Posts filed under ‘Con người – Sự kiện




Thuyền, hay chữ và nghĩa




Nguyễn Hồi Thủ
“… hình như Đảng và nhà nước ở Việt Nam đã có chỉ thị phải kiểm duyệt nó, tiêu diệt nó trong những sách chính thức …”

Thuyền về xuôi mái sông Hương,
Hỡi ai tâm sự đôi đường đắng cay
(Ca dao miền Trung)

Có những chữ ngoại lai một khi trở thành tiếng Việt rồi thì nhuần nhuyễn đến độ không ai còn nghĩ nó đến từ tiếng nước ngoài nữa. Khó mà nhận dạng được một gốc tích nào dù gần, xa của nó, nó tròn trịa, trơn tru như một hòn bi. Mà ngay cả chữ hòn bi chẳng hạn, bây giờ số người biết rằng đó là một từ gốc tiếng Pháp ở Việt Nam chắc cũng không phải là nhiều. Còn nếu nói đến chữ Hán trong tiếng Việt thì thôi khỏi bàn. Có một lần tôi thử nhẩm tính những chữ Việt Nam bắt đầu bằng vần kh chẳng hạn thì thấy có lẽ đến 8 trên 10 từ đã là tiếng Hán Việt rồi, mà lại là những từ rất cơ bản như kiểu khát, khách, khám, khoái, khổ, khóc, khốn, không, khu,…

Hồi trẻ, tôi vẫn nghĩ thuyền là một từ tiếng Việt vì thấy nó được ghép với rất nhiều chữ gốc việt như thuyền bè, thuyền chài, thuyền mành, thuyền mủng, thuyền nan, thuyền thúng, rồi đi thuyền, ngồi thuyền, chèo thuyền… Cho đến một lúc lớn hơn, học thơ chữ Hán (thế hệ tôi còn được học một hai tiết tiếng Hán vào những năm đầu trung học ở trường tỉnh, mà ông thầy tài tử của chúng tôi chỉ dạy tiếng Hán qua thơ Đường), tôi mới vỡ lẽ là cái từ nhuần nhuyễn tiếng Việt này cũng như biết bao chữ khác nữa đã là một từ tiếng Hán trước khi trở thành tiếng Hán Việt.

Như trong bài Trường can hành của Thôi Hiệu:
Đình thuyền tạm tá vấn
Hoặc khủng thị đồng hương.
(Dừng thuyền lại xin hỏi
Biết đâu người đồng hương)
Hoặc trong Tây tái sơn hoài cổ của Lưu Vũ Tích:
Vương Tuấn lâu thuyền há Ích châu
Kim lăng vương khí ảm nhiên thâu
(Thuyền lầu Vương Tuấn xuống Ích châu
Tiêu điều vương khí ở Kim lăng)
Rồi: Thuyền kiên pháo lợi (Tàu sắt súng đồng) là thành ngữ các cụ nhà ta dùng để chỉ cái nghề giỏi riêng của người phương Tây, thật ra vì ta thua trận bị đô hộ nên nói thế chứ ngoài nghề đóng tàu sắt và đúc súng đồng họ còn có biết bao nghề khác lúc ấy cũng giỏi hơn ta nữa chứ?

Thế mà lâu lắm sau này, vào cuối những năm 70 và đầu năm 80, khi nghe từ thuyền nhân thì tôi rất lạ tai, đó là một từ đối với tôi thật mới mẻ vì tôi chưa hề nghe qua nó bao giờ. Đọc qua nó bao giờ trước đây trong văn học hay trên báo chí Việt Nam và trong một thời gian khá dài nó đã theo đuổi, ám ảnh tôi như một hệ lụy cùng với những hình ảnh khó quên đi kèm. (Hình ảnh rõ ràng nhất là chiếc tàu Hải Hồng, rồi sau đó là bao nhiêu những thuyền nhỏ ọp ẹp khác, chồng chất lúc nhúc những người mặt mày xanh mướt, hốc hác, bơ phờ, đói khát, bệnh tật, bị cướp, bị hãm hiếp…). Cái gì đang xẩy ra ở Việt Nam? Họ đâu chỉ là những người gốc Hoa, mà cho dù có gốc Hoa đi nữa ? Cái gì đã đẩy họ vào con đường chọn sự ra đi giữa cái chết và cái sống? Thủ Tướng Việt Nam vừa sang Pháp năm 78 mà cái tàu Hải Hồng cũng từ Việt Nam ra khơi năm 78… Biết bao câu hỏi, bao hoang mang trong giai đoạn đó không ai trả lời được.

Tôi loay hoay với mấy quyển từ điển Hán Việt và sách vở cũ tỉ mỉ mở ra thử xem nó đã hiện hữu bao giờ chưa thì đúng là không thấy ở nơi nào có từ thuyền nhân này. Đối với tôi rõ ràng có một cái gì đó không ổn. Cái từ này nó lạ lắm, có vẻ hơi đầu Ngô mình Sở. Bây giờ nghĩ lại, tôi còn lạ hơn nữa là ngoài các từ điển tiếng Việt, tiếng Hán Việt cũ thời ấy tôi không tìm được nó đã đành; ngay cả trong mấy quyển xuất bản gần đây (thậm chí trong quyển gọi là Đại từ điển Tiếng Việt của Bộ Giáo dục và Đào tạo in ở Hà Nội) tôi vẫn không hề thấy bóng dáng nó (chỉ có từ thuyền chủ là gần với nó nhất mà thôi). Tôi nghi hình như Đảng và nhà nước ở Việt Nam đã có chỉ thị phải kiểm duyệt nó, tiêu diệt nó trong những sách chính thức. Chỉ có cách suy diễn này là tạm ổn để giải thích tại sao một từ có tính lịch sử quan trọng đến như vậy, có tính thời sự lâu dài đến như vậy, cụ thể và dễ nhớ đến như vậy mà lại bị cấm cửa, cấm sinh tồn, hiện diện.

Tuy đây là hai từ Hán Việt đi với nhau rất hoàn chỉnh nhưng tôi nghi ngay từ đầu nó chỉ là một từ được người ta vội vàng đặt ra để đáp ứng cho một nhu cầu cấp bách: dịch chữ boat people đang ầm ĩ trên đài báo của thế giới lúc bấy giờ, mà chính cái từ tiếng Anh boat people này hình như cũng vậy (tôi không hề tìm thấy nó trong một số từ điển tiếng Anh vào thời đó), hình như nó cũng đã ra đời riêng chỉ để gọi những người trong cái thảm cảnh này mà thôi. Nó như một ngọn lửa chỉ nhoáng một cái mà đã cháy bùng lên trong tất cả các ngôn ngữ và tâm tư con người thời đại đó cái thảm kịch của người Việt ở biển Đông này. Rồi hầu như mọi thứ tiếng khác cũng đều dùng từ tiếng Anh đó để nói về cái thảm cảnh nọ và thậm chí cho đến bây giờ khi nhắc lại thảm cảnh quá khứ này vẫn chỉ là từ tiếng Anh đó, vẫn chỉ là từ tiếng Việt đó, vội vàng sinh ra để đáp ứng tình hình, thời cuộc lúc bấy giờ mà không ngờ lại không hề bị chết yểu.

Sau này từ năm 1980 đến đỉnh cao là năm 1994, báo chí lại dùng một từ tiếng Tây Ban Nha khác, balseros, để nói về thảm cảnh những đợt trong đó 130.000 bè nhân Cuba (Cuban rafter) rời đảo ra đi. Có những người chỉ với một chiếc xăm xe ôtô đã quyết định vượt gần 150 cây số đường biển để đến Miami. Rồi không biết từ bao đời những chiếc pateras (tàu nhỏ không boong) mỏng manh, vá víu, chồng chất những người Phi châu trẻ tuổi, nếu không bị chìm đắm trong lòng Địa Trung Hải thì vẫn tiếp tục đổ họ vào các đảo, các bờ biển của Ý, Tây Ban Nha, của miền nam Âu châu cho đến ngày hôm nay và sẽ còn tiếp tục chưa biết đến bao giờ. Mỗi một từ, mỗi một tên gọi âm vang một thảm cảnh riêng, mang lấy hình ảnh của thời đại và bối cảnh của con người, đẹp đẽ hay bi thương, vui vẻ hay buồn bã. Nói như các nhà ngôn ngữ học thì ngôn từ là một phương tiện, công cụ biểu đạt với bản chất xã hội và thẩm mĩ của nó.

Có lần tôi cũng đã tự hỏi tại sao người ta lại dùng chữ thuyền thay vì chữ tàu, bởi vì vượt biên thường ngày nay người ta dùng tàu hơn là dùng thuyền, vốn là một loại công cụ chuyên chở đường thủy nhỏ hơn và hay dùng ở trong sông ngòi. Nhưng trong thâm tâm tôi hình như vẫn có một cái gì nằm ngủ trong tiềm thức nói với tôi rằng chữ thuyền nhân này không chỉ gần gũi về mặt tình cảm mà cả về lý tính. Điều đó hoá ra vì ai đấy tôi không còn nhớ rõ từng nói với tôi đã lâu sở dĩ ta gọi người Trung Quốc, Minh Hương là người Tàu bởi vì thuở cập bến vào xứ Đàng Trong để xin chúa Nguyễn cho tá túc, họ đến bằng tàu. Tôi chưa biết có ai kiểm chứng được điều này không. Nhưng có điều chắc chắn là cái loại người vượt biên bằng đường biển này đã có một lịch sử lâu đời, từ thời Tống, thời Minh, từ thời Trịnh Hoà đã đóng được những tàu đi biển lớn đi được đến cả những bờ biển Phi châu chứ không phải chờ đến những năm bẩy mươi của thế kỷ trước. Những Người Tàu đi tàu từ miền bắc xuống, người Việt Nam năm 54 di cư vào trong Nam bằng tàu há mồm rồi cũng từ đó năm 75 tung đi khắp thế giới bằng ghe, bằng thuyền, bằng tàu, thì cũng giống nhau lắm. Có thể nói cùng chung một thân phận. Nhưng đối với người Việt Nam hôm nay, người ta không thể gọi họ là Tàu nhân được, lại cũng không gọi được là ghe nhân, cho nên chắc chắn không có chữ gì thích hợp hơn là thuyền nhân để dịch từ boat people rồi. Còn chuyện tại sao người ta không gọi theo kiểu tiếng Việt là người thuyền thay vì thuyền nhân thì điều này vẫn còn là một bí mật đối với tôi. Chắc có lẽ vì sợ nó nôm na, làm mất vẻ trang trọng của “người vượt biên”?

Rồi không hiểu từ bao giờ từ này cũng đã được chấp nhận một cách ổn định, trong tri thức, trong tâm lý, tâm hồn, trong văn học hải ngoại. Nói chung nó đã được bình thường hóa, mất dần đi cái vẻ dị dạng của buổi ban đầu. Năm 1980 tôi được dịp quay về thăm lại Việt Nam sau gần 15 năm ra đi như nàng Kiều. Lúc ấy phong trào vượt biên vẫn còn đang đương độ lắm. Ở trong Nam tôi thường nghe giới thanh niên hay nhắc đến câu tuyên bố đầu lưỡi:

– Nếu đi được thì cái cột đèn nó cũng đi!

Để nói lên cái quyết tâm vượt biên của họ, có chàng còn dùng một câu đượm mầu triết học hơn:

– Có vượt biên thì mới nên người, nên người đứng thẳng được .(Ý muốn nói là Homo erectus, chứ không phải loại đi bằng hai tay hai chân)

Phong trào ra đi rầm rộ có thể nói cũng như đoàn quân xuất trận, đến độ bọn trẻ thời ấy đem một bài hát quân sự “Cùng nhau đi hùng binh” ra để nhái:
Cùng nhau đi vượt biên,
Mười hai cây vàng lá
Cùng nhau xuống Rạch Giá
Ta quyết chí đi Tây
Anh em cùng đinh!

“Cùng đinh” ở đây dĩ nhiên không chỉ nói về mặt vô sản, mà còn nói về mặt tinh thần: là những kẻ cùng đường, mạt lộ, thúc thủ, không nhìn thấy một tương lai nào trong một xã hội mới với mọi giá trị đều bị đảo lộn, đổ nhào. Lúc này khái niệm yêu nước là một khái niệm vô cùng lạc lõng đã vắng bóng từ lâu trên vũ đài. Con người cá thể đa phần chỉ còn chút bám víu gần gũi, cụ thể: gia đình.

Nhiều người ở miền Nam đều biết câu ca dao cũ dùng để gói ghém tình tự đậm đà giữa mẹ và con:
Không gì bằng cơm với cá
Không gì bằng má với con
Có lẽ cũng từ câu trên mà trong dân gian thuở ấy mới sinh ra câu sau này để cho những người trẻ tuổi thổ lộ tâm sự của mình với mẹ già lúc bước chân đi làm thuyền nhân, với tâm trạng của kẻ lâm hành nhất khứ bất phục phản, vì biết mình đang dấn thân vào cõi 50% (sống) – 50% (chết):
Một là má nuôi con, hai là con nuôi cá, ba là con nuôi cả nhà
(Một là nếu con đi không lọt mà bị bắt thì má nuôi con, vì con sẽ đi tù, cải tạo; hai là nếu con đi ra lọt mà không tới được bến bờ nào thì con đành nuôi cá, nghĩa là vào bụng cá giữa biển khơi; nhưng ba là nếu tới được nơi nào đó thì rồi nhất quyết thế nào con cũng sẽ nuôi được cả nhà).

Mà tại sao con lại phải ra đi ? Muốn làm chứng nhân lịch sử của dân tộc, câu trả lời lại trở nên khôi hài rằng:
Chung quy cũng tại vua Hùng,
Sinh ra một lũ khùng khùng điên điên,
Thằng khôn thì đã vượt biên,
Những thằng ở lại điên điên khùng khùng.
Khảo dị:
1. Chung qui chỉ tại vua Hùng
Đẻ ra một lũ vừa khùng vừa điên
Thằng khôn thì đã vượt biên
Thằng ngu ở lại không điên cũng khùng !

2. Bác Hồ chết đúng giờ trùng
Nên bầy con cháu nửa khùng nửa điên
Thằng tỉnh thì đã vượt biên
Những đứa ở lại hổng điên thì khùng !
Chú giải:

– Cũng chỉ vì ở đất này bây giờ chỉ còn toàn những kẻ khùng điên thôi, mà con lại không muốn bị trở thành những kẻ điên điên khùng khùng như họ, nên con đã buộc lòng phải ra đi. Nhưng trong thực tế chưa chắc những kẻ đó đã là khùng điên hẳn đâu, vì người điên thì đâu biết đếm tiền mà cũng chẳng bao giờ thèm đếm tiền, vì vậy cũng lại có câu:
Thằng ngu thì đã vượt biên
Thằng khôn ở lại đếm tiền như điên !
(Và điều này nghiệm lại cho đến bây giờ càng thấy đúng, nhưng chỉ buồn rằng số thằng khôn đang «đếm tiền» tại quê nhà bây giờ lại không phải là tất cả những người ở lại, mà trong số tiền chúng đếm rất nhiều khi lại lẫn tiền của kẻ vượt biên gửi về !).

Lại cũng có lúc người ta đưa ra lý do để giải thích chuyện bỏ nước liều chết ra đi của mình một cách khá tỉnh bơ: chỉ giản dị là vì bị «tụi nó» dí rát quá:
Đồng-chí mà dí đồng-bào
Đồng bào xin chào đồng-chí !
Hay chỉ giản dị vì … đói quá:
Năm điều Bác dạy đã thông
Nhưng vì đói quá tạm mượn ông chiếc xuồng
(Năm điều bác Hồ dạy học-sinh : yêu tổ-quốc, yêu đồng-bào, học tập tốt…)

Hoặc một cách bông đùa hơn:
Vì tại bác Hồ

Một hôm Phạm Văn Đồng hỏi Lê Đức Thọ : «Không hiểu sao bọn dân miền Nam bây giờ bỏ đi di tản nhiều như thế ? » Lê Đức Thọ trả lời : «- Tại Bác Hồ lúc trước không để ý nên viết : « Mười bốn triệu đồng bào trong trái tim tôi , bây giờ tăng lên 60 triệu, chúng nó thấy mình là số không nằm trong tim Bác nên phải tìm cách bỏ đi là hợp lý rồi!».
Về cái điên dại và khôn ngoan thì như thế, còn về chuyện gan dạ và liều lĩnh thì cũng có chuyện vui kể như sau:
Ai gan hơn ai ?

Đài BBC phỏng vấn một người vượt biên bằng mấy cái thùng phi kết lại với nhau thành chiếc bè mong manh:

-Thưa ông, sao ông gan như vậy, ông dám vuợt biển bằng những cái thùng phi mong manh như thế này?

-Tôi chưa gan lắm đâu, những thằng ở lại còn gan hơn tôi nhiều !
Nghĩ ra không phải là không có lý, nhưng những thằng ở lại là ai nhỉ ?

Rồi trong số thuyền nhân ra đi đó, người ta cũng chỉ đoán chừng một con số không chính xác lắm những kẻ trời cho đến được bến bờ, còn những kẻ không may mắn thì không ai có được một số liệu nào cả. Các tổ chức nhân đạo quốc tế một dạo, lúc vạch mặt, tố cáo mấy chính quyền địa phương vùng Đông Nam Á đã thả lỏng cho cướp biển hoành hành như một biện pháp không chính thức nhằm ngăn chặn và làm nhụt chí những thuyền nhân tiềm ẩn ở Việt Nam, có đưa ra con số là từ 500.000 đến 600.000 thuyền nhân đã trở thành nạn nhân bất hạnh mà mồ chôn là đáy đại dương. Nhưng nhiều người bảo con số thật sự còn lớn hơn nhiều. Không biết rồi một ngày nào đó chúng ta có được một cuộc điều tra về vấn đề này để đi đến một con số tương đối chính xác hơn trước khi quá muộn màng để điều tra ?

Ở nước ngoài đôi khi đón những người ở đảo đến nhập cư, chúng tôi còn được nghe những câu về thuyền nhân rầu rĩ hơn:
Galăng tình xù
Anh đi anh để cái dù cho em
Vì trên đảo buồn, mưa nhiều và mù mịt chờ mong cho đến lúc được bốc đi nước thứ ba.

Nhưng cũng có dị bản giải thích cái dù là:
Galăng tình xù
Anh đi anh để cái dù (bầu) cho em!
Than ôi!

Bidong có lít (liste) thì đi ! (chơi chữ giữa bidon, pulau Biđông (tên một đảo ở Đông Nam Á, từng là trại tiếp nhận người vượt biên từ Việt Nam) và lít)
Vượt biên không tới Bi-Đông thì đi bi đát!

Có một điều rất ít ai để ý là rất nhiều người Trung Quốc nghèo khổ ở các tỉnh vùng ven biển (Hải Nam, Phúc Kiến, …) cũng đã lợi dụng “nạn kiều” Việt Nam để đi làm thuyền nhân, tổ chức thâm nhập di dân vào nước Nhật làm dân tị nạn trong thời gian này, nhất là khi phong trào vượt biên lan ra miền Bắc với định hướng là phao số không hoặc Hồng Kông, họ tổ chức ra đi thành từng tàu rất lớn mang theo hàng trăm thuyền nhân; trên tàu chỉ đem một, hai người biết nói tiếng Việt để đứng ra đại diện khi đến nơi, có người chỉ biết nói lơ lớ vài câu tiếng Việt. (Một người bạn Nhật biết nói tiếng Việt đứng ra làm thông dịch trong thời gian này đã kể lại chuyện trên)

Ngày 31-05-2000, Hồng Kông đã đóng cửa trại tị nạn cuối cùng, 137 người còn sót được giúp định cư tại Hoa Kỳ, chấm dứt 25 năm lịch sử thuyền nhân Việt Nam, chấm dứt một thảm cảnh như một nỗi ô nhục còn mãi trên cả dân tộc chúng ta. Nỗi ô nhục này càng hằn lên chúng ta vì bây giờ đào bới lại lịch sử thời đó, nhiều người đã xác định rằng thảm cảnh này thật ra không phải là một sự kiện tình cờ, một tai nạn lịch sử mà là một chủ trương, một chính sách hẳn hoi! (Xin xem bài: “Mấy suy nghĩ về tiền đồ phát triển đất nước Việt Nam trong đầu thế kỷ XXI” của Lê Hồng Hà, một quan chức trong Đảng đã về hưu).

Và cũng để đối chiếu với từ thuyền nhân, hoặc lấy nó làm một hệ quy chiếu mà sau này dần dần người ta đã đặt ra nhiều từ khác. Có một từ ra đời sau từ thuyền nhân, nghe cũng khá khôi hài, là phi cơ nhân. Đó là từ để chỉ những người may mắn hơn nhiều so với thuyền nhân, đã được vượt biên chính thức trong sự an toàn dưới nhiều diện, hoặc ra đi theo kiểu đoàn tụ gia đình, theo dạng con lai, HO… cũng có thể chỉ là người được đi ra ngoài làm công vụ gì đó mà bỏ trốn tị nạn được… Nói chung, cái chính là phương tiện di tản của những người này đều bằng máy bay nên họ được gọi là phi cơ nhân, hoặc nhiều khi chính họ dí dỏm tự vỗ ngực xưng mình như thế để phân biệt với thuyền nhân. (Tiện đây cũng xin nhắc lại để tưởng niệm một loại phi cơ nhân mới, những trẻ em người châu Phi bị chết cóng mà người ta tìm thấy xác ở cầu sau – chỗ gập chân bánh máy bay- của một máy bay chở hành khách như hai em người Guinê ngày 2-08-1999 tại phi trường Bruxelles, và một em khác cũng bám càng phi cơ rồi đã bị rơi xuống ruộng ở Đức. Ngoài ra có một em người Mali đã sống sót được khi máy bay đáp xuống một phi trường Pháp, nhưng cuối cùng lại vẫn bị gửi trả về châu Phi !)

Đến danh từ Phi cơ nhân này là ta nghe đã thấy có cái gì đó có vẻ hơi “tếu” trong chuyện đặt từ rồi. Nhưng sau đó và vẫn còn tồn tại đến bây giờ những từ khác càng ngày càng mang tính tếu nặng nề hơn, mặc dù chúng có ưu điểm là cụ thể và chuyên môn hơn: Du nhân, Lao nhân, Học nhân, Tường nhân, Rừng nhân, Suối nhân, Giả nhân… Những từ sinh sau đẻ muộn này thì cuộc đời của chúng sẽ ra sao, trong tương lại sống được bao nhiêu lâu, có khả năng được chấp nhận đến mức độ nào, bình thường hóa được hay không ? Đó là một chuyện có lẽ chưa ai trả lời được đối với một loạt từ có cùng chung một phạm trù bỏ nước ra đi này.

Nhưng tôi cũng xin giải thích rõ ràng về chúng:

Sau khi phong trào vượt biên chấm dứt, những người mạnh tiền, quen biết, xin được phép làm một chuyến du lịch ra nước ngoài rồi nhân dịp đó mà “dù…” luôn thì theo từ ngữ hiện nay sẽ được gọi là du nhân. (Có lẽ chỉ giản dị là để đỡ rườm rà hơn từ du lịch nhân).

Những người trong diện đi lao động rồi lân la, nấn ná đến lúc hết hạn lại lưu vong, “bộ đội hóa” (trốn lại) luôn thì được gọi là lao nhân (thay vì lao công nhân) thường ở các nước XHCN cũ.

Để chỉ chung các sinh viên đi học rồi bằng cách này cách nọ xin đi làm và chuyển đổi giấy tờ trở thành thường trú ở nước sở tại một cách chính thức thì được gọi là học nhân (Tôi có bàn với một người về chữ này, tôi hỏi tại sao không gọi là lưu nhân- Lưu học sinh mà lưu lại luôn, nhưng người đối thoại với tôi bảo coi chừng từ lưu đây có thể bị người ta dễ hiểu nhầm là từ lưu vẫn đi với manh, vả lại chữ học còn ám chỉ sự khôn ngoan của những người chọn cách vượt biên này và chính sách khôn ngoan của nước muốn lấy chất xám). Nhiều nước như Pháp gần đây đã siết chặt về mặt thủ tục, mặc dù đang áp dụng một chính sách “Tuyển chọn di dân – immigation choisie” với mục đích thu hút chất xám của các nước nghèo, đã trở thành chọn lọc hơn đối với học nhân, vì nhận thấy chuyện đi học đối với rất nhiều thanh thiếu niên các nước nghèo đôi lúc đã không phải là động cơ chính.

Sau khi bức tường Bá Linh bị vỡ (Xây năm 1961 và bắt đầu vỡ năm 1989, cuối năm 1990 thì hoàn toàn bị phá bỏ), ngay những đợt đầu tiên đã cũng có rất nhiều người Việt đi lao động ở Đông Đức chưa về nước, mặc dù đã lấy được tiền “bồi thường” của chính phủ sở tại, lợi dụng khe hở của các bức tường ấy để làm tường nhân. Sau đó lúc các trại tị nạn mọc lên như nấm khắp Tây Đức thì tất cả người Việt ở các nước XHCN Đông Âu cũ, bất cứ diện nào, nếu được, đều đã lợi dụng dịp này tìm cách trốn chạy sang, làm tường nhân để nhập trại. Sau này việc thâm nhập vào Đức càng ngày càng trở nên khó khăn, rất nhiều người đã phải vượt rừng biên giới, nhất là rừng biên giới Đức-Tiệp, lại có người đã phải cởi cả quần áo lội qua sông, suối miền biên giới buốt lạnh vào mùa đông, đặc biệt phía biên giới Đức-Ba-lan, những người xuyên biên giới Đức tìm tự do trong các đô thị ánh sáng văn minh này oái om thay lại bị gọi là rừng nhân, suối nhân. Tiếp đến vì biên giới bị kiểm tra quá ngặt nghèo, lại đến những đợt người phải chui cả vào trong các thùng, cóp xe để vượt biên nên được gọi là ô-tô nhân.

Sau này, để thoát ra khỏi được cái hình chữ S và để thành “…nhân” (nghĩa là để “nên người” như bọn trẻ thời nay hay nói), nhiều người, đàn ông hoặc phụ nữ, nhưng nhiều nhất vẫn là các cô gái, từ các gia đình khá giả hoặc có người thân khá giả ở nước ngoài mà cha mẹ muốn cho xuất ngoại đã phải dùng đến con bài làm hôn thú giả (“đám cưới trắng” như người Pháp gọi) với một người ở nước ngoài, thậm chí có khi phải cược rất nhiều vàng (một thời đã có quy định cả biểu giá). Dù sao cũng chỉ là những đám cưới giả, sang đến nước ngoài rồi thì ai về nhà nấy, nên mấy người này bị gọi là giả nhân (chuyện làm đám cưới giả, lấy vợ lấy chồng giả để đi các nơi, tuy rằng hiện nay đang gặp nhiều quy định khá gắt gao, nhưng vẫn còn tiếp tục khởi sắc và có trường hợp bắt đầu tuy là chuyện giả nhưng sau lại thành thật!).

Song song với những con đường vượt biên kiểu mới này, lối vượt biên cổ điển bằng tàu thỉnh thoảng vẫn còn tiếp diễn (tháng 06/2002 hai chiếc thuyền từ Việt Nam còn đến Phi và Nam Dương, tháng 4/2003 theo tin của AFP từ Sydney 42 thuyền nhân Việt Nam đã được chính phủ Indonesia cho lên một chiếc tàu gỗ chật chội và không an toàn để lên đường sang Úc-Việt Báo, Orange County, 23/04/2003). Nhưng vì các trại tị nạn Á châu đã bị xem như vĩnh viễn đóng cửa và các nước Đông Nam Á, Úc đã có kinh nghiệm và quyết tâm chặn đứng nạn vượt biên để làm nản lòng những thuyền nhân tiềm ẩn đã có những biện pháp cực mạnh. Vì vậy hiện nay vượt biên chỉ còn lại vỏn vẹn mấy con đường chính thức: đi lao động, đi lấy chồng nước ngoài và vài vụ lẻ tẻ do đường dây buôn bán hộ chiếu có thông đồng với các Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài và chủ yếu để đến một số nước đặc biệt ở đó nghề “trồng cỏ” (cần sa) của người Việt Nam (đa số gốc Hải Phòng) rất phát triển, có thể giúp họ kiếm được tiền nhanh chóng để hoàn số vốn lớn lao đã phải bỏ ra cho bọn buôn người. Dù sao đi nữa, cái giá phải trả cho bọn đưa người, buôn người tại Việt Nam bây giờ đã trở nên đắt đỏ đến độ nhiều người sau khi hết hợp đồng xuất khẩu lao động cũng không kiếm đủ tiền để trả nợ, và tình cảnh này đã đưa họ vào con đường bán thân ở Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai, Nhật Bản… hoặc trốn lại sống một cách bất hợp pháp để tiếp tục lao động cho đủ tiền trả nợ. Điều đau đớn là dù vẫn biết tin về những thảm cảnh của nhiều người đã ra đi, nhưng vì bức xúc bởi hoàn cảnh cuộc sống trong nước, nên phong trào bỏ nước ra đi vẫn không hề giảm xuống mà còn có khả năng trở thành một “định hướng” phát triển kinh tế của thị trường lao động Việt Nam hình thành do chế độ hiện nay.

Người ra đi đến bến bờ vô định đã đau đớn là thế, người ở lại thì sao? Chỉ cần nhắc lại một câu người ở dặn người đi một thuở nào đã xa xôi và ngẫm nghĩ thì thấy tình cảnh bây giờ vẫn chẳng khác là bao, có lẽ còn đau lòng hơn nữa vì đất nước đã hoà bình độc lập hơn 30 năm nay rồi:
Em đi anh nắm cổ tay
Anh dặn câu này em chớ có quên
Đôi ta đã có lời nguyền
Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ!
Em ơi, lấy ai thì lấy, Đài Loan, Hồng Kông, Đại Hàn, Tàu lục địa… gì cũng được, cứ miễn là đừng quên gửi kiều hối về để cho anh đóng góp nuôi các dã nhân (Có lẽ chỉ giản dị là để đỡ rườm rà hơn từ dã man nhân), nuôi các đại nhân, các đảng nhân mà người trong nước bây giờ lại gọi là các “đại gia” để họ nuôi “con nuôi”, nuôi các “em chân dài”, để họ đánh bạc… !

Một thắc mắc nhỏ cuối cùng của người viết bài này chỉ còn là không biết bao giờ, trời lại làm một trận lăng nhăng và trong một cuộc đổi thay nào đó, thì các loại dã nhân từ Việt Nam sẽ bay đi hết, sống ở nước ngoài, thay vì “hạ cánh an toàn” ngay tại Việt Nam như hiện nay, để cho dân Việt Nam đỡ khổ ? Bởi vì nói như kiểu Việt Nam bây giờ thì bọn này ở bên nhà hiện đang hơi bị đông (nghĩa là ít nhất cũng đang ngồi đầy trong các guồng máy Đảng và Nhà nước). Mặc dù bọn chúng đã gửi con cái đi khắp nơi trên thế giới mua nhà cửa, hàng quán để đầu tư, kinh doanh rồi, nhưng khổ nỗi chúng vẫn còn nấn ná lại chưa muốn đi đâu cả, vì hiện thời đang giữ được trong tay bao nhiêu đặc quyền, đặc lợi và còn đang hốt được khẳm lắm, không chỉ trong công cuộc tham nhũng, rút ruột, mà nhất là trong dịch vụ lành nghề bấy lâu nay gọi là xuất khẩu lao động, nghĩa là bán công nhân, phụ nữ ra nước ngoài để làm khổ sai, lấy chồng, làm ôshin và đủ các ngành nghề khác, kể cả đi làm nô lệ tình dục để cho người mặc tay phỉ nhổ, hành hạ, đánh đập, giết chóc.

Ôi, Mong thay!
Nguyễn Hồi Thủ
Paris ngày 22-02-2006 – sửa chữa và bổ sung ngày 22-02-2007
© Thông Luận 2007

Đọc báo thay Tái bút:

Chuyện đài kỷ-niệm thuyền-nhân vô-danh

Trung-tuần Tháng Sáu, 2006, tờ Bưu-báo ở Jakarta đã có bài nói Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-nam (CXCV) làm áp lực lên nhà cầm quyền Nam-dương, yêu cầu họ đẽo bỏ Đài Tưởng-niệm Galang. Như báo này tiết-lộ thì Hà-nội “cho rằng hàng chữ nổi trên đài có lời lẽ xúc-phạm thanh-danh chế-độ Việt Nam”. Trong công-hàm trao đổi với Malaysia, quan-chức chế-độ Cộng-sản cũng kêu là Việt Nam đã bị bôi nhọ. Mấy tháng sau, chính-quyền Kuala Lumpur cũng lại nhượng-bộ Hà-nội và ra lệnh dẹp bỏ Đài kỷ niệm Bidong.

Ở Mã Lai và Phi Luật Tân tình hình cũng tương tự. Chính quyền Việt Nam đòi hỏi các nước trên phá bỏ các đài kỷ niệm của những người di tản, các dấu tích tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam. Nhưng thử hỏi thuyền-nhân đã viết gì mà các vị phải nổi giận đến thế? Ở Galang, Ủy-ban Xây Dựng Đài Tưởng-niệm chỉ đã viết: thuyền-nhân muốn có chỗ hàng năm làm lễ “cầu an cho hương-hồn cả trăm ngàn người đã bỏ mình trên đường đi tìm Tự-do…”; và ở Bidong, là nơi riêng trong năm đầu đã tiếp-nhận 58,000 thành-phần tị-nạn, Ủy-ban chỉ viết muốn “Ghi ơn nhân-dân Malaysia đã mở lòng nhân-từ như sông biển đùm bọc hàng chục vạn người dưng nước lã lúc cùng đường mạt lộ.”

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi Ra Đi


Theo tin mới nhận được, cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi vừa từ trần vào lúc 4:21 chiều ngày 23 tháng 6 tại thành phố Lancaster, Pennsylvania, Hoa Kỳ, hưởng thọ 84 tuổi.

Linh cữu của trung tướng sẽ được hỏa thiêu và an táng theo nghi thức Phật giáo vào ngày mai, thứ ba, 26 tháng 6.

Theo yêu cầu của trung tướng và gia đình, lễ an táng chỉ tổ chức đơn giản trong phạm vi gia đình mà thôi.

Tiểu Sử và Cuộc Đời
Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi

Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi sinh ngày 23 tháng 2 năm 1923 tại Huế, gia nhập vào quân đội năm 1941, bị Nhật Bản bắt làm tù binh năm 1945. Bị Cộng sản bắt giam tại Quảng Ngải năm 1945. Trở lại quân đội năm 1947, tham dự các chiến trận tại Bắc Việt trong đơn vị Nhảy Dù cho đến năm 1954.

Ngày 23 tháng 4 năm 1955 Ông được Trung Tướng Lê Văn Tỵ đưa về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Sau đó trong chiến dịch Hoàng Diệu, tiểu trừ quân Binh Xuyên tại Đặc Khu Rừng Sát, ông được Tổng Thống Diệm chỉ định làm Chỉ Huy Phó Liên Đoàn Nhảy Dù chỉ huy 3 Tiểu Đoàn 1,5&6 Nhảy Dù tham gia chiến dịch. Đầu tháng 9/1956 ông được chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù thay thế Đại Tá Đổ Cao Trí. Khi Liên Đoàn Nhảy Dù được cải danh thành Lữ Đoàn Nhảy Dù ông là vị Tư Lệnh đầu tiên của Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Khi làm Tư Lệnh Nhảy Dù, Đại Tá Thi thường quan tâm tới đời sống của Anh Em Binh Sỉ, nhất là các Binh Sỉ độc thân. Hằng ngày ông thường thả bộ từ văn phòng Tư Lệnh đến khu nhà bếp nấu ăn cho các Binh Sỉ độc thân của các đơn vị đồn trú trong căn cứ Hoàng Hoa Thám, tự mình nếm thử thức ăn, quan sát cách thức nấu nướng và vệ sinh sạch sẽ nhà bếp. Ông khuyến cáo các đơn vị hằng ngày phải luôn luân phiên cắt cử các toán kiểm thực, kiểm soát nhà thầu thực phẩm từ lúc đi chợ cho đến khi nấu ăn xong.

Đại Tá Thi cũng thường xuyên thăm viếng, doanh trại của các đơn vị trực thuộc. Ông thường lưu ý đến cách thức tổ chức trong các doanh trại, nhà ngủ, nhà bếp của Binh Sỉ luôn cả “chuồng cọp”. Nếu các “Anh Hùng” bị nhốt do các tội nhậu nhẹt say sưa hay đánh lộn ngoài phố… ông thường ra lệnh thả, ngoài trừ các tội canh gác ngũ gật, và thường giải quyết các việc như vậy bằng khẩu lệnh chứ không cần phải bằng văn thư.

Ngày 11 tháng 11 năm 1960, tham gia đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thất bại, ông phải lưu vong sang Kampuchia. Sau chính biến 1963 Ông về nước và trở lại Quân Ðội với cấp bậc Thiếu Tướng và được công cử làm Tư Lệnh SÐ1BB rồi làm Tư Lệnh QÐ 1 vào năm 1964.

Ngày 13 tháng 9 năm 1964, Ðại Tá Huỳnh văn Tồn Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh và Trung Tướng Dương văn Ðức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV đảo chánh. Tướng Nguyễn văn Thiệu lúc đó đang làm Tham Mưu Trưởng liên quân tại Bộ Tổng Tham Mưu, không có quân trong tay nên phải cầu cứu với Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh về Sài Gòn để phản công. Tướng Thi nhờ vào uy tín và sự quen biết với các vị Tư Lệnh hai Binh Chủng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến cũng như Quân Chủng Không Quân nên ông đã chỉ huy phản công để dẹp đảo chánh thành công rất dễ dàng.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965 Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo lại đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Tướng Nguyễn Khánh phải đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Cuộc đảo chánh nầy cũng lại bị Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Ðoàn I phối hợp cùng Binh Chủng Không Quân dẹp tan, nhân dịp này Tướng Nguyễn Chánh Thi với danh nghiã là Tư Lệnh Quân Ðoàn Giải Phóng Thủ Ðô đã yêu cầu Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu giải nhiệm Tướng Nguyễn Khánh, và ép buộc Tướng Nguyễn Khánh phải xuất ngoại trị bệnh.

Tháng 7 năm 1966, xãy ra vụ biến động miền Trung, Tướng Thi bị bải chức và sống lưu vong ở Mỹ cho đến ngày nay.

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Đồng bào Tiền Giang biểu tình trước Quốc Hội 2 sang ngày thứ 4











Nghe âm thanh

Sáng nay lúc 9 giờ sáng ngày 25 tháng 6 năm 2007, chúng tôi đã trao đổi với chị Hoa và được biết hiện nay số đồng bào Tiền Giang ở lại trước Quốc Hội 2 là trên 200 người và số vẫn còn nhiều đồng hương đang trên đường đến địa điểm biểu tình nên số người nầy sẽ tăng nhiều trong vài giờ nữa. Chị Hoa cho biết dù mệt mõi sau hơn 3 ngày di chuyển và ở ngoài đường, nhất là các vị cao niên nhưng tinh thần đồng bào rất mãnh liệt quyết tâm tiếp tục biểu tình cho đến khi nào nguyện vọng của họ đụợc giải quyết thích đáng chứ không phải chỉ là lời hứa suông cho qua chuyện như đã xẩy ra. Cơ quan Thanh Tra Chính Phủ Liên Ngành hứa sẽ giải quyết việc Ủy Ban Nhân Dân Tiền Giang đã chứa chấp cán bộ tiêu cực tham nhũng để cướp đoạt tài sản của dân. Ngoài ra, chị Hoa cũng cho biết đích thân ông Quận trưởng đại diện chính quyền hứa hẹn trong ngày hôm nay sẽ giải quyết đòi hỏi chính đáng của đồng bào, xin chờ xem.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và thông báo diễn tiến.
Người đưa tin từ Sài Gòn
09:00 giờ sáng ngày 25/06/2007 tại trước Văn Phòng Quốc Hội ở Sài Gòn

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Đồng bào Tiền Giang vẫn còn tiếp tục biểu tình trước Quốc Hội 2 sang ngày thứ 3

Sáng nay lúc 10 giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2007, chúng tôi đã liên lạc với chị Hoa và được biết đồng bào Tiền Giang dù gặp khó khăn, cực khổ phải di chuyển và ngủ ngoài đường suốt hơn 2 ngày qua nhưng vẫn quyết tâm ở lại trước Quốc Hội 2 cho đến khi nào những bức xúc của đồng bào được đích thân Chủ Tịch Quốc Hội giải quyết. Chị Hoa còn cho biết dù có bị làm khó khăn bởi CA nhưng đồng bào cương quyết bám trụ, không những không giải tán mà số người tham gia càng lúc càng đông hơn. Hiện nay số người tham gia có mặt tại chỗ đã tăng lên hơn 100 người và chiều nay sẽ có một số đông đồng bào từ Tiền Giang sẽ đến để tham dự và có thể số người sẽ tăng trên 200 người. Thông cảm với những khó khăn và bức xúc của đồng hương ở Tiền Giang lên Sài Gòn để biểu tình nên đồng bào địa phương đã giúp thực phẩm và nước uống cho đoàn biểu tình để họ có sức để tiếp tục. Cuộc biểu tình trong trật tự và bất bạo động vẫn tiếp tục và đồng bào Tiền Giang mong sự hỗ trợ mọi mặt của đồng hương khắp nơi để giúp họ đòi lại những gì đã bị cưởng đoạt bởi chính quyền địa phương đẩy họ vào cuộc sống thê thảm như ngày nay.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và thông báo diễn tiến.

Người đưa tin từ Sài Gòn
10:30 giờ sáng ngày 24/06/2007 tại Sài gòn

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Chị Lư Thị Thu Duyên bị "công an bảo vệ chính trị" thẩm vấn hơn 3 tiếng đồng hồ




Tường thuật về buổi thẩm vấn hơn 3 giờ đồng hồ
của các sĩ quan “an ninh bảo vệ chính trị”
tại đồn công an phường 1, quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn.

Hồi lúc 19 giờ tối ngày 13.06.07 tôi đang trò chuyện với mẹ và người dì ở quê lên thăm, thì ông Tỉnh công an khu vực đến đưa giấy mời tôi nội dung là đúng 8 giờ 30 phút sáng mai ngày 14. 06. 2007 tôi phải đến đồn công an phường số 467 đường Lê Quang Định phường 1, quận Gò Vấp để “hỏi một số vấn đề có liên quan đến khiếu kiện” (trích nguyên văn).

Khi tôi đến công an phường thì ông Tỉnh công an khu vực không làm việc tôi như giấy mời và lời ông ấy nói tối hôm qua. Mà người trực tiếp thẩm vấn tôi là ông Đinh Việt Long – chức vụ Trung úy “an ninh bảo vệ chính trị ” trực thuộc công an thành phố Sài Gòn cùng hai ông nữa tên là Hải và Hiền là những sĩ quan an ninh chính trị công an quận Gò Vấp.

Đúng 8 giờ 45’ sáng buổi thẩm vấn được bắt đầu. Ông Long bảo rằng đã nghe nói về chị em tôi từ rất lâu ( khoảng năm 2000) nhưng đến hôm nay mới được gặp mặt. Nội dung buổi thẩm vấn diễn ra được tôi ghi chép lại nguyên văn theo trí nhớ dưới đây :

Ông Long hỏi : Chị có đem giấy mời đến không ?
Tôi trả lời: Vì trong giấy mời chỉ ghi là ông Tỉnh công an khu vực mời tôi đến để hỏi một số sự “việc có liên quan đến khiếu kiện” và ông cũng đã yêu cầu ký tên vào giấy mời để ông đem về đưa lại cấp trên xác nhận rằng giấy mời đến đúng tay đối tượng, nên tôi không cần phải đem theo giấy mời nữa.

Ông Long hỏi: Chị cho xem chứng minh nhân dân để nhận dạng.
Tôi trả lời: Tôi không đem theo chứng minh nhân dân, nếu ông thấy cần thiết tôi sẽ về nhà lấy, vì tôi không biết các ông là ai, vả lại các ông cũng không xuất trình thẻ ngành công an để tôi biết. Nên tôi cũng không đưa chứng minh nhân dân ra làm gì để tránh trường hợp bị bắt giữ trái phép như vào ngày 27.03.2007 tại phòng tiếp dân của trung ương Đảng và Nhà nước đặt tại số 210 đường Võ Thị Sáu, phường 7, quận 3 như vừa rồi. Bữa đó công an phường 7, quận 3 cũng lấy lý do kiểm tra giấy tờ tùy thân của chúng tôi, rồi tùy tiện bắt giữ chị em chúng tôi cùng xe máy + chứng minh nhân dân, sau đấy đưa về đồn giam giữ vô lối, bừa bãi, trái pháp luật đến tận 20 giờ cùng ngày mới thả ra.

Ông Long hỏi: Thế ngày 20.05.2007 vừa qua ( bầu cử quốc hội khóa 12) có đúng là gia đình chị bị ép buộc phải đi bầu cử không ?
Tôi trả lời: Đó là sự thật hoàn toàn 100% và tôi cũng đã viết tường thuật gởi lên mạng internet, ông đã biết rõ sao ông còn hỏi vòng vo để làm gì?

Ông Long hỏi: Tại sao chị không bầu đại biểu nào cả ?
Tôi trả lời: Vì tôi không thấy ai thật sự có đức có tài để bầu, những ứng cử viên được ghi trong danh sách và phiếu bầu cử, thì họ đều ở nơi khác đến không phải là người ở gần đây và gần gũi với nhân dân địa phương. Nên tôi không biết rõ họ lắm và họ đã làm được những việc gì có lợi cho dân, cho nước. Gia đình tôi bị mất tài sản đã 32 năm nay chỉ vì tin tưởng và đi tham gia cách mạng. Tôi cũng từng gởi rất nhiều đơn thư kêu cứu đến các cấp thẩm quyền mà trong đó có họ để nhờ họ can thiệp giúp đỡ, nhưng không có kết quả gì. Tôi hỏi lại ông rằng họ là đại biểu của dân mà không giúp được dân, thế thì tại sao nhân dân và tôi lại phải bầu cho họ?

Ông Long hỏi: Chị có biết người đàn ông giữ thùng phiếu hôm bầu cử đó là ai không? Chị có biết họ tên chức vụ của ông ta cùng người đứng sau lưng nhìn chị đã gạch bỏ toàn bộ lá phiếu?
Tôi trả lời: Không biết họ là ai cả, nhưng tôi đoán chắc họ là những cán bộ công an của phường hay quận về để bảo vệ thùng phiếu. Vì người ngoài hoặc dân thường như tôi khi bỏ phiếu xong phải đi ngay không được phép đứng lâu ở nơi thùng phiếu. Thời gian rất ngắn ngủi như vậy thì tôi làm sao kịp tìm hiểu tên tuổi của họ làm gì, mà người dân như tôi thì cần gì biết cụ thể tên tuổi của họ ? Các ông muốn biết họ là ai thì về công an phường và quận mà hỏi, sao lại đi hỏi tôi.

Ông Long hỏi: Chị biết gì về khối 8406, làm sao chị biết ai là lãnh đạo của khối này ? Tại sao chị lại tham gia ký tên cùng họ, chị có biết những người này đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hay không?
Tôi trả lời: Tôi biết họ qua mạng internet, biết khối 8406 đã từ lâu, nhưng chưa tham gia, vì còn chờ xem tôn chỉ, mục đích hoạt động của họ như thế nào đã ? Sau một thời gian dài nghiên cứu, thì tôi đã thấy họ chỉ dùng ngòi bút để đấu tranh đòi Tự do Dân chủ, Nhân quyền và Công bằng xã hội cho nhân dân. Và đặc biệt hơn họ dám công khai chống tham nhũng quyết liệt, chứ không như nhiều người khác chỉ hô hào suông, báo cáo láo để lấy thành tích chứ bản thân không dám làm gì cả. Nếu các ông nói rằng họ đã vi phạm pháp luật thì cứ đưa ra chứng cứ và bắt giữ họ mà xử lý không khó khăn gì cả, nhưng phải xử lý đúng người, đúng tội thì dân mới phục. Chứ không nên như trong thời gian qua báo chí trong nước đưa tin những án oan sai quá nhiều. Điều đó thể hiện trình độ nghiệp vụ non kém của những người đại diện cho chính quyền, nhưng không làm tròn trách nhiệm được giao để gây ra những thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì làm sao họ còn tin vào chính quyền cho được ? Tôi cũng từng là nạn nhân bị bắt, giam giữ oan sai nhiều lần nên rất hiểu và cảm thông cho những ai cũng bị như vậy. Sự việc bắt giữ người trái phép là mấy chị em chúng tôi hơn 10 giờ vào ngày 27.03.2007 vừa qua do công an phường 7 quận 3 thành phố chắc ông có biết.

Hôm đó họ vu cáo cho chúng tôi là tụ tập nơi đông người không được sự cho phép của chính quyền, cản trở người thi hành công vụ và đem xe máy của tôi cùng chứng minh nhân dân và đưa tôi về đồn thẩm vấn, hỏi cung sách nhiễu cho đến tận 20 giờ tối cùng ngày mới cho về. Trong khi con tôi còn nhỏ cháu đang gửi học mẫu giáo không ai đón về, vì mẹ cháu hoàn toàn vô tội đã bị công an giam giữ tùy tiện, phi pháp. Các ông đã xâm phạm quyền được chăm sóc trẻ em và gián tiếp ngược đãi bọn trẻ khi vô cớ bắt giữ người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc chúng mà không có lý do chính đáng nào cả.

Ông Long hỏi: Chị biết anh Nguyễn Khắc Toàn từ bao lâu rồi ? Biết trong trường hợp nào ? Chị có thường xuyên liên lạc với anh ấy không? Chị đã gặp mặt anh Toàn bao giờ chưa ? Anh Toàn hiện nay ở đâu chị có biết không?
Tôi trả lời: Tôi biết anh Nguyễn Khắc Toàn từ năm 2001 sau khi xảy ra vụ chị em chúng tôi bị công an đàn áp ở đường Lê Duẩn quận 1 thành phố. Còn biết trong trường hợp nào thì chính các anh là những người biết rõ hơn ai hết còn phải hỏi để làm gì? Cũng chính vì anh ấy chuyển đơn thư tố cáo công an thành phố Sài Gòn đàn áp phụ nữ chúng tôi ngày 27/11/2000 ra quốc tế và lên Mạng mà anh ấy bị tù đầy đấy. Các anh quá rõ hơn tôi rồi, thì hỏi làm gì nữa !!! Từ trước đến nay tôi chưa hề được gặp anh Toàn vì anh ở Hà Nội còn tôi ở Sài Gòn, thỉnh thoảng anh có gọi điện hỏi thăm việc của gia đình tôi đã giải quyết đến đâu ? Anh ấy động viên tôi cố gắng thu xếp ra Hà Nội để được đảng, chính phủ, nhà nước trung ương giải quyết.

Ông Long hỏi: Chị nhận xét anh Nguyễn Khắc Toàn là người thế nào?
Tôi trả lời: Tuy tôi chưa gặp mặt, nhưng tiếp xúc qua điện thoại và đọc các bài anh ấy viết, tôi nhận thấy anh Toàn là người thẳng thắn, không vụ lợi. Anh ấy là người đấu tranh cho mục tiêu dân chủ, tự do và nhân quyền của dân tộc. Chính vì những lời khuyên nhủ chân thành của anh Toàn đã giúp tôi vượt qua những gian nan vất vả trong hành trình đi kiện. Tôi thấy những việc làm đó không vi phạm pháp luật, còn chính quyền nhận xét về anh Toàn như thế nào, đó là việc của các anh, không liên quan gì đến tôi cả.

Ông Long hỏi: Thế chị quen với chị Vũ Thanh Phương và Lê Thị Kim Thu ở Đồng Nai trong trường hợp nào?
Tôi trả lời: Tôi biết chị Lê Thị Kim Thu từ năm 2001 do cùng là dân khiếu kiện. Còn chị Vũ Thanh Phương thì khác, vì hai gia đình chúng tôi đã có mối thân tình hơn 20 năm qua, trước khi bản thân tôi đi khiếu kiện vì chúng tôi là người cùng quê, là người đồng hương rất thân thiết.

Ông Long hỏi: Chị Thanh Phương có thường gặp chị không? Chị ấy có hay giúp chị trong vấn đề khiếu kiện không ?
Tôi trả lời: Có chứ, chị Thanh Phương giúp tôi rất nhiều ví dụ như chị hay cho tôi biết: đoàn thanh tra nào sắp vào thành phố, nghị định nào mới ra, những người dân nào đã được trả đất và những thông tin bổ ích khác mà chỉ dân khiếu kiện mới quan tâm.

Ông Long hỏi: Những đơn thư này là do chị tự soạn và gởi đi hay có người giúp đỡ không ?
Tôi trả lời: Tôi tự soạn và cùng đứa cháu đang học lớp 8 đánh máy rồi gởi lên mạng internet. Mà tôi hỏi lại anh, bây giờ là Việt Nam đã hội nhập đầy đủ, toàn diện vào thế giới văn minh rồi. Thế tại sao công an các anh cứ sợ Internet như sợ cọp vậy ? Tại sao các anh cứ coi Internet như kẻ thù không đội trời chung vậy ?
Ông Long hỏi: Nhà chị hiện nay có máy vi tính không? Sao chị không tạo hộp thư riêng mà sử dụng chung với chị Thanh Phương?

Tôi trả lời: Tôi chưa có điều kiện để mua máy vi tính nên ra tiệm thuê máy. Còn việc chị Phương và tôi sử dụng chung hộp thư thì không có gì lạ, chị Thanh Phương chưa chồng con, chưa có gia đình riêng. Bởi vì cả tuổi thanh xuân của chị ấy dành cho việc đi khiếu kiện, đi đòi công lý cho gia đình mình mà phải hy sinh cả tuổi trẻ đấy. Hoàn cảnh chị có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn tôi, nên tôi nhờ hộp thư của chị ấy cho xài ké để tiện việc thu thập thông tin mà thôi. Mà việc này đâu có gì sai trái với pháp luật nhà nước, vậy sao các ông tra khảo kỹ thế.

Ông Long hỏi: Ngày 27.03.2007 vừa qua khi đi chung với chị Kim Thu ở số 210 đường Võ Thị Sáu chị có thấy Kim Thu chụp hình không ?
Tôi trả lời: Lúc đó tôi dắt xe máy đi bộ ngay sau lưng chị Kim Thu, có thấy chị lấy điện thoại ra nhắn tin hoặc gọi cho ai đó. Nhưng khi đó điện thoại hết pin nên không sử dụng được, các anh chỉ nghe nói phong phanh chứ không tận mắt thấy nên nhầm lẫn là đúng.

Ông Long hỏi: Chị có biết chị Kim Thu đã từng hội đàm cùng bà Dân Biểu Hoa Kỳ không ? Bà ta làm gì có quyền trả lại tài sản cho các chị ?
Tôi trả lời : Tôi có nghe chị Kim Thu kể lại cuộc hội đàm với bà Dân Biểu Hoa Kỳ. Đúng là bà ta không có quyền trả lại tài sản cho chúng tôi, nhưng ít ra thì dư luận trong và ngoài nước cũng biết đến sự bất công mà chúng tôi gánh chịu và lên tiếng ủng hộ cảnh ngộ dân oan trong nước đang đầy rẫy. Và điều quan trọng nhất là bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Thủ tướng chính phủ Việt Nam sẽ biết đến và giải quyết cho chúng tôi. Chứ không thể bưng bít sự thật mãi mãi được, như mọi khi chúng tôi vẫn gửi đơn qua bưu điện hoặc trực tiếp nộp đơn ở văn phòng tiếp dân mà không có hồi âm hay các cơ quan có trách nhiệm giải quyết trả lời.

Ông Long hỏi: Nguyện vọng của chị hiện nay là gì?
Tôi trả lời: Tôi yêu cầu chính quyền địa phương cũng như ủy ban nhân dân thành phố này phải sửa chữa sai lầm bằng cách trả lại toàn bộ 6720 m2 đất của Gia tộc họ Lư chúng tôi, trong đó 3320m2 là đất thổ mộ thuộc bằng khoán số 389, còn lại bao nhiêu thuộc bằng khoán số 390, mà trong đó có Xưởng sản xuất thương binh 27 tháng 7 ( 27 – 7 ) do nhà nước đang quản lý cũng đang chiếm dụng trái phép đất đai mà gia tộc họ Lư đang sở hữu hợp pháp.

Ông Long hỏi: Chúng tôi sẽ trình lên quận ủy, các cấp có thẩm quyền của thành phố và tham mưu cho họ giải quyết dứt điểm vụ việc này và tôi yêu cầu chị ký tên vào biên bản làm việc ngày hôm nay.
Tôi trả lời: Tôi sẽ không ký tên nếu không được giữ 01 bản để làm bằng chứng về buổi làm việc hôm nay.

Ông Long hỏi: Tôi không thể đưa được cho chị vì nguyên tác của ngành, khi nào chị cần thì cứ lên UBND phường xin xem lại biên bản thì đều được không có gì là cản trở hay khó khăn cả.
Tôi trả lời: Tôi không bao giờ ký, vì năm 2000 chị em tôi cũng bị ông Trần Kim Long khi đó là chủ tịch ủy ban nhân dân quận Gò Vấp lừa gạt khi hứa hẹn trong cuộc họp ở quận có đầy đủ ban ngành đoàn thể ( họ đón chúng tôi ở đường Lê Duẩn về) cũng không cho biên bản. Sau đó ra quyết định số 16 bác đơn của chúng tôi kéo dài sự đau khổ cho gia đình chúng tôi đến tận hôm nay, đây là bài học kinh nghiệm mà chúng tôi không bao giờ quên.

Thuyết phục tôi mãi không được ông Long định kết thúc buổi thẩm vấn, bấy giờ đã là 12 giờ trưa. Con trai tôi và chị ruột tôi là Lư Thị Thu Trang ngồi ngoài sân đợi tôi từ lúc 11 giờ để đón về mà buổi thẩm vấn của công an vẫn chưa xong. Chị tôi nói cháu khóc lóc và lo sợ mẹ bị công an bắt giữ như lần trước không ai chăm sóc, nên đòi đi tìm mẹ và nhất quyết không chịu ăn cơm trưa nếu không được gặp mẹ. Khi chị em tôi ra về, họ còn cố tuyên truyền nào là “gia đình chị là có truyền thống cách mạng đừng manh động, hãy bình tĩnh và từ từ nhà nước sẽ giải quyết ”. Chị Thu Trang tôi hỏi lại ngay ông Long và các cán bộ công an cùng làm việc hôm đó, rằng theo các ông chúng tôi phải chờ đến bao lâu nữa : 5 năm, 10 năm, hay là 20 năm?

Chúng tôi đang chờ xem bộ chính trị của ĐCSVN ở Hà Nội giải quyết như thế nào để gia đình còn biết mà định liệu. Bởi vì cả một đời ông nội tôi là Lư Kim Bài đã bỏ mọi tài sản giàu có của dòng tộc mình, gia đình, cha mẹ mình để “đi làm cách mạng cộng sản, đi kháng chiến chống đế quốc thực dân ” để cho dân tộc được giải phóng khỏi áp bức, bất công và đói nghèo. Ông nội tôi và bao người cách mạng chân chính những mong khi đất nước hòa bình, thống nhất được trở về nơi chôn nhau cắt rốn chăm sóc mộ phần của tổ tiên, vui vầy xum họp bên con cháu. Nhưng ông nội tôi có ngờ đâu khi trở về thì toàn bộ tài sản hợp pháp của dòng tộc ho Lư mình đều đã bị tước đoạt sạch sẽ hết ráo trọi. Ông nội tôi một lão thành cách mạng cộng sản của thành phố này và của Việt Nam rất có tên tuổi, vậy mà cuối cùng cũng đã trở thành “dân oan Việt Nam”, thành nạn nhân của chính lý tưởng mà mình theo đuổi cả cuộc đời, và ông nội tôi đã chết trong uất hận, xót xa. Ông nội tôi trước khi trút hơi thở cuối cùng đã trăn trối là “ rất hối tiếc đã hy sinh cả cuộc đời của mình để dấn thân vì sự nghiệp lớn của dân tộc, vì cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam!!! ”. Thế nhưng ông nội tôi đâu có thể ngờ và hiểu nổi rằng cuộc cách mạng ấy đã bị phản bội đến nhẫn tâm, không chút thương xót!

Giờ đây tài sản quý giá ông nội tôi để lại cho con cháu chính là lòng dũng cảm và những lá đơn khiếu kiện dầy theo năm tháng, cũng như để lại sự đàn áp, trù dập của chính quyền địa phương với con cháu và nhân dân cũng nhiều hơn. Tôi đã sống và đi tranh đấu rất nhiều năm tại thành phố này còn lạ gì những đòn phép của họ nữa. Chúng tôi quyết tâm góp sức nhỏ bé của mình để tranh đấu đến cùng đòi cho bằng được đảng và nhà nước phải cho nhân dân được hưởng những quyền lợi cơ bản nhất về Quyền Con Người, Quyền Công dân đã được ghi nhận trên Hiến Pháp, trên cả hệ thống luật pháp của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam này. Những quyền Con người căn bản đã được chính đảng CSVN và nhà nước thừa nhận thì mọi công dân của đất nước này phải được hưởng đầy đủ, toàn diện ngay trên chính tổ quốc Việt Nam thân yêu của dân tộc mình.

(Trong bài này có mấy tấm hình minh họa các ảnh: chụp hình chân dung tôi hiện nay, ảnh 2 mẹ con tôi tại nhà và bản photocopy giấy mời làm việc của công an phường 1, quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn. Các tấm hình này do chị Vũ Thanh Phương chụp qua điện thoại di động ánh sáng không đủ nên hơi tối, quý vị cảm thông)

Ngày 20/6/2007
Người viết đã ký tên

LƯ THỊ THU DUYÊN
77/13B đường Trần Bình Trọng
Phường 1 – quận Gò Vấp –Thành phố Sài Gòn

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Khoảng 100 đồng bào ở Tiền Giang kéo lên Sài gòn đang biểu tình trước Quốc Hội 2

Vào lúc 10 giờ sáng ngày 22 tháng 06 năm 2007, đồng bào ở các địa phương thuộc tỉnh Tiền Giang tập trung tại 171 Lý Chiến Thắng, Tiền Giang, mướn xe đò và xe tư nhân để đi biểu tình từ Tiền Giang lên Sài Gòn đòi hỏi chính quyền phải trả lại tài sản của họ đã bị chính quyền địa phương cướp đoạt, nhưng bị CA chận bắt tịch thu xe ngăn cản. Với quyết tâm phải lên Sài Gòn để biểu tình trước Quốc Hội 2 nên đồng bào đã dùng mọi phương tiện để đến được Sài gòn lúc hơn 7 giờ sáng ngày 23/06/2007 để đến Quốc Hội 2 tại 194 đường Hoàng Văn Thụ ở quận Phú Nhuận và bắt đầu biểu tình.

Chúng tôi đã tiếp xúc và phỏng vấn chị Hoa, một phụ nữ trong đoàn biểu tình cho biết nổi bức xúc của đồng bào vì bị quan chức nhà nước lạm dụng chức quyền để bị cướp đoạt tài sản của họ nên cương quyết đến trước Quốc Hội để thỉnh cầu can thiệp đòi hỏi chính quyền phải trả lại tài sản cho họ cũng như mong muốn đồng bào hải ngoại cũng như dư luận quốc tế quan tâm và can thiệp hỗ trợ cho họ. Đại diện đoàn biểu tình đã gặp giới chức trong Quốc Hội và được cho biết cuối tuần nên QH không làm việc và đồng bào có thể tiếp tục ở ngoài chờ cho đến khi QH làm việc lại.

Bất chấp hoàn cảnh khó khăn nhưng đồng bào cương quyết ở lại tiếp tục biểu tình cho đến khi được giải quyết. Được biết số đồng bào nầy ở Tiền Giang đã kéo về Quốc Hội 2 biểu tình vào ngày 24/05/2007 nhưng vì có một số cụ già lớn tuổi quá mệt mõi và bị CA hâm dọa ép buộc phải giải tán và hôm nay họ quyết tâm dù gian khổ hay phải hy sinh cũng sẽ cố ở lại để thỉnh cầu Quốc Hội can thiệp yêu cầu chính quyền phải trả lại tài sản cho họ.

Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và sẽ tường trình diễn tiến của cuộc biểu tình.

Xin mời nghe cuộc phỏng vấn chị Hoa lúc gần 8:00 giờ sáng (giờ VN) ngày Thứ Bảy 23/06/2007
Nghe âm thanh

Thêm bình luận Tháng Sáu 23, 2007

Chuyện hai người khách và ông Triết


DCVOnline – Như Trà Mi đã đưa tin về buổi trò chuyện của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tại trụ sở của Asia Society (New York, NY) vào trưa ngày 20/06/2007. Tấm thiệp mời mua vé lạ ở chỗ nhắc khách mời đem theo căn cước có ảnh để vào cửa. Chuyện xảy ra tại buổi nói chuyện của ông Triết với khách mời còn một số điều lạ khác mà AFP đã đưa tin ngay ngày hôm sau. Hôm nay Đàn Chim Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc câu chuyện do chính hai người khách – đã đến nghe Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết – thuật lại.

Người thứ nhất là Jerry Kiley, một cựu chiến binh Mỹ cũng là người vận động cho tù binh chiến tranh và chiến binh mất tích (POW/MIA), đã hất rượu đỏ xuống thảm trước mặt Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến viếng thăm 2 năm trước. Thứ nhì là Trần Đông Đức, một người vận động cho tự do tôn giáo và nhân quyền cho Việt Nam, cũng là một người viết báo độc lập. Xin mời bạn đọc Đàn Chim Việt cùng theo dõi “Chuyện hai người khách và ông Triết”.

Jerry Kiley & Trần Đông Đức

Jerry Kiley Write-up

As planned, Duc Tran previously bought two tickets for the 1 PM luncheon honoring the President of the Socialist Republic of Vietnam at the Asian Society in New York City on June 20th. Duc placed his name on the list of attendees however he simply said the other person was a friend of his. That friend was Jerry Kiley; the same person who was arrested for tossing red wine in Khai’s direction in June 2005, two years earlier.

Since his name was not on the official list of attendees they had to make a special name tag with his formal name of Gerard Kiley. Both Duc and Jerry were scanned through the metal detector by the Asian Society security people and the Secret Service who are assigned to protect the Socialist Republic of Vietnam’s president Triet during his visit to America.

They entered a very large banquet hall comprised of three areas and were seated farthest away from the main area because that was already full. Duc and Jerry immediately sensed a possible problem with security so they decided to sit at different tables giving themselves two chances to succeed in making their point.

After having lunch Triet was introduced and about a minute later Jerry made the first move by getting up to go to the bathroom, in order to get closer to the podium, when a Secret Service Agent stepped directly in front of him and said, “I’d like to talk to you.” Jerry said OK and then made a quick move to get past the agent so he had direct sight of Triet. As a dozen security people and Secret Service Agents converged on Jerry he yelled out,

“Free father Ly, free the Vietnamese people, and free the live American POWs you are still holding.” In a voice even louder, he looked directly at Triet and said again, “Free father Ly.”

Jerry was then removed from the luncheon and questioned by a Secret Service Agent about how he got into the event and he refused to answer. The agent had a folder with his picture and a write-up that confirmed what he thought, both Duc and Jerry had been identified, isolated and surrounded at the luncheon and yet they still succeeded in personally delivering a simple message, freedom for all.

Jerry told the agent he did this to tell the leadership of communist Vietnam that we will not stop until Ly and all the political prisoners are released, the Vietnam people are free from this brutal repressive regime, and all the live American POWs are returned home. He was asked what he intended to do next and he refused to answer and eventually walked out without being arrested. Two Secret Service Agents visited his home later that evening for about 30 minutes to make sure he was no physical threat to Triet.

Duc Tran was also questioned after he was escorted out of the luncheon.

Duc Tran and Jerry Kiley will be present at the 8 PM candle light vigil in front of the Capitol in Washington DC on Thursday, June 21st, and then at 8 AM on Friday, June 22nd, in Lafayette Park across from the White House during the meeting between Bush and Triet.

Lời kể của Trần Đông Đức

Tôi mua hai tấm vé để vào cửa với sự tò mò muốn tìm hiểu để viết báo như những lần trước đây. Cứ tưởng cuộc nói chuyện này sẽ xảy ra ở Washington, D.C. nên tôi gọi ông người bạn ở vùng thủ đô coi thử còn ai muốn đi thì cho vé. Khi biết cuộc nói chuyện do Asia Society tổ chức tại New York tôi gọi Jerry Kiley và báo cho Jerry biết là tôi có vé đi “coi show”. Jerry rất là hứng thú nhưng cũng hơi lo là cái tên Jerry Kiley không vào được vì đã có trong hồ sơ tạt rượu vào Phan Văn Khải và John McCain hai năm trước.

Càng gần ngày tôi càng thấy yên tâm và coi đây là cuộc nói chuyện mở rộng với những vấn đáp như báo chí trong nước đưa tin vào ngày đầu tiên ông Triết tới Mỹ hôm 18 tháng 6. Hôm đó cũng có một số câu hỏi liên quan tới nhân quyền. Tôi tin chắc là như vậy vì Asia Society đã bán vé công khai trên mạng. Tôi cũng nghĩ là họ có kế hoạch nên tự nhủ là mình phải ứng xử văn minh và lịch sự. Tôi đến tham dự công khai không e ngại. Nếu ban tổ chức không thích thì có thể chận ngay cửa không cho khách vào.

Tới nơi trễ hơn 10 phút và tôi gọi cho Jerry. Trước khi vào cửa thấy đồng bào đã biểu tình tại cổng có cả Lý Tống đang đứng trong đoàn. Tôi ngại đi qua trước đồng hương vì e bị đồng bào hiểu sai về “hoạt động báo chí” của mình. Gọi điện cho Jerry tôi nói khoan tới vội đợi lúc ông Triết và phái đoàn tới bằng cửa sau (do sợ đụng với đoàn người biểu tình) thì hãy vào.

Jerry và tôi vào tham dự và đều ghi danh bằng tên thật và cũng chấp nhận rằng nếu không được tham dự vì thành kiến thì cũng lắm chỉ chúng tôi sẽ đòi lại tiền vé lại mà thôi. Có lẽ ngay lúc quá rộn ràng họ không rà soát hồ sơ nên để Jerry đã vào tham dự buổi nói chuyện.

Khi Jerry vào trong và an vị tại một cái bàn riêng. Tôi hơi lo vì Jerry là khách của mình. Phần Jerry, ông lại có lẽ bình thản dự tiệc hơn và có ý muốn ngồi chung bàn. Ngay sau đó không lâu cả góc phòng đều nháo nhác. Chúng tôi đã bị phát hiện. Nhân viên phái đoàn Việt Nam và bảo an của Hoa Kỳ cứ nhìn chòng chọc vào hai chúng tôi.

Tiếng được tiếng mất, tôi nghe ban an ninh hỏi nhau “làm sao sơ ý để Jerry Kiley vào được trong này?” Rõ ràng mọi người còn nhớ vụ tạt rượu năm trước. Nhân viên mật vụ đứng vòng quanh che hết tầm nhìn của Jerry. Lúc đó tôi đi quanh và tìm chỗ ngồi riêng ở một góc. Trên mỗi ghế đều có chiếc máy phiên dịch làm tôi ngỡ là ghế đã có chủ. Tôi vừa ngồi xuống thì sau đó có một đoàn Việt Nam kéo tới ngồi chung. Không khí tuy rất khó thở (với tôi) nhưng mọi người quanh bàn cũng tỏ ra thân thiện. Tôi cũng muốn bắt chuyện với mọi người chung bàn hơn là dùng cell phone chụp hình. Có một phụ nữ tuổi trung lưu hỏi chuyện và tôi cũng nói thật tất cả về mình. Tò mò và quan tâm tình hình nên mua vé vào dự chứ cá nhân tôi thì đã ra khỏi nước cũng 17 năm rồi, đi từ lúc học trung học. Bà tỏ vẻ không vui vì biết chương trình này lại bán vé như vậy. Đối với quan khách Việt Nam từ bên nước sang mà nói thì chương trình này phải có tầm vóc hơn thế. Vị nữ khách này có khuyên tôi hãy về nước để thấy sự thay đổi vì “bây giờ thay đổi nhiều lắm em ạ!”. Cô gái ngồi bên cạnh cứ háo hức muốn đi thăm tượng nữ thần tự do. Tôi cũng định bụng sẽ bắt chuyện như ông Jerry đang nói chuyện với một ngưòi Mỹ chung bàn, nếu không có chuyện gì xảy ra.

Khi ông Triết lên phát biểu, một số người trong bàn tôi ngồi lại than phiền là ông Triết quá mất lịch sự với đoàn Việt Nam vì chỉ cung kính chào Đại sứ Mỹ (tại Hà Nội) Marine bằng “Ngài” mà không thèm hỏi Đại sứ Việt Nam tại Mỹ là ông Nguyễn Tâm Chiến ngồi cùng bàn một tiếng.

Ông Triết nhấn mạnh tới thành tích của Việt Nam và sự gần gũi của Việt Nam và Châu Á.

Trong khi ông Triết nói chuyện, mật vụ dường như sắp có quyết định hành động đối với sự có mặt của Jerry. Tôi trấn an với một người đã quen trong đoàn Việt Nam. Đừng lo lắng quá, sẽ không việc gì đâu! Ngay cả đến lúc hỏi đáp theo chủ đề chắc là cũng không có gì xảy ra vì Jerry Kiley ngồi cũng khá xa và bốn bề bị mai phục.

Chẳng bao lâu sau, bàn của Jerry đã có sự giao động thật sự. Mật vụ tới và muốn đưa Jerry ra ngoài hỏi chuyện. Lúc đo Jerry mới hô vang cho quan khách và ông Triết nghe là hãy thả tù nhân chính trị, POWs… Nhìn thẳng vào ông Triết, Jerry hô lớn “Hãy thả linh mục Lý”.

Ông Triết lúng túng bào chữa. Jerry Kiley bị nhân viên an ninh điệu ra ngoài. Ông Triết cố định thần nhưng sau đó nói sa đà qua một số việc ông làm trong chuyến đi là hàn gắn quan hệ quá khứ, thăm viếng một số gia đình người Mỹ và người Mỹ gốc Việt. Đối với người Mỹ gốc Việt, ông Triết còn cường điệu với “từng khúc xương, từng giọt máu”. Sau đó hình như ông Triết chuyển sang giới thiệu về đất nước Việt Nam: vốn có thiên nhiên, có nhiều cô gái xinh đẹp có nhiều áo dài duyên dáng, v.v… Nhiều khách tỏ vẻ bất bình và với cách chào hàng kiểu phồn thực của một nguyên thủ quốc gia. Nếu được nghe đoạn audio này chắc đa số đàn ông nước Việt cũng sẽ rất bất bình.

Không hiểu sao tôi lại bị ngôn từ vừa thuần nông vừa phồn thực lại vừa Nam bộ “hấp dẫn” nên loay hoay định ghi âm một số câu “danh giá” này làm tài liệu viết báo. Vừa đứng dậy tôi bị một người gần đó, vừa cầu thân nhưng cũng rất quyết liệt, kéo ngồi xuống bàn. Tôi hiểu là họ ngại mất mặt với quan khách Mỹ nếu tôi có manh động gì. Tôi cũng còn hy vọng đang lúc ăn uống mọi người không nên làm khó gì nhau. Tôi chờ đến phần hỏi đáp.

Không được thế vì bốn nhân viên mật vụ đã đến bàn đưa tôi ra ngoài ở góc cầu thang cứu hỏa rồi khép ngay cửa lại hỏi tôi vào đây có mục đích gì. Tôi cho họ biết tôi là freelance writer. Họ hỏi viết báo cho ai. Tôi đưa tên website vietbao.com, calitoday.com và danchimviet.com cho họ xem bài của tôi đã đăng.

Họ hỏi tôi về Jerry Kiley rất nhiều và biết chính tôi cùng Jerry vào tham dự. Tôi bảo Jerry là bạn của tôi. Họ hỏi tôi có biết ông này đã làm gì hai năm về trước không. Tôi trả lời biết nhưng tòa xét xử xong rồi. Nhân cơ hội này tôi bày tỏ nỗi bất bình với quyết định của họ đưa Jerry Kiley ra ngoài vì chúng tôi có ghi danh chính thực Họ không nên vì áp lực mà ứng xử như vậy. Đây là nước Mỹ, không phải Việt Nam. Jerry và tôi vào đây tham dự hoàn toàn hợp pháp. Sau đó họ đưa tôi xuống phòng hỏi nhiều chuyện khác. Họ quan tâm đến việc có phải chúng tôi vào đây định ám sát ai hay không?

Vì phải trả lời chất vấn nên tôi không biết phần hỏi đáp với ông Triết ra sao; Riêng cuộc chất vấn của mật vụ với tôi lại là điều rất thú vị. Họ không có được bất kỳ một lý do nào để câu lưu Jerry và tôi cả. Sau đó họ xin lỗi tôi một cách tha thiết về việc làm hỏng bữa ăn trưa. Cô mật vụ thật duyên dáng và có lẽ cũng cảm thông với chúng tôi. “Dù sao cũng chỉ là bữa thịt gà; tuy có cá hồi hun khói nhưng hình như không có ly rượu đỏ nào cả”. Cô mật vụ cười hồn nhiên. Tôi hỏi, “Cô có tin được những lời cộng sản nói không?” Chưa có dịp đối thoại đã phải dùng thế lực để loại trừ những ý kiến bất đồng. Jerry Kiley làm như thế là đúng. Đúng là người Mỹ.

Sau đó họ phải thả tôi ra về. Một vài người điện thoại hỏi thăm. Tôi gởi hình ra cho một số bạn bè khi còn trong phòng họp. Ra khỏi thành phố New York, dừng xe, tôi gọi hỏi thăm Jerry Kiley. Jerry cho biết ông bình an vô sự. Tôi kể lại chuyện mình bị thẩm vấn ra sao. Jerry bảo là đừng có nói gì cho họ cả. Đúng là thật tình, tôi cho cô mật vụ tất, trong sáng 100%, từ số an sinh xã hội đến điện thoại nhà, điện thoại văn phòng. Chẳng có gì để che dấu! Tôi còn hẹn cô là ngày thứ Sáu, 22 tháng 6 này cứ bật đài CNN lên thì sẽ hiểu chúng tôi hơn.

Nghĩ lại chuyện hôm qua trong lòng còn đọng những hào hứng nhưng không kém phần bức xúc. Rõ ràng là thiệp mời tham dự đối thoại có chủ đề. Nhưng họ lại loại ngay ra ngoài những người bất đồng chính kiến. Chúng tôi đã không làm gì sai cả.

Trong số quan khách, thật sự mà nói có đến 50% là cán bộ từ Việt Nam. Tôi thấy trong danh sách chỉ có bốn, năm người có tên họ viết theo lối Mỹ (họ sau tên trước – có lẽ đó là những Việt kiều mà ông Triết dành một phần diễn văn đầy “máu xương” cô đọng nhất. Trong đó cũng có những cựu binh Hoa Kỳ mà ông Triết kêu gọi “nồng nàn sâu thẳm” nhất. Thế mà …

Bây giờ nghĩ lại thấy chịu Jerry Kiley thật. Jerry đã trong một khoảnh khắc đã ghi lại dấu ấn lớn dù bốn bề đang bị vây chặt. Thật sự, Jerry và tôi đến dự tiệc không kịch bản và chỉ tuỳ cơ ứng biến. Phần mình, tôi chỉ muốn ghi lại những gì nghe, thấy.

Đó là câu chuyện quanh bữa tiệc trưa Nguyễn Minh Triết nói chuyện tại Asia Society ở New York.

Nếu nghe được audio buổi nói chuyện của ông Triết mọi người sẽ thấy Jerry Kiley tạo sinh động thế nào, và cũng biết rõ hơn nội dung chào hàng du lịch và đầu tư của ông Nguyễn Minh Triết tại Mỹ ra sao.

Quan khách trong bữa tiệc hầu như toàn là người Việt Nam của phái đoàn trong nước tháp tùng kể cả một số quan chức hàng bộ trưởng và phó thủ tướng. Phần lớn khách Á châu là người gốc Hoa và còn có phóng viên và phân xã của hai tờ Nhân Dân Nhật Báo và Giải Phóng Nhật Báo bên Tàu. “Việt kiều” ở Mỹ như tôi chỉ có vài người.

Thêm bình luận Tháng Sáu 22, 2007

Trần Ðông Ðức: Bị mời ra khỏi bữa tiệc có Chủ tịch Triết




Bị mời ra khỏi bữa tiệc có Chủ tịch Triết
Trần Đông Đức, 34 tuổi
Gửi đến BBC từ New York

Được biết sẽ cuộc nói chuyện với Chủ tịch Nguyễn Minh Triết do Asia Society tổ chức tại New York hôm 20.06 nên tôi gọi người bạn Mỹ, ông Jerry Kiley và báo cho ông biết là tôi có vé đi “coi show”.

Jerry rất là hứng thú nhưng cũng hơi lo là cái tên của Jerry Kiley không vào được vì ông đã có trong hồ sơ tạt rượu vào ông Phan Văn Khải và John McCain vào hai năm về trước.

Càng gần ngày tôi càng thấy yên tâm và coi đây là cuộc nói chuyện mở rộng với những vấn đáp như báo chí trong nước đưa tin vào ngày đầu tiên ông Triết tới Mỹ hôm 18 tháng 6. Rõ ràng hôm đó cũng có một số câu hỏi liên quan tới nhân quyền mà. Tôi tin chắc là như vậy nếu không thì tại sao lại bán vé công khai trên mạng như vậy.

Tôi cũng nghĩ là họ có kế hoạch dự phòng gì đây cho nên tự nhủ là mình phải ứng xử văn minh và lịch sự. Tôi đi công khai chứ có gì mà phải e ngại. Nếu họ không thích thì có thể chận ngay cửa không cho tôi vào. Tôi cũng chỉ có ý định đi dự để nếu Chủ tịch Triết có trả lời các câu hỏi thì tôi sẽ hỏi về nhân quyền ở Việt Nam.

Tôi tới trễ hơn 10 phút rồi gọi Jerry. Trước khi vào cửa thấy đồng bào đã biểu tình tại cổng và thấy rõ chú Lý Tống đang đứng trong đoàn. Tôi lo ngại đi qua trước đồng hương vì cũng hơi sượng sùng sợ bị đồng bào hiểu sai về “hoạt động báo chí” của mình. Tôi gọi điện bảo Jerry là khoan tới vội vì hãy đợi lúc ông Triết tới bằng cửa sau (do sợ đụng với đoàn người biểu tình) thì hãy vào. Jerry và tôi vào và đều ghi danh bằng tên thật và cũng chấp nhận rằng nếu họ biết mình là ai và có thành kiến gì thì tôi chúng tôi cũng lắm chỉ đòi lại tiền vé mà thôi. Có lẽ ngay lúc rộn ràng này họ không chịu rà soát hồ sơ lần thứ hai nên để Jerry vào.

Khi Jerry vào tới nơi và an vị tại một cái bàn riêng. Tình cờ tôi lại gặp được một vài người quen nên cũng càng khó ứng xử. Tôi chỉ lo cho Jerry nên không biết phải làm gì vì dù sao trên danh nghĩa đó là khách của tôi. Jerry có lẽ bình thản dự tiệc và có ý muốn ngồi chung bàn. Nhưng sau đó cả góc phòng đều nháo nhác. Chúng tôi đã bị phát hiện. Nhân viên phái đoàn cộng sản và bảo an của Hoa Kỳ cứ nhìn chòng chọc một cách đầy dò xét và chuẩn bị gì gì đây.

Tôi nghe tiếng được tiếng mất là làm sao sơ ý để Jerry Kiley vào được trong này. Rõ ràng mọi người còn nhớ vụ tạt rượu năm trước. Nhân viên mật vụ đứng vòng quanh che hết tầm nhìn của Jerry. Lúc đó tôi đi vòng vòng và kiếm chỗ ngồi ở một góc. Mọi chiếc ghế đều có chiếc máy phiên dịch làm tôi cứ tưởng là ghế đã có chủ. Tôi vừa ngồi xuống thì sau đó có một phái đoàn Việt Nam kéo tới ngồi chung. Không khí tuy rất khó thở nhưng dù sao cũng nên ghi nhận rằng là mọi người quanh bàn cũng tỏ ra thân thiện.

Trong thâm tâm tôi cũng thích thú bắt chuyện vì ngồi chung bàn mà cứ dùng cell phone chụp hình như vậy cũng tương đối bất nhã. Có một vị khách nữ đang tuổi trung lưu hỏi chuyện và tôi cũng nói thật tất cả về mình là vì tò mò và quan tâm tình hình mà mua vé vào dự chứ cá nhân tôi thì đã ra khỏi nước cũng 17 năm rồi, đi từ lúc học trong học. Bà tỏ vẻ không vui vì biết chương trình này bị bán vé như vậy. Đối với quan khách Việt Nam từ bên nước sang mà nói thì chương trình này phải có tầm vóc hơn thế. Vị nữ khách này có khuyên tôi hãy về nước để thấy sự thay đổi vì “bây giờ thay đổi nhiều lắm em ạ!”. Có một cô gái ngồi bên cạnh cứ háo hức muốn đi thăm tượng Nữ thần Tự do. Tôi cũng định bụng sẽ bắt chuyện như ông Jerry đang nói chuyện với một ngưòi Mỹ chung bàn nếu không có chuyện gì xảy ra.

Sau khi chào ông Michael Marine, ông Triết nói tới thành tích của Việt Nam và sự gần gũi của Việt Nam và Châu Á.

Ngay lúc này, mật vụ đang có quyết định hành động gì với Jerry cho nên tôi có trấn an với một người đã quen trong đoàn Việt Nam là sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu. Đừng lo lắng quá! Gì thì cũng đợi lúc đối thoại theo chủ đề, nếu trả lời thẳng thắn thì chắc là cũng không có gì xảy ra vì Jerry Kiley ngồi cũng khá xa và bị bốn bề mai phục.

Rồi không lâu sau, tại bàn của Jerry đã thấy có sự dao động thật sự. Mật vụ tới và muốn đưa Jerry ra ngoài hỏi chuyện. Jerry lúc đó mới hô vang vào quan khách và ông Triết là hãy thả cha Lý và tù nhân chính trị, và tù binh Mỹ các ông còn giữ…. (Nguyên văn: “Free father Ly, free the Vietnamese people, and free the live American POWs you are still holding.”)

Ngay lập tức Jerry Kiley bị đưa ra ngoài. Ông Triết có định thần nhưng sau đó nói sa đà qua một số việc ông làm trong chuyến đi là hàn gắn quan hệ quá khứ. Ông cũng nhân tiện thăm viếng một số gia đình người Mỹ và người Mỹ gốc Việt.

Đối với người Mỹ gốc Việt, ông còn cường điệu tới từng khúc xương giọt máu. Nghe rất là đậm đà tha thiết! Sau đó hình như ông nói hơi lạc đà sang chuyện quảng bá về đất nước Việt Nam – vốn có thiên nhiên, có nhiều cô gái xinh đẹp có nhiều áo dài duyên dáng. Nhiều người tỏ ra bất bình và buồn cười với cách gợi ý kiểu như thế từ miệng của một quốc gia nguyên thủ.

Không biết tại sao tôi lại bị “hấp dẫn” bởi ngôn từ vừa thuần nông vừa phồn thực lại vừa Nam bộ cho nên loay hoay muốn ghi âm một số câu “danh giá” này làm tài liệu viết báo. Chỉ vài phút sau đứng dậy thì cũng bị một người gần đó kéo xuống bàn ngồi. Anh ta có cử chỉ vừa cầu thân nhưng cũng rất quyết liệt. Tôi hiểu rõ là họ sợ mất mặt với quan khách Mỹ nếu tôi có manh động gì. Tôi cũng còn hy vọng đang lúc ăn uống mọi người không nên làm khó gì nhau. Trong thâm tâm tôi chờ đợi phần hỏi đáp. Thế rồi tôi cũng bị đưa ra một góc cầu thang cứu hỏa rồi khép ngay cửa lại.

Jerry Kiley là ai?
Bốn nhân viên mật vụ và bảo an cứ hỏi tôi vào đây có mục đích gì. Tôi cho họ biết tôi là freelane writer. Họ hỏi viết báo cho ai. Ơn trời! Hôm nay bài của tôi có đăng trên vietbao.com, calitoday.com và danchimviet.com. Tôi đưa tên website cho họ và họ cứ nghĩ đây là tổ chức gì đây.

Họ hỏi tôi về Jerry Kiley rất nhiều và đinh danh tôi là thủ phạm đưa Jerry vào đây. Tôi bảo Jerry là bạn của tôi. Họ hỏi tôi có biết ông này đã làm gì hai năm về trước không. Tôi bảo là có biết nhưng tòa phán vô tôi rồi. Tôi nhân cơ hội này chỉ trích việc làm của họ đưa Jerry Kiley ra ngoài như vậy là sai. Dù sao chúng tôi có ghi danh đàng hoàng các người không cần phải nghe lời phái đoàn Việt Nam mà ứng xử thô lỗ như vậy. Đây là nước Mỹ chứ đâu phải Việt Nam. Chúng tôi vào đây hoàn toàn hợp pháp mà. Sau đó họ đưa tôi xuống phòng hỏi rất nhiều chuyện. Điều họ quan tâm có phải chúng tôi vào đây định ám sát ai không?

Trong lúc mật vụ chất vấn tôi thì cùng thấy mọi người lục tục kéo xuống. Tôi không biết phần hỏi đáp với ông Triết có xảy ra nhưng cuộc chất vấn với mật vụ đầy thú vị cho tôi vì họ không tìm ra được một lý do nào để câu lưu chúng tôi. Sau một thời lâu tôi mới cảm nhận là họ đang cảm thấy có lỗi với tôi và xin lỗi tôi một cách tha thiết về việc phá hỏng bữa ăn trưa. Cô mật vụ thật duyên dáng và hiểu rõ lý tưởng của chúng tôi. “Dù sao cũng ăn thịt gà thôi, có cá hồi hun khói nhưng hình như không có ly rượu đỏ nào cả”. Cô ta cười hồn nhiên với tôi. Tôi bảo cô ta rằng cô thấy đó có tin được những lời cộng sản nói không. Chưa kịp đối thoại mà ngang nhiên dùng cô làm thế lực loại trừ ý kiến bất đồng. Jerry Kiley làm như vậy là đúng rồi. Ông ta là người Mỹ chân chính.

Sau đó họ phải thả tôi ra về. Có một vài số điện thoại hỏi thăm vì trong lúc ở trong phòng tôi có gởi hình ra cho một số bạn bè. Ra khỏi thành phố New York tôi dừng xe gọi cho Jerry Kiley biết ông bình an vô sự. Tôi kể cho Jerry nghe về chuyện mình bị thẩm vấn ra sao. Jerry bảo là đừng có nói gì cho họ cả. Tôi bảo tôi mới là thật tình dại dột. Tôi cho luôn cả số an sinh xã hội luôn. Tôi cứ là trong sáng 100% đưa luôn cả điện thoại nhà và sở làm cho cái cô mật vụ kia. Có gì mà che dấu chứ.

Hồi tưởng lại chuyện ngày hôm qua, thật là trong lòng còn đọng những hào hứng nhưng không kém phần bức xúc. Rõ ràng là mời đối thoại có chủ đề. Thế mà khi biết được có người bất đồng chính kiến là loại ngay ra ngoài. Trên danh nghĩa là chúng tôi chưa làm gì sai cả.

Trong số quan khách thật sự mà nói là có 50% là do từ cán bộ từ Việt Nam. Tôi thấy trong danh sách chỉ có bốn năm người có tên họ viết theo lối Mỹ họ sau tên trước – có lẽ đó là những người Việt kiều mà ông Triết dành một phần diễn từ đầy “máu xương cô đọng” nhất. Trong đó cũng có những cựu binh Hoa Kỳ mà ông Triết kêu gọi “nồng nàn sâu thẳm” nhất. Vậy mà …

Riêng về quan khách trong này hầu như là người Việt Nam trong nước tháp tùng. Tôi thấy một số vị tai to mặt lớn trong nước ngang hàng như cấp bộ trưởng và phó thủ tướng.

Tôi có bản guest list, theo đó thì phần lớn quan khách gốc Á là người gốc Hoa – lại còn có phóng viên và phân xã của hai tờ Nhân Dân Nhật Báo và Giải Phóng Nhật Báo bên Trung Quốc. “Việt kiều” ở Mỹ như tôi với lối ghi danh tên trước họ sau chỉ có vài người.

Bây giờ nghĩ lại thấy lòng thán phục Jerry Kiley. Ông biết dùng một khoảnh khắc nhỏ để ghi lại dấu ấn lớn trong một bài báo quốc tế cho dù bốn bề như bị bao vây. Thật sự, Jerry và tôi đều không cố tình 100% dàn dựng chuyện phải đối vì hoàn toàn không biết môi trường hoàn cảnh bên trong mà chỉ tuỳ cơ ứng biến.

Phần tôi, chỉ muốn ghi lại những bài báo theo tinh thần mạo hiểm và tò mò. Tuy nhiên bây giờ nghĩ lại càng không hiểu tại sao Jerry lại vào được trong mặc dù hình ông đã nằm trong xấp hồ sơ cấm cửa có hình ảnh hẳn hoi.

Đó là những nét phác họa trong bữa tiệc đối thoại của Chủ tịch Việt Nam trong Asia Society.

Trần Đông Đức, 34 tuổi
Gửi đến BBC từ New York
(BBCVietnamese.com)

Thêm bình luận Tháng Sáu 22, 2007

Nguyễn Minh Triết "Chui Hậu"







Tạp ký của Nguyễn Thụy Minh Ngữ
Nguyễn Minh Triết “Chui Hậu”

Ngày 20 tháng 6 năm 2007, buổi sáng trời còn mờ mờ, mưa bay lất phất trong thành phố New York. Đoàn biểu tình hơn hai trăm người từ khách sạn Carter của mạnh thường quân Trần Đình Trường, được ban tổ chức của Cộng Đồng Việt Nam tại New York lần lượt chuyên chở đến địa điểm biểu tình chống đối Nguyễn Minh Triết.

Từ những tấm lòng còn yêu thương nơi chốn cũ. Tình người Việt Nam đậm nét trên mắt môi của người xa quê hương đã không quản ngại đường xa, bay về tụ lại để nói lên tiếng nói tự do, yêu quê hương lầm than thương dân tộc nhục nhằn. Họ từ khắp nơi đổ về, từ Đông – Tây – Nam – Bắc từ các khắp các tiểu bang hay nơi xa xôi như đảo Hawaii… Cảm động thay tấm chân tình người Việt, đến góp mặt tại thành phố New York cùng với cộng đồng Người Việt Tị Nạn gióng lên tiếng chuông cảnh giới cho toàn địa cầu biết được bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau hơn 30 trị vì, vẫn còn những hành động phi nhân, tàn bạo và mị dân.

Hình ảnh cha Lý là một điển hình khó chối cãi của Bắc Bộ Phủ. Những tiếng hô hào đả đảo của hơn hai trăm người trong đoàn biểu tình, khiến cho Nguyễn Minh Triết đã không chính thức vào được cổng chính. Phái đoàn Cộng Sản đã phải chia làm hai một vào cổng chính, một vào cổng sau dưới sự bảo vệ của hơn ba mươi nhân viên công lực của Hoa Kỳ. Mưa vẫn rơi, và đoàn biểu tình vẫn đả đảo, thỉnh thoảng họ đã ngừng lại và cất lên tiếng hát Việt Nam Việt Nam nghe tự vào đời Việt Nam hai tiếng nói trên vành môi…. đã như là một nhắc nhở tiếng kêu thảm thiết của con dân nước Việt vẫn còn cong oằn dưới chế độ, nay cũng đã biết đổi mới chỉ để che dấu kín đáo hơn hành vi bạo tàn của Đảng.

Ông chủ tịch điều hành tổng quát, Nguyễn Văn Tánh đã tắt tiếng sau nhiều giờ đón đưa đồng bào khắp nơi đổ về vì thiếu ngủ. Nhìn vào sự tận tụy và khó nhọc của ban tổ chức, việc qui tụ được hàng ngàn người tụ về đông đảo thì sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên. Đoàn biểu tình trong trật tự tại New York ngày 20 tháng 6 có sự hiện diện của Lý Tống đã nâng cao khí thế đấu tranh của buổi sáng mưa tầm tã, nơi Nguyễn Minh Triết sẽ có mặt.

Khi phái đoàn của Nguyễn Minh Triết đến nơi, tiếng đả đảo Cộng Sản lại vang rền ở một góc phố. Để thấy rằng, dù Cộng Sản đã biết ve vuốt người Việt sống tại hải ngoại nhưng không làm sao làm họ nguôi ngoai được những hình ảnh chôn sống tập thể người dân vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Không làm sao nguôi ngoai được những căm thù trút vào đầu người lính Việt Nam Cộng Hoà trong các ngục tù được che dấu qua cái gọi là “trại cải tạo” sau 1975. Cũng không thể làm họ quên được những thảm cảnh không nhà, do sự tước đoạt trắng trợn của Đảng Cộng Sản Việt Nam mệnh danh “giải phóng” để che lấp hành động cướp đất khống trị dân. Nhân bản? Tự Do? Những chữ này đối với Cộng Sản như là một khắc tinh trong lối cai trị ngang ngược của Đảng Bạo Quyền.

Đã bao nhiêu người chết nhục trong các trại giam, đã bao nhiêu người vợ phải bán trôn nuôi con nuôi chồng vì sự tước đoạt trắng trợn của cái gọi là “giải phóng”. Họ không quên, ngày tháng qua đi, nhưng căm hờn đọng lại, trong lồng ngực, trong tâm khản… Và họ dứt khoát không đội trời chung với Cộng Sản.

Một tên an ninh Việt Cộng.

Người Việt tại hải ngoại chống đối đòi hỏi nhân quyền thì được đám báo chí một chiều bị ức chế dưới chế độ lên án “phản động”. Ai cùng chung hàng ngũ với Đảng Cộng Sản mà “phản động”? Phạm Duy từ bỏ Đảng Đoàn vào Nam để tìm sống. Danh từ “phản động” đối với Phạm Duy còn có nghĩa. Người Việt hải ngoại Quốc Gia chưa một lần chung lý tưởng thì hai chữ “phản động” trở thành trơ trẽn tối nghĩa!. Điều này cho thấy sự đuối lý cùn cụt tư tưởng của bọn cầm viết tay sai óc một chiều

Hơn hai tiếng đồng hồ đội mưa, đoàn biểutình ra về trong trật tự khi Nguyễn Minh Triết đã lọt vào được căn nhà khách mời. Mọi người trở lại khách sạn chuẩn bị cho ngày mai lên đường đến Washington DC. Vẫn thấy ban tổ chức đón đồng bào Việt Nam đến từ các nơi.

Khách sạn Carter của ông Trần Đình Trường tíu tít một ngôn ngữ thân quen. Họ gọi nhau, họ đem nước mời nhau, họ chia sẻ những miếng bánh mì nguội như bơm sức cho nhau. Ở đây, trong sảnh đường của khách sạn một tình người đằm thắm. Ngày mai tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ gióng lên tiếng chuông cầu cứu cho nhân loại thấy được tấm tuồng vụng về của Bắc Bộ Phủ Việt Nam. Còn nhiều gian dối, còn nhiều lừa đảo và còn nhiều trắng trợn mà chẳng cần che đậy. Hình ảnh bịt miệng Cha Lý có phải là một sự thách thức của chính quyền Cộng Sản với người Việt tự do tại hải ngoại?.

Hoa hậu Bích Liên và các đồng hương khắp nơi về New York trước sảnh đường của khách sạn Carter.

Trong phái đoàn biểu tình tại New York đến từ khắp nơi. Trẻ có, già có. Những nhân vật nổi tiếng cũng có. Họ đến với sự tình nguyện, họ đến với một tấm lòng đau khi hình ảnh của cha Lý được loan ra từ trong nước. Ngày mai, tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, hàng ngàn đồng bào sẽ có mặt để cất lên tiếng cầu cứu với nhân loại, nước Việt Nam Cộng Sản là một ngục tù to lớn mà hơn tám chục triệu dân Việt Nam là những người tù khốn nạn nhất thế giới.

Nguyễn Thụy Minh Ngữ
New York, mười hai giờ 17 phút sáng, ngày 21, tháng Sáu.

Xin đón đọc bản tin chi tiết sẽ được đăng tiếp nối.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Vụ thu hoạch hãi hùng của chủ nghĩa CS


Robert Service – Đăng Trường chuyển ngữ

Hôm thứ ba, phát biểu trong buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản ở Washington, Tổng thống Bush tuyên bố rằng trong thế kỉ XX đã có 100 triệu nạn nhân vô tội bị chết dưới bàn tay tội lỗi của chủ nghĩa cộng sản. Ông đã không nói quá, đúng hơn, ông đã giảm bớt phần nào con số các nạn nhân thực sự.

Người cung cấp cho Tổng thống những số liệu đó có thể đã dựa vào những đánh giá gần đúng. Đến nay vẫn chưa ai biết chính xác số người chết trong các trại tù thuộc hệ thống GULAG ở Liên Xô, trong các trại lao động cải tạo gọi là “Lao cải” ở Trung Quốc hay trong các khu rừng rậm ở Campuchia. Không nghi ngờ gì rằng việc giết người không phải là tội ác duy nhất của các chế độ cộng sản. Nếu tính cả những người mà cộng sản đã làm cho thành thân tàn ma dại thì con số nạn nhân phải lên đến hàng tỉ..

Trong chế độ cộng sản nạn nhân cũng được phân loại. Có những người bị giết một cách có chủ đích, lại có những người bị chết vì những chính sách phi nhân hoặc thiếu trách nhiệm của họ. Thí dụ, trong giới khoa học người ta vẫn còn tranh luận xem liệu nạn đói năm 1932-1933 có phải là do Stalin cố tình gây ra để giết hại người Ukraine hay không. Tương tự như vậy, ít có nhà sử học nào tin rằng Mao Trạch Đông đã cố tình gây ra nạn đói ở Trung Quốc vào cuối những năm 1950; đây là nạn đói được coi là khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại. Nhưng sự dốt nát của các chế độ cộng sản trong việc quản lí sản xuất nông nghiệp và cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân chúng là một sự kiện không phải tranh cãi.

Ngoài ra, cộng sản còn thực hiện chính sách phân biệt đối xử đối với các giai cấp “đối kháng”. Thí dụ, bố của Boris Yeltsin chỉ là một người nông dân bình thường nhưng đã bị chế độ của Stalin cho vào sổ đen chỉ vì ông từng phàn nàn về điều kiện lao động. Không những bố mẹ mà cả con cái cũng rơi vào sổ đen, vì vậy mà chàng trai Boris phải dấu việc bố bị đàn áp, nếu không thì ông chẳng thể có cơ may được vào đại học. Ở Campuchia tình hình còn tệ hơn: tất cả những người đeo kính đều bị tuyên bố là kẻ thù của nhân dân và bị đàn áp khốc liệt.

Nói về các nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản thì còn phải kể đến những người đã bị khốn khổ vì mất quyền tự do chính trị, tự do tín ngưỡng và tự do hoạt động trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật nữa.

Ngay cả trong những nước mà trên danh nghĩa chế độ chấp nhận sự tồn tại của các đảng phi cộng sản, thí dụ như Cộng hoà dân chủ Đức, thì trên thực tế đấy vẫn chỉ là hệ thống độc đảng mà thôi. Nhà thờ, ngay cả khi được phép đóng một vai trò nào đó trong xã hội, thí dụ như ở Ba Lan, thì các giáo sĩ, nếu không muốn bị đàn áp, phải tìm cách tránh né, không dám phê phán hệ tư tưởng cộng sản. Nhà nước cộng sản nào cũng duy trì một chế độ kiểm duyệt khắt khe, mọi hệ tư tưởng, trừ tư tưởng mác-xít, đều bị chính quyền coi là nguy hiểm.

Trong các nước dân chủ, chính quyền, dù thuộc đảng bảo thủ, đảng tự do hay đảng xã hội, cũng thường không cần phải cấm đảng cộng sản hoạt động. Tất nhiên là có ngoại lệ. Ở Tây Đức, Đảng cộng sản đã bị cấm hoạt động vào năm 1956 sau khi lãnh đạo của nó, theo lệnh Moskva, tuyên bố phủ nhận quyền tồn tại của Cộng hoà Liên bang Đức. Ở Mĩ, thượng nghị sĩ Joe McCarthy đã từng phát động chiến dịch “săn lùng phù thuỷ” nhằm chống đảng cộng sản và cảm tình viên của nó.

Nhưng cái mà trong các chế độ dân chủ được coi là ngoại lệ thì trong chế độ cộng sản lại là điều bình thường, ở những nước này tư tưởng tự do bị đàn áp một cách có hệ thống. Các nước này thường xuyên phá sóng của các đài phát thanh và truyền hình nước ngoài. Công dân của họ không được phép đi ra nước ngoài. Để giữ chính quyền, cộng sản buộc phải giữ dân của mình trong “bức màn sắt”. Biểu tượng rõ nhất của nó là bức tường ô nhục ở Berlin, đã bị giật sập vào tháng 11 năm 1989.

Một nhà nước hoạt động hữu hiệu trong thời đại hiện nay thường cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của người dân. Hệ thống kinh tế sẽ hoạt động hiệu quả hơn. Dù là xét về nguyên tắc hay theo quan điểm thực tiễn thì việc thảo luận một cách công khai các hệ tư tưởng cũng đem lại nhiều lợi ích cho xã hội. Vì vậy khi mà Angver Hodgia tuyên bố rằng Albania đã là một nước hoàn toàn vô thần thì trên thực tế ông ta đã làm cho mâu thuẫn giữa các tôn giáo và các sắc tộc ngày càng trở nên năng nề hơn.

Dĩ nhiên là các chế độ cộng sản không phải là những bản sao của nhau. Không ai khẳng định rằng Cu Ba, với những quán rượu, nhà hàng, khách sạn ồn ào và nhiều màu sắc của nó, lại có hệ thống quản lí nhà nước hoàn toàn giống với Bắc Triều Tiên. Trung Quốc dưới thời Mao cũng khác với, thí du, Ban Lan dưới quyền Gomulka hay Albania dưới quyền Hodgia. Nhưng chế độ cộng sản, dù ở đâu, cũng có những đặc trưng cơ bản giống nhau.

Ngoài ra, cần phải nhấn mạnh: trong thế kỉ XX không chỉ cộng sản mới làm những hành động phi nhân. Adolf Hitler đã giết người Do Thái, người Di-gan, người đồng tính và những kẻ tâm thần. Cộng sản cũng không có liên quan gì đến vụ diệt chủng ở Ruanda hồi năm 1994. Còn việc phun chất độc da cam phá rừng ở Việt Nam và Campuchia là do lực lượng không quân Mĩ thực hiện

Cuối cùng thì phương Tây đã thắng trong “cuộc chiến tranh lạnh”, M. Gorbachev và chương trình cải cách Liên Xô của ông đã có nhiều đóng góp. Hôm nay chủ nghĩa cộng sản đã mất tín nhiệm trên toàn thế giới, đài tưởng niệm mới được xây dựng ở Washington là cách chúng ta tỏ lòng tưởng nhớ các nạn nhân của nó.

Nhưng các nhà nước cộng sản vẫn còn tồn tại: Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam. Trong bài phát biểu của mình Tổng thống đã không nói chuyện đó. Ông đã bỏ qua cơ hội nói một cách rõ ràng điều mà mọi người đều biết: hệ thống trại cải tạo lao động vẫn còn tồn tại ở Trung Quốc. Nhiều người vẫn tiếp tục là nạn nhân của nó. Chế độ trong các trại đó còn dã man hơn cả GULAG ở Liên Xô trước đây: chính quyền Trung Quốc không chỉ giam giữ mà còn nhồi sọ các tù nhân bằng những biện pháp rất dã man.

Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của phương Tây vì vậy mà các chính phủ cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng đã đối xử với nước này một cách khá “nhẹ nhàng”. Nhưng không được quên điều này: Trung Quốc là siêu cường duy nhất trên thế giới có chế độ đàn áp dã man nhất.

© DCVOnline

——————————————————————————–

Nguồn: – “Los Angeles Times”, dịch qua bản tiếng Nga tại địa chỉ http://inosmi.ru/translation/235021.html.
– Robert Service là chuyên gia về lịch sử Nga, giáo sư của St. Antony’s College trực thuộc Oxford University, tác giả cuốn sách “Comrades!: A History of World Communism” mới được xuất bản gần đây.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Next Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Sáu 2018
H B T N S B C
« Th7    
 123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930  

Posts by Month

Posts by Category