờ đến huyễn hoặc. Với eo biển này, Việt Nam đã hoàn toàn không còn chút vai trò gì, nó thuộc vùng chi phối trực tiếp của Malaysia, Indonesia và Singapore, nên không thể “ăn theo” một cách vô lối như vậy được.

22. Với cách hiểu cửa ngõ theo “tư duy một cửa” Việt Nam nghĩ rằng từ vị trí của mình sẽ vươn tầm kiểm soát khắp Đông Nam Á. Nếu chịu “tư duy đa cửa” Việt Nam sẽ thấy rằng chính là đất nước này nằm trong một vùng mà cửa nào cũng đều có thể hướng thẳng về họ (như đã từng xảy ra trong chiến tranh). Do vậy, cho dù cái cửa Việt Nam có mở hay bị mở cho Trung Quốc thì các cửa khác vẫn có thể đóng lại, thậm chí bịt kín tầm vươn đã được mở ra đó trong giới hạn của nó mà thôi, vì nên nhớ rằng những cánh cửa này tạo thành một vòng cung mà Việt Nam nằm lọt thỏm trong đó.

23. Biển Nam Trung Hoa cũng chỉ là một cái vũng của Thái Bình Dương mà thôi, và trong khi Việt Nam chỉ có một hướng quay về “vũng” thì những nước Đông Nam Á phía rìa đông, nam và tây có cái nhìn hướng ra biển lớn cũng như từ biển lớn tiếp cận vào, thông thoáng hơn nhiều khi xét trên phương diện thông thương và chiến lược trên biển.

Đặc biệt với vị trí của Philippines, họ vừa có thể hướng tầm kiếm soát vào “vũng”, vừa có thể vươn tầm ra Thái Bình Dương – cái đại dương quan hệ mật thiết với cả Trung Quốc và Đông Nam Á – dễ dàng hơn nhiều. Có thể nói đối với đại dương này, Philippines giữ vị trí tiền tiêu, cửa ngõ của Đông Nam Á chứ không phải Việt Nam.

24. Trước sự lớn mạnh trên biển của Trung Quốc, cái cửa Việt Nam dù có đóng hay mở thì cũng không thành vấn đề lớn đối với các nước khác trong vùng, vì với phân bố địa lý biển như thế, mỗi nước phải tự gánh vác thách thức của mình chứ Việt Nam không hề gánh giùm cho phần nào. Có chăng chỉ là Việt Nam phải gánh lấy phần nặng nhất của chính mình mà thôi. Dù có Qui tắc Ứng xử biển Đông được ký chung giữa tập thể ASEAN với Trung Quốc nhưng khi Trung Quốc vượt khỏi khung ứng xử này với Việt Nam thì tất cả phần còn lại đều im lặng, là vì vậy.

25. Như thế, thực tế mà nói, tầm quan trọng của Việt Nam trong tương quan với sức mạnh của Trung Quốc trong vùng rốt lại cũng chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với Việt Nam, và kiềm chế được Trung Quốc hay không là quyền lợi trực tiếp và sống còn của Việt Nam chứ không phải của các nước Đông Nam Á khác, dù không phải họ không bị tác động. Nó càng không phải quyền lợi trực tiếp và sống còn của Hoa Kỳ. Tuyến Malacca là con đường huyết mạch vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa đông – tây, nếu phát sinh vấn đề nghiêm trọng, người đầu tiên chịu ảnh hưởng chính là Trung Quốc và Nhật Bản với tư cách nguồn tiêu thụ nhiên liệu từ Trung Đông và những nơi khác, sau đó là Việt Nam và một số nước khác trong vùng với tư cách người xuất khẩu dầu mỏ và hàng hoá.

26. Với quyền lợi trực tiếp và sống còn của mình mà lại nghĩ rằng người khác phải hy sinh đến cả giá trị tối thượng của họ, thì không có sự huyễn hoặc nào hơn nữa trong quan hệ quốc tế!

Vấn đề là ở chỗ Việt Nam hiểu rằng nếu hiện diện tại đây, Hoa Kỳ thuận lợi hơn và trực diện hơn với Trung Quốc trong chiến lược kiềm chế “từ xa”. Nhưng các nhà chiến lược Việt Nam cần nhớ cho rằng dù có là lựa chọn thuận lợi nhất về mặt địa lý thì Việt Nam không phải là lựa chọn thuận lợi nhất về mặt chính trị (họ quen nghĩ thuận lợi chính trị chỉ là “ổn định chính trị”), và càng không phải là lựa chọn duy nhất.

Chọn Việt Nam, Hoa Kỳ đạt mục tiêu mà Việt Nam cũng được trực tiếp bảo đảm an ninh trước sự đe dọa tiềm tàng từ phương bắc. Không chọn Việt Nam, Hoa Kỳ vẫn sẽ đạt mục tiêu nhưng Việt Nam thì không có được sự bảo đảm đó, thậm chí sẽ bị bỏ rơi như đã từng hoàn toàn bị bỏ rơi.

27. Trên thực tế Phillipines, Malaysia, hay Indonesia dù không trực tiếp nhưng đều có thể thay thế cho Việt Nam. Đặc biệt, như đã nói, với vị trí mở cho cả hướng từ Thái Bình Dương và Đông Bắc Á vào biển Nam Trung Hoa, Philippines là một địa điểm lý tưởng, có vai trò đối với toàn bộ tiểu vùng này nếu tính từ hướng Thái Bình Dương.

Với những nước này Hoa Kỳ đang có những vấn đề nhất định, nhưng điều đó không có nghĩa là siêu cường không thể nào tái hiện diện. Chỉ là cả những nước đó, cả Việt Nam cùng lúc được đặt lên bàn cân, và do chính những vấn đề nhất định đó nên vị trí của Việt Nam trở thành ưu thế vượt hẳn. Ưu thế này còn được củng cố khi chính Hà Nội ve vãn để có một vị thế như vậy cho mình, cùng với một tâm lý thoả mãn “thầm kín” có thể có nào đó trong tính toán của Washington.

28. Như vậy, trong tương quan địa-chính trị, khi so bộ ba Hoa Kỳ – Việt Nam – Trung Quốc, Việt Nam ở vào vị thế mạnh nhất và Hoa Kỳ là yếu nhất. Nhưng đặt trong bối cảnh của Đông Nam Á và rộng hơn nữa – mà chính bối cảnh này mới là cái cần thiết để Hoa Kỳ tính toán địa-chính trị – thì vị thế yếu nhất chính là Việt Nam và mạnh nhất lại là Hoa Kỳ. Việt Nam gặp những đe doạ trực tiếp chứ không phải là ai khác. Việt Nam đã từng bị bỏ rơi trước nguy cơ này và khả năng đó vẫn có thể xảy ra, chứ không phải là các nước phía nam ASEAN. Và dù có bất kỳ vấn đề gì, không kể Việt Nam, tất cả các nước ven biển Nam Trung Hoa còn lại đều thừa hiểu họ cần đến Hoa Kỳ như thế nào trước sự lớn mạnh trên biển của Trung Quốc.

29. Với Việt Nam, nói đến khả năng xấu nhất trong quan hệ, Hoa Kỳ vẫn có thể “buông”, còn Philippines hay các nước quanh Malacca, điều đó không thể xảy ra. Một rẻo nước ở góc kẹt lại có thể quan trọng bằng điểm nối trên biển giữa Đông Bắc Á với Đông Nam Á và giữa Thái Bình Dương với biển tiểu vùng, hay có thể quan trọng bằng ngay chính Malacca ư? Việt Nam, với tư cách đồng minh ý thức hệ hay đồng minh chính trị của Trung Hoa mà đối với với Hoa Kỳ lại có thể khả tín hơn so với những đồng minh thể chế và truyền thống trong khu vực ư?

30. Mức độ khả tín đó như thế nào, ai ai cũng đã thấy rõ trong thời gian vừa qua, trong thái độ dạy bảo và răn đe ngược đời của Hà Nội.

Việt Nam là một “đồng minh” như thế nào và của ai, ai ai cũng đã thấy trong trong văn hoá bài Mỹ một cách nhất quán của họ.

Gieo rắc nhận thức và tâm lý chống Mỹ là điều quá dễ nhận thấy trong văn hoá và giáo dục Việt Nam. Thế hệ 8x, 9x ngày nay có thể thuộc làu làu “tội ác” của Mỹ trên đất Việt Nam từ năm 1975 về trước, chứ những chuyện sau đó chỉ vài năm của Khmer đỏ – “tay sai của tập đoàn Trung Nam Hải” hay của chính Trung Quốc gây ra trên đất Việt Nam thì đối với những thế hệ sau này dường như không từng xảy ra! Thái độ chống Mỹ ở bất cứ đâu trên thế giới cũng được truyền thông Việt Nam khai thác, còn những gì làm phật lòng người láng giềng họ đều kiêng sợ, thậm chí là đối với đối tác làm ăn lớn và từ rất sớm của thời đổi mới (Đài Loan) họ cũng sẵn sàng “bôi mặt” cho vừa lòng Bắc Kinh…

31. Có đáng để Hoa Kỳ hy sinh giá trị dân chủ để dung túng cho một đối tác như vậy không? Hoa Kỳ có phải là quốc gia nhục nhã đến mức chấp nhận quốc sách bài xích thâm căn cố đế của đối tác mà vẫn phải bảo đảm an ninh cho “thân hữu” này? Cường quốc số một thế giới có thấp hèn đến mức phải nghe dạy bảo và răn đe từ một đối tượng nhất thiết phải cần đến mình?…

Những câu hỏi như vậy không chỉ là vấn đề về lựa chọn cho phía Hoa Kỳ, mà cũng chính là vấn đề lựa chọn cho phía Việt Nam.

32. Đương nhiên có nhiều ý kiến cho rằng không chỉ và không phải là chính trị, kinh tế mới là cái quyết định thái độ của hai nước này với nhau, và khả năng là Hoa Kỳ vì các quyền lợi kinh tế mà hy sinh các vấn đề về dân chủ, nhân quyền.

Đúng là Hoa Kỳ cũng nhận được những lợi ích kinh tế trong quan hệ với Việt Nam, nhưng ở khía cạnh này cũng vậy, Hoa Kỳ có phải lép vế để mà chấp nhận dung túng mọi điều cho hành xử toàn trị? Rõ ràng là không. Việt Nam cần (và đã được) Hoa Kỳ ban cho PNTR chứ không phải ngược lại. Việt Nam cần Hoa Kỳ tăng cường đầu tư chứ không phải ngược lại. Thị trường Hợp chủng quốc là nơi Việt Nam cần mở rộng thị phần để cạnh tranh với thị phần của Trung Quốc, chứ không phải Hoa Kỳ phải đi làm điều đó ở thị trường Việt Nam. Các công ty Hoa Kỳ muốn làm ăn ở Việt Nam, họ muốn có được sự hợp tác của các giới thẩm quyền, nhưng nếu quan hệ giữa hai nước không thân hữu khiến làm ăn của họ không thuận lợi, thì sự rút lui của họ lại có thể làm lợi cho hình ảnh và môi trường đầu tư của Việt Nam sao?

Chính cái tư duy đến là ngờ nghệch thể hiện thành quan niệm giáo khoa và chiến lược, rằng chính quyền Mỹ do các tập đoàn đa quốc gia giật dây và chỉ phục vụ cho lợi ích giới đại tư bản, nên Hà Nội cố tình trám miệng Hoa Kỳ bằng những màn trình diễn với Bill Gate [3] và Intel ngay khi sự phản đối đàn áp dân chủ dữ dội đang diễn ra tại Việt Nam của cả Capitol và Nhà trắng đạt đến cao điểm. Rõ ràng đây cũng là một thông điệp nhắn nhủ đến Washington.

33. Khi tôi kết lại bài này, Tập đoàn PB vừa loan báo ngừng một dự án thăm dò dầu khí lớn ở Trường Sa để “các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề ”. Họ không bình luận gì thêm, nhưng những cái đầu tại tổng hành dinh PB có lẽ đâu thể ngờ nghệch đến mức đặt bút ký một dự án hai tỷ dollar cách đây chỉ trên dưới hai tháng mà không biết đến tranh chấp đã mấy chục năm qua, họ đâu ngờ ngệch đến mức không biết làm gì có cơ hội cho các nước liên quan giải quyết vấn đề. Ngoài giả định họ chịu áp lực từ phía Trung Quốc, cũng không thể loại bỏ giả định rằng viễn cảnh an ninh không còn được bảo đảm như khi đàm phán tiền khả thi, đã khiến họ rút lui. Nếu đúng là có dính dáng gì đó, thì tương quan giữa kinh tế và địa-chính trị có tầm quan trọng như thế nào, là điều Hà Nội cần phải học lại.

34. Bên trong nước thì đối với mọi thứ, tư duy và hành động toàn trị đều buộc tất cả phải phục tùng chính trị. Đối với bên ngoài, Việt Nam muốn kinh tế là kinh tế, chính trị là chính trị. Họ luôn ra rả rằng thúc đẩy quan hệ kinh tế nhưng không “can thiệp vào (cái gọi là) công việc nội bộ” của nhau. Nếu vậy, Hà Nội nói đến “quan hệ chiến lược” để làm gì, vì nó đã chạm đến chính trị trên phạm vi khu vực và toàn cầu rồi đó! Nếu vậy, Hoa Kỳ nhọc lòng đến chuyện tranh chấp hay ảnh hưởng của ai đó trên biển Đông làm gì, vì như thế là đã can dự vào chính sách đối ngoại của Việt Nam rồi đó!

Làm ăn và hưởng lợi lẫn nhau từ cái hoạt động kinh tế thì không cần đến quan hệ chiến lược, thậm chí ngay cả đối xử tệ bạc về chính trị và văn hoá với Đài Loan mà Việt Nam còn giành thắng lợi kinh tế đó thôi.

Vậy theo đó, Washington đừng can thiệp vào “công việc nội bộ” giữa Hà Nội với Bắc Kinh, họ là anh em, đồng chí mà, sẽ tự thu xếp được thôi! Hoa Kỳ chỉ là người ngoài, hãy về mà chơi với anh em, “đồng chí” của mình trong khu vực. Hơn nữa, chính những nơi này mới giữ vị trí yết hầu.

35. Hình tượng đi dây thật đúng để diễn tả quan hệ giữa Trung Quốc – Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay. Và với chính hình tượng đó, nên nhớ rằng người đi dây chỉ đi được khi hai người nắm đầu dây chịu căng dây thăng bằng. Vậy nếu Việt Nam không muốn tiến quá gần đến đầu dây Hoa Kỳ mà ngược lại, dằn mặt siêu cường bằng cách tiến về phía đầu dây bên kia, thì Hoa Kỳ có thể chìu ý họ, buông đầu dây phía bên mình ra.

Cũng theo hình tượng này, khi một đầu dây buông ra, người đi dây sẽ rơi xuống vực, va vào vách đá của sườn bên kia, hoặc may mắn thì chạy kịp về đứng trên phần của sườn đó. Tương ứng thì nếu không có Hoa Kỳ, hoặc Việt Nam sẽ hứng chịu những hậu quả nặng nề từ phía Trung Quốc hoặc sẽ phải hoàn toàn thuần phục.

36. Tôi nghi ngờ quan điểm cho rằng trong giới cầm quyền Việt Nam có những người muốn dựa hẳn vào Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, qua những gì đã trải qua trong thời kỳ “môi hở răng lạnh”, sau năm 1975, và cả cho đến hiện nay, cho dù quan hệ Việt – Trung có hữu hảo đến tuyệt đỉnh chăng nữa, không thể nào tin rằng ở đất nước này và giờ này vẫn sản sinh ra ai đó bình thường mà lại nảy ra được ý nghĩ dựa hẳn vào Trung Quốc như lá chắn chiến lược của mình.

Nguồn tin đó chẳng qua chỉ là hoả mù do chính Việt Nam tung ra để vừa loè bịp vừa dằn mặt Hoa Kỳ mà thôi! Xét tương quan lịch sử, thực tế và bối cảnh địa-chính trị, chỉ có thể Hoa Kỳ “buông” Việt Nam chứ Việt Nam không thể “buông” Hoa Kỳ để về hẳn với Trung Quốc.

37. Hà Nội càng gia tăng mức độ đàn áp, Washington càng tỏ ra cứng rắn thì hỏa mù càng nhiều.

Ý kiến về việc có lực lượng nào đó công khai phá hoại những chuyến đi Mỹ thực tế cũng chỉ là hoả mù, dù là cố tình ở đối tượng đã tung ra hay vô ý ở những ai đã thổi lên. Nhìn lại thời điểm Việt Nam thay đổi đường lối nhằm “chiến lược” hơn với Hoa Kỳ, ta thấy đó là một lựa chọn hoàn toàn có cân nhắc kỹ càng và có sự thống nhất trong giới lãnh đạo chứ không hề là ý muốn hay hành động riêng rẽ của nhóm nào, vì rõ ràng lựa chọn đó là xuất phát từ chính lợi ích có tính sống còn của Việt Nam, không thể khác được nếu không muốn bị tiếp tục bỏ rơi trong biến động nhanh chóng của các lực lượng trên biển Đông.

Nếu thật sự có một lực lượng như vậy (một lực lượng giả thì có thể có), khi Nhà trắng gặp gỡ các nhân vật dân chủ người Việt cuối tháng Năm, đó là cơ hội tốt nhất để ra đòn dứt điểm, sao họ không làm mà lại đi tự biện hộ cho Hoa Kỳ [4] ? Đó là còn chưa kể liên tục sau đó Tổng thống Bush tấn công Việt Nam trên các diễn đàn có tính quốc tế như trong diễn văn tại Praha, trạm dừng chân trên đường đến Đức dự Hội nghị G8 2007, và tại Lễ khánh thành Tượng đài Nạn nhân Cộng sản.

38. Khi hai bên đang phản ứng với những hình thức rất căng vừa qua, Việt Nam bèn công khai hai chữ “chiến lược” với Hoa Kỳ, rồi một loạt những ý kiến về hoạt động không khớp nhau của các cơ quan cấp cao của chính quyền Việt Nam trong các vấn đề có liên quan… Khi chuyến đi của ông Triết bị đe doạ, có số ý kiến bâng quơ rằng ông có thể là Yelsin của Việt Nam (trước đó thì tầm quan trọng của một nhân vật tương tự như vậy được dành cho ông Dũng), rồi lại ý kiến của Carl Thayer nhắc rằng Hoa Kỳ cần tăng cường quan hệ chiến lược với Việt Nam [5] , hay như những cái tít kiểu “ông Triết muốn thân Mỹ hơn nữa” [6] … khiến hỏa mù càng trở nên dày đặc… Tất cả những điều đó đều góp phần ý biện hộ cho bộ máy toàn trị, đều vô tình hay cố ý để thuyết phục Hoa Kỳ duy trì chiến lược liên kết với Việt Nam cho dù có sự đàn áp nghiêm trọng đối với những người dân chủ.

39. Đã hoàn toàn lộ rõ rằng trong chiến lược của Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ được dùng vào thế cờ gài, phải bảo vệ cho Việt Nam nhưng lại ở vị thế cần đến Việt Nam. Điều này có lẽ phần nào cũng có phần của sự thổi phồng về vị thế chiến lược của Việt Nam và quan hệ với Hoa Kỳ. Còn về đối nội, cũng đã lộ rõ rằng những cải cách chính trị cải lương và nhỏ giọt ít có cơ may tái tục với nhịp điệu như vừa qua, mà điển hình là vai trò của Quốc hội mới không những không được tăng cường mà còn bị đẩy lùi, qua những biểu hiện và kết quả của cuộc bầu cử vừa rồi…

Trong tình thế như vậy, nếu tiếp tục cái gọi là “tầm chiến lược” trong quan hệ Việt – Mỹ theo nghị trình ban đầu nhưng thực chất và hiệu quả chỉ gói gọn trên nền tảng kinh tế và bảo đảm an ninh, thì rốt lại cũng chỉ là giúp tăng cường thanh thế chính trị của Hà Nội và bảo toàn cho nền toàn trị mà thôi.

40. Thả Nguyễn Vũ Bình, Lê Quốc Quân, và có thể sẽ thả Trần (Thị) Thuỳ Trang là chứng tỏ thật tâm của Hà Nội chăng? Hoàn toàn ngược lại.

Với Nguyễn Vũ Bình, hành động của Hà Nội chỉ chứng tỏ sự coi thường Hoa Kỳ mà thôi, khi chỉ cùng con người này mà năm lần bảy lượt họ đem ra vờn và nhử, đúng với “tầm chiến lược” của giới cầm quyền. Với hai luật sư sau, họ chưa bị cả một chiến dịch truyền thông nhà nước “vạch mặt”, chưa thành án, việc trả tự do cũng không phải là khó khăn. Quãng thời gian hai người này bị bắt cũng không xê xích nhiều với Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân nhưng tình hình lại khác nhiều. Khi có tin về sự trắc trở có thể nào đó đối với chuyến đi của ông Triết, việc sẽ có thể thả Quân và Trang, cùng với Bình, được tung ra lập tức. Những điều này phần nào chứng tỏ ngoài Bình, đây có thể đã là hai con bài được chọn để dự phòng từ xa cho tình huống phải chứng tỏ thiện chí.

41. Người ta đã chưa hiểu hết tư duy và hành động chính trị của Việt Nam nên có thể nói việc phản hồi chiến dịch đàn áp chưa nhắm trúng vào gót chân Achilles của họ. Một ghế trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ư? Có cũng tốt, không có thì có nào hề hấn gì, quan trọng là cái ghế độc tôn của họ không bị tình trạng dân chủ làm cho lung lay. Các nghi lễ đón tiếp cấp nhà nước bị cắt bỏ đối với Nguyễn Minh Triết ư? Điều này có giá trị biểu tượng rất cao đối với các cộng đồng dân chủ, nơi có tự do ngôn luận và tự do thông tin, có sự phán xét của dân chúng dành cho chính quyền đối với hình ảnh bị tổn hại của đất nước. Nhưng với Việt Nam, không có điều gì họ lại không biến được thành thành công vang dội và người dân không hề phán xét được giới cầm quyền cho dù họ có gây ra những phá hại lớn đến đâu chăng nữa.

42. Chừng nào chưa nguy hại trực tiếp đến những tính toán chiến lược về kinh tế, và đặc biệt là chiến lược quân sự, an ninh lãnh thổ của Việt Nam, họ sẽ không bao giờ nhân nhượng có thực chất trong vấn đề dân chủ và nhân quyền. Những sứt mẻ hay góc tối về ngoại giao chẳng là gì cả khi mà tiền cứ đổ vào để vỗ béo cho nền toàn trị, khi mà cứ “cầu cạnh” để được bảo đảm an ninh cho họ.

43. Cứ thách thức nhà cầm quyền Việt Nam nghiêng hẳn sang Trung Quốc mà xem, họ có dám không. Nếu họ dám, chẳng mấy chốc ta sẽ thấy Trung Quốc chớp lấy thời cơ như thế nào. Ta cũng sẽ nhanh chóng chứng kiến ngay trong Đảng họ phải “xử” nhau thôi…

44. Trên bàn cờ Đông Nam Á, Hoa Kỳ đã từng không có Việt Nam như một đồng minh, nay cũng không vì thế mà thất thế. Trung Quốc đang lên ư? Đúng, nhưng nên nhớ Trung Quốc lên thì không vì thế mà các nước khác dừng lại, vấn đề là có sự chia sẻ trách nhiệm quốc tế.

45. Ở Đông Nam Á phần nhiều là những nhà nước dân chủ chưa hoàn thiện hoặc độc tài, họ chủ trương “không can thiệp vào công việc nội bộ” của nhau là phải. Họ cứ phản đối Hoa Kỳ trong việc phê phán tình hình dân chủ của khu vực nhưng lại mặc nhiên dựa dẫm vào quốc gia này trong chiến lược an ninh lãnh thổ. Cả hai mặt này họ giống với Việt Nam nhưng họ lại không bức bách như Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc. Thái độ của họ là vô trách nhiệm trong bối cảnh địa-chính trị chung, để mặc cho Hoa Kỳ, Việt Nam, Trung Quốc giải quyết các quan hệ và họ hưởng lợi.

Vấn đề giờ đây là Hoa Kỳ phải có những bước đi đặt họ vào suy nghĩ và hành động địa-chính trị chung. Nếu họ không cùng hỗ trợ Hoa Kỳ trong việc xử lý các quan hệ có liên quan với Việt Nam để vừa tạo được hợp tác chiến lược vừa giữ vững các giá trị dân chủ và nhân quyền, thì giả định khi Hoa Kỳ chọn lại giải pháp buông Việt Nam, phòng tuyến Đông Nam Á dời về nam, khi đó chính họ sẽ là những người đầu tiên đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng thay vì sự “thanh thản” đến độ vô lý như hiện nay.

46. Trung Quốc lớn mạnh thì Nhật Bản và Nam Hàn cũng hùng cường, nên không vì thế mà họ vẫn tiếp tục nhận sự bảo hộ an ninh một chiều từ phía Mỹ. Trách nhiệm chung về an ninh địa-chính trị của khu vực đang thật sự đặt ra đối với họ.

Nhật Bản và Nam Hàn đều chia sẻ tuyến hàng hải vào biển Nam Trung Hoa và qua Malacca, đặc biệt Nhật gần như sử dụng 100% nguồn cung cấp nhiên liệu từ bên ngoài và vận chuyển hàng hải có tầm quan trọng chiến lược. Sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc trên vùng biển này là điều mà hai nước Đông Bắc Á này sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ. Hoa Kỳ – đồng minh của họ – đang phải giải quyết vấn đề, và họ cần hỗ trợ. Nếu họ cứ thản nhiên tăng cường hợp tác kinh tế với Hà Nội mà không có bất kỳ động thái nào thể hiện thái độ dân chủ của mình nhằm gia tăng sức ép buộc nhà cầm quyền Việt Nam phải tôn trọng những cam kết dân chủ và nhân quyền, thì khi Hoa Kỳ buộc phải chuyển hướng đối tác chiến lược trong tiểu vùng Đông Nam Á nhằm đối phó với Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn càng sẽ phải đau đầu hơn và bỏ ra nhiều chi phí hơn là nguồn lợi kinh tế có được từ Việt Nam, để bảo vệ các quyền lợi chiến lược của chính họ.

Ngoài ra, việc tính toán lại sự hiện diện và sức mạnh quân sự của hai quốc gia Đông Bắc Á này cũng là điều đến lúc nên làm để tạo đối trọng chia sẻ gánh nặng đang dồn xuống phía nam.

47. Cuộc gặp hôm 29.05 của Tổng thống George Bush, Phó tổng thống Dick Cheney và những nhân vật cao cấp nhất của chính quyền Hoa Kỳ, với đại diện bốn tổ chức chống chế độ toàn trị Hà Nội của người Việt tại Hoa Kỳ, phần nào cho thấy dân chủ không phải là giá trị mà người Mỹ có thể hy sinh. Dù đây có thể nói là một động thái vô tiền khoáng hậu, nhưng nó mang tính thực chất và hữu hiệu hay chỉ nhằm trấn an người Việt dân chủ và dằn mặt Việt Nam, đến đây vẫn chưa thể kết luận được.

Chúng ta hoan nghênh và rất biết ơn những nỗ lực thật tâm và rất hữu ích của lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ nhằm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh dân chủ trong nước, nhưng vẫn cần dành lại sự nghi ngờ nhất định.

48. Thực tế, chiến lược và sách lược của Hoa Kỳ dưới thời của Tổng thống Bush đem lại tác động xấu cho sự phát triển tinh thần dân chủ ở nhiều nơi. Iraq là điển hình, sự ham hố vặt vãnh về tiếng tăm của một nội các quyết đoán và quyền uy tột đỉnh đã khiến họ chỉ còn thấy giải pháp quân sự – mà lại là một giải pháp quân sự què cụt khi không hề có những chiến thuật và đường lối đúng hướng cho thời kỳ chiếm đóng – trong khi có những tin tức cho hay Saddam Hussein thậm chí đã đánh tiếng nhượng bộ tất cả, luôn đến việc rời chức. Tình hình Iraq “hậu chiến thắng” đã giúp các nền độc tài, trong đó có Việt Nam, khai thác tối đa để xuyên tạc trạng thái dân chủ và tôn vinh trạng thái chuyên chế.

Lần này trong tương quan giữa toàn trị và dân chủ Việt Nam thì sao, đối với Hoa Kỳ sẽ là một chiến lược và những chiến thuật căn cơ và có hệ thống, hay lại là những ham hố vặt vãnh về tiếng tăm?

Có thể nói nếu hợp tác chiến lược với Việt Nam trở thành hiện thực, Mỹ có thể lại hiện diện về chính trị và quân sự tại đây. Và đó sẽ là một thắng lợi vang dội của chính quyền Bush. Ngoài việc tạo thành công tiền đề trong tính toán tương quan lực lượng trên biển Nam Trung Hoa, nó vừa trả lại món nợ 32 năm trước, vừa lấy lại thanh danh của nội các và Đảng Cộng hoà trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lại đang gần kề. Nếu không có những đường hướng chiến lược cụ thể tuỳ theo chuyển biến của tình hình, mà chỉ biết chạy theo tiếng thơm là đưa người Mỹ chính thức trở lại Việt Nam, thì lần này việc Nhà trắng lại chỉ thấy có một giải pháp, tức nhượng bộ Việt Nam về dân chủ và nhân quyền để đạt đến “quan hệ chiến lược”, là một khả năng cũng không nhỏ.

49. Quan hệ chiến lược với Việt Nam là cần thiết, hữu ích và đáng hoan nghênh, nhưng đó không phải là chọn lựa tất yếu và duy nhất. Hơn nữa, trong quan hệ này Việt Nam mới chính là người có quyền lợi trực tiếp và sống còn.

Quả thật, chuyện các nhà đối lập ôn hoà tại Việt Nam và quan hệ chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ đang đặt siêu cường vào một sự lựa chọn địa-chính trị. Nếu dân chủ và nhân quyền không còn là giá trị tối thượng trong tương quan đó, thì rồi đến một ngày các nhà toàn trị Việt Nam sẽ ghi vào “trang sử vàng của Đảng” về việc “phân hoá và sử dụng kẻ thù phục vụ cho những mục đích chiến lược và bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội”.

50. Không tư duy kiểu cuộc sống hàng ngày để mà nóng vội quyết định ngay, nhưng cũng không thể không duyệt lại toàn bộ bối cảnh có liên quan để dự phóng những hướng chuyển khả dĩ.

Có lẽ diễn tiến dân chủ trong nước trong quãng thời gian sau chuyến đi của ông Triết đến trước chuyến đi của ông Dũng căn bản sẽ đủ để mọi thứ “chiến lược” cần được quyết định theo hướng thích hợp nhất…

© 2007 talawas

——————————————————————————–
[1]Đã dự trù tất cả, từ việc không cho Lê Thị Công Nhân hay Nguyễn Văn Đài thoát ra (ít ra là giới cầm quyền nghĩ đó là đường thoát) qua những chuyến đi ra nước ngoài, cho đến việc Lê Trí Tuệ “mất tích” ngay cả khi đã sang Cambodia và được Cao uỷ Tỵ nạn cấp qui chế, rồi hành động quyết liệt khi Nguyễn Quốc Tuấn công bố kháng thư của mình cùng cáo trạng của chính quyền đối với Nguyễn Quốc Huy, bất chấp các thủ tục tố tụng thành văn, như một hình thức xiết chặt sự cô lập và bao vây về thể chất, tinh thần đối với các nhà dân chủ đang bị giam giữ…
[2]Điều này, nói cho đúng ra, là giới lãnh đạo toàn trị Việt Nam cần một chỗ dựa quốc tế cho quyền lực và quyền lợi của nhóm đầu sỏ, chứ bản thân họ biết Trung Quốc từ xưa đến nay chưa bao giờ là chỗ dựa lưng cho đất nước cả.
[3]Dùng sản phẩm của Microsoft thì không chỉ có Việt Nam, nhưng khắp nơi trên thế giới khi dùng người ta chỉ việc bỏ tiền ra mua, có cần thiết tiến hành đại lễ cấp quốc gia như Việt Nam làm không?
[4]Nên nhớ mọi người Việt chưa làm đơn chính thức xin bỏ quốc tịch Việt Nam và được Bộ Tư pháp đồng ý, thì dù họ có ở đâu, Việt Nam vẫn xem là công dân của mình. Đằng này, giới toàn trị lại chữa thẹn bằng cách nói Tổng thống Mỹ gặp công dân Mỹ là chuyện bình thường. Đó là còn chưa kể họ gặp nhau để trực tiếp bàn về chuyện đàn áp của Việt Nam, “can thiệp vào công việc nội bộ” quá rõ rồi còn gì.
[5]Tôi có cảm giác rằng mặc dù có những ý kiến rất giá trị, dường như các nhà nghiên cứu nước ngoài về chính trị Việt Nam đã không những không nắm hết mọi vấn đề về văn hoá chính trị, đạo đức chính trị, tâm lý chính trị… của nền toàn trị Việt Nam, cũng như những thay đổi tình huống trong diễn biến của nó; họ còn không đặt lợi ích của nhân dân và nền dân chủ Việt Nam lên trên, mà chỉ nhắm làm cho sao Hoa Kỳ và Việt Nam “ổn thoả” để siêu cường này gánh vác hết trách nhiệm trước vấn đề Trung Quốc, và như thế sẽ… nhẹ nhàng bớt cho trách nhiệm của đất nước họ chăng? Bài của Carl Thayer mà tôi nhắc đến ở trên và bài mới đây nhất, cách nhau chẳng bao xa và trong cùng một bối cảnh, đã có sự thay đổi trong thái độ xử lý của ông về quan hệ chiến lược Mỹ – Việt…
[6]Bài này của BBC, sau đó đổi tựa thành Đưa hợp tác Việt-Mỹ lên “tầm cao mới”.

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Ông Triết Về Rồi



Khi bạn đọc những dòng chữ này, thì ông Nguyễn Minh Triết đã rời khỏi Hoa Kỳ. Vậy là xong gần một tuần lễ viếng thăm Hoa Kỳ của người đang giữ chức Chủ Tịch Nước CSVN, trên nguyên tắc là chức vụ cao nhất nước nhưng thực tế trong nền độc tài đảng trị vẫn còn nằm dưới vài người khác. Những gì ông Triết, và cả phái đoàn gần 200 doanh nhân và cán bộ cao cấp “thu hoạch” được sau chuyến đi lịch sử này?

Chữ thường được sử dụng nhất tại quê nhà cho những trường hợp này có lẽ là chữ “ấn tượng.” Chắc chắn là thế. Kinh ngạc, khó quên, đáng nói. Có thể gọi là lịch sử. Chúng ta nơi đây không bàn chuyện các hợp đồng kinh tế, văn hóa hay giáo dục làm chi. Nhiều người nói rồi. Mà thực tế, nếu ông Triết không tới, thì các hợp đồng đó rồi cũng sẽ có lúc được ký. Ông Triết chỉ là đi với tính cách tuyên truyền thôi. Bản văn lớn nhất trong chuyến đi đáng nhớ này là TIFA, hiệp ước khung về đầu tư và thương mại là do một Thứ Trưởng ký, và sẽ dẫn tới một hiệp ước tự do mậu dịch Việt-Mỹ tương lai. TIFA cũng không cần tới chữ ký của Bộ Trưởng nữa. Thậm chí, ông Triết cũng chưa chắc đọc tới nửa trang TIFA, một mớ trang giấy đòi hỏi kiến thức chuyên gia kinh tế nhiều hơn là kinh nghiệm nắm quyền lãnh đạo của một chế độ độc tài toàn trị. Vậy thì, tại sao ông Triết cần đi?

Trước tiên, Triết đi là vì Bush mời, coi như trả lễ hồi năm ngoái TT Bush dự hội nghị APEC ở Hà Nội.

Thứ nhì, Triết đi vì Triết muốn đi. Hình ảnh ông Triết sẽ hiện ra dưới ống kính truyền hình quốc tế, tha hồ mà cười với vẫy tay. Thân thiện. À, những hình ảnh thân thiện qua người lãnh đạo trên nguyên tắc là quyền lực nhất VN sẽ làm mờ đi các hình ảnh u tối về Hà Nội, một chế độ cộng sản vẫn bị nhìn như nằm chung giỏ với Bắc Hàn, Cuba. Ít nhất, về mặt tuyên truyền, ông Triết sẽ chứng minh được với dân Mỹ rằng Hà Nội không phải như Bình Nhưỡng của Bắc Hàn, và cũng không phải như Havana của Cuba. Thế giới khi mở truyền hình CNN, và sẽ thấy ông Triết mặc bộ Âu phục, thắt cà-vạt hệt như Mỹ, đưa tay chào, vẫy vẫy… Hoàn toàn khác hẳn hình ảnh Kim Jong-Il trong bộ trang phục đại cán 4 túi, và cũng khác hẳn hình ảnh Fidel Castro lúc nào cũng quân phục với râu xồm. Có hình ảnh khác đi như thế trên TV Mỹ thì sẽ là thành công lớn rồi. Tuy nhiên, không phải chuyện gì cũng như ý ông muốn.

Điều hết sức bất ngờ cho chuyến đi của ông Triết lại xảy ra từ khoảng tháng 3-2006, khi các đồng chí cao cấp của ông bố ráp các nhà dân chủ, và khi vụ xử linh mục Nguyễn Văn Lý tại Huế đột nhiên xảy ra diễn biến ngoài tính toán, với hình ảnh người công an bịt miệng linh mục Lý, thì dư luận quốc tế, trước tiên là tại Hoa Kỳ, bắt đầu có bất lợi.

Thêm một loạt đợt đàn áp các nhà bất đồng chính kiến nữa. Vụ tòa xử tù hai luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Rồi bắt và giam thêm nhiều nhà dân chủ khác. Chuyến đi hiển nhiên là thấy rõ có mây mù giăng phủ. Đơn giản lắm. Tất cả các bản tin quốc tế, dù AP, Reuters hay AFP, đều gọi hầu hết những người bị bắt giam đợt này hoặc là cyber dissidents (những người bất đồng chính kiến trên mạng Internet), hoặc là cyber journalists (các phóng viên trên mạng Internet). Ngay ở cách dùng chữ, đã cho thấy dư luận thuận chiều cho dân chủ rồi. Nếu bạn để ý, sẽ rất ít người gọi những người bị tù đợt này, dù là Huỳnh Nguyên Lang, Nguyễn Bắc Truyển, Trương Quốc Huy, Lê Nguyên Sang, vân vân…… là democracy activists, hay là pro-democracy activists (các nhà hoạt động vì dân chủ). Dường như chỉ có nữ luật sư Bùi Kim Thành, đang bị đẩy vào nhà thương điên Biên Hòa, là ngoài danh sách ‘phóng viên mạng.’ Và thực tế, chỉ có dân Việt Nam mình mới gọi cho gọn là các nhà dân chủ thôi, còn báo chí quốc tế gọi họ là “các nhà báo trên mạng.” Nghĩa là tự động, họ bị bắt là vì quyền tự do báo chí.

Thế thì báo chí phải bênh nhau. Thế thì, hình ảnh ông Triết có vẻ hiền lành, có vẻ thân thiện… đã bị ngay thành kiến của dư luận báo chí quốc tế là kiểu bàn tay sắt bọc nhung rồi. Thế thì, chưa lên phi cơ, đã thấy ngay ông Triết thua to về dư luận.

Một câu hỏi hết sức bí hiểm, rằng vì sao nhà nước CSVN không chờ ông Triết từ Mỹ về rồi mới đàn áp các nhà dân chủ? Trời ạ, ai mà biết. Có lẽ, chính ông Triết cũng không biết nổi. Có phải vì Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh muốn biểu diễn quyền lực như thế? Hay vì Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng nghe lời Bắc Kinh thúc ép nên phải bắt một loạt các nhà dân chủ để bày tỏ trung thành với bài học Thiên An Môn? Hay là vì ông Nông Đức Mạnh đòi hỏi đàn tay sắt đàn áp dân chủ để làm quà cúng vong ông Hồ trước ngày 19-5?

Dù lý do gì đi nữa, thấy rõ rằng chuyến đi đã hỏng về mặt tuyên truyền.

Còn nói rằng chuyến đi thành công về mặt kinh tế hay giáo dục, thì các cấp Bộ Trưởng với Thứ Trưởng làm được rồi. Có lẽ, chỉ có vấn đề chất da cam là cần hiện diện của ông Triết, vì theo nghị trình thì ông Bush và ông Triết sẽ giải quyết chuyện này, mà ngay hôm Thứ Tư thì đã có các cam kết giúp đỡ nhân đạo qua kênh dân sự của hội bất vụ lợi Ford Foundation. Hình ảnh ông Bush và ông Triết ngồi bàn về chất da cam sẽ có tính biểu tượng là khép lại trang cuối cùng của Cuộc Chiến Việt Nam.

Dù ông Triết có tạo được tính biểu tượng khép lại cuộc chiến như thế, nhưng hình ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng được dân biểu Ed Royce đưa ra trong buổi họp báo ở tòa nhà Quốc Hội hôm Thứ Năm 21-6-2007 đã mở ra một phần bức màn tre để cho dư luận Hoa Kỳ thấy một cuộc chiến mới đang bắt đầu diễn ra gay gắt ở VN: cuộc chiến vì nhân quyền, vì tự do dân chủ.

Khi dân biểu Zoe Lofgren hôm Thứ Năm trình lên nghị quyết H.RES. 506 để đòi TT Bush đưa CSVN vào lại bảng các nước quan ngại CPC vì đàn áp tự do tôn giáo, và đòi rút lại quy chế ưu đãi mậu dịch PNTR; và khi 7 Thượng Nghị Sĩ ký tên trong lá thư do TNS Sam Brownback gửi TT Bush đòi áp lực ông Triết phải thả 9 phóng viên mạng đang bị giam, điều đó có nghĩa là ông Triết đã thua rất đậm về dư luận quốc tế.

Đó là những diễn biến rất cụ thể, mà bộ Âu phục và chiếc cà-vạt và cả nụ cười rất tươi của ông Triết cũng không cứu nổi. Hình ảnh tệ hại này là: Hà Nội cũng tệ hại như Bình Nhưỡng và Havana.

Riêng đối với Mỹ, Hà Nội còn tệ hơn nữa. Vì trước giờ dư luận quốc tế không bận tâm về chuyện CSVN tráo trở với dân VN, vì đơn giản đó là chuyện giữa người VN, xem như cuộc chiến nào cũng có chuyện trả thù tàn bạo, dù đó là chuyện cải cách ruộng đất, đấu tố, đổi tiền, đẩy đi kinh tế mới, giam tù cải tạo, xiết hộ khẩu, xô thuyền nhân ra biển, vân vân… Lần này, Hà Nội tráo trở với chính các chính khách Mỹ trước giờ vẫn bênh vực Hà Nội, và đã mất rất nhiều bạn trong quốc hội Mỹ.

Vậy là ông Triết đã rời Hoa Kỳ rồi. Có thêm quá nhiều chuyện để suy nghĩ. Trong lòng tôi, thì tôi vẫn mong ông Triết được sức khỏe an lành, để ông suy nghĩ nhiều thêm về chuyến đi vừa qua. Ông là người được tin là phe cấp tiến, cởi mở, ít nhất cũng đã từng hiểu được nền tự do quý giá của Miền Nam VNCH trước kia, mà ông đã góp phần làm sụp đổ. Làm sao ông Triết có thể quên được thời ông đi học ở Sài Gòn, mà không cần giấy tạm vắng naò xin từ cảnh sát Bến Cát, Bình Dương, để rồi vào Sài Gòn mà cũng không cần xin giấy tạm trú nào ở Sài Gòn. Không phaỉ đó là một tự do tuyệt vời hay sao – chỉ kể một điều đơn giản thế thôi.

Thêm nữa, kỷ niệm chuyến đi này của ông sẽ khó quên, khi từ TT Bush, cho tới các thượng nghị sĩ, dân biểu và nhiều ngàn đồng hương của ông đều lớn tiếng đòi nhân quyền.

Ông Triết hẳn không quên thời tự do biểu tình ở Sài Gòn, và lần này nhìn thấy biểu tình ở xứ Mỹ sẽ nhắc ông nhớ rằng trứơc 1975, Miền Nam cho người dân quyền tự do biểu tình. Và bản thân ông, có lẽ cũng nhiều lần biểu tình ở đại học xá sinh viên Minh Mạng (Quận 5, Sài Gòn), và cũng có lần ở ngay Đaị Học Khoa Học, nơi ông từng học, và ở Đaị Học Sư Phạm, nơi phía sau giảng đường mà ông phảỉ vào, khi ghi tên học Toán.

Tại sao bây giờ cấm dân tất cả các quyền đơn giản như thế? Bịt miệng đâu có hay ho gì đâu.

Bản thân tôi, tôi cũng mong mỏi các cán bộ trong phái đoàn ký được nhiều hợp đồng kinh tế để tăng tốc kinh tế, để tạo thêm việc làm cho dân mình. Không người hải ngoaị nào muốn làm cho dân nghèo, dù là có không haì lòng với chế độ.

Nhưng hãy nhìn vào cốt tủy vấn đề: guồng máy độc tài toàn trị chưa bao giờ làm minh bạch kế toán, và luôn luôn là cội nguồn tham nhũng, vì quyền lực tập trung vào cán bộ đảng mà không cơ quan nào được phép thắc mắc.

Ông Triết là người có cơ duyên hiểu cái hay cái dở của Miền Nam, và hiểu được lòng dân Việt hải ngoại qua chuyến đi này. Xin chúc ông và phái đoàn suy nghĩ thật kỹ, thật sâu, để tìm cho ra cội nguồn các sai lầm nhiều thập niên của chế độ.

Và hãy thấy, nhân quyền và dân chủ là mục tiêu cao quý nhất của nhân loại. Không ai có quyền nhân danh hiến pháp hay luật pháp nào để chà đạp nhân quyền và bác bỏ dân chủ. Hy vọng chuyến đi sẽ không uổng.

Trần Khải

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Previous Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Chín 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Posts by Month

Posts by Category