Posts filed under ‘Diễn đàn Dân chủ




LẠM XƯNG ĐỂ NHẬP NHẰNG?

Nghị viên Madison Nguyễn.

Bạn thân mến,

Thư gửi Bạn kỳ này viết về một chuyện đánh lận, nhập nhằng của một cái tên. Dư luận San Jose đang xôn xao về cái tên VietNam Town mà người ta đang ráo riết vận động cho trung tâm thương mãi vừa khởi công xây dựng trên một đường Story. Nhiều đồng hương tỵ nạn đặt câu hỏi tại sao lại dùng chữ Việt Nam Town chung chung vậy? Khu này có thực sự do người Việt Tỵ Nạn Cộng sản xây nên không? Nếu của người Tỵ Nạn, sao cái tên không dính dấp chút gì đến miền Nam Việt Nam cả? Tại sao không là Saigon Town? Bến Thành Town? Nếu cứ chung chung là VietNam Town, thì bọn cộng chúng bỏ tiền ra mua lại, để khoe khoang mấy hồi?

Tuy chưa thành hình – còn trong trứng nước – nhưng cái tên VietNam Town đã được đồng hương Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản chiếu tướng và phản đối (trên Net và dưới đất). Tuyết-Lan loan tin này một cách sốt sắng vì chưa thấy các vị có trách nhiệm trong cộng đồng chính thức lên tiếng. Chả lẽ các vị đó lại đồng ý hết rồi hay sao? Hoặc e ngại mất lòng? Tuyết Lan không tin, và xin quý vị mạnh dạn lên tiếng cho dân nhờ, thà mất lòng trước, còn hơn… biểu tình sau, khi cái tên đã được hiện hữu. Phải không Bạn?

Như đã viết ở trên, trong thời gian qua, một trung tâm thương mãi – nói là của người Việt – nằm giữa tiệm buôn Wal-Mart của Mỹ và trung tâm thương mại của Việt Nam Grand Century Mall – đang được khởi công xây cất ngay sát hàng rào trung tâm thương mãi Grand Century Mall, cũng của người Việt (đa số). Tên Mỹ gọi là Vietnam Business Center, nhưng trên bảng quảng cáo thì đề là VietNam Town. Nghe nói đã có nhiều nghị viên tích cực đứng ra vận động tân Thị Trưởng Chuck Reed cho phép đặt tên cho khu thương mãi đang xây này là Vietnam Town. Nghe nói, nghị viên năng nổ nhất lập luận rằng số thương gia người Việt tại khu vực này đã lên đến hơn 200, số thương vụ như thế là rất lớn để đóng góp vào sự phát triển của thành phố San Jose, cho nên phải cho nó một cái tên cho xứng đáng là VietNam Town!

Phải chăng, những vận động viên này muốn người Việt có một cái Tao như Chai-na Tao hay Giáp-Pen Tao cho rỡ ràng mày mặt với người ta?

Có lẽ vì quá hăng tiết với tham vọng làm nên lịch sử nên các nhà chính trị này không còn quan tâm đến các chi tiết quan trọng và đúng mức khác. Họ không cần biết thế nào là một cái Tao (town) thế nào là một Biu-di-nét Xen-tơ. Hành động này đã gây ra một số hoài nghi rất hợp tình hợp lý trong tâm tư ngư tiết với tham nạn.

Bây giờ chúng ta hãy suy suy gẫm gẫm một chút về chữ Tao (town) xem nó ra làm sao? Thế nào là Town? Theo định nghĩa của từ điển thì Town là một cộng đồng từ vài trăm người đến vài ba ngàn người sống và sinh hoạt với nhau trên một vùng đất rộng lớn được tổ chức thành khu với hệ thống đường sá và các tiện nghi công cộng. Một cách tổng quát, town là một khu dân cư có phố phường và sinh hoạt kinh tế, sản xuất, nhỏ hơn một city và lớn hơn một làng.

Người Tàu ở Mỹ có Phố Tàu China Town tại nhiều nơi, như Cựu Kim Sơn, Oakland, Los Angeles v.v… Đây là những khu phố rộng lớn tọa lạc trên nhiều con đường với lối kiến trúc mang nặng truyền thống Trung Hoa, thậm chí cả tên đường cũng đề bằng chữ Tàu (như tại thành phố Oakland, California). Người Nhật cũng có Phố Nhật tại San Francisco. Tại San Jose, Japan Town tọa lạc trên các con đường Jackson St, đường 4th St v.v… có cả nhà Cộng Đồng rất bề thế nữa… Người Tàu và người Nhật đã đến Hoa Kỳ từ vài trăm năm trước, cho nên họ có những cái Town đúng nghĩa.

Người Việt tỵ nạn cộng sản chỉ mới đến định cư ở Hoa Kỳ trong vòng hơn 30 năm, nhưng đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của nhiều thành phố Mỹ, nhưng ngoài Little Saigon ở Nam Cali, tại các thành phố khác, người Việt tỵ nạn chỉ mới xây dựng được những khu thương mãi nhỏ. Tại San Jose, nổi tiếng nhất là khu Lion Plaza, sau đó là Senter, bây giờ có thêm Grand Century. Trong ba khu thương mãi trên đây, tuy khá nhộn nhịp, nhưng chưa có một khu nào dám tự nhận là Phố Việt Nam cả.

Tuyết-Lan nhớ lại cách đây chừng 10 năm về trước, thời bà Búa (Hammer) làm thị trưởng, có phong trào đưa thỉnh nguyện xin ghép chữ Saigon vào tên đường Senter, vì khu thương mãi này đã gần như hoàn toàn thuộc về người Việt tỵ nạn. Xin một bảng tên đường Saigon-Senter là để kỷ niệm thủ đô của miền Nam… nhưng ý định này đã không thành công.

Nay, cũng chỉ là một trung tâm thương mãi nhỏ như các trung tâm khác, mà lại xưng là Vietnam Town, thì thật là lạm xưng rồi! Cũng chỉ xây dựng trên một khu đất kế cận với một trung tâm thương mãi Việt Nam có trước đã sáu năm qua, mà lại hô hào, vận động xin tân Thị Trưởng và Hội Đồng Thành Phố San Jose cho mang cái tên Vietnam Town, thì thật là tham vọng ngông cuồng, nếu không muốn nói là quá lố. Vì, theo sách vở, từ điển, thì một cái để xứng đáng là Town thì phải đủ tiêu chuẩn thông thường của nó. Cho nên, nếu đặt tên là VietNam Town là lạm xưng. Nếu khu đang xây này là VietNam Town, thì ba khu của người Việt hiện đang có là cái gì Town?.

Các diễn đàn trên internet đang xôn xao bàn luận và kêu gọi những vị trong các tổ chức cộng đồng chống Cộng hãy lưu tâm để ngăn chặn sự nhập nhằng… đánh lận con bài này. Theo như sơ đồ mô hình thì cái gọi là VietNam Town này không mang một dáng dấp nào của kiến trúc đặc thù VN, nhất là miền Nam Việt Nam.

Qua những xôn xao của nhiều đồng hương trên trời cũng như trên mặt đất, Tuyết Lan xin gióng lên một tiếng trống báo động để các vị đại diện cộng đồng đừng vì bận các việc khác mà quên chuyện lâu dài này. Riêng Tuyết Lan, thì chỉ có hơi bực mình về sự lạm xưng và nhập nhằng của họ thôi, chứ Tuyết Lan không ngại. Bởi vì, nghĩ rằng ông Tân Thị Trưởng Chuck Reed là người sáng suốt, bình tĩnh và thận trọng, không dễ gì bị thuyết phục và còn nhiều nghị viên thành phố khác nữa, họ đều là những người có kiến thức về sách vở và kinh nghiệm hành chánh, lẽ nào lại đi chấp thuận thông qua một cái tên bị lạm xưng và bị đa số người Việt hồ nghi!

Tuyết Lan xin ghi lại với Bạn một số dư luận về cái gọi là Vietnam Town tại San Jose, hiện đang xôn xao và nóng cháy như thời tiết tuần này trên các diễn đàn internet mà Tuyết-Lan xin sao chép lại và thêm dấu vào các chữ cho dễ đọc như sau:

Âm mưu gì khi nghị viên Madison Nguyễn đề nghị đặt tên “Khu thương Mãi Việt Nam” Vietnam Business Center mà không lấy tên “KHU THƯƠNG MÃI SAIGON” hay là Khu Thương Mãi của Người Việt Tỵ Nạn??? Ở thành phố San Jose, một thành phố có trên 100 ngàn người Việt tỵ nạn cư trú. Trên phương diện pháp lý và chính trị quốc tế, cái gì là biểu tượng và tượng trưng cho Việt Nam hiện tại.

– Khi nói đến hai chữ Việt Nam thì họ hiểu ngay là Cộng sản Việt Nam, là chế độ đang cai trị trên đất nước Việt Nam, mà lá cờ máu “cờ đỏ sao vàng” là tượng trưng cho chế độ ấy. Trên phương diện chính trị, cái gì là biểu tượng và tượng trưng, là linh hồn của Tạp Thể Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản ? Xin thưa chỉ có lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và hai chữ SAIGON mà thôi. Do đó thực tiễn nhất mong quí vị hãy đổi lại cái tên SAIGON ngay tại thành phố San Jose này, đó là KHU THƯƠNG MÃI SAIGON, chứ không thể là cái tên Khu Thương Mãi Việt Nam hay Viet Nam Business Center, như Nam California và các thành phố khác trên nước Mỹ đã đặt ở các khu thương mãi người Việt Nam là “Khu Little Saigon”

– Kính thưa quí vị, khi nghị viên Madison Nguyễn là một nghị viên gốc Việt đại diện cho cử tri khu vực 7 San Jose, trong đó có rất nhiều người Việt tỵ nạn cộng sản, không hiểu nghị viên Madison có thông báo, bàn bạc với các ban đại diện, các hội đoàn người Việt tỵ nạn chưa mà cô đã đệ trình lên Hội đồng thành phố San Jose lấy cái tên “Khu Thương Mãi Việt Nam”, hai chữ Việt Nam ở đây rất mập mờ và ai nghĩ sao cũng được, một hình thức đánh lận con đen. Vì những mâp mờ trên, hôm nay tôi nói lên đây để mong quí vị là người Việt Nam tỵ nạn cộng sản hãy nói lên ý kiến và sự suy nghĩ của mình để đòi hỏi nghị viên Madison Nguyễn hãy đổi lại tên “KHU THƯƠNG MÃI SAIGON hay KHU THƯƠNG MÃI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN” thay cho cái tên Khu Thương Mãi Việt Nam mà cô nghị viên đã đệ trình lên hội đồng thành phố San Jose. Chỉ có chữ SAIGON mới thật sự là tượng trưng và niềm hãnh diện cho Người Việt Nam tỵ nạn cộng sản.

Chính bọn Việt cộng đã rất sợ hãi chữ SAIGON, nên vào ngày 2-7-1976 tên Đặng Xuân Khu bí danh Trường Chinh và bộ chính trị của chúng đã ký văn bản xóa tên thành phố SAIGON thân yêu của chúng ta và chúng đặt cái tên là thành phố Hồ chí Minh, tên của tên tội đồ dân tộc. Hiện nay Phong Trào đòi hỏi trả lại cái tên SAIGON và lột mặt nạ tên quốc tặc Hồ chí Minh do linh mục Nguyễn Hữu Lễ phát động đang rầm rộ trên các nơi có người Việt Nam tỵ nạn cộng sản. Trân trọng kính mong quí vị đóng góp ý kiến để thành phố San Jose này có một khu Thương Mãi với cái tên “KHU THUONG MÃI SAIGON hay Khu THƯƠNG MÃI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN” và không bao giờ chấp nhận đặt cái tên là Khu Thương Mãi Việt Nam (VietNam Town).

Tuần sau, Tuyết-Lan xin được dành đất của trang Tạp Ký để đón nhận những ý kiến của bạn đọc về vấn đề phản đối việc đặt tên VietNam Town cho khu vực thương mãi ở San Jose. Xin bạn đọc gửi thư về tòa báo dưới đất, hoặc ghi lại trên mục Thảo Luận ở cuối bài trên Net. Tất cả những ý kiến của bạn đọc sẽ được Tuyết Lan đúc kết lại và lần lượt đăng trên Tạp Ký này. Nhờ Bạn loan tải giùm để bạn đọc góp ý nhé.
Thân mến chào Bạn,

Hẹn Bạn thư sau.
Tuyết-Lan

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 13, 2007

Dân chủ và tập trung dân chủ

Nguyễn Văn Trần

Phân tích sơ lược về chế độ Dân chủ – Chế độ ở Hà nội ngày nay

Việt Nam từ khi chưa mất độc lập, sau khi độc lập mất, từ sau khi bị chia đôi năm 1954, và sau khi miền Nam mất năm 1975, chưa bao giờ có được một chế độ dân chủ thực sự. Nói thế không có nghĩa là người dân Việt Nam trong quá khứ dài đã không có những cơ hội hưởng được những phúc lợi về vật chất và tinh thần mà ngày nay người ta gọi đó là những quyền của con người hay nhân quyền và quyền công dân.

Từ xưa ở Việt Nam, tinh thần dân chủ hay nếp sống dân chủ thể hiện qua đời sống thực tế xã hội, mà chưa được thể chế hoá như những giá trị hiến định ngày nay. Tinh thần dân chủ hay nếp sống dân chủ ấy, theo cái nhìn ngày nay, đó là một thứ quyền tiêu cực. Nhà vua nhận lãnh mệnh trời để cai trị nên có bổn phận phải tuân mệnh trời mà chăm lo cho phúc lợi của thần dân. Vì làm sai sợ bị trời đánh, do đó mà trong lịch sử quân chủ Việt Nam không có những bạo chúa cực kỳ hun ác như ở Tàu và ở Âu Châu. Còn đảng cộng sản vì không nhận lãnh mệnh của ai hết, nên ngang nhiên gây ra tội ác với dân chúng mà không phải sợ bị trừng phạt. Tinh thần dân chủ việt nam lấy dân làm cái gốc của nước. Gốc có vững thì nước mới yên. Nên dân bản trở thành mực thước giới hạn thiên mệnh.

Ai cũng biết những người chối bỏ chế độ cộng sản ngày nay, họ tranh đấu là để mong thay thế chế độ cộng sản hiện tại bằng một chế độ dân chủ tự do. Bởi dân chủ ở trường hợp Việt Nam ngày mai này không chỉ nhằm chấm dứt chế độ độc tài toàn trị, mà còn có khả năng động viên toàn dân xây dựng lại đất nước, phát triển đất nước, tạo cho Việt Nam có bản lãnh hội nhập vào thế giới và ngăn chặn mọi hiểm họa thường xuyên xâm lấn đất nước từ phương Bắc

I. Dân chủ và dân chủ nào?

Sau 19 năm đổi mới, Việt Nam thu hoạch được một số thành tựu đáng khuyến khích nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết những mặt tiêu cực do chưa có mở cửa về chánh trị.

Một số những người tranh đấu dân chủ và cả một số những nhà quan sát Tây phương, và nhất là Huê Kỳ, lấy làm lạc quan cho rằng những thành tựu thủ đắc được do mở cửa kinh tế dần dần sẽ đẩy lùi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vào quá khứ. Họ tin tưởng rằng một thành phần trung lưu mới vừa thành hình ở xã hội Việt Nam từ chính sách đổi mới sẽ tác hại không tránh khỏi đến sự tồn vong của chế độ. Theo cách suy luận này thì “Cái xe, cái nhà, đô-la đầy túi, lập tức sau đó là dân chủ!” Nhưng đừng quên rằng thành phần trung lưu mới này không phải được thành hình “bên ngoài đảng, chống lại đảng” mà “xuất hiện cùng với đảng”, ở ngay trong đảng, có vai trò lịch sử mới là bảo vệ đảng, phát triển đảng theo đường lối lãnh đạo mới.

Nói theo ngôn ngữ xã hội chủ nghĩa, họ sẽ là chủ thể mới của lịch sử. Vả lại, theo nhà kinh tế Amertyr Sen (giải Nobel kinh tế) dân chủ không phải là một xa xỉ phẩm, đợi có tiền mới được hưởng, mà dân chủ là yếu tố cần thiết để làm cho đất nước phát triển. Hơn nữa, trên thực tế đối với những nỗ lực tranh đấu dân chủ hoá Việt Nam thì hiện tượng xã hội mới này là trở ngại lớn, sức cản lớn có khả năng phá vở mọi cố gắng cho dân chủ từ nhiều phía hiện nay.

Dân Chủ:

Như đã nói trên đây, Việt Nam chưa có một định chế dân chủ đúng nghĩa theo hiểu biết ngày nay, tuy từ thời quân chủ đã có tinh thần dân chủ qua nếp sống văn hóa dân tộc. Do đó, ngày mai này, khi muốn làm dân chủ, tưởng chúng ta nên tìm về những kinh nghiệm lịch sử của các nền dân chủ Tây phương và Huê Kỳ, để giúp chúng ta hiểu rõ hơn những vấn đề sẽ đặt ra cho xứ sở chúng ta và giúp chúng ta chủ động hơn trong việc giải quyết vấn đề, vì các nền dân chủ ấy giúp chúng ta thấu hiểu được ba ý niệm cơ bản để xây dựng Việt Nam ngày mai này. Đó là những quyền bất khả nhượng, chủ quyền và dân chủ.

Những quyền bất khả nhượng là những quyền tự nhiên của con người mà mọi Nhà Nước không thể tước đoạt của chúng ta và cũng không thể ban phát cho chúng ta, bởi những quyền ấy là sở hữu của chúng ta (1): “Quyền an ninh thân thể, quyền tự do tinh thần và quyền chống lại áp bức của Nhà Nước”.

Các dân tộc Anh, Mỹ, Pháp đã nhân danh những quyền này để làm những cuộc cách mạng của họ.

Chủ quyền quốc gia thuộc toàn dân, nghĩa là người dân tự mình cai trị chính mình.

Dân chủ là sự cai trị bởi dân và vì dân. Dân chủ không phải được định nghĩa bởi nguồn gốc quyền lực, mà do dân chúng bị cai trị có kiểm soát được thường xuyên và hữu hiệu người cầm quyền cai trị mình hay không.

Dân chủ như vậy không gì khác hơn là những định chế do người dân thiết lập ra để thực hiện an ninh trong xã hội và bảo vệ những quyền tự do căn bản của họ. Trong một chế độ dân chủ, Nhà Nước chỉ là một tập hợp những định chế do con người sáng tạo. Do đó, Nhà Nước dân chủ còn được gọi là Nhà Nước-Định chế. Quyền lực cho phép Nhà Nước hành sử chức năng của mình mà không cho phép Nhà Nước có quyền đứng trên xã hội. Bởi trong thể chế dân chủ, chỉ có luật pháp biểu thị chủ quyền quốc gia.

Ở Việt Nam, dưới thời quân chủ, những quyền tự nhiên của con người vẫn được nhà vua tôn trọng và thực thi. Người dân bình thường có quyền tham chánh qua những cuộc thi tuyển chọn nhân tài. Việc học và thi cử hoàn toàn tự do và thường miển phí, dành cho mọi người và còn được khuyến khích. Ở trong làng xã thường có người biết chữ mở trường dạy học. Người học giỏi được xã hội kính trọng. Cho đến đời Minh Mạng, nhà vua vẫn quan tâm lắng nghe ý kiến của dân chúng về việc nước.

Khi xây dựng cho Việt Nam một nền dân chủ thực hữu, về mặt tổ chức lại lãnh thổ, tưởng Việt Nam nên chọn cho mình một thể chế liên bang để thống nhất đất nước trong sự tôn trọng những đặc thù địa phương do lịch sử để lại trên một lãnh thổ có chiều dài hơn 2000 km. Thống nhất trong thể chế liên bang là để điều hoà phát triển.

Thể chế dân chủ và liên bang thực hiện được cho Việt Nam ngày mai này, chắc chắn sẽ đáp ứng được những mong đợi của toàn dân, bởi những giá trị chánh trị ấy hoàn toàn phù hợp với lịch sử và văn hoá dân tộc. Đầu thế kỷ 19, vua Gia Long tổ chức lãnh thổ làm thành nhiều vùng nhằm đáp ứng những đặc tính tâm lý và địa phương khác nhau. Miền Trung gồm 4 doanh, 7 trấn; miền Bắc có 5 nội trấn, 6 ngoại trấn; miền Nam chia làm 5 trấn. Xã thôn Việt Nam trước kia vẫn theo chế độ tự trị. Tất cả những giá trị truyền thống ấy đã không được giữ gìn và phát huy mà còn bị người cộng sản phá huỷ để thay thế bằng thể chế Xã Hội Chủ Nghĩa cực kỳ phi lý và phi dân tộc.

II. Dân chủ và tập trung dân chủ (2)

Khi nói đến dân chủ, tưởng nên phác họa cơ sở để qua đó người ta có thể có được ý niệm về nền dân chủ ấy. Những hình dung từ thêm vào cho từ “dân chủ” thường không đủ làm toát lên nội dung hay thực chất đích thực của nền dân chủ mà ta muốn đề cập đến.

Tuy nhiên, khi nói dân chủ pháp trị, nhờ từ “pháp trị” giúp ta ý niệm được rằng nền dân chủ ấy được thiết lập và điều hành bằng luật pháp. Pháp trị có nghĩa là luật pháp mới là chủ quyền của toàn dân. Nhà Nước dân chủ không thể đứng trên luật pháp.

Trong những người tranh đấu dân chủ, có một số người thường nói dân chủ đa nguyên (để phân biệt, phản bác lại dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ nhân dân, v.v…) Cụm từ dân chủ đa nguyên rất gợi hình nên làm cho mọi người tưởng tượng ngay rằng trong nền dân chủ ấy nhiều sự khác biệt đều được tôn trọng. Mà dân chủ nào lại không tôn trọng đặc tính đa nguyên? Nhưng về mặt thể chế, thì đa nguyên lại không giúp hội ý được về cơ sở của nền dân chủ ấy. Như vậy phải chăng những “người dân chủ đa nguyên” muốn đem dân chủ đa nguyên để đối lập, để đối kháng với dân chủ xã hội chủ nghĩa mà thường bị hiểu sai lạc là dân chủ tập trung?

Theo người cộng sản thì về thể chế chánh trị, đại loại, chỉ có hai nền dân chủ hoàn chỉnh và phổ biến hơn hết. Đó là dân chủ tư bản và dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Hai nền dân chủ này được định hình trên hai hình thái kinh tế khác nhau, là kinh tế tư sản và kinh tế tập trung. Như vậy, với người cộng sản, không có dân chủ tập trung mà chỉ có dân chủ xã hội chủ nghĩa và tập trung dân chủ.

Ở Việt Nam, từ sau khi tiếp nhận chiếu thoái vị của hoàng đế Bảo Đại, từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ và từ sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất Việt Nam, nhà cầm quyền Hà Nội thiết lập và xây dựng một thể chế dân chủ duy nhất gọi là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Cụm từ “dân chủ xã hội chủ nghĩa” rất rõ nghĩa, bởi nó toát lên được ý nghĩa đó là một nền dân chủ mang “bản chất giai cấp công nhân, do đảng cộng sản lãnh đạo để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên cơ sở chủ nghĩa xã hội”.

Do đó, vẫn theo người cộng sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa, một mặt thể hiện bản chất của chủ nghĩa xã hội, mặt khác là một trong những động lực quan trọng hướng dẫn “toàn xã hội tiến lên xây dựng thành công” chủ nghĩa xã hội sau khi cướp được chánh quyền.

Khi nói đến dân chủ xã hội chủ nghĩa thì, về phương diện hoạt động và thể chế, dân chủ phải có quan hệ hữu cơ, gắn liền với tập trung, để “chế độ dân chủ kết hợp chặt chẽ với chế độ tập trung”. Từ mối liên hệ này, tập trung dân chủ trở thành một nguyên tắc, một đòi hỏi tất yếu trong thể chế của chủ nghĩa xã hội. Đây là “nguyên tắc cốt tử” của đảng cộng sản trong lãnh đạo chính trị đối với xã hội và lãnh đạo Nhà Nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ cho phép người cộng sản đảm bảo cho đảng cộng sản có sức mạnh thống nhất về tư tưởng, chánh trị và tổ chức để biểu hiện và khẳng định đó là đảng cầm quyền, tập trung vào tay đảng trọn vẹn quyền lực quốc gia để thực hiện một chế độ cai trị đất nước toàn diện và triệt để. Tập trung dân chủ không chỉ là nguyên tắc của đảng cộng sản, là chỉ đạo hoạt động lãnh đạo và các quan hệ tổ chức của đảng, mà nó còn là nguyên tắc cần thiết, không thể thiếu trong hoạt động quản lý Nhà Nước. Đó cũng là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các đoàn thể chánh trị trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, ta phải hiểu cho đúng (theo cộng sản) thì dân chủ xã hội chủ nghĩa phải dẫn tới nguyên tắc tập trung dân chủ. Nó vừa là nguyên tắc chánh trị của đảng cộng sản, vừa là nguyên tắc và cơ chế quản lý của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Nói rõ hơn, tập trung (dân chủ) là phương thức, là điều kiện, còn dân chủ là cơ sở, là mục đích. Thông qua tập trung mà dân chủ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, được thực hiện và trở thành mục đích của chế độ. Không gắn với tập trung thì dân chủ xã hội chủ nghĩa không có sức mạnh thực tế trong hành động. Tập trung dân chủ chỉ là thẩm quyền quyết định của cá nhân người chỉ huy và của cơ quan lãnh đạo chính trị, theo trật tự chặt chẽ có sự tuân hành từ dưới lên trên.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, tập trung dân chủ là một loại cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, bởi đó là nguyên tắc lãnh đạo của đảng cộng sản. Tập trung dân chủ do đó trở thành một hệ thống tập trung quyền lực và phương pháp thi hành quyền lực lên xã hội. Tập trung dân chủ, ở đây, hoàn toàn không phải là một thể chế chánh trị, mà đó không gì khác hơn là một phương pháp thực thi chế độ độc tài toàn trị.

Một đảng cầm quyền độc tài toàn trị như đảng cộng sản Hà Nội ngày nay, nếu không thực hiện được tập trung dân chủ, thì dĩ nhiên không còn là một đảng hành động, mà lập tức sẽ biến thành một thứ tập hợp đầy mâu thuẫn, xung đột. Và từ đó, Nhà Nước sẽ không còn thực quyền quản lý xã hội nữa. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi Hà Nội thẳng tay đàn áp và trù dập tất cả những người có chánh kiến khác với đảng. Dân chủ vì thế mà trở thành một mối hiểm họa sanh tử của chế độ Hà Nội.

III. Tập Trung Dân chủ hay Độc Tài toàn trị

Nói cho rõ và dứt khoát thì chế độ chánh trị ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn là một chế độ độc tài toàn trị. Khi nói đó là một chế độ độc tài toàn trị thì người ta thường hình dung đến chế độ Hitler ở Đức hoặc Stalin ở Liên-Xô trước kia. Theo bà Hannah Arendt (Triết gia Mỹ gốc Đức chuyên nghiên cứu về nền tảng các chế độ độc tài toàn trị) thì chế độ “độc tài toàn trị” là một hệ thống hoàn toàn đặc biệt được khai triển trên sự biến thể những giai cấp xã hội trở thành những tập thể, biến cảnh sát trở thành trung tâm quyền lực và thiết lập một chánh sách đối ngoại nhằm công khai thống trị thế giới. Trong quá trình thực hiện, chế độ độc tài toàn trị nhằm triệt tiêu xã hội cũng như cá nhân. (3)

Nhưng chế độ Hà Nội hiện nay, cũng được gọi là chế độ độc tài toàn trị, lại không hoàn toàn giống chế độ Hitler hay chế độ Stalin bởi trong hai chế độ nầy, người ta thấy rõ Hitler và Stalin là hai người thật sự nắm quyền lực cai trị nước Đức và Liên Xô.

Ở Việt Nam, ai, cơ quan nào là đối tượng của những người đấu tranh đòi dân chủ? Nếu muốn lật đổ chế độ, hay muốn đối thoại thì nhắm vào ai? Trong vừa qua, để lật đổ chế độ độc tài ở Irak, Huê Kỳ và liên minh chỉ nhằm tấn công vào Saddam Hussein. Trong trường hợp Việt Nam ngày nay, chắc chắn người cộng sản cũng khó mà biết được ai, bộ phận nào trong đảng, gồm những ai, nắm quyền lực thật sự và nắm được đến mức độ nào?

Năm 1953, Hồ Chí Minh học bài học Trung Quốc (4) cho tiến hành cuộc thanh lọc nội bộ đảng đẩm máu bằng cải cách ruộng đất, rồi chỉnh đảng. Lúc bấy giờ, đảng Lao động (đảng Cộng sản đổi tên) gồm có lối 740.000 đảng viên. Số đảng viên bị khai trừ, cách chức, thủ tiêu, giết hại lên đến 40% vì bị qui vào thành phần phản động do địch cài lại. Riêng nông dân, trong cải cách ruộng đất, bị Hồ Chí Minh giết hại đến 500.000 người. Trong đó có không biết bao nhiêu người chịu oan ức, người yêu nước đã từng cống hiến tài sản, sanh mạng bản thân cho kháng chiến chống thực dân Pháp, … Sửa sai và chỉnh huấn xong, vào cuối thập niên 50, một bộ máy quyền lực mới thật sự thành hình tập trung sức mạnh vào Ban tổ chức trung ương Đảng, đưa Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chia nhau vai trò chi phối quyền lực Nhà Nước và đẩy ra bên lề vai trò lãnh tụ lịch sử của những người như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, …

Lê Duẩn cả quyết đưa chiến tranh vào Nam và đã thôn tính được Miền Nam năm 1975. Năm 1973, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết 26 phủ nhận giá trị pháp lý của Hiệp Định Paris, xác định rõ mục tiêu vẫn trước sau như một là tiến chiếm miền Nam và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa trên cả nước. Chiến tranh dai dẳng chấm dứt đã tạo điều kiện thuận lợi cho Lê Duẩn và Lê Đức Thọ xây dựng chế độ độc tài toàn trị theo kiểu hoàn toàn Hà Nội. Chế độ độc tài toàn trị nầy bắt đầu tiến hành phương thức thực hiện tập trung dân chủ, tức tập trung quyền lực, bằng cách tuần tự triệt tiêu tất cả các lãnh tụ đảng từ thời lập đảng, các đảng viên gia nhập đảng vì nhiệt tình yêu nước dấn thân tranh đấu giành độc lập dân tộc, đến vô hiệu hóa Nhà Nước, các tổ chức quần chúng như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, các Giáo hội, các Công đoàn, … sử dụng các tổ chức này làm bình phong, trang trí cho đảng, vô hiệu hóa đảng, dùng bản thân đảng để bảo vệ và nâng cao uy quyền Ban Chấp hành trung ương, vô hiệu hóa Ban Chấp hành trung ương để bảo vệ Bộ Chánh trị, cuối cùng cũng vô hiệu hóa Bộ Chánh trị để chỉ còn lại Tổng bí thư và Ban thường vụ đảng.

Mặt khác, chế độ “độc tài toàn trị” dùng công an kiểm soát mọi người, mọi tổ chức, từ tổ chức quần chúng làm kiểng đến nội bộ đảng ở các cấp. Đồng thời, chính công an cũng được tổ chức phân tán thành nhiều bộ phận hoàn toàn ngăn cách và đan xen với nhau khiến người chỉ huy công an cũng khó mà nắm được toàn bộ guồng máy này. Cho nên trong chế độ toàn trị kiểu Hà Nội, bất cứ ai, từ người dân, lẽ dĩ nhiên, đến bản thân đảng viên công an, … ở mọi cấp bực đều có thể, bất cứ lúc nào, bị loại trừ, bị thanh trừng, mà không làm sao biết được lý do và do ai quyết định. (5)

Để thấy rõ thứ quyền lực vô hình này, tưởng không gì bằng nhìn vào trường hợp tướng Võ Nguyên Giáp từ nhiều năm qua và đọc bức thư của ông gởi Bộ Chánh Trị đề ngày 03/01/2004 tại Hà Nội.

Tướng Giáp tố cáo Lê Đức Anh, lúc làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã cho lập Tổng Cục II An Ninh, trực thuộc Bộ Quốc Phòng, để củng cố quyền lực của mình và trù dập, đàn áp các phe cánh khác, trong đó tướng Giáp là mục tiêu chánh.

Theo tướng Giáp, Lê Đức Anh đã ngụy tạo hồ sơ “tình hình hoạt động bè phái trong đảng” (số 541 – Báo cáo của Bộ Chánh Trị tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI) để hãm hại tướng Giáp và một số đảng viên kỳ cựu, có thành tích chiến đấu cao mà không cùng phe cánh với Lê Đức Anh và Đỗ Mười đi theo Bắc Kinh. (6)

Bộ Chánh Trị là cơ quan quyền lực cao nhất vẫn bị Tổng Cục II cho đặt máy nghe lén suốt hơn mười năm. Thế mà từ đại hội VII đến đại hội X, vụ này vi phạm kỷ luật đảng và luật pháp Nhà Nước xã hội chủ nghĩa vẫn chưa được xử lý đúng mức. Trong lúc đó, ở một nước dân chủ bình thường, không xã hội chủ nghĩa, như nước Huê Kỳ, Tổng thống (T.T.) Nixon cho đặt máy nghe lén đối phương (đảng Dân Chủ) bị mất chức khi nội vụ đổ bể. T.T. Clinton dan díu với gái, bị thưa ra tòa, đã phải hầu tòa và thi hành phán quyết của tòa án. Tổng Thống pháp, ông Jacques Cirac, chỉ thời gian ngắn rời ghế tổng thống, đã phải trình diện trước Tòa án để trả lời về hồ sơ tiền bạc của Đản RPR của ông khi ông làm Thị Trưởng Paris . Ở Hà Nội, đảng viên các cấp tham nhũng, cướp giựt nhân dân giữa ban ngày chỉ bị xử lý nội bộ. Tức vô tội vạ để còn tiếp tục cướp giựt nữa . Đây là sự khác biệt rõ ràng giữa hai nền dân chủ, xã hội chủ nghĩa và không xã hội chủ nghĩa! Và chỉ trong một chế độ dân chủ không xã hội chủ nghĩa, mọi người mới được luật pháp bảo vệ về an toàn bản thân và tài sản. Người cộng sản không thấy được điều này phải chăng vì họ thiếu văn hóa chánh trị?

Chúng tôi nghĩ không phải họ thiếu vắng văn hóa chánh trị, mà đó là thiên chức của đảng cộng sản. Lý thuyết chỉ đạo cộng sản, theo Lenin, là “đảng ta dùng nói dối và bạo lực cướp chánh quyền và bằng mọi giá phải giữ chánh quyền cho đảng”. Khi nắm trọn chánh quyền, đảng ta lấy nhân dân làm đối tượng, cướp tất cả cái gì thuộc về sở hữu của nhân dân .

Đến tuổi già, bắt đầu lo sợ sẽ đến phiên mình, lần lượt sẽ là nạn nhân của thứ “bóng đêm” này, một số cựu công thần của chế độ Hà Nội như Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng, Phan Minh Tánh,Võ văn Kiệt, … đã lên tiếng cảnh cáo, không sớm thay đổi, đảng sẽ mất quyền lãnh đạo. Mà thật thế, ngày nay do phải mở cửa ra bên ngoài, nhiều đảng viên đã nhận thức được những giá trị phổ quát về dân chủ, nhơn quyền là cần thiết để tổ chức xã hội, xây dựng đất nước phát triển, nên họ đã bắt đầu tranh đấu chống sự độc tài đảng trị …

Song song với việc chỉnh đốn đảng theo cung cách đặc biệt “Hà Nội” này, lẽ dĩ nhiên, đảng Cộng sản Việt Nam phải kết nạp thêm đảng viên mới để thay thế những người đã lần lượt “ra đi”. Và, cứ mỗi lần có một đợt kết nạp thì dân chúng tỏ vẻ vui mừng, bảo nhau “Thế là xã hội lại được sạch sẽ thêm một chút!”.

Ở Việt Nam ngày nay, người ta khó mà biết ai thật sự nắm quyền ở Hà Nội. Và nắm quyền đến mức độ nào? Ai nắm công an? Ai nắm quân đội?

Nhà cầm quyền Hà Nội thường cho rằng chế độ của họ là chế độ “do dân vì dân” tức là chế độ dân chủ. Mà chế độ dân chủ thì quyền lực chánh trị là một hệ thống công khai hình thành do xã hội sáng tạo và thực hiện theo một qui trình được xã hội chấp thuận, ở nhiều mức độ khác nhau, bằng nhiều phương thức khác nhau. Đặc tánh của chánh quyền dân chủ là tính công khai và sự tín nhiệm của xã hội có giới hạn đuợc qui định thành văn .

Trái lại, ở Việt Nam, quyền lực tồn tại không cần những yếu tố tất yếu ấy, bởi nó được cấu kết trong bóng tối với những kẻ vô danh chuyên sử dụng bạo lực khủng bố, trù dập, thủ tiêu đồng chí, đồng đảng và mọi người khác ý kiến hoặc chống đối. Lập chánh phủ, bầu quốc hội, đại hội đảng, tất cả chỉ là những thứ hiện tượng do thứ quyền lực bóng tối ấy dựng lên để ẩn núp sau đó mà tồn tại và hoạt động. Ai cũng sợ hãi nó. Nhưng nó cũng nơm nớp một nỗi sợ hãi lớn: sợ hãi sự công khai, tức sợ hãi ánh sáng! Tuy nó nắm trong tay sự toàn trị xã hội mà vẫn sợ phải công khai xuất hiện. Như tòa án do nó giàn dựng lên mà vẫn thường né tránh những phiên xử công khai dưới ánh sáng công lý, thường chọn cách xử kín và kết thúc phiên xử nhanh chóng như tháo chạy.

Năm 1986, để tránh cho chế độ khỏi bị sụp đổ do sự khủng hoảng trầm trọng kéo dài từ cuối thập niên 70, Hà Nội đưa ra chánh sách “đổi mới “. Nhưng Hà Nội vẫn không thể “đổi mới” thật sự được vì nếu phải công khai hóa quyền lực, công bố tài chánh của đảng (thường bằng 1,5 đến 2 lần ngân sách chánh phủ), tài sản của đảng viên, nói thẳng, nói thật với mọi người và để mọi người phê phán về mình thì chẳng khác nào đảng tự treo cổ! Chế độ Hà Nội phải tồn tại cho đến hết quá trình xã hội chủ nghĩa của nó! Đó là thời điểm trước mắt! Để tồn tại, nó phải dựa trên thế đan xen của ba lực lượng: đảng, công an và quân đội. Nhưng phải hiểu “nó tồn tại” đó không phải là bản thân đảng, bản thân công an hay quân đội. Mà “nó” chỉ là hiện tượng quyền lực ẩn sâu trong đảng, trong công an, trong quân đội, trong Nhà Nước, như Đỗ Mười và Lê Đức Anh với đám đàn em cài sâu trong Bộ máy hiện nay, và tài sản quốc gia do đảng làm chủ và sử dụng.

Những người tranh đấu cho dân chủ ngày nay, kể cả những người cộng sản phải thấy đối tượng của mình không ở ngoài Việt Nam, không ở trong dân chúng, không ở trong những quân nhân, không ở trong những nhân sự công an, mà nó ở sâu trong các tổ chức này để giựt giây, điều khiển những tổ chức này theo chiều hướng quyền lợi riêng của nó.

Để làm cho chế độ “độc tài toàn trị” theo kiểu Hà Nội ngày nay sớm sụp đổ, tưởng không có cách nào tốt hơn, hữu hiệu hơn là lôi “NÓ” ra trước ánh sáng. Ánh sáng của thị trường, của thông tin, ngôn luận.

Không thể nói “dân chủ xã hội chủ nghĩa” là dân chủ được bởi, như ta thấy, chế độ xã hội chủ nghĩa thật sự chỉ là “chế độ độc tài toàn trị”. Nó còn biến dạng dưới những hình thức khác như “dân chủ nhân dân”, … Còn “dân chủ đa nguyên” tuy không thuộc các hình thức dân chủ kia, nhưng nó không nói lên được nội dung dân chủ một cách hoàn chỉnh, có cơ sở. Nó chỉ đọng lại ở tầng gợi hình mà thôi.

Khi nói một chế độ dân chủ thì phải thấy trong đó người dân phải thật sự tự mình cai trị chính mình.

Vậy chỉ có dân chủ hoặc không có dân chủ mà thôi. Mà dân chủ thì chế độ sẽ tồn tại bền vững. Độc tài cộng sản thì chắc chắn sẽ theo con đường Liên Xô và Đông âu ở những năm 89 và 90. Đó là tất yếu lịch sử!

Ghi chú:
(1) Fitche, “Considérations sur la Révolution française”, 1793, Paris.
(2) Nguyễn Tiến Phồn, “Dân chủ và tập trung dân chủ”, Khoa Học Xã Hội xuất bản – Hà Nội, 2001.
(3) Hannah Arendt, “Nguồn gốc chế độ độc tài toàn trị” (Les origines du totalitarisme) Paris, 1972.
(4) Trần Lực, “Những bài học về kinh nghiệm Trung Quốc”, Hà Nội, 1952.
Pierre BROCHENX, Hồ Chí Minh, du revolutionnaire à l`icône Paris 2003
(5) Xem Diễn Đàn, số 18, tháng 4/ 1998, Paris.
(6) Về vụ tướng Giáp, xem bức thư của Giáp gởi Bộ Chánh Trị và bản báo cáo của BCT tại Hội nghị TW-12 BCH khóa VI.

Thêm bình luận Tháng Bảy 13, 2007

Sự đồng thuận của HĐGM Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý, có hay không?

THƯ GỞI ÔNG NGUYỄN MINH TRIẾT
V/v: Sự đồng thuận của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican trong việc xử án Cha Lý.

Kính gởi ông NGUYỄN MINH TRIẾT,
Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Kính ngài,
Tôi ký tên dưới đây là Nguyễn Học Tập.

Được đọc trên báo NHÂN DÂN ( 04.07.2007, trg. 2) và trên báo TUỔI TRẺ (08.07.2007, trg. 1), lời tuyên bố của ông nhân cuộc phỏng vấn của phóng viên Wolf Blitzer (CNN) trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông vừa qua, từ 18-23.6.2007, liên quan đến phiên toà xử án Cha Lý, tôi có một thắc mắc muốn được thưa với ông.

Trong cuộc phỏng vấn trên, đề cập đến phiên toà Cha Lý bị bịt miệng, không được luật sư biện hộ và cũng không có quyền tự biện hộ, một quyền tự do tối thiểu bất khả xâm phạm của con người của một xứ văn minh, ông đã cho rằng việc Cha Lý đứng ra tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người là hành vi “phạm pháp luật Việt Nam” (Báo Nhân Dân, 04.07.2007, trg. 2) của xứ Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân văn minh của ông.

Và rồi từ đó ông cho rằng Quốc Gia XHCNVN văn minh của ông được cả Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cho phép, nguyên văn như sau:

– “Việc xét xử ông ta được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi” (Báo Nhân Dân, id., trg.2; Báo Tuổi Trẻ, id., trg.1).

Kính thưa ông,
Là người Công giáo, tôi nghĩ rằng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Toà Thánh Vatican không có lý do gì đồng thuận “lên án” Cha Lý, chỉ vì Cha hành xử, tranh đấu bênh vực Nhân Quyền và Tự Do Dân Chủ, nhằm “Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội”, như những gì Phúc Âm dạy cho.

Trước xác tín vừa kể, tôi không muốn một vết nhơ oen ố như vậy bị bôi trét lên lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và trên lịch sử Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, mà tôi cũng là thành phần của Giáo Hội.

Do đó việc “đồng tình” vừa kể, được thốt ra từ Đấng Bậc nào đó trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, chúng tôi đã và đang kiểm chứng và sẽ cho mọi người biết trong những ngày sắp tới.

Về phía Toà Thánh Vatican, tôi khẩn xin ông, nếu như sự thật đã xảy ra, cung cấp cho tôi
– tên họ và chức vụ của Đấng Bậc đã “biểu đồng tình” với ông,
– ngày tháng,
– trong bối cảnh
– và trước mặt ai là nhân chứng,

Có được những yếu tố đó, tôi cam kết với ông: Cá nhân tôi sẽ đến tận Toà Thánh Vatican để được hội kiến với Đấng Bậc “đồng chí” của ông, biết rõ ý kiến và nguyên nhân đã khiến Đấng Bậc đương sự “đồng tình” với Nhà Nước CHXHCNVN xử án “bịt miệng” Cha Lý và lên án ngài, nhờ vào những quen biết của tôi với Toà Thánh Vatican.

Như vậy, ông và tôi, chúng ta cùng nhau làm sáng tỏ cho mọi người thấy đâu là sự thật và đem lại lòng tin của người con dân Việt Nam đối với ông, vị Nguyên Thủ Quốc Gia, cũng như cách hành xử tôn trọng sự thật của Đảng và Nhà Nước CSVN.

Ngược lại, nếu sau một tháng trôi qua, kể từ hôm nay 09.07.2007, chúng tôi không được một lời minh định nào của ông trên báo NHÂN DÂN và TUỔI TRẺ, mọi con dân Việt Nam sẽ thấy được phẩm chất lời tuyên bố ở trên của ông và cho đó cũng là cách hành xử quen thuộc của Đảng và Nhà Nước CSVN do ngài lãnh đạo.

Mong ông vì quyền lợi, ước vọng và lý tưởng của dân tộc Việt Nam, hiện tại cũng như những thế hệ tương lai, cùng cộng tác giải toả những nghi ngờ, đem lại lòng tin cho đồng bào chúng ta, để xây dựng Đất Nước.

Xin thành thật cám ơn và trọng kính ông,

NGUYỄN HỌC TẬP.

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Quê Hương Tôi, Một Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa

Sự phát triển của trí tuệ loài người đã đưa dần tới kinh tế thị trường toàn cầu, đã soi sáng những sự kiện lịch sử, đã đưa chúng ta thoát dần ra khỏi những u mê về lòng ái quốc, về sự sùng tín cá nhân, về sự thần thánh hoá kẻ cầm quyền, về những khuôn vàng thước ngọc lỗi thời, về quê hương v.v…

Quê hương cũng lớn lên theo kiến thức loài người, từ xóm làng trong lũy tre xanh, quê hương bao trùm sông núi, rồi quê hương trải dài ra lục địa, ra cả quả địa cầu.

Nhưng với đa số loài người hiện tại thì quê hương vẫn là còn bé nhỏ, trong đó người ta thường có chung một nền văn hoá, một tổ chức xã hội với những luật lệ chung cho tất cả mọi người. Với tầm nhìn đó thì quê tôi hiện tại là Québec, ở trong nước Canada; và tôi là người Québec gốc Việt Nam.

Tôi được sinh ra giữa chiến tranh thế giới thứ hai ở miền Bắc Việt Nam, lớn lên ở miền Nam. Cũng với quan điểm nói trên thì quê thứ nhất của tôi là một làng ở miền bắc nước Việt Nam, tôi có cảm giác quê hương này xa dần theo thời gian, kỷ niệm cũng chẳng có bao nhiêu vì khi ra đi mới có tám tuổi. Quê thứ hai là Sàigòn với ít nhiều dấu vết của đế quốc Pháp, với ít nhiều ảnh hưởng văn hoá phương tây. Quê thứ ba là Sàigòn sau 1975, với giai cấp thống trị khác, với nền văn hoá khác, luật lệ khác, quan hệ giữa người với người khác. Quê thứ tư là Québec, Canada với đa văn hoá, đa ngôn ngữ, nhiều chủng tộc.

Mấy chục năm trước, Québec còn nghèo nàn và lạc hậu lắm, đàn bà không có quyền bầu phiếu, còn có nhiệm vụ đẻ cả chục đứa con. Trải qua một cuộc cách mạng hoà bình, không đổ máu, không có cả nước mắt, Québec bây giờ đã có một hệ thống xã hội tiên tiến, cuộc sống của từng người dân được bảo đảm, công chức thực sự là người làm công cho nhân dân (không có nạn tham nhũng, không cần khoác áo đạo đức giả như “đầy tớ của nhân dân”) chính quyền được nhân dân trực tiếp bầu lại bốn năm một lần để giữ vai trò làm trung gian cho sự cạnh tranh của kinh tế thị trường. Theo thiển ý của tôi thì xã hội ở đây cũng giống như một thiên đàng xã hội chủ nghĩa vì những lý do sau đây:

– quyền lợi của dân nghèo đã vượt xa tất cả những đòi hỏi của bản tuyên ngôn cộng sản quốc tế năm 1848.

– chính quyền ở đây là một chính quyền tiêu vong, kẻ cầm quyền không được đứng trên luật pháp, mà trái lại, luôn luôn dưới sự kiểm soát của nhân dân, của pháp luật; chính quyền ở đây bị dân kiện cáo thường xuyên, và phải bồi thường nếu làm không đúng luật lệ; báo chí bêu xấu Thủ Tướng thường xuyên; gọi bằng tên họ, chẳng hạn như Chrétien chứ không phải ngài Chrétien.

– ai ai cũng say sưa làm việc, làm hết năng lực, ăn mặc và ở theo nhu cầu,không cần phải nhân danh xã hội hay đảng phái mà chỉ để cải thiện đời sống của cá nhân mình, của gia đình mình; chưa bao giờ người ta thấy những khẩu hiệu thi đua lao động, không có ai là anh hùng lao động. Những người già yếu bệnh tật thì được quỹ an ninh xã hội lo cho đầy đủ, được cấp nhà ở theo nhu cầu. Người đi làm lương thấp thì không những được miễn thuế, lại còn được trợ cấp thêm.

– đại đa số dân chúng đều tôn trọng luật pháp, sẵn sàng bảo vệ công bằng xã hội, tham gia công tác từ thiện, bác ái v.v…

Chính quyền ở đây gồm ba cấp: chính quyền liên bang (Canada), chính quyền tỉnh bang (Québec) và chính quyền thị trấn. Mọi cấp chính quyền đều do dân bầu ra, Thủ Tướng Canada không có quyền hành gì đối với Thủ Tướng của Québec hoặc Thị Trưởng một thị trấn. Mỗi cấp chính quyền lại có ngân sách hoàn toàn độc lập do các thứ thuế khác nhau, chẳng hạn như ngân sách của mỗi thị trấn là do thuế nhà cửa trong thị trấn ấy. Chính quyền mỗi cấp chẳng qua chỉ là những người đại diện của nhân dân được bầu ra, trong mỗi nhiệm kỳ bốn năm, để quản lý ngân sách ấy để làm tròn nhiệm vụ do những người đóng thuế giao phó, chứ không phải là để cai trị người đóng thuế!!

Trước đây, Québec cũng là thuộc địa của nước Ðế Quốc Anh. Trong mấy chục năm trời, người dân ở đây từ tình trạng nghèo nàn lạc hậu tiến lên thiên đường xã hội chủ nghĩa một cách hoà bình hạnh phúc, không phải trải qua đấu tranh giai cấp bạo động, không phải trải qua căm thù giai cấp, không phải trải qua một hình thức chuyên chính nào.

Lịch sử cận đại của Québec làm cho mọi người ngạc nhiên về cuộc cách mạng bất bạo động; người dân ở đây tự hỏi tại sao ở nhiều nơi trên trái đất con người lại xây dựng xã hội bằng bạo động và căm thù? Hơn nửa thế kỷ trước, Gandhi không cần tới bạo lực mà vẫn giành được độc lập cho Ấn Ðộ khỏi tay đế quốc Anh, không biết tại sao có nơi lại phải nồi da xáo thịt để xây dựng một xã hội mới. Bạo động và căm thù có thể đem lại sức mạnh nhất thời, ngắn hạn, nhưng sẽ đưa đến những tai hại lâu dài. Bạo lực và căm thù có thể hữu hiệu khi chống ngoại xâm, nhưng đồng thời có thể đưa cảdân tộc xuống vực thẳm trong chiến tranh thế giới về ý thức hệ (chẳng hạn như thảm nạn của dân tộc Kămpuchia).

Chúng ta thử tìm hiểu tại sao Québec lại có thể từ nghèo nàn lạc hậu chuyển sang thiên đàng xã hội chủ nghĩa chỉ trong vòng có mấy chục năm.

1) Xã hội chủ nghĩa là gì?

Hiện nay người ta thường hay phân biệt chế độ nước này là dân chủ tư sản pháp trị, chế độ nước kia là phong kiến lạc hậu hay xã hội chủ nghĩa. Theo thiển ý của tôi thì từ khi có xã hội loài người, mọi xã hội đều là theo xã hội chủ nghĩa, chỉ có khác nhau là ở chỗ sản xuất, phân phối sản phẩm, là ở quan hệ giữa người với người, chẳng hạn như quan hệ giữa chủ với nô lệ, giữa vua với quần thần, giữa vợ với chồng v.v…Nói một cách khác chỉ khác nhau ở hình thức của xã hội chủ nghĩa. Ngay đối với chế độ độc tài công khai, vua chúa hay kẻ lãnh đạo cũng luôn luôn phải mang chiêu bài vì dân vì nước (nghĩa là mang chiêu bài xã hội chủ nghĩa) để giảm sức chống đối của nhân dân, hoặc để lừa gạt nhân dân.

Ngược dòng thời gian trở về thời tiền sử, con người đã biết hợp quần để có sức mạnh. Như một quy luật thiên nhiên, con người luôn luôn tìm cách để cải thiện năng suất lao động để có nhiều của cải hơn, để có cuộc sống an toàn hơn, hạnh phúc hơn. Ðể làm việc đó, sự hình thành các bộ lạc (hình thức đầu tiên của chủ nghĩa xã hội), rồi dần dần đến các quốc gia (hình thức cao hơn của chủ nghĩa xã hội) là tất yếu. Nhưng khi xã hội hình thành thì mọi hoạt động của các thành viên phải phối hợp với nhau lao động mới có năng suất, người lãnh đạo xã hội trở thành một nhu cầu căn bản trong giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người. Vì nhu cầu cải thiện đời sống giống như một quy luật thiên nhiên nên kẻ thống trị phải luôn luôn tìm cách tăng năng suất. Khi trình độ xã hội còn sơ khai (bộ lạc) thì chế độ nô lệ giúp cho người lãnh đạo dễ điều động nhân lực. Về mặt năng suất lao động thì có lợi nhưng quan hệ giữa người với người thì là sự bóc lột thô thiển nhất. Từ sự đàn áp trong nội bộ những bộ lạc đến sự cướp đoạt của bộ lạc này đối với bộ lạc khác, tới sự đô hộ của quốc gia này đối với quốc gia khác… Về hình thức thì sự đàn áp và sự cướp đoạt đều mang tính cách làm tăng nhẩy vọt năng suất lao động, nhưng về nội dung thì đó chỉ là sự tăng giả tạo (ở đây chúng ta không bàn về thiện hay ác), vì sau khi chiếm đoạt được tài sản, con người vẫn cần lao động trên tài sản đó để sản suất, vẫn cần khả năng kỹ thuật, tổ chức để sản xuất.

Sự đàn áp và sự cướp đoạt tạo nên sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa người với người trong suốt quá trình lịch sử, mang tính cách “lý của kẻ mạnh luôn luôn đúng!” hoặc “được làm vua, thua làm giặc!”. Vì vậy có người đã than rằng “lịch sử của xã hội loài người chẳng qua chỉ là chuyện của những kẻ lừa bịp và những người bị bịp, kẻ bịp bợm thì thành vua chúa, người bị bịp thì là quần chúng nhân dân!”. Ðể tăng cường sức mạnh trong việc đàn áp và cướp đoạt, con người đã tạo ra nhiều hệ thống đạo đức luân lý khác nhau, chẳng hạn như:

– Vua là con trời!

– Trai thì trung hiếu làm đầu!

– Gái thì tiết nghĩa làm câu sửa mình! v.v…

Các hệ thống luân lý đạo đức đó đã từng được dùng làm bình phong để che đậy những hành động dã man, tàn bạo nhất của loài người, một nhà tù vô hình hành hạ các tâm hồn ngây thơ vô tội:

– Ai đem lễ giáo giam em! (trích TTKH)

– Ai đem bạo lực nhấn chìm tài hoa!

Nói như vậy, không phải là phủ nhận hết mọi giá trị đạo đức trong quá khứ của con người. Ðể hiểu rõ hơn về xã hội chủ nghĩa của loài người, về giá trị của đạo đức của con người, chúng ta có thể dựa trên những nhu cầu của con người, những động lực thầm kín thúc đẩy con người tạo ra xã hội chủ nghĩa, để phân tích và xét đoán.

2) Nhu cầu của con người.

Ðể đơn giản hoá vấn đề, chúng ta có thể phân ra ba loại nhu cầu:

– nhu cầu sinh lý, chẳng hạn như ăn no, mặc ấm.

– nhu cầu vật chất, chẳng hạn như ăn ngon, mặc đẹp. Loại nhu cầu này thúc đẩy loài người tiến lên, càng ngày càng xa loài vật, nhưng đồng thời cũng đã tạo ra muôn vàn tội ác.

– nhu cầu tâm lý. Ðây là loại nhu cầu phức tạp nhất, bao gồm cả văn hoá, tôn giáo, đạo đức v.v…, bao gồm cả hỉ nộ, ái ố, tham sân si!

Ba loại nhu cầu này thường có ảnh hưởng hỗ tương, làm cho chúng tathường rơi vào mê hồn trận, thường cần có người khác chỉ đường dẫn lối.

Nhu cầu hiểu rõ những gì xảy ra chung quanh ta (một nhu cầu tâm lý) thúc đẩy con người tìm cách giải thích các hiện tượng khách quan về thiên nhiên và xã hội. Nhu cầu này đã thúc đẩy khoa học tiến lên, nhưng khi nhu cầu vượt quá khả năng của con người thì nhiều khi con người lại thay thế khả năng khoa học bằng phép lạ, bằng thần thánh; chẳng hạn như:

– thần gió, thần mưa,

– thần tài,

– v.v…

Vì nhu cầu vượt quá khả năng, thần thánh thì vô hình, lạy lục mãi không thấy ứng nghiệm, con người tìm cách thần thánh hoá những gì cụ thể như lãnh tụ chẳng hạn. Vì vậy người xưa đã có câu:

“Chim khôn tìm cành mà đậu
Người khôn chọn chúa mà thờ!!”

Ðứng trước khó khăn vô vàn của thiên nhiên và xã hội, tìm được chúa để giao tấm thân bọt bèo cũng giải quyết được những nhu cầu tâm lý thúc bách vậy!! Ðược chúa dẫn đi ăn cướp thì cũng được bữa cơm bữa cháo qua ngày!!

Cho đến ngày nay, ở những nơi kinh tế chưa phát triển, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhu cầu này cũng vẫn còn là nguyên nhân gây nên nạn sùng tín cá nhân!

Nhưng đó là một nhu cầu tâm lý của nhân dân chứ không phải của người lãnh đạo!

Nhiều người lãnh đạo đã lợi dụng nạn sùng tín cá nhân để tạo huyền thoại, thần thánh hoá bản thân mình, chẳng hạn như:

– con trời, thay trời trị nước

– cha già của dân tộc, suốt đời hy sinh vì dân vì nước

– anh hùng dân tộc ((đôi khi là thủ phạm chính trong việc cướp của, giết người của dân tộc khác) v.v…!!!

Ðể tạo trật tự xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân sản suất, xã hội chủ nghĩa nào cũng thường dùng hai phương tiện:

– pháp trị. Khi còn lạc hậu dã man thì pháp trị là treo cổ, chặt tay chặt chân, gông cùm v.v… Khi tiến bộ hơn thì dùng ghế điện, nhà cải huấn v.v…

– đức trị. Sáng kiến để qua mặt pháp trị của con người thì quá nhiều, nên trong nhiều xã hội người ta phải dùng biện pháp đức trị để bổ túc những thiếu sót của pháp trị. Chẳng hạn như việc động viên để đưa dân ra chiến trường, nếu chỉ dùng pháp trị thì không có đủ nhà tù. Ðức trị trong trường hợp này, chẳng hạn như Hitler kích động tinh thần dân tộc của người lính, thông thường có hiệu quả hơn nhiều. Biết bao nhiêu người dân lương thiện đã bị hy sinh, nhiều người lại bị cuồng hoá để từ nạn nhân trở thành kẻ phạm tội trong chiến tranh, giết người vô tội mà lại tưởng mình mang lại hạnh phúc cho dân tộc, cho nhân loại, chẳng hạn như những tên lính Khờ Me đỏ đã tiêu diệt hàng triệu dân Khờ Me.

Muốn tránh những hậu quả của sự thỏa mãn sai lầm nhu cầu tâm lý nói trên, con người có thể thay thế sự thần thánh hoá bằng khoa học. Trình độ trí thức khoa học của đại đa số nhân dân rất cần thiết cho sự thay thế này. Vấn đề xoá bỏ sự sùng tín cá nhân, sự thần thánh hoá cá nhân của một xã hội tỷ lệ thuận với trình độ trí thức khoa học của xã hội đó. Québec là một thí dụ cụ thể. Nhân dân Québec, tuyệt đại đa số là gốc Pháp theo đạo Thiên Chúa giáo. Từ mấy thế kỷ, giáo hội Thiên Chúa giáo luôn luôn có uy quyền rất lớn đối với nhân dân Québec. Ðể phản đối uy quyền, để xoá bỏ sự sùng tín cá nhân, sự thần thánh hoá các sự kiện thiên nhiên, nhân dân Québec đã sử dụng tất cả các danh từ linh thiêng, thần thánh của nhà thờ để chửi thề! và cuộc đấu tranh bất bạo động đã thành công rực rỡ! mọi uy quyền thần thánh trở thành trò cười! Cũng nên nhắc lại rằng trong quá khứ, nhiều bạo quyền đã cấm đoán đạo Thiên Chúa giáo trong xứ sở của họ, nhưng càng cấm đoán thì Thiên Chúa giáo càng mạnh hơn. Phải chăng đấu tranh bất bạo động có sức mạnh gấp ngàn lần súng đạn, tù đầy, giết chóc!!!

Một nhu cầu tâm lý khác quan trọng cho xã hội là nhu cầu an lạc của tâm hồn. Nhu cầu này chỉ được thỏa mãn khi nào con người làm việc thiện. Vì vậy ngày xưa người ta cho rằng: “nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương viễn” nghĩa là con người sinh ra bản chất là thiện nhưng vì tập thói xấu ở chung quanh nên dần dần trở thành xấu. Nhưng nếu ai cũng tốt cả thì lấy cái xấu ở đâu để bị lây! Thực ra khi những nhu cầu sinh lý quá thúc bách thì làm gì còn nhu cầu tâm lý, làm gì còn cần an lạc của tâm hồn, làm gì còn cái thiện!!!, ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt.

Nói một cách khác, người thiện là người có nhu cầu tâm lý ở trạng thái phát triển cao (cũng nên phân biệt cái thiện với cái đạo đức giả, của người phúc ta!). Những hệ thống đạo đức và luân lý trong các xã hội đã xuất hiện vì những nhu cầu này, trên nguyên tắc phải là khuôn vàng thước ngọc để chúng ta noi theo, nhưng trên thực tế thường bị xuyên tạc bởi ảnh hưởng của tình trạng xã hội mỗi thời đại, bởi những nhu cầu sinh lý và vật chất cũng như bởi những quyền lợi của giai cấp thống trị!!, và những người luôn luôn nhân danh những hệ thống đó thường lại là những kẻ đạo đức giả, ngụy biện!!

Vì vậy nhiều hệ thống đạo đức luân lý đã trở thành lỗi thời. Hiện tượng đó đã làm cho nhiều người hoang mang hoảng sợ, mất phương hướng, khủng hoảng tinh thần v.v… Thực ra bất cứ hệ thống đạo đức luân lý nào cũng có hai phần:

– phần đáp ứng được nhu cầu an lạc của tâm hồn: phần này là bản chất văn minh của loài người,

– phần đáp ứng quyền lợi của giai cấp thống trị: phần này là nguồn gốc của tội ác, nguồn gốc của sự tủi hổ của loài người!

Như vậy chối bỏ hoàn toàn các hệ thống đạo đức luân lý là chối bỏ văn minh loài người. Ngược lại, dùng các hệ thống đó để phục vụ cho quyền lợi của mình, của giai cấp mình chẳng qua chỉ là tội ác!

Nói tóm lại, vì hai nhu cầu tâm lý nói trên, trong nhiều xã hội đã xuất hiện sự sùng bái cá nhân cùng với những hệ thống luân lý và đạo đức phục vụ kẻ cầm quyền, và trở thành môi trường thuận tiện cho sự độc tài và những hành vi đạo đức giả phát triển!!

3) Người lãnh đạo và giai cấp thống trị.

Theo dòng lịch sử, xã hội loài người phát triển dần dần từ bộ lạc tới quốc gia. Trong các bộ lạc người ta có tù trưởng, trong các quốc gia thời phong kiến người ta có vua, nắm trọn quyền sinh sát trong tay. Nhưng vì vua không thể điều hành được cả xã hội nên giai cấp thống trị dần dần hình thành với mọi đặc quyền đặc lợi.

Ðể đạt tới một xã hội thanh bình thịnh vượng, mọi hành động của vua và giai cấp thống trị phải nhân danh xã hội, bằng những biện pháp mang tính cách pháp trị và đức trị như đã nói ở phần trên. Cả hai loại biện pháp này luôn luôn thay đổi theo tình trạng phát triển của từng xã hội.

Khi những biện pháp đó phù hợp với tình trạng phát triển của xã hội đương thời thì đất nước thanh bình thịnh vượng. Ngược lại thì loạn lạc, giặc giã, cướp bóc, tệ nạn xã hội khắp nơi. Những biện pháp đó lại do giai cấp thống trị quyết định và thi hành nên số phận của đại đa số nhân dân lại nằm trong tay giai cấp thống trị. Khi tình trạng xã hội suy thoái đến một mức nào đó thì trong quần chúng nhân dân lại xuất hiện những lãnh tụ mới, đứng lên hô hào nhân dân lật đổ bạo quyền. Ðược làm vua, thua làm giặc, lịch sử của nhân loại đã chứng minh điều đó.

Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã dần dần thoát khỏi cảnh ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Với ngành truyền thông hiện đại, người ta có thể thăm dò ý kiến nhân dân thường xuyên, để có thể thực hiện ao ước từ mấy ngàn năm trước: “ý dân là ý trời”. Nhiều quốc gia trên thế giới đã có thể có một chính quyền tiêu vong, nghĩa là không có người lãnh đạo và giai cấp thống trị nữa, toàn thể nhân dân đóng thuế và bầu ra nhóm người đại diện để quản lý tiền đóng thuế của mình trong vòng bốn năm một lần. Ðể tránh nguy cơ người đại diện trở thành kẻ độc tài, dân Mỹ đã cấm bất kỳ ai làm tổng thống quá hai nhiệm kỳ. Nếu nhân dân Mỹ còn mắc bệnh sùng tín cá nhân thì làm sao người ta đưa ra ánh sáng được những vụ bê bối của Bill Clinton!

Nói tóm lại sự phát triển của khoa học kỹ thuật đến một mức độ nào đó có thể giúp cho một xã hội không cần người lãnh đạo cũng như giai cấp thống trị nữa, mà chỉ cần người làm công đóng vai trọng tài cho sự thi đua kinh tế thị trường. Vì không còn giai cấp thống trị nữa nên nhà tù cũng biến chất, không còn là công cụ của chính quyền, mà là tài sản của cả xã hội dùng để bảo đảm an ninh xã hội mà thôi (một bằng chứng cụ thể là để gia tăng năng suất, có nơi người ta đã cho đấu thầu việc quản lý nhà tù).

4) Nền tảng của xã hội: năng suất lao động.

Các tổ chức phức tạp trong xã hội loài người thường làm cho chúng ta quên đi yếu tố căn bản là “năng suất lao động”. Ðể đơn giản hoá vấn đề, chúng ta có thể dùng lợi tức bình quân để thay thế “năng suất lao động trung bình” của một xã hội, chẳng hạn như hiện nay lợi tức bình quân của dân một nước phát triển cao có thể gấp trăm lần lợi tức bình quân của dân một nước phát triển thấp.

Theo dòng lịch sử thì loài người tách khỏi loài vật để đi lên nhờ sự phát triển trí tuệ để gia tăng không ngừng năng suất lao động. Mỗi khi năng suất lao động nhẩy vọt là xã hội thay hình đổi dạng. Nói một cách khác: làm gì có cách mạng xã hội nếu không có sự nhẩy vọt của năng suất lao động. Như vậy sự nghiệp cách mạng xã hội là của nhân dân, là của trí tuệ loài người chứ không thể là của bất cứ cá nhân, bất cứ đảng phái nào. Những quan hệ trong gia đình như mối liên hệ giữa cha con, vợ chồng, anh chị em luôn luôn thay đổi theo những thay đổi của năng suất lao động. Theo những tài liệu thống kê thì sự thay đổi của những mối liên hệ đó tại Québec từ năm 1970 tới năm 1990 tương đương với sự thay đổi trong 2000 năm trước. Không có một nhà lãnh đạo nào, không có một đảng phái nào, không có một chính quyền nào có thể làm được việc ấy; mà sự thay đổi ấy, sự cách mạng thực sự ấy chỉ là kết qủa tất yếu của sự gia tăng năng suất lao động. Lịch sử chính của loài người là lịch sử của những tiến bộ về trí tuệ để nâng cao năng suất lao động, chứ không phải chỉ là những chuyện dài “được làm vua, thua làm giặc”.

Lịch sử cận đại của Québec là một bằng chứng về mối quan hệ nhân quả của năng suất lao động và các mối liên hệ giữa người với người, kể cả những người cùng sống trong một mái ấm gia đình. Sự bình đẳng giữa người với người, sự liên hệ có tình cảm trong sáng, có tương kính không thể tạo bằng bạo lực, không thể tạo bằng chuyên chính; mà chỉ có thể tạo bằng sự nâng cao năng suất lao động. Khi đời sống con người còn luôn luôn bị đe dọa bởi cái đói, thì những mỹ từ như tự do, hạnh phúc, bình đẳng còn mang nhiều tính chất mỉa mai hoặc lừa gạt!

Nhu cầu cải thiện đời sống thúc đẩy loài người luôn luôn tìm cách để tăng gia năng suất lao động. Ở những thời đại khác nhau, chẳng hạn như thời đại tiền sử, thời đại đồ đá v.v…năng suất lao động hoàn toàn khác nhau và luôn luôn là nguyên nhân chính của sự hiện hữu của mỗi thời đại. Ý niệm xã hội, luân lý, đạo đức cũng thay đổi theo từng thời đại. Như vậy năng suất lao động là bản chất của lịch sử loài người. Mỗi trình độ của năng suất lao động đều cần có những công cụ sản suất, những phương thức tổ chức, những lực lượng sản suất, những liên hệ giữa những người sản suất. Và đồng thời để đảm bảo an ninh xã hội để tăng gia sản suất, con người đã sáng tạo ra những triết lý, những luật lệ, những nền luân lý đạo đức, những chủ nghĩa xã hội, chẳng hạn như nguyên tắc “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” là chủ nghĩa xã hội của hai ngàn năm trước. Tất cả những sản phẩm tinh thần đó là phản ảnh của mỗi trình độ của năng suất lao động, lại trở thành khuôn vàng thước ngọc, nghĩa là mang tính cách vĩnh cửu! Vì vậy, những sản phẩm đó dần dần trở thành lỗi thời, và cản trở sự tiến bộ của năng suất lao động, cản trở sự tiến hoá của loài người.

Quyền hành của giai cấp thống trị luôn luôn tỷ lệ nghịch với tự do của người lao động; ngược lại, năng suất lao động lại tỷ lệ thuận với tự do của người lao động. Sự gia tăng năng suất lao động sẽ dần dần mâu thuẫn với chính quyền hiện hữu để thai nghén ra một giai cấp thống trị mới phù hợp với năng suất lao động mới. Và lịch sử tiếp diễn cho đến khi sự biến đổi về lượng của năng suất lao động dẫn đến sự biến đổi về chất của xã hội, nghĩa là xã hội không còn cần giai cấp thống trị để lãnh đạo nữa. Hiện nay, tại những nước có năng suất lao động cao, của cải vật chất dư thừa, con người không còn lo âu về những nhu cầu tối thiểu như ăn no, mặc ấm, thì tất cả đặc quyền của giai cấp thống trị đã được bãi bỏ và chính quyền đang tiêu vong dần để chỉ giữ vai trò trọng tài trong sự cạnh tranh của kinh tế thị trường.

Trong quá khứ, những mơ ước cách mạng xã hội của các lãnh tụ, của các đảng phái chỉ là những phản ảnh của nhu cầu gia tăng năng suất lao động của nhân loại. Cách mạng xã hội thực sự tùy thuộc ở năng suất lao động, tùy thuộc vào việc làm hàng ngày của từng thành viên trong xã hội, chứ không tùy thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ lãnh tụ nào, đảng phái nào. Dĩ nhiên, tập đoàn thống trị nào cũng có thể phá hoại năng suất lao động, nhưng lịch sử nhân loại luôn luôn theo chiều hướng gia tăng năng suất lao động và tập đoàn nào đi ngược dòng lịch sử thì luôn luôn bị đào thải mau hơn.

Quyền hạn là sản phẩm của con người tạo ra để người này phải tuân hành quyết định của người khác. Ngày xưa để đảm bảo giá trị lâu dài của sản phẩm đó, người ta phải tạo ra một hệ thống luân lý đạo đức chẳng hạn như “trai thì trung hiếu làm đầu”, “vua là con trời, quan là cha mẹ nhân dân”. Hệ thống luân lý đạo đức đó có thể phù hợp với một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, lúc nào con người cũng nơm nớp lo đói. Trong hoàn cảnh đó, không những giai cấp thống trị cần quyền hạn mà ngay cả trong gia đình, người gia trưởng cũng cần quyền hạn!

Nhưng một khi người ta không còn lo nghĩ về vấn đề ăn no, mặc ấm; mà chỉ còn thi đua lao động để ăn ngon mặc đẹp thì xã hội không cần một giai cấp thống trị để cưỡi đầu cưỡi cổ mình nữa, gia đình cũng chẳng cần một gia trưởng, chẳng cần cả lễ giáo lỗi thời để giam cầm bất cứ tâm hồn thơ dại nào!! Những người được ưu đãi trong xã hội có thể xuất thân từ bất cứ thành phần nào với một điều kiện xã hội duy nhất là đáp ứng nhu cầu của xã hội; chẳng hạn như một đứa trẻ con nhà nghèo vì đá banh giỏi kiếm được hàng triệu đô la mỗi năm.

Québec đã thành công trong cuộc cách mạng xã hội hoà bình, đã xoá bỏ được sự thần thánh hoá các hiện tượng thiên nhiên, đã xoá bỏ được sự sùng tín cá nhân, đã xoá bỏ được giai cấp thống trị, đã thực sự đạt được sự bình đẳng giữa người với người, không những ngoài xã hội mà cả trong những gia đình (cha mẹ dậy con bằng roi vọt có thể bị nhốt tù!). Năng suất lao động trung bình ở Québec đã nhẩy vọt, nhờ tài nguyên thiên nhiên, nhờ đầu tư của nước ngoài, nhờ sự lao động của nhân dân, nhờ thành quả của sự phát triển vượt bực của khoa học kỹ thuật hiện đại, nhờ không có căm thù và bạo động!!! Québec trở thành thiên đường xã hội chủ nghĩa vì sự nhẩy vọt của năng suất lao động, chứ không phải vì những hệ thống chính trị, luân lý, đạo đức, không phải vì những đảng phái cách mạng v.v…

Sung sướng thay những người dân Québec, không cần có giai cấp thống trị để cưỡi đầu cưỡi cổ mình, không cần những lý tưởng vì dân vì nước, không cần những hệ thống luân lý đạo đức lỗi thời, không cần cả người gia trưởng nghiêm khắc trong mỗi gia đình nữa!! Ðó là quan điểm của tác giả, nhưng cũng có người lại nghĩ rằng:

Thiên đường lạnh lắm anh ơi
Nên em chỉ muốn làm người trần gian
Ðể còn trở lại Việt Nam
Khoe làng khoe xóm, giầu sang xứ người!

Phó Thường Dân

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Dân chủ và phát triển : lý thuyết và chứng cớ

“… Tuy nhiên, Giavazzi và Tabellini khám phá rằng, những quốc gia cởi trói kinh tế lẫn chính trị là khá hơn cả. …”

Từ cuộc Cách mạng Công nghiệp cuối thế kỷ 18 đến nay, thế giới đã chứng kiến hai sự kiện chưa từng có trong lịch sử : một là sự tăng vọt mức sống của con người (nói gọn là phát trỉển kinh tế) và hai là ngày càng nhiều quốc gia trở thành dân chủ. Tuy hai làn sóng này xảy ra không đồng đều mọi nơi, và thường gián đoạn, có lúc giật lùi, không thể không nghi ngờ rằng chúng có liên hệ ít nhiều với nhau. Liên hệ ấy, và nói chung là liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị, không những là quan tâm của những người hoạt động chính trị mà còn là một chủ đề học thuật hàng đầu. Trong lịch sử trí thức cận đại, có thể xem nó như “hậu thân” của cuộc tranh biện giữa «kế hoạch» và “thị trường”, và xa hơn nữa là giữa tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề có thể gút lại qua hai câu hỏi căn bản : (1) các quốc gia chuyên chế có phát triển nhanh hơn các quốc gia dân chủ ?, và (2) phát triển có sẽ đem lại dân chủ ? Rất tiếc, hai câu hỏi này thường được đặt ra không phải để thực tâm nghiên cứu một cách khách quan, khoa học, song chỉ có tính tu từ, hùng biện, với câu trả lời đã định trước, nhằm biện hộ cho một thể chế chính trị nào đó [1]. Vì không ai có thể phủ nhận phát triển kinh tế là cần thiết, người ủng hộ chuyên chế thì tìm cách chứng minh rằng các nước chuyên chế phát triển nhanh hơn (hoặc ít ra là không chậm hơn) những nước được xem là “dân chủ”. Tất nhiên, những người ủng hộ dân chủ thì khẳng định ngược lại : muốn phát triển nhanh, vững, thì phải có dân chủ [2].

Nhìn từ góc độ khoa học thì sự việc không đơn giản như vậy. Khoa học không cho phép chủ quan lựa chọn vài đặc điểm trong kinh nghiệm cá biệt của vài nước (nhất là khi kinh nghiệm ấy có nhiều cách diễn dịch khác nhau), trong một giai đoạn nào đó, rồi suy diễn (thậm chí khẳng định) cho những nước khác, trong một giai đoạn khác. Một công trình nghiên cứu chỉ có sức thuyết phục khi nó căn cứ trên một khối lượng thống kê dồi dào và khả tín, trong nhiều lãnh vực (không chỉ kinh tế) về nhiều nước, qua nhiều thời kỳ. Rồi cũng phải có những mô hình đủ quy mô, phương pháp phân tích đủ “cơ bắp” để khai thác khối dữ kiện ấy.

Nên để ý rằng liên hệ nhân quả (nếu có) giữa dân chủ và phát triển, không chỉ là từ quá khứ đến hiện tại mà còn tùy vào kỳ vọng ở hiện tại hướng về tương lai. Một thí dụ đơn giản : nếu dân chủ có ảnh hưởng đến thành tựu kinh tế thì một phần không nhỏ của ảnh hưởng này hẳn là xuyên qua những quyết định về đầu tư, tức là tùy thuộc vào kỳ vọng. Như thế, triển vọng dân chủ tương lai sẽ là một nhân tố quyết định thành tích kinh tế hiện tại. Điều này có nghĩa là, để thẩm định tác động kinh tế của dân chủ, ta phải nhìn xa hơn chế độ đương thời, xét cả đến kỳ vọng của dân chúng (thậm chí của cả giới đầu tư nước ngoài) về sự ổn định của chế độ ấy. Muốn biết kỳ vọng này thì cần những cuộc thăm dò ý kiến quy mô, hay khảo sát tác động của tin tức (qua các phương tiện truyền thông) trong sự thiết lập kỳ vọng. Tất cả đều là những thách thức vô cùng to lớn cho nhà khoa học muốn thực tâm nghiên cứu.

Công bình mà nói, cho đến khoảng những năm 1980, giới nghiên cứu khó làm gì hơn được vì “hộp đồ nghề” phân tích định lượng (như kinh lượng học) còn tương đối thiếu sót, thô sơ. Rất may, gần đây họ được hai cú hích. Cú hích thứ nhất là tiến bộ trong kỹ thuật phân tích, cách đặt vấn đề, phương pháp “xoa nắn” dữ kiện, đặc biệt là những dữ kiện không thể định lượng. Cú hích thứ hai là sự thu thập nhiều dữ liệu khá phong phú từ nhiều quốc gia, khắp các châu lục, qua nhiều năm [3]. Nhờ hai tiến bộ này, một số nghiên cứu quy mô về liên hệ giữa chế độ chính trị và thành tích kinh tế đã xuất hiện [4]. Tuy vẫn còn nhiều “khoảng trống” to lớn trong kiến thức về vấn đề này, giới học thuật đã phát hiện một số kết quả đáng lưu ý.

Hầu hết mọi nghiên cứu đều đồng ý rằng khó tìm ra câu trả lời trắng đen cho câu hỏi : liệu hể có một thể chế chính trị nào đó thì phát triển tất sẽ nhanh? Song, cũng chẳng phải là không có một kết luận rõ rệt nào cả. Điều cần thiết là phải gọt giũa câu hỏi cho có ý nghĩa khoa học, tránh những ý niệm mơ hồ, chung chung, và nhất là phải tìm những kỹ thuật thích hợp để phân tích, sàng lọc khối lượng thông tin, dữ kiện (dù không bao giờ là đầy đủ) mà, may mắn thay, giới học thuật thu thập ngày càng nhiều.

Bài này lược duyệt một số khảo cứu kinh điển về liên hệ giữa phát triển và thể chế chính trị, đặc biệt là giữa phát triển và dân chủ. Phần I tóm lược những ý kiến tạm gọi là “xưa”, đa số xuất hiện trong những năm 60, 70, 80 thế kỷ trước. Đại để, những ý kiến này căn cứ trên vài “ấn tượng” tương đối rời rạc về một số quốc gia (phần lớn là ở châu Âu) nhìn qua lăng kính kinh tế tân cổ điển và những suy luận xã hội học. Phần II tường thuật những phát hiện của Adam Przeworski (và các cộng sự) về thành tích kinh tế và dân chủ hóa. Dấu ấn của nhóm học giả này là cách họ đặt đối tượng nghiên cứu : nhìn dân chủ hóa như một tiến trình, rồi xem mức độ phát triển có ảnh hưởng gì không đến (a) sự xuất hiện, và (b) sự tồn tại, của dân chủ. Phần III tóm tắt các công trình của Francesco Giavazzi và Guido Tabellini. Hai nhà kinh tế này nêu câu hỏi : chính trị và kinh tế liên hệ với nhau ra sao trong thứ tự thời gian của “cởi trói” ? Phần IV là kết luận.

I. Những quan điểm “xưa”

Cho đến khoảng giữa những năm 1980, hầu như mọi ý kiến về liên hệ giữa phát triển kinh tế và dân chủ đều có tính giai thoại (ghi nhận chấm phá về một vài nước) và căn cứ vào khung phân tích kinh tế tân cổ điển. Ở đây, “tiếp cận tân cổ điển” có thể được hiểu là quan niệm cho rằng tiết kiệm và đầu tư (thay vì tiêu dùng) là yếu tố quyết định của tăng trưởng. (Nói cách khác, trong tiếp cận này, vai trò của lịch sử, điạ lý, thể chế, giáo dục, v.v., trong tăng trưởng chưa được để ý nhiều như ngày nay). Như vậy, theo những người có ý kiến này, “dân chủ” sẽ giảm tốc tăng trưởng bởi lẽ, trong thể chế ấy, (a) người có thu nhập thấp, là đa số, sẽ đòi phân bố tài sản từ người giàu (có khuynh hướng tiết kiệm và đầu tư cao) sang người nghèo (có tiết kiệm và đầu tư thấp), và (b) nhà nước sẽ bị áp lực của đông đảo cử tri sử dụng ngân sách cho những tiêu dùng ngay hiện tại, thay vì đầu tư cho tương lai.

Có thể phân biệt hai dòng ý kiến (không hẳn là trái ngược nhau). Dòng thứ nhất xuất phát từ khẳng định rằng phát triển sẽ đem lại dân chủ, hoặc nói khác hơn, chuyên chế không thể tồn tại trong một xã hội đã phát triển. Dòng thứ hai cho rằng phát triển cần chuyên chế.

1. Phát triển sẽ đem lại dân chủ ?

Ý kiến cho rằng kinh tế phát triển sẽ từng bước tạo nên các định chế dân chủ, cuối cùng là dân chủ toàn bộ, thường dựa vào năm lập luận chính.

Thứ nhất, phát triển kinh tế sẽ bành trướng giai cấp trung lưu, có học. Khi đủ lớn, thành phần này sẽ đòi hỏi dân chủ, và chính họ sẽ là chỗ dựa cho chế độ dân chủ ấy. Seymour Martin Lipset (1959) có lẽ là học giả đầu tiên đưa ra lý giải này. Theo ông, dân chủ vừa là một hậu quả, vừa là một nhân tố của phát trỉển kinh tế.

Thứ hai, phát triển kinh tế sẽ ảnh hưởng đến tư duy của đa số trong xã hội : hướng tư duy ấy về cá nhân thay vì tập thể, tăng ý thức về cái riêng, về tự do cá nhân và quyển tự quyết. Nói cách khác, phát triển kinh tế sẽ khơi dậy những “giá trị chính trị” (political values) lấy cá nhân làm gốc. Theo những người có ý kiến này, những giá trị ấy là mầm móng của dân chủ.

Thứ ba, kinh tế phát triển sẽ nâng cao dân trí. Khi biết rõ hơn về cơ cấu chính trị, ý thức hơn về quyền lợi và quyền hạn của họ, người dân sẽ bảo vệ quyền của họ tích cực hơn, theo những đường lối có hiệu quả hơn. Đó là dân chủ.

Thứ tư, phát triển sẽ làm giàu khu vực tư, tăng cường khả năng khu vực này trong các hoạt động độc lập, không lệ thuộc vào nhà nước, tăng sức nặng của xã hội dân sự như một đối trọng đối với khu vực công. Hơn nữa, khi đời sống ngươì dân càng sung túc thì xã hội càng hài hoà, giảm đi những đòi hỏi tái phân bố của cải, dân chủ nhờ thế mà ổn định hơn.

Thứ năm, vì phát triển thường đòi hỏi mở cửa kinh tế, một quốc gia phát triển cũng là một quốc gia nhiều tiếp xúc với thế giới về văn hóa, xã hội cũng như chính trị. Sự giao lưu này sẽ làm thông thoáng hơn các luồng thông tin mà chính quyền chuyên chế khó kiểm soát, đồng thời kềm hãm sự chuyên chế ấy qua áp lực của các đối tác quốc tế.

Về mặt kiểm nghiệm, những công trình theo chân Lipset thường bị chỉ trích là có giá trị khá hạn chế vì chúng chỉ dùng những dữ kiện về mức thu nhập của nhiều nước vào cùng một thời điểm. Lipset cũng nhìn nhận rằng ý kiến của ông là rút từ kinh nghiệm của Tây Âu, và có thể không đúng cho nơi khác.

2. Phát triển có cần chuyên chế ?

Khác với quan điểm trên đây (cho rằng dân chủ là hậu quả tất nhiên của phát triển kinh tế) là quan điểm cho rằng các chính sách kinh tế sẽ có hiệu quả hơn dưới chế độ chuyên chế. Có thể nói rằng theo quan điểm này thì dân chủ là một xa xí phẩm, chỉ nên có khi quốc gia đã phát triển [5].

Dân chủ bị cho là không thuận lợi cho phát triển vì nhiều lý do. Một là, quyền sở hữu (property rights) của người giàu sẽ không được đảm bảo, bởi lẽ người nghèo, là đa số, có thể dùng lá phiếu của họ để đòi phân chia tài sản. Hai là, hoạt động chạy chọt (rent seeking) của các hội đoàn tranh giành quyền lợi (special interest groups), qua các vận động chính trị với các đảng phái, các cơ quan chính phủ, chẳng những sẽ làm phung phí nguồn lực quốc gia mà còn bóp méo chính sách nhà nước. Ba là, bị áp lực của cử tri, các chính phủ dân chủ sẽ chi tiêu quá mức cho hiện tại thay vì đầu tư cho tương lai [Galenson (1959), Schweinitz (1959), Huntington (1968, 1975)].
Chuỗi nhân quả được mô tả như sau : (1) người có thu nhập thấp muốn tiêu dùng ngay, (2) khi lao động có tổ chức (thành công đoàn) thì họ sẽ “đẩy” lương lên, giảm lợi nhuận cho giới kinh doanh, làm nãn lòng người đầu tư, (3) áp lực của cử tri sẽ làm nhà nước có khuynh hướng phân phối thu nhập ra khỏi đầu tư (hoặc là đánh thuế nguời giàu thật nặng để phân phát cho người nghèo, hoặc là tiêu ít hơn vào các dự án đầu tư công), (4) đầu tư thấp đi thì sẽ giảm tốc tăng trưởng.

Những ý kiến trên đây dựa vào giả định căn bản : (i) vốn vật thể là nhân tố cốt lõi của tăng trưởng ; (ii) chính quyền do dân bầu thường bị áp lực phải tiêu xài cho hiện tại [6]. Đây là những giả định không phải luôn luôn đúng vì ngoài vốn vận thể còn có những yếu tố khác cần thiết cho phát triên (ví dụ sự trong sạch của thể chế) mà chuyên chế thường không có, và chưa chắc là chính phủ dân cử nào cũng thiển cận vung vãi tiêu xài thay vì chắt bóp để đầu tư. Hơn nữa, ý kiến cho rằng phát triển sẽ nhanh hơn trong chuyên chế so với dân chủ là dựa vào những lập luận tiêu cực thay vì tích cực. Những người đưa ý kiến này không viện dẫn ưu thế (dù là chỉ theo họ) của chuyên chế mà chỉ vạch ra những nhược điểm (theo họ) của dân chủ [7]. Để thấy một lỗ hổng của lập luận ấy, chỉ cần hỏi : Dù dân chủ quả có ba nhược điểm nói trên, có gì bảo đảm rằng chuyên chế không có những nhược điểm ấy ?

Xem vấn đề bảo đảm quyền sở hữu chẳng hạn. Trong chuyên chế thì tư pháp và lập pháp đều trong một tay nhóm nhỏ, họ có toàn quyền đánh thuế, sung công, bội tín trong các nghĩa vụ tài chính. Thực vậy, lịch sử cho thấy hầu hết các chế độ chuyên chế đều có khuynh hướng lấy của công làm của riêng. Sao có thể cho rằng quyền sở hữu sẽ được đảm bảo hơn trong chế độ ấy ? Ví dụ nữa : Để giữ quyền lực, các lãnh tụ độc tài thường ban phát đặc quyền, đặc lợi cho thuộc hạ (độc quyền kinh doanh, trợ cấp, miễn thuế). Như vậy, hoạt động chạy chọt – và những lãng phí của nó đâu phải là không có trong chế độ chuyên chế ?

II. Phát triển kinh tế và sự bền vững của dân chủ

Cùng mục đích xác định tương quan giữa dân chủ và phát triển nhưng Adam Przeworski [8] nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác những người đi trước. Ông cũng muốn biết chế độ chính trị có ảnh hưởng đến thành tích kinh tế hay không, và ra sao, nhưng ông nghĩ rằng vấn đề ấy không thể tách rời khỏi câu hỏi : Phát triển kinh tế có ảnh hưởng gì đến sự xuất hiện và tồn tại của các chế độ chính trị ?

Theo Przeworski, chỉ sau khi xem chế độ chính trị xuất hiện trong hoàn cảnh nào và tồn tại ra sao, thì mới có thể phân biệt được (1) đâu là ảnh hưởng của thực trạng xung quanh một chế độ chính trị, và (2) đâu là tác động của chính chế độ ấy. Nói cách khác, theo Przeworski, phải tách hai câu hỏi ra khỏi nhau : (1) kinh tế phát triển có đẫn đến dân chủ không? và (2) dân chủ có giúp phát triển nhanh hơn không ?

A. Lỗi lầm thường gặp

Przeworski lưu ý ba điểm chính :

Một là, mỗi nước một khác, mỗi thời một khác, không thể so sánh nước này với nước nọ, giai đoạn này và giai đoạn kia. Chính Przeworski đưa ra ví dụ : vào năm 1985, Mali là một quốc gia độc tài, có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp (5,35%), song không thể kết luận rằng nếu năm ấy Mali là dân chủ thì sẽ tăng trưởng nhanh hơn, vì đâu có quốc gia nào giống hệt Mali, nhưng dân chủ, để so sánh ? Cũng năm ấy thì nước Pháp (quả là dân chủ) chỉ tăng trưởng với tốc độ 1,43% ! Ai dám bảo rằng nếu Pháp là độc tài thì sẽ tăng trưởng nhanh hơn [9] ? Nói chung, theo Przeworski, dù có thấy rằng, vào một thời điểm nào đó, đa số nước nghèo là độc tài và đa số nước giàu là dân chủ, cũng chưa thể kết luận rằng tăng trưởng là nhanh trong dân chủ hơn trong độc tài. Tốc độ tăng trưởng của một quốc gia tùy thuộc vào xã hội, lịch sử, địa lý… của quốc gia ấy, không nhất thiết là hậu quả của chỉ những gì mà chính phủ nước ấy đang làm.

Hai là, nếu không nhìn vào diễn biến trong khoảng thời gian dài thì khó tránh những kết luận sai lầm. Ví dụ các quốc gia dân chủ dễ bị chao đảo khi có khủng hoảng kinh tế (mà nguyên nhân có thể là do tác động từ ngoài), còn các quốc gia độc tài thì ổn định hơn. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng “ngược đời” là dân chủ có vẻ tăng trưởng nhanh hơn ! Song (theo Przeworski) ta thấy như vậy chỉ vì các chính thể dân chủ thường bị sụp đổ khi kinh tế gặp khó khăn, và trở thành độc tài, có khả năng tồn tại, có thể sống được trong hoàn cảnh khó khăn ấy. Nói cách khác, chế độ độc tài bị “mang tiếng” (trong trường hợp này) là làm chậm phát triển có thể chỉ vì nó kế thừa một nền kinh tế đã trên đà suy thoái.

Ba là, hãy nghĩ đến trường hợp có một yếu tố nào đó (tạm gọi là yếu tố X), tuy không hiển hiện thường xuyên, đều đặn, song tác động đến chế độ chính trị lẫn tốc độ tăng trưởng. Giả dụ yếu tố X là sự “sáng suốt”, nhìn xa thấy rộng của cấp lãnh đạo, và vì sự sáng suốt ấy mà cấp lãnh đạo vừa chọn dân chủ, vừa có những chính sách phát triển kinh tế hữu hiệu. Trong trường hợp này, nếu kết luận rằng tăng trưởng nhanh là nhờ dân chủ, thì quả là sai, bởi vì sự thành công kinh tế ấy là do yếu tố X, không phải do dân chủ.

Tóm lại, một phân tích khoa học phải phân biệt bối cảnh (kinh tế, xã hội, lịch sử…) xung quanh một chế độ, và sự thành bại của chế độ ấy. Muốn như vậy, cần xem : trong tình huống nào mà chế độ xuất hiện, và hoàn cảnh nào mà chế độ vẫn tồn tại, hoặc sụp đổ. Chỉ khi biết rõ như thế thì mới có thể xác minh thành tích kinh tế nào là do thể chế chính trị, thành tích nào là do các yếu tố khác. Đây là một bài toán phân tích cực kỳ khó khăn, may là James Heckman (1976, 1988) đã phát minh nhiều thủ thuật kinh lượng để làm việc này.

B. Kết quả của Przeworski

Przeworski phát hiện một điều nổi bật : chế độ chính trị không ảnh hưởng đến suất đầu tư và tốc độ tăng trưởng của tổng thu nhập cả nước. Tuy nhiên, vì dân số thường tăng nhanh hơn trong các quốc gia độc tài [10], thu nhập đầu người thường tăng nhanh hơn trong các nước dân chủ. Przeworski kết luận : không có lý do nào để hy sinh dân chủ cho phát triển.

Năm phát giác khác của Przeworski cũng đáng để ý :

(a) Không có bằng cớ nào cho thấy phát triển kinh tế bao giờ cũng đem lại dân chủ. Đặc biệt, nếu một quốc gia đã khá giàu có mà vẫn là độc tài thì ít khi quốc gia ấy sẽ trở thành dân chủ.

(b) Tuy đa số các nước giàu hiện nay là dân chủ, không có một mức thu nhập nào mà hể trên mức ấy là độc tài sẽ sụp đổ, dân chủ sẽ xuất hiện.

(c) Cũng không rõ ràng là tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng, hay không, đến sự bền vững của chuyên chế. Trung bình, khả năng tồn tại của chính quyền độc tài trong một nền kinh tế đang tăng trưởng thì cũng ngang bằng khả năng mà chế độ ấy tụt dốc trong một, hai, hoặc ba năm. Vài chế độ độc tài sụp đổ sau nhiều năm tăng trưởng liên tục, song cũng có chế độ độc tài sụp đổ sau nhiều năm kinh tế suy sụp liên tục.
(d) Vì không đủ thông tin, khó xác định ảnh hưởng của phân phối thu nhập. Tuy nhiên, dường như độc tài càng dễ sụp đổ khi phân bố thu nhập càng chênh lệch.

(e) Khi đem yếu tố khác (ví dụ như quá khứ chính trị, sự đa dạng ngôn ngữ, tỷ lệ các tôn giáo chính, và truyền thống thuộc địa) vào mô hình thì kết quả cũng không rõ rệt gì hơn.

Przeworski nhận xét : các chế độ độc tài «chết» trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đôi khi nó sụp đổ khi kinh tế khủng hoảng, lúc khác thì sau một thời kỳ thịnh vượng lâu dài. Nhiều khi thì độc tài chết theo người sáng lập ra nó, lúc khác thì độc tài chấm dứt khi một quốc gia bị thất trận. Và cũng có khi độc tài sụp đổ vì áp lực quốc tế.

Sự bền vững của dân chủ

Przeworski khám phá rằng dù xuất hiện qua lộ trình lịch sử nào, dân chủ cũng bền vững hơn trong các nước đã phát triển. Đặc biệt, chưa hề có một nền dân chủ nào sụp đổ khi thu nhập đầu người vượt trên ngưỡng 6.000 USD/năm (đo bằng đô la năm 1965). Giáo dục (đo theo số năm đến trường) cũng làm dân chủ bền vững hơn. Tuy nhiên, dù giáo dục và thu nhập có tương quan khá chặt chẽ, Przeworski đã có thể xác định là ảnh hưởng của giáo dục không mạnh bằng ảnh hưởng của thu nhập đối với sự tồn tại của dân chủ. Nôm na : nước giàu mà dốt thì dân chủ khó sập hơn nước có học nhưng hơi nghèo !

Przeworski cũng phát giác rằng khó xác định ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến sự tồn vong của dân chủ. Đúng là dân chủ yếu và thu nhập trì trệ là hai hiện tượng thường đi đôi, song khó biết là dân chủ thoi thóp vì nó không hiệu quả, hoặc nó không hiệu quả vì (dân chúng cảm thấy là) nó sắp không còn ?

Tuy rằng giáo dục, phân bố thu nhập, định chế chính trị, và tương quan giữa các lực lượng chính trị đều có vài ảnh hưởng đến sự bền vững của dân chủ độc lập với thu nhập đầu người, ảnh hưởng của mức độ thu nhập là lớn nhất.

Przeworski (2002) lý giải như sau. Ở các nước giàu, mọi người đều ủng hộ dân chủ bởi lẽ nếu chống nó thì có thể mất mát rất nhiều. Ở các nước nghèo thì trái lại : của cải xã hội không có là bao, cho nên nhóm nào chống lại dân chủ, dù bị thất bại, cũng không có gì nhiều để mất. Ở các nước nghèo, thu nhập của những người dưới ách độc tài cũng không thấp hơn thu nhập của những người sống trong dân chủ (dù họ có thắng cử hay không). Ở nước giàu thì khác : khoảng chênh lệch thu nhập giữa những người trong phe thất cử (trong dân chủ) và những người bị đàn áp trong chế độ độc tài là rất lớn. Ví dụ ngay như một nhóm nào đó hi vọng là thu nhập của họ khi quay chống dân chủ sẽ là cao hơn trong dân chủ, cái “cơ may” là họ sẽ là bên bại trận sau khi độc tài thiết lập là rất lớn (trong xã hội phồn thịnh) và do đó họ sẽ ngại chống dân chủ. Nói chung, theo lập luận của Przeworski, thu nhập càng cao thì cái có thể bị mất mát càng lớn, do đó ngay đến nhóm luôn luôn thất cử cũng thà chấp nhận kết quả bầu cử còn hơn. Chính thái độ tránh rủi ro (risk aversion) là động cơ khiến mọi người các nước trù phú tuân theo kết quả bỏ phiếu [11].

Przeworski tóm tắt : Lý do các nước dân chủ thường là các nước kinh tế phát triển, và ít khi là các nước nghèo, không phải vì dân chủ thường xuất hiện như là hậu quả của phát triển, song vì nó có hi vọng sống lâu hơn nếu nó may mắn xuất hiện trong quốc gia đã phát triển. Đúng là lộ trình mà dân chủ xuất hiện là rất đa loại, khó thể tiên đoán, nhưng, một khi nền dân chủ đã thành hình thì sự tồn tại của nó tùy thuộc vào một số yếu tố rất dễ thấy. Đứng đầu danh sách các yếu tố ấy là mức độ phát triển kinh tế, như được đo bằng thu nhập đầu người. Các định chế chính trị cũng có ảnh hưởng.

C. Đánh giá Przeworski

Một chỉ trích Przeworski và Limongi (xem Lời Dẫn Nhập của Bhardan trong Journal of Economic Perspectives, 1993) là hai ông này chỉ dùng thu nhập làm thước đo tăng trưởng. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy là thu nhập có ảnh hưởng (dù không lớn) đến dân chủ. Chẳng hạn như Londregan và Poole (1996) cho biết nếu tăng thu nhập gấp đôi thì sẽ tăng “mức độ dân chủ” của các chế độ chuyên chế khoảng 30% nếu nước ấy là chuyên chế “vừa phải” (moderately authoritarian), nhưng nếu nước ấy là cực kỳ chuyên chế thì tăng gấp đôi thu nhập như thế chỉ tăng mức dân chủ chừng 5-15% mà thôi. Và nếu nước ấy đã tương đối phóng khóang thì tăng đôi thu nhập không tăng thêm mức độ dân chủ.

Cũng nên kể thêm là kết quả của Barro (1996, bản thảo 1994) cho thấy là liên hệ giữa dân chủ và phát triển có thể có dạng chữ U ngược : Tăng trưởng là chậm nhất ở các quốc gia thiếu tự do nhất. Ở những nơi này, nếu thêm dân chủ một chút là tăng trưởng tăng thấy rõ, đạt đến cao đỉnh vào khoản thu nhập trung bình. Và ảnh hưởng này yếu đi khi dân chủ tăng lên ở các quốc gia thu nhập cao hơn thêm.

III. Cởi trói kinh tế và cởi trói chính trị

Như đã lược thuật ở Phần I, phần lớn ý kiến “xưa” về liên hệ giữa thể chế chính trị và phát triển đều dựa vào nhận định đơn giản : muốn phát triển thì cần đầu tư, vậy chế độ nào có tác động tăng đầu tư thì sẽ tốt cho phát triển. Nhận định này ngày càng bị cho là thiếu sót. Những năm gần đây manh nha một lối nhìn khác, với nhận định là phát triển cần cả một định chế chính trị thuận lợi, không chỉ ở mức độ đầu tư. Do đó, muốn biết liên hệ giữa ảnh hưởng của chế độ chính trị đến phát triển thì phải xem ảnh hưởng của chế độ ấy đến các định chế cần thiết cho phát triển (xem thêm Rodrik, 2004). Các định chế ấy gồm (1) luật pháp bảo vệ quyền sở hữu, (2) luật phát bảo vệ tự do cá nhân (vì tự do ấy được xem như cần thiết để thúc đẩy óc sáng tạo và tinh thần kinh doanh), và (3) những cơ chế “kiềm chế và đối trọng” (checks and balances) để ngăn ngửa tham ô, lấy của công làm của riêng, thường thấy ở các quốc gia chuyên chế.

Francesco Giavazzi và Guido Tabellini định nghĩa “cởi trói kinh tế” như là những cải cách toàn diện để nới rộng thị trường, nhất là thị trường quốc tế, và dùng cụm từ “cởi trói chính trị” như đồng nghĩa với dân chủ hóa.

Trong một loạt bài từ đầu những năm 2000, hai nhà kinh tế ngưới Ý này đặt bốn câu hỏi :

(1) Cởi trói kinh tế và cởi trói chính trị có ảnh hưởng đến thành tích kinh tế (chẳng hạn như tăng trưởng và đầu tư), đến chính sách vĩ mô (chẳng hạn như lạm phát và ngân sách), và chính sách cơ cấu (ví dụ như bảo vệ quyền sở hữu và kiềm chống tham nhũng) hay không ?

(2) Có quả là cởi trói kinh tế khích động (induce) cởi trói chính trị, hoặc ngược lại ? Hoặc hai loại cởi trói ấy không dính dáng gì đến nhau ?

(3) Hai loại cởi trói này tương tác qua lại ra sao (hiệu quả của hai loại cởi trói, nếu thực thi cùng lúc, có lớn hơn tổng cộng của chúng nếu thực hiện riêng rẽ ?)
(4) Thứ tự thời gian của hai đợt cởi trói ấy (đợt nào trước, đợt nào sau) có quan hệ gì không ? Nói cách khác, nếu một nước đang “đóng cửa”, và không dân chủ, quyền định “mở cửa” trong cả hai lãnh vực, thì khởi điểm của nước ấy có quan hệ gì không ?

Tất nhiên, đây không phải là lần đầu tiên mà các câu hỏi ấy được đặt ra (ngay cả Przeworski và Limongi cũng đã đề cập đến chúng), song trước Giavazzi và Tabellini (và Persson cũng có đóng góp) thì hầu như tất cả đều phân tích hai loại cởi trói đó riêng rẽ, bỏ mất cơ hội xem xét ảnh hưởng qua lại giữa chúng.

Cởi trói nào trước ?

Tiên nghiệm (a priori) thì chiều nhân quả nào cũng là có thể : Thương mại có khuynh hướng đem lợi ích cho đa số và chỉ tổn hại thiểu số, vậy có thể là số đông (trong dân chủ) sẽ “đẩy” tự do thương mại (nhiều kết quả thực nghiệm xác nhận điều này). Song cũng có thể là một nền kinh tế cởi trói sẽ tạo sức ép “đẩy” chính trị về phía dân chủ, chẳng hạn vì nó tăng sức mạnh và quyển lực (kinh tế) của giới trung lưu (như quan điểm “xưa”, nói ở Phần I). Theo Giavazzi và Tabelllini thì chiều nhân quả có khuynh hướng đi từ chính trị đến kinh tế thay vì ngược lại (nói nôm na, đừng tưởng là dân giàu thì sẽ đòi dân chủ !).

Những quốc gia mà cải cách kinh tế đi trước dân chủ gồm : Hàn Quốc, Đài Loan, Chile, Mexico. Ngươc lại thì có thể kể : Argentina, Brazil, Philippin và Bangladesh. Theo kết quả của Giavazzi và Tabellini, những quốc gia cải cách “kinh tế trước, chính trị sau” có những thành tích tốt hơn. Cụ thể :

(1) Thứ nhất, cởi trói kinh tế bởi một chính quyền chuyên chế có công hiệu hơn bởi một chính quyền dân chủ. Có hai bằng cớ. Một là, khi nhà nước chuyên chế cởi trói kinh tế thì kim ngạch ngoại thương sẽ tăng nhiều hơn khi nhà nước đó đã là dân chủ. Hơn nữa, khi nhà nước đó trở thành dân chủ sau này thì mức tăng đó cũng còn kéo dài hơn. Hai là, nếu cởi trói kinh tế trước (khi chính trị vẫn còn là chuyên chế) thì lạm phát sẽ giảm nhanh hơn.

Theo Giavazzi và Tabellini, sự khác biệt về mức công hiệu (và ảnh hưởng đến ngoại thương) nói trên có thể là vì nội dung các chính sách kinh tế vĩ mô. Khi một chính quyền chuyên chế ban bố thì nội dung này là khác khi nhà nước dân chủ ban bố. Xem vấn đề mở cửa kinh tế chẳng hạn. Những nước dân chủ, khi mở cửa kinh tế, cũng còn đặt nhiều rào cản thương mại (vì bị áp lực của các thành phần kinh tế “nạn nhân” của mở cửa). Trong lúc đó, dù rằng các nước chuyên chế thường ít mở cửa hơn, song khi mở cửa thì họ không bị áp lực của các “nhóm lợi ích” (interest group) trong nước, và do đó ít có rào cản thương mại hơn.[12]

(2) Thứ hai, dân chủ hóa được tiến hành trong một không khí kinh tế “tự do” sẽ đem đến một nền dân chủ “tốt” hơn. Có nhiều cách giải thích hiện tượng này.

Giải thích thứ nhất là, khi một chế độ chuyên chế chính trị cởi trói kinh tế thì chẳng những tăng trưởng nhanh hơn mà môi trường cũng có nhiều cạnh tranh hơn. Nhờ thế, khi quốc gia ấy truất phế nhà độc tài và trở thành dân chủ thì nó sẽ là một nền dân chủ tốt hơn bởi hai lý do. Một là, nó đã sẳn mở cửa cho thương mại và cạnh tranh, và hai là, nhờ đã phát triển khá, quốc gia ấy có đủ nguồn lực để phân phối cho dân chúng, một điều mà mọi chính thể dân chủ đều cần làm. Mặt khác, một nền dân chủ phôi thai, trong một nền kinh tế còn tương đối đóng kín, sẽ dễ bị tê liệt do các thế lực đòi phân bố thu nhập, và sẽ đi quá xa trong những chính sách thoả mãn quần chúng (populist policies), có tính lãng phí.
Giải thích thứ hai là, có thể chính sự cởi trói kinh tế trước cởi trói chính trị là lộ trình do một lãnh tụ nhìn xa thấy rộng định trước. Trái lại, khi dân chủ hóa đến trước thì nó thường là hậu quả của một cuộc cách mạng (hay đảo chánh) đột ngột, có tính xáo trộn. Như vậy, nó thường đi kèm với những xáo trộn kinh tế.

Tóm tắt, cởi trói kinh tế sẽ có hậu quả tốt về mọi mặt, bởi vì nó sẽ đưa đến những chính sách tốt về cơ cấu cũng như về những mặt vĩ mô. Cởi trói chính trị, trái lại, không có ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng và đầu tư, dù có vẻ tăng chất lượng của các chính sách cơ cấu. Ảnh hưởng của cởi trói chính trị đến chính sách vĩ mô thì có khi tốt, khi xấu. Tuy nhiên, Giavazzi và Tabellini khám phá rằng, những quốc gia cởi trói kinh tế lẫn chính trị là khá hơn cả.

Persson and Tabellini (2006) đề nghị ý niệm “vốn dân chủ” (democratic capital) mà họ giải thích như sau. Sự cảm nhận của dân chúng đối với giá trị của dân chủ không phải ngày một ngày hai mà có. Trái lại, nó là một tiến trình dần dần, từng bước, như là tích lũy “của cải” dân sự và xã hội, khi mà quốc gia ấy học được từ kinh nghiệm của chính họ cũng như kinh nghiệm của các nước láng giềng.

IV. Kết luận

Cần khẳng định rằng những nghiên cứu định lương (hay cố gắng về hướng đó) như lược duyệt trong bài này không nhất thiết sẽ là gần “chân lý” hơn những phân tích không định lượng [13]. Tuy nhiên, khảo hướng này vạch trần những khó khăn trong việc tim hiểu những liên hệ phổ quát giữa dân chủ và phát triển, những khó khăn mà mọi nghiên cứu khách quan, khoa học, cần lưu tâm và khắc phục.

Dù rằng liên hệ giữa phát triển kinh tế và thể chế chính trị (cụ thể là dân chủ) đã được nhiều người khẳng định (và là một cương lĩnh tuyên truyền của nhiều chính phủ), cho đến nay chứng cớ khoa học cho liên hệ này vẫn chưa rõ ràng và, theo tôi, sẽ không thể rõ ràng, vì có quá nhiều thông số. Nó hết sức phức tạp, tùy vào thể chế, lịch sử cuả quốc gia và, thật vậy, vào chính mức độ phát triển hiện tại của quốc gia ấy nữa. Ngay từ căn bản : thế nào là phát triển, và thế nào là mức độ dân chủ, cũng khó có một thước đo mà mọi người đều đồng ý, và như Tabellini và Giavazzi nhấn mạnh, mỗi hình thức dân chủ (dân chủ đại nghị, dân chủ tổng thống, v.v.) có những hậu quả khác nhau.

Nhưng đặt câu hòi về liên hệ giữa dân chủ và phát triển (như đo bằng mức thu nhập) có thể là quá hẹp hòi, bởi vì “dân chủ” phải đuợc xem như một phương tiện để thực hiện những ao ước khác của con người, đó là sống một cuộc đời mà khả năng được phát triển toàn vẹn. Đó là tự do.

Người phân tích sâu sắc nhất về tự do và phát triển có lẽ là Amartya Sen (1999). Theo ông, sự bành trướng tự do [14] là (1) mục tiêu bậc nhất (primary end) và (2) phương tiện chính (principal instrument) của phát triển. Có thể gọi vai trò thứ nhất của tự do là vai trò thành tố, và vai trò thứ hai là vai trò công cụ. Theo Sen, phát triển, chính nó, có thể được xem như là một tiến trình mở rộng tự do cho con người, nói cách tổng quát. (Nên nhớ là trong vai trò công cụ, tự do có nhiều loại (a) tự do chính trị, (b) tự do kinh tế, (c) cơ hội thăng tiến trong xã hội, (d) bảo đảm tính minh bạch (transparency guarantees).) Như vậy, theo Sen, câu hỏi thật sự quan trọng là liên hệ giữa tăng trưởng và tự do, không phải giữa dân chủ và phát triển. Và nếu hỏi như vậy thì, theo Sen, câu trả lời thật quá rõ ràng : tự do sẽ gia tốc tăng trưởng, và tăng trưởng sẽ nới rộng tự do (cụ thể là không còn bị đe dọa bởi đói khát, có nhiều cơ hội học hành…) [15].
Tách rời dân chủ và phát triển (không phủ nhận, cũng không khẳng định) như hai mục tiêu khác nhau còn giúp “giải phóng” nhà khoa học khỏi những thiên kiến ngoài kinh tế. Cần tập trung vào những yếu tố không thể phủ nhận (1) tham nhũng, lãng phí, bất công xã hội chắc chắn sẽ làm trì trệ phát triển, và (2) “tự do” có một giá trị to lớn, tự tại, biệt lập với phát triển kinh tế. Cũng nên thêm một nhận xét : dù có cho rằng dân chủ sẽ có lợi cho phát triển, lộ trình dân chủ hóa của một quốc gia không đang là dân chủ tuỳ thuộc vào bối cảnh lịch sử, xã hội, và chính trị cá biệt của quốc gia ấy. Hoặc có cho rằng dân chủ và phát triển là hai mục tiêu đánh đổi, thì vấn đề tiếp theo sẽ là thể chế nào là tốt nhất để làm quyết định đánh đổi này.

Trần Hữu Dũng (© Thời Đại Mới)
Department of Economics, Wright State University, Dayton, OH 45435, USA.
(Bài này được viết lại theo báo cáo tại Hội Thảo Hè “Dân chủ và phát triển”, 28-29 tháng 7, 2006, tại Berkeley, California (Hoa Kỳ).

Chú thích:

[1] Trong số này cũng có thể kể một bài báo khá nổi tiếng gần đây, tuy có nhiều nhận xét mới lạ và hữu ích, nhưng khá phiến diện và không có tính học thuật cao, đó là bài của De Mesquita và Downs (2005). Đúng ra, hai tác giả này chỉ là áp dụng lý thuyết của Chong (1991) và Chwe (1998, 2001) cho “thời đại Internet”.

[2] Tuy nhiên, cũng có nhiều người không đồng ý là phát triển là cần thiết, thậm chí dân chủ cũng là không cần thiết. Xem, chẳng hạn, Gordon Graham, The case against the democratic state, Imprint Academic, 2002. Về vấn đề phát triển có thực sự đem lại hạnh phúc cho con người không, xem, chẳng hạn, Richard Layard, Happiness : Lessons from a new science, Penguin, 2006.

[3] Đó chưa nói đến cac máy tính điện tử ngày càng mạnh và rẻ.

[4] Hai bài “mở đường” cho những tiến bộ này là Lucas (1988) và Barro (1991), nhưng công trình có ảnh hưởng nhất phải là Barro (1996) – tuy được in năm 1996 nhưng bản thảo đã được giới học giả chuyền tay nhau xem từ đầu thập kỷ 1990.

[5] Điển hình là Galenson (1959), Schweinitz (1959), La Palombara (1963), Huntington và Nelson (1976).

[6] Một giả định nữa là thu nhập càng thấp thì khuynh hướng tiêu dùng càng cao. Giả định này giải thích tại sao dân chủ là có thể đi đôi với tăng trưởng khi mức thu nhập (bình quân) đã là cao, nhưng không như vậy khi thu nhập (bình quân) còn là thấp.

[7] Xem, chẳng hạn, Minxin Pei (1999).

[8] Giáo sư chính trị học, đại học New York.

[9] Quốc gia độc tài trù phú nhất giữa 1951 và 1990 là Singapore, có thu nhập đầu người là 11.698 USD, tức là cũng không giàu bằng Pháp.

[10] Đây là một sự thật mà tôi chưa thấy ai giải thích.
[11] Độc giả quen thuộc với thuyết trò chơi (game theory) hẳn đã thấy ngay ảnh huởng của thuyết này trong lý giải của Przeworski.

[12] Tôi không nghĩ điều này là đúng.

[13] Xem, chẳng hạn, Fukuyama, “Remembering Seymour Martin Lipset”, American Interest “blog”, mùa thu 2006.

[14] Theo tôi, cụm từ “bành trướng tự do”, thay vì chỉ “tự do”, diễn tả chính xác hơn ý của Sen.

[15] Một khái niệm khá có ích trong khung cảnh này là khái niệm “vô tự do” (unfreedom).

Tham khảo

– Adsera, Alicia, và Carlos Boix, 2002, Trade, Democracy, and the Size of the Public Sector : The Political Underpinnings of Openness International Organization 56, 2, Mùa xuân, tr. 229 -262
– Barro, Robert J., 1991, Economic Growth in a Cross Section of Countries, Quarterly Journal of Economics, Bộ 106, tháng 5, tr. 407-443.
-Barro, Robert J., 1996, Democracy and Growth, Journal of Economic Growth, Bộ 1, Số 1, tháng 3, tr. 1-27.
– Caplan, Bryan, và Tyler Cowen, 2004, Do we underestimate the benefits of cultural competition ?, American Economic Review, Papers and Proceedings, Bộ 94, Số 2, tháng 5, tr. 402-407.
– Chong, David, 1991, Collective Action and the Civil Rights Movements, Chicago, University of Chicago Press.
– Chwe, Michael, 1998, Culture, Circles, and Commercials, Rational and Society, Bộ 10, Số 1, tr. 47-75.
– Chwe, Michael, 2001, Rational Ritual, New Jersey, Princeton University Press.
– de Mesquita, B. B., và George W. Downs, 2005, “Development and Democracy”, Foreign Affairs, tháng 9/10, bản dịch.
– Galenson, Walter, 1959, Labor and Economic Development, New York, John Wiley and Sons; Giavazzi, Francesco, và Guido Tabellini, 2005, “Economic and Political Liberalizations”, Journal of Monetary Economics, Bộ 52, 1297- 1330.
– Heckman, James J., 1976, The Common Structure of Statistical Models of Truncation, Sample Selection, and Limited Dependent Variables and a Simple Estimator for Such Models, Annals of Economic and Social Measurement, Số 5, tr. 475-492.
– Heckman, James J., 1988, The Microeconomic Evaluation of Social Programs and Economic Institutions, trong Chung-Hua Series of Lectures by Invited Eminent Economists, Số 14. Taipei : The Institute of Economics, Academia Sinica.
– Huntington, Samuel P., 1968, Political Order in Changing Societies. New Haven : Yale University Press.
Huntington, Samuel P., vaø Joan Nelson, 1976, No Easy Choice : Political Participation in Developing Countries, Cambridge : Harvard University Press.
– Journal of Economic Perspectives, 1993, Hội thảo về Dân Chủ và Phát Triển, Mùa hè.
– Lipset, Seymour Martin, 1959, Some social requisites of democracy : Economic Development and Political legitimacy, American Political Science Review, Bộ 53, 69-105.
– Lipset, Seymour Martin, 1960, Political Man : The Social Bases of Politics, Garden City : Doubleday.
– Londregan, John, và Keith Poole, 1996, Does High Income Promote Democracy ?, World Politics 46, tháng 10.
– Lucas, Robert E., 1988, On the Mechanics of Economic Development, Journal of Monetary Economics, Bộ 22, Số 1, 3-42.
– Moore, W.H., 1995, Rational rebels : Overcoming the Free-rider Problem, Political Research Quarterly, Bộ 48, tr. 417-54.
– Pei, Minxin, 1999, Economic Institutions, Democracy, and Development, Báo cáo đọc tại Conference on Democracy, Market Economy, and Development, do Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Hàn Quốc đỡ đầu, 26-27 tháng 2.
– Persson, Torsten, 2003, Consequences of constitutions, National Bureau of Economic Research Working Paper, số 10170, tháng 12.
– Persson, T., 2005, Forms of democracy, policy and economic development, National Bureau of Economic Research Working Paper, số 11171, tháng 3.
– Persson, Torsten, và Guido Tabellini, 1994, Is inequality harmful for growth ?, American Economic Review, Bộ 84, Số 3, tháng 6, tr. 600-621. tháng 4.
– Persson, Torsten, và Guido Tabellini, 2006, Democracy and development : The Devil in the details, American Economic Review, Papers and Proceedings, tháng 5, 2006 (Phiên bản chi tiết hơn : National Bureau of Economic Research Working Paper, Số 11993). Working Paper, Số 12175, tháng 4. 8154, tháng 3.National Bureau of Economic Research Working Paper, Số 10176, tháng 12.
– Przeworski, Adam, 1991, Democracy and the Market, Cambridge , Cambridge University Press.
– Przeworski, Adam, 2004, Economic Development and Transitions to Democracy, bản thảo, Department of Politics, New York University, tháng 3. Ohio State University Press.
– Rodrik, Dani, Arvind Subramanian, và Francesco Trebbi, 2004, Institutions Rule : The Primacy of Institutions over Geography and Integration in Economic Development, Journal of Economic Growth, Bộ 9, Số 2, tháng 6, tr. 131-165.
– Schweinitz, Karl, 1964, Industrialization and Democracy, New York : The Free Press.
– Sen, Amartya, 1999,Development as Freedom , New York : Oxford University Press.

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM

Trăm hận, ngàn đau nào sánh được
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương…

Thơ Thanh Nam, làm năm 1979, 1980 ở Thành phố Seattle. Những ngày như lá, tháng như mây… Hai mươi niên đã qua kể từ ngày Thanh Nam làm những lời thơ nhớ thương sầu hận ấy…

Và đây hai câu Thơ khác của Thanh Nam làm cùng năm trên Đất Khách:

Bốn năm đã thấm trò dâu biển
Một cõi lưu đày rộn nhiễu nhương..

Nếu những năm 1978, 1979, 1980 tôi sống ở Mỹ, nếu tôi làm Thơ với ý trên, câu Thơ sẽ là:

Bốn năm đã ngấm trò dâu biển..
Một cõi lưu đày rộn nhiễu nhương.

“Ngấm” nặng hơn, thô hơn “thấm.” “Thấm” nhẹ hơn, thanh hơn “ngấm.” Tôi, với những phóng sự tiểu thuyết gọi là thời đại, có những ngôn từ sống sượng hơn Thanh Nam với những tiểu thuyết lãng mạn, diễm tình trong đó đa số nhân vật là người tử tế, lịch sự, thanh nhã. Nhưng thôi, cho qua những xác định chữ nghĩa vẩn vương, “thấm” hay “ngấm” thì cũng thế thôi, cũng là ẩm, là mốc cả. Sáng nay, buổi sáng nắng vàng Tháng Bẩy ở xứ người, tôi nhớ Thơ Thanh Nam, tôi ngậm ngùi tự nhủ:

– Mới 4 năm lưu đày đã “thấm” trò dâu biển. Nếu sống thêm ba mươi năm, nếu còn sống hôm nay Thanh Nam sẽ nghĩ gì, sẽ đau như thế nào trước những biển dâu vân cẩu ở cõi lưu đày này?

Thanh Nam sẽ cảm nghĩ gì khi anh phải thấy người từng là Tướng, Tổng Thống của anh le lưỡi liếm đít tên Việt Cộng Tội Đồ của Nhân Dân Việt Nam khi tên này nhâng nháo vác mặt xỏ lá đến Mỹ. Không những chỉ liếm suông, nó liếm tận tình, nó liếm không thằng nào có thể liếm hơn nó!

Trong nhục nhã tôi phải kêu lên:

“Ôi… Mẹ Việt Nam ơi… Chúng con có tội tình gì? Sao chúng con phải sống cùng thời với môt thằng người Việt khốn nạn đến như thằng đó? Sao bao nhiêu anh em chúng con đã phải chết tan xương, nát thịt để cho thằng khốn đó nó sống? Để nó ăn trên, ngồi trốc, để nó nói láo, để nó bợ đít những thằng Cộng Chồn tội nhân của nhân dân? ”

Số phận dân tộc tôi khốn khổ khốn nạn quá chừng khi dân tộc tôi phải có những thằng dân hèn mạt như thằng đó. Thằng đó làm tôi nhục quá chừng, nhục đến như tôi là nhục nhất rồi, trên cõi đời nhiều nhục nhã này tôi nhục không còn ai có thể nhục hơn tôi.

Khi bắt đầu viết bài này, tôi lấy tên bài là TRĂM HẬN NGÀN ĐAU theo lời Thơ Thanh Nam. Viết đến đây tôi đổi tên bài là:

CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM

Cuối năm 2006 tôi viết bài:

CHÉN ĐẮNG CUỐI NĂM

Chén Đắng Cuối Năm kể chuyện Tổng Thống Gerald Ford và người Mỹ phản bội, bỏ rơi nhân dân Việt Nam Cộng Hòa năm 1975. Không những chỉ bỏ rơi, họ còn muối mặt nói những lời tàn nhẫn về những người Việt từng chiến đấu, từng đổ máu với họ.

Bây giờ Tháng Bẩy 2007, tôi viết CHÉN ĐẮNG GIỮA NĂM là đúng sách vở.

Khi năm Heo tới, tôi đã tự bảo năm Heo đừng ngạc nhiên khi thấy những chuyện Lợn, khi thấy những thằng người bẩn hơn Heo, ngu hơn Chó trình lộn mặt thớt mà không biết xấu hổ. Nhưng không ngờ, chắc không người Việt nào ngờ, thằng ấy nó lại đểu, lại hèn đến như thế. Vì tôi là người Việt Nam, vì nó là người Việt Nam, nó không phải là người Việt Nam thường dân, nó từng là Tướng của Quân Đội tôi, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nó từng là Tổng Thống, Thủ Tướng chính phủ nước tôi, vì nó hèn nên tôi bị nhục. Làm người phải biết Nhục khi mình bị Nhục. Người không thấy Nhục khi bị Nhục không phải là Người.

Nó chửi tôi bằng cách nó quỵ lụy tên Cộng sản. Không phải nó chỉ chửi mình tôi, nó chửi tất cả những người Việt Nam, đã chết, còn sống. Nó chửi tôi, nó chửi đồng bào tôi, tôi đau, tôi chửi nó như thế này chỉ là chửi lèm bèm, không hề hấn gì nó. Mặt thớt của nó vẫn bôn lì ra. Xong tôi vẫn phải chửi nó. Tôi chửi nó vì những người Việt Nam đã chết cho nó sống. Tôi chửi nó bằng tiếng chửi của những người Việt đã chết ấy.

Tháng Tư 1975 Thanh Nam làm việc trong Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam. Đài này do người Mỹ lập, người Mỹ điều hành. Năm 1972 người Mỹ ở Việt Nam có đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do – khi thò tay – năm xưa giới ký giả Việt ở Sài Gòn thường gọi bàn tay người Mỹ là “bàn tay lông lá ” – ký Hiệp Định Paris với bọn Bắc Cộng, người Mỹ cam kết hủy bỏ những cơ sở tuyên truyền chống bọn Bắc Cộng của họ trong lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn giải tán Đài Tiếng Nói Tự Do, mở ra Đài Mẹ Việt Nam. Đâu cũng vẫn đấy.

Những ngày 19, 20 Tháng Tư 1975, Tòa Đại Sứ Mỹ cho nhân viên Đài Mẹ Việt Nam từ Sài Gòn bay ra đảo Phú Quốc. Đây là trò ông cha tôi gọi là “cà cuống chết đến đít còn cay”. Người Mỹ cho Đài Mẹ Việt Nam ra đảo Phủ Quốc để có thể nói: “Mỹ không đưa nhân viên của Mỹ bỏ chạy khỏi nước, ra đảo Phú Quốc vẫn là ở trong lãnh thổ Việt Nam.” Từ đảo Phú Quốc một sáng, hay một đêm mù sương đầu Tháng 5, 1975, khi Sài Gòn đã đầy nón cối, giép râu, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam, trong số có Thanh Nam, xuống tầu biển vượt đại dương sang bên kia trái đất.

Ở thị trấn Ramsey, Mỹ Quốc, một ngày Tháng 11, 1975, nhớ sáng, nhớ đêm mờ sương rời nước xuống tầu trên bờ biển Phú Quốc, người ly hương mới 10 tháng Thanh Nam làm Thơ:

SƯƠNG
Sớm nay trời đổ sương mù
Đồi cao ngó xuống thấy mờ biển khơi.
Bỗng dưng lòng thoáng bồi hồi
Tưởng đâu Phú Quốc đêm rời quê hương.

Nếu sống đến hôm nay, Tháng Bẩy 2007, chắc tâm trạng Thanh Nam không còn thấm, cũng không còn ngấm được gì nữa, những nhiễu nhương của cõi lưu đày chắc đã làm cho tâm trạng Thi sĩ nát như bún thiu, chua như cơm vữa.

Nhớ Thơ của Thi sĩ:

Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trương nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ nép bên bờ
Đêm đêm từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa.

Tôi hỏi Thi sĩ:

Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Đêm đêm từ đáy hồn thương hân
Vẫn Tiếng Kèn Truy Điệu Nước Xưa?

Thanh Nam đi khỏi cõi đời này từ thị trấn Seattle Tháng Sáu năm 1980. Từ ấy, đến năm nay, 2007, Tháng Sáu đến, Tháng Sáu trở lại, người ta nhắc đến Thanh Nam.

Nhiều bài các bạn văn của Thanh Nam viết về Thanh Nam được đăng lại. Tôi thầm nói với Thanh Nam:

– Nam may mắn đấy. Ít nhất Nam cũng may mắn hơn anh em. Bao nhiêu năm ở trong quân đội, Nam toàn ngồi viết ở bàn giấy, Nam không phải bận đồ treillis vác súng gác cổng trại quân một lần nào, Nam không phải bắn một phát súng; Nam đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư, Nam không phải qua một ngày tù đày nào ở quê nhà như anh em, Nam không phải ngồi ngậm miệng nghe bọn chúng nó nói Nam có tội, Nam không phải thò tay ký vào bản nhận “ Tôi có tội với nhân dân, có tội với Tổ Quốc”; sang Mỹ, Nam có khổ cực thì cũng chỉ khổ như anh em thôi. Nam đi khỏi cõi lưu đày này sớm nên Nam không bị nhục như tôi đang nhục bi giờ.

Nam nhớ không? Một tối năm 1960 chúng ta ba mươi tuổi, Ngọc Linh mời chúng ta ăn trên lầu Nhà Hàng Đồng Phát, Chợ Cũ, Sài Gòn. Có Nguyên Sa, Thái Thủy, Phan Nghị, Văn Quang, Quốc Phong, Sĩ Trung. Trong khi ăn chúng ta nói linh tinh đến chuyện vợ bé, con riêng.

Tôi nói:

– Ông bố tao không có vợ bé, tao không bị khổ vì ông bố tao có vợ bé, tao sẽ không bao giờ có vợ bé.

Văn Quang nói:

– Nếu mày nói thế thì tao có quyền có vợ bé. Ông bố tao nhiều vợ lắm.

Tôi không được sắc xảo lắm về miệng lưỡi, tôi không đối đáp được nhanh. Đang nói, bị ai nói ngược, tôi khựng lại. Một lúc sau, khi anh em đã nói sang chuyện khác, tôi nói:

– Này Văn Quang. Nếu trước đây ông già mày có vợ bé, mày khổ thì bi giờ mày đừng làm cho các con mày phải khổ như mày. Còn mày thấy ông già mày có vợ bé mà mày không khổ thì mày cứ việc.

Thanh Nam nói:

– Làm cái gì mà mày cay cú thế? Mày mới có vợ đây mà. Đừng có nói vội. Tao thấy những thằng nói như mày là những thằng có vợ bé sớm hơn ai hết.

Thanh Nam hơn chúng tôi ba, bốn tuổi, tuy không nói ra, chúng tôi coi Nam như đàn anh. Tối ấy Thanh Nam nói về tôi như thế, tôi lặng im.

1960 Sài Gòn, 2007 Washington DC, 47 năm sau, hôm nay tôi nói với Thanh Nam:

– Thanh Nam ơi… Tao nói tao sẽ không có vợ bé, tao không có vợ bé.

Đang viết chuyện Chén Đắng, có lẽ vì chén đắng quá, tôi níu Thanh Nam vào chuyện. Đắng ơi là đắng. Tôi ngán, tôi tởm cũng phải thôi. Mười ngàn người Việt đi biểu tình chửi Việt Cộng, chỉ một thằng đó với cái mặt vừa mo vừa thớt của nó, cái lưỡi dài có gai độc của nó, hóa giải công lao của mọi người. Đau quá là đau. Nó nói láo, nó công nhiên liếm tên Việt Cộng ngay trên đất Hoa Kỳ mà người Việt ở Mỹ không làm gì được nó. Càng kể càng đau, ruột gan càng kể càng rầu như dzưa. Lần trước viết về nó, tôi nhớ lời dậy của bà mẹ tôi ngày xưa:

– Đừng có bới cứt ra mà ngửi.

Nó thối quá rồi, không nói đến nó nữa, coi nó như bãi cứt, chửi nó mình chỉ thêm khó chịu. Tôi đã coi nó như bãi cứt, nhưng nó không chịu nằm im, nó bốc mùi thối. Tôi không thể không chửi nó.

Trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại hôm nay, trên hằng hà sa số các trang WEB, NET Việt, bài của hai ông nhà viết kể tên dưới đây được đăng nhiều nhất: Văn Quang với những bài Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự, Phạm Trần với những bài phê bình chính trị. Hôm qua, Nhà Viết Phạm Trần gửi bài viết mới của ông cho Tạ Quang Khôi, biệt dzanh Tạ Ống Khói – vì nước da họ Tạ trắng như than Tầu – và tôi, với lời an ủi:

– Hai ông đọc đi, cho nguôi giận về vụ Nguyễn Cao Kỳ.

Tôi đọc và tôi hậm hực:

“Nguôi là thế nào? Nguôi là ký gì? Làm sao nguôi được! Nó chửi mình mình nghe. Mình chửi nó mình nghe. Nó có nghe chó đâu! Đồng bào ta ở quê nhà đâu có thấy cảnh người Việt ở Mỹ biểu tình chửi bố thằng Chủ Tịt Hậu Môn, những thằng Đầu Xỏ Cộng Sản chuyên thậm thụt ra dzô cửa sau những công thự ở các nước Âu Mỹ. Nó chỉ cần cho TiVi chiếu cảnh bọn Việt Chồn Lùi đến ăn uống Tiệc Máu với nó ở Cali, nơi được gọi là Thủ Đô của Người Việt Chống Cộng, nó chỉ cần cho chiếu cảnh nó được thằng Lộn Giống cung kính nâng bi, một điều “ Kính thưa Chủ Tịt,” hai điều : “Chủ Tịt là người Việt cao quí. Tôi rất kính phục Ngài Chủ Tịt. Tôi kêu gọi người Việt ở Mỹ hãy cùng tôi nâng bi Ngài Chủ Tịt…” Nó chỉ cần làm thế là tôi thua nó dzồi.

Nó, tên Chủ Tịt Hậu Môn, và bè lũ đảng viên Mafia Hút Máu Dân Việt, sẽ có ngày bị đền tôi; chúng sẽ có ngày bị dân Việt nắm cổ chó lôi từng thằng ra trước cửa chợ, đánh cho mỗi thằng năm, bẩy cái bạt tai, nhổ vào mặt mỗi thằng năm, bẩy bãi nước miếng, đá đít, đuổi đi, tượng Lão Hồ bẻ cổ em nhỏ trước Tòa Đô Chính Sài Gòn sẽ bị dân Sài Gòn kéo đổ, lôi ra cho nằm trước chợ Bến Thành, rất có thể trong Ngày Trị Tội Đền Tội đó có vài thằng Cộng ác ôn bị nhân dân Việt kê súng vào đầu, nổ bọp, như chuyện đã xẩy ra 10 năm trước ở các nước Đông Âu, ở Lỗ, ở Nga, ở Đức. Chuyện ấy, chuyện bọn đảng viên Việt Cộng Ác Ma bị dân Việt bợp tai, đá đít, chuyện tượng anh Gìa Hồ bị dân Việt cho ra nằm ở bãi rác, là chuyện nhất định sẽ đến. Sông có thể không cạn, núi có thể không mòn, nhưng chuyện bọn Cộng Việt bị dân Việt bạt tai, đá đít nhất định sẽ xẩy ra.

Tôi không thấy có Bỉnh Bút Da Việt Nam nào ở Mỹ, tức những nhà bình luận chính trị, viết kể tội người Mỹ, gọi đích danh Tổng Bớt, Ngoại Rai, trong Vụ Án Bọn Cộng Đàn Áp Nhân Quyền ở Việt Nam năm 2007. Ngang ngược nhất là cảnh thằng Công An VC dùng bàn tay mu rùa cộng sản hôi nhớt của nó bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý. Hai người đó, Tổng Bớt, Ngoại Rai, với thái độ Hờ Hững Lạnh Nhạt Ra Mặt của họ với Phong Trào Dân Chủ ở Việt Nam khi họ đến Việt Nam dự Hội Nghị APEC, đã cho phép bọn Việt Cộng thẳng tay đánh những người Việt Dân Chủ ở trong nước. Đau hơn nữa là bọn Cộng chơi trò bổn cũ soạn lại.

Chuyện đó đã xẩy ra với bọn Tầu Cộng. Mỹ cho nó, Tầu Cộng vào WTO, Mỹ rút, cởi, mở hết những xiềng xích kiềm chế nó. Dzô WTO, Mỹ hết gò bó, Mỹ không còn cách xiết được nó, bọn Tầu Cộng hung hăng đánh những người Tầu Dân Chủ hộc máu mồm, hộc cả sì dzầu, chà cháo quẩy, pánh tiu, pánh pò, đánh đến nơi, đến chốn, Trước ngày được dzô WTO, bọn Tầu Cộng để cho Đảng Đối Lập Tầu ra đời, hoạt động, chúng không công nhân nhưng chúng cũng không cấm, không dẹp ngay. Dzô WTO rồi, chúng chơi xả láng. Chủ Tịch Đảng Đối Lập Tầu bị chúng bắt, ra tòa, kết án tù năm bẩy năm về tội phá rối trị an.

Chính phủ Mỹ có làm gì đâu? Biu Lin-tân, Gioọc Bớt, Ngoại Rai im ỉm gái ngồi phải cọc. Phản đối mồm lảm nhảm rồi thôi. Lại xem bọn Tầu Cộng đàn áp những người Tầu Pháp Luân Công. Những người này chỉ ngồi thiền, nó bảo không được ngồi đông nơi công cộng. Cứ ngồi. Nó đánh, nó đá, nó đạp ngay tai chỗ. Đàn ông, đàn bà nó thượng cẳng chân, hạ cẳng tay, nôm na là nó đấm, nó đá, bịt mồm, bẻ tay, quật ngã, còng, cùm như nhau. Nó bắt họ đi tù. Nay có cả ngàn người Pháp Luân Công nằm phơi rốn trong ngục tù Tàu Cộng. Chính phủ Mỹ có làm gì bênh vưc họ đâu! Thương thay! Người thế giới đã quên những người Pháp Luân Công nạn nhân của Tàu Cộng.ï Nay chẳng còn ai nhắc đến Pháp Luân Công. Mà những người Pháp Luân Công ở Mỹ đông hơn, mạnh hơn người Việt ở Mỹ biết bao nhiêu. Đấy là chưa kể việc bọn Tàu Cộng chiếm nứơc Tây Tạng từ 50 năm nay, Đạt Lai Lạt Ma bôn ba thế giới từ năm 1950, đượ gì đâu, dân Tây Tạnh vẫn nằm dưới sự cai trị của bọn Tàu Cộng, nước Tây Tạng vẫn là một tỉnh của nước Tàu.

Tên Chủ Tịt Tầu Hồ cẩm Đào mới đây nói:

– Trung Quốc vẫn giữ chính sách Độc Đảng.

“Độc Đảng” nghĩa là nước Tầu chỉ có một Đảng Cộng Sản Độc Ác cầm quyền, ở nước Tầu chỉ có bọn đảng viên Đảng Cộng Độc có quyền ăn trộm, ăn cắp, ăn chơi sa đọa, hiếp dâm, tham nhũng thả dàn, cướp đất của dân, bán đất, bỏ tù dân, giết dân. Dù chúng không còn là Cộng sản nữa, dù chúng đã cho bọn Kác Mác, Lê-nin xuống hố phân, chúng vẫn cứ giữ cái quyền độc ác giết dân, tham nhũng, trộm cắp của bọn Cộng sản. Bọn Việt Cộng theo đúng thủ đoạn của bọn Tầu Cộng đàn anh chúng. Bọn Tầu Cộng dzô WTO mà vẫn sống, không những chúng chỉ sống, chúng còn sống ngang ngược hơn trước.

Bọn Việt Cộng cũng thế thôi. Khi thấy có Bình Luận Da Việt tiên đoán:

“Dzô WTO bọn Việt Cộng sẽ chết!”

Tôi tự hỏi:

“Bon Tầu Cộng dzô WTO không chết, tại sao bọn Việt Cộng dzô WTO lại chết?”

Chính sách đối phó với những người Tàu đòi Dân Chủ, Nhân Quyền của bọn Tàu Cộng là chúng không thẳng tay diệt những người đối lập chúng khi những người này hoạt động đơn độc, không có đoàn thể, nhưng khi những người này lập Đảng, Phong Trào, có thành viên, là chúng đập chết thôi. Bọn Việt Cộng diệt Linh Mục Nguyễn Văn Lý vì ông có một số tín hữu theo ông, chúng diệt phong trào đối kháng ở hậu giang vì phong trào này có tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài. Chúng bao vây, cô lập, làm khó Bác sĩ Nguyễn Đan Quế ở Sài Gòn nhưng chúng không bắt, chúng không bỏ tù ông nữa, chúng để ông lâu lâu gửi một Tâm Thư, hay một cái gọi là Lộ Trình Dân Chủ ra nước ngoài. Ông Bác sĩ có làm hại chúng nhưng cái hại đó chúng chịu được. Người Việt ở nước ngoài đem đô-la về nước ăn chơi, chúng để yên nhưng nếu ai từ nước ngoài về đường Nguyễn Trãi đến gặp Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, hay đến Thanh Minh Thiền Viện đường Trương Tấn Bửu xin thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ, người này vừa ra khỏi chỗ gặp là bọn Công An Đầu Trâu Mặt Ngựa nó áp tới, nó bóp đzế nó lôi đi liền một khi.

Chuyện Chủ Tịt Hậu Môn Nguyễn minh Triết bị giới lập pháp Mỹ hạch hỏi về thành tích đàn áp Nhân Quyền, theo tôi, không có gì đáng cho nó, và bọn đảng viên Cộng Việt, phải sợ. Vừa rút nó ra khỏi Danh Sách Đen Những Nước Mỹ Cần Quan Tâm, không thể năm, bẩy tháng lại đút nó trở dzô. Lập Pháp Mỹ không thể làm cái trò trẻ con đó. Lập pháp Mỹ không thể làm gì có hại đáng kể cho bọn Việt Cộng khi hành pháp, tức chính phủ Mỹ, không đồng ý. Gặp Tổng Thống Mỹ ở Nhà Trắng như một vị quốc khách, dù là Khách Hậu Môn, gặp những nhà lập pháp Mỹ, Nguyễn minh Triết nó có sợ hãi, nó có hứa hẹn sửa đổi gì đâu? Không những nó không sợ, nó còn ngang ngược nói như nó nói trên đấát nó cầm quyền:

– Ở Việt Nam không có tù chính trị.

Nó lẹo lưỡi Chồn nói với người Việt ở Mỹ:

– Sống trên đời để làm gì? Các bạn có đặt câu hỏi đó không? Sống trên đời không phải để thù hận mà chính là để yêu thương với nhau, yêu thương giữa con người với con người, giữa dân tộc. Vì vậy một lần nữa tôi mong bà con của mình, ở đây thì khỏi phải nói rồi, nhưng mà bà con còn xa xa hãy vì quê hương đất nước vì dân tộc này, hãy gác bỏ mọi chuyện cũ đi, mọi tị hiềm của quá khứ, hãy đoàn kết lại và cùng nhau xây dựng một mẹ hiền, một đất nước Việt Nam giàu mạnh. Đó không chỉ là lời nói và ý kiến của tôi mà đó là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam, là ý chí của đảng và nhà nước Việt Nam

Nó nói dzậy đó, nó nói dzậy ở Cali, Huê Kỳ, ở giữa Thủ Đô của Người Việt Chống Cộng, nó nói dzậy tôi không điên ruột, tôi không sôi máu, tôi không – như Tạ Tốn – rú lên một tiếng thanh thoát, tôi không thổ ra một búng máu tươi, sao được!

Có khác chi nó nói:

– ĐM chúng mày. Chúng mày về nước đi để cho bố chúng mày bịt mõm chúng mày.

Tôi gửi riêng bài này đáp lễ Bình Luận Da Phạm Trần, với lời cám ơn và cước chú:

– Đọc bài của Bình Luận Da, tôi không nguôi hận một ly ông cụ nào. Hình như tôi lại càng thêm hận. Tôi hận mà tôi có làm gì cho tôi nguôi hận được đâu, tôi chỉ có thể chửi chúng nó lèm bèm thế này thôi.

Ngày mai tôi sẽ không viết chuyện chính chị, chính em nữa. Từ đầu năm Heo đến nay tôi đã xa cách những chuyện Tình Yêu Cao Đẹp Ngàn Đời Sống Mãi với Trăng Sao, Thơ Văn Lãng Mạn Châu Ngọc Vàng Y Kim Cang, Đàn Bà Tiên Nữ Đa Tình Đa Cảm Đa Đoan Đa Đủ Thứ, Những Cuộc Tình Xanh Yêu Đương, Trắng Thủy Chung, Rộn Thanh Âm, Rạo Ân Ái, Rực Tình Xuân, Bần Thần Hoài Niệm. Từ ngày mai tôi sẽ viết về

TÌNH và THƠ.

THƠ gì cũng được, Thơ Dzở cũng là Thơ. Cuộc đời có nhiều nhà Thơ Dzở Bỏ Cha đi mà vẫn được ca tụng là Thi Sĩ Lời Lời Châu Ngọc, Hàng Hàng Gấm Thêu, người ta đánh bóng Thơ Người Ta, bôi dzầu vẹc-ni, chà giấy nhám, sịt nước bông Thơ Bạn Người Ta, Thi Sĩ Mướp Đắng bốc Thơ Thi Sĩ Mạt Cưa là “Đệ Nhất Thơ Việt Muôn Đời Ngàn Kiếp,” Thi Sĩ Mạt Cưa nâng Thơ Thi Sĩ Mướp Đắng là “Thơ Tuyệt Vời Kim Cổ.”

Vậy thì thay vì làm cái việc ngu ngơ bới cứt ra mà ngửi, thay vì phí compiutưa viết về những thằng Lộn Giống, tại sao tôi lại không viết về Tình Yêu, về Thơ? Như tự bao giờ tôi vẫn viết. Khi bánh xe lãng tử đưa tôi đến Kỳ Hoa một sáng cuối thu 10 niên trước đây, tôi đã định tôi sẽ chỉ viết về Tình Yêu. Vậy mà vì những nguyên nhân tẹp nhẹp nào, mấy năm nay tôi sa đà vào cõi tục lưu đày nhiễu nhương với những bài chửi Cộng?

Bởi dzậy, từ ngày mai Viết ở Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, tôi sẽ trở lại với chuyện Tình, chuyện Thơ.

Có thể những nữ độc giả thơm như múi mít của tôi không thích khi các nàng phải đọc những chuyện tanh tưởi như chuyện Chủ Tịt Hậu Môn Cộng Chồn đưa cái Lá Đa Gái Việt ra làm món hàng mời chào doanh gia thế giới:

“Ông ơi… Đến Việt Nam đi ông. Việt Nam có Lá Đa ngon lắm.” – bọn Việt Cộng bắt chước bọn Tầu Công gọi cái trò Mời Chào Lá Đa này là “khuyến mãi” – các nàng không thích đọc những chuyện Cao Cầy Nham Nhở Nâng Bi Chủ Tịt Hậu Môn. Tôi sẽ viết chuyện Tình, chuyện Thơ để các nàng đọc.

Tôi kết bài này bằng Thơ Thanh Nam, tôi có phóng tác mấy tiếng. Nếu Thanh Nam sống hôm nay, chắc Thơ Thanh Nam sẽ như vầy:

Ba mươi năm tởm trò dzơ bẩn
Một cõi lưu đày nhớp với nhơ.
Buồn như người lính vừa thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa

Đêm đêm từ đáy hồn thương hận
Vẫn Tiếng Kèn Truy Điệu Nước Xưa!

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Thảm kịch nhân đạo của nhóm người Việt Tỵ nạn cộng sản cuối cùng tại Cambodia

Cựu tử tù Nguyễn Phùng Phong

Sau sự sụp đổ của chính quyền Sàigòn tháng 4 năm 1975, hơn nửa triệu người Việt nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do tại nhiều quốc gia trên thế giới, bởi sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt nam, chính quyền cộng sản Hà nội đã áp đặt một chính sách cai trị vô cùng hà khắc và chuyên chế lên toàn dân Việt nam, đặc biệt cộng sản đã tập trung sự đàn áp hết sức tàn bạo đối với những gia đình của các cựu viên chức của chính quyền Sàigòn cũng như các sỹ quan và hạ sỹ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Bản thân họ bị tập trung cải tạo, nhà cửa bị tịch thu, gia đình bị đưa đến sinh sống tại những vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc. Cuối năm 1989, dưới sự bảo trợ của Cao Uỷ Liên Hợp Quốc Đặc Trách Về Người Tỵ Nạn (UNHCR) 74 quốc gia đã ký kết một chương trình hành động toàn diện (Comprehensive Plan Action) không mặc nhận thuyền nhân là người tỵ nạn chính trị nữa mà họ buộc phải trải qua một thủ tục phỏng vấn, thanh lọc, để xem họ có đủ tiêu chuẩn được hưởng quy chế tỵ nạn theo công ước 1951 về người tỵ nạn hay không. Chính chương trình hành động toàn diện này đã làm lắng dịu làn sóng thuyền nhân Việt nam đi tìm tự do.

Cho đến cuối thập niên 90 của thế kỷ trước và đầu những năm 2000, trước sự sụp đổ của các nước cộng sản Đông Âu, chính quyền cộng sản Hà nội lại tăng cường đàn áp các phong trào dân chủ trong nước, nhiều nhà bất đồng chính kiến, nhiều nhà hoạt động tôn giáo bị bắt bớ giam cầm, tra tấn hết sức dã man, một làn sóng tỵ nạn mới lại xuất hiện tại Việt nam, cùng với hàng ngàn người Thượng theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên phải đào thoát sang Cambodia để tránh sự bức hại của chính quyền Cộng sản Hà nội, cũng đã có gần 100 người Việt thuộc sắc tộc kinh là những nhà hoàt động dân chủ, hoạt động tôn giáo, những sinh viên, giảng viên cũng phải đào thoát sang xứ Chùa Tháp lánh nạn bởi không chịu nổi sự bức hại của chính quyền cộng sản Hà Nội đối với bản thân họ và gia đình. Khác với những người Việt thuộc các sắc tộc thiểu số, khi đến lãnh thổ Cambodia, họ được UNHCR đến tiếp đón, đưa vào tạm cư tại các trại tỵ nạn tại Phnom Penh, được chăm sóc y tế, được bảo vệ an ninh rất nghiêm ngặt nên chưa có trường hợp rủi ro nào xảy ra với người Thượng cả.

Trong khi đó, những người Kinh khi đào thoát đến được Cambodia, phải tìm đến trình diện tại văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc, rồi phải trải qua hàng chục cuộc phỏng vấn kéo dài nhiều tháng, có khi nhiều năm trời, trước khi nhận được quyết định cuối cùng của cơ quan này cho biết liệu đương sự có hội đủ diều kiện để được cấp quy chế hay không, đây là khoảng thời gian có nhiều rủi ro nhất, bởi hàng chục ngàn mật vụ của cộng sản Việt nam đang hoạt động rất tích cực tại Cambodia, đang ráo riết săn lùng để bắt bớ, đưa họ về Việt nam giam cầm và tra tấn, mà ít nhất đã có hai trường hợp xảy ra. Trường hợp thứ nhất là Đại Đức Thích Trí Lực, bị mật vụ của cộng sản Việt nam bắt cóc tại đô thị Phnom Penh cuối năm 2001 khi Đại Đức đã được cấp quy chế tỵ nạn và được UNHCR bảo vệ. Trường hợp thứ hai là nhà dân chủ Lê Trí Tuệ, đào thoát đến Cambodia vào ngày 11 tháng 4 năm 2007 và chỉ bốn tuần sau đó, Lê Trí Tuệ đã bị mất tích vào ngày 6 tháng 5 năm 2007 trong khi đang chờ đợi UNHCR xem xét cấp qui chế tỵ nạn.

Ngay cả sau khi được cấp quy chế tỵ nạn rồi, đời sống của những người Việt tại đây cũng không khá gì hơn, bởi lẽ ngoài việc hàng ngày phải đối mặt với sự kỳ thị của người dân bản xứ, thì lực lượng mật vụ của cộng sản Hà nội vẫn thường xuyên săn tìm và truy sát họ. Mọi việc trở nên tệ hại hơn kể từ sau ngày 01 tháng 12 năm 2006 khi UNHCR cắt hết mọi khoản tiền trợ cấp đối với những người Việt tỵ nạn này và khuyến khích họ hội nhập vào cộng đồng người Việt di cư tự do đến đây để cùng sinh sống, khiến nguy cơ họ bị mật vụ của cộng sản Việt nam bắt bớ càng trở nên cao hơn. Trong thực tế, đồng bào Việt nam đã định cư ở Cambodia từ nhiều thế hệ qua vẫn không có tình trạng công dân, không được đăng ký hộ khẩu thường trú, không có giấy tờ tuỳ thân, không được sở hữu đất đai nhà cửa hay bất cứ tài sản gì có giá trị khác, con cái của họ không được khai sinh, họ chết không được khai tử thì làm sao nhóm người tỵ nạn chính trị này lại có thể hội nhập được vào đời sống của họ được. Đó là lý do tại sao phần lớn những người tỵ nạn cộng sản tại Cambodia và con cái của họ đang mưu sinh bằng “nghề” thu lượm rác thải, chai lọ, bao bì nylon và chính công việc xú uế nầy đang tàn phá cả sức khoẻ và tinh thần của họ. Một trong những người tỵ nạn tại đây là mục sư Ngô Đắc Lũy cũng đã trải qua hơn sáu tháng tồn tại bằng “nghề” lượm rác này trên khắp đô thị Phnom Penh trước khi được UNHCR cấp cho quy chế tỵ nạn vào tháng 12 năm 2004.

Từ tháng 10 năm 2006 Mục sư Lũy đâ thành lập được Hội Thánh Tin Lành cho người tỵ nạn. Hội Thánh vừa là nơi để các tín hữu mà phần đa là người tỵ nạn đến nhóm, cầu nguyện và thờ phượng mỗi tuần, vừa là nơi chở che cho những mảnh đời bị rao bán tại Cambodia và cũng là trạm dừng chân và nhận được sự tiếp giúp đầu tiên của các nhà dân chủ, các nhà bất đồng chính kiến tại Việt nam bị đàn áp phải sang lánh nạn tại Cambodia. Tuy nhiên dù nổ lực đến đâu, Hội Thánh và Mục Sư Lũy cũng chỉ có những trợ giúp ban đầu cho những người mới đến một nơi ăn, chốn ở trong những tuần lễ đầu tiên, và cũng chỉ giúp đở được cho những gia đình anh chị em tỵ nạn những lúc trái gió trở trời, vì chính bản thân Mục Sư Lũy hiện cũng không còn nhận được trợ cấp nữa. Tương lai của những người Việt tỵ nạn cộng sản tại Cambodia rồi sẽ đi về đâu, con cái của họ rồi sẽ đi về đâu khi hàng ngày vẫn tiếp tục bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, gò mình trên những đống rác xú uế ở đô thị Phnom Penh ? Hởi những tấm lòng Việt, hởi những người Việt yêu tự do xin hãy góp tay cùng chúng tôi cứu giúp những nạn nhân của chế độ bạo quyền cộng sản đang vô cùng khổ đau, cùng cực và hiểm nguy trên địa ngục trần gian Cambodia này.

Nguyễn Phùng Phong
12/7/07

Ông Nguyễn Phùng Phong (trái), nguyên đại đội trưởng Biệt kích, cựu tù nhân trại tử thần A20 Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Khánh, là một trong 4 người trong Ban đại diện nhóm người Việt tỵ nạn cộng sản tại Cambodia. Bên phải là Mục sư Ngô Ðắc Luỹ. Hình chụp tại một bịnh viện Pnompenh sau khi ông Phong bị mật vụ công an CSVN dàn cảnh tông xe mưu sát ngày Chủ Nhật 10/10/06.

Ông Phong bên giường bệnh bà Vương Thị Viêng, bị thương nặng sau khi bị mật vụ công an CSVN dàn cảnh tông xe ngày Chủ Nhật 10/10/06.


Một buổi cầu nguyện của đồng bào Việt Nam tỵ nạn CS tại Cambodia do Mục sư Luỹ chủ lễ

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Dưới cỗ máy XHCN, tất cả đều là nạn nhân

Nghe âm thanh

Vuốt ve “khúc ruột dặm ngàn”
Còn khúc kề cận bằm ngang, chặt lìa!

Cho đến hôm nay, thứ Bảy ngày 7 tháng 7 năm 2007, người dân bị cướp đất ở Tiền Giang đã ngồi biểu tình trước trụ sở “Quốc hội 2” đã đến ngày thứ mười sáu!

Thử so sánh những cuộc biểu tình của hàng ngàn đồng hương VN tị nạn CS tháng trước ở New York, Washington…từ các tiểu bang trên khắp đất nước Mỹ, Canada… đổ về, bằng mọi phương tiện, khi đến nơi đã có ban tổ chức lo sẵn chỗ ăn chỗ ở, biểu tình chỉ có đôi ba ngày, có cảnh sát giữ gìn an ninh trật tự, có đủ tiện nghi vệ sinh, trời nắng nóng đã có người cung cấp nước uống… Chủ nhà Bush hết tiếp, khách Triết chuồn vội ngõ sau, người biểu tình lại về (khách sạn) ngơi nghỉ.

Thử tưởng tượng tập đoàn Nguyễn Minh Triết ở lì thêm tuần lễ nữa, dù vẫn giữ được tính kiên trì chịu đựng, thử hỏi sự bức bối của những người tham dự biểu tình sẽ ra sao?

So sánh như vậy để cảm thương cho tình cảnh đồng bào đang biểu tình ở trong nước.Bị khủng bố, ngăn chặn, bao vây, cô lập, với đói khát , nắng mưa, ngày tiếp đêm, đêm tiếp ngày! (Ở miền Bắc, tháng nầy qua năm khác!)

Chuyện cướp đất cướp nhà mà đảng và nhà nước Việt Cộng thực hiện không phải là chuyện mới lạ, nó có từ khi thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do dân, vì dân… nó được thực hiện sau khi ông Hồ sáng tác và đọc bản Tuyên ngôn độc lập, rằng thì là: “Tất cả mọi người sinh ra đều được hưởng quyền tự do, bình đẳng…gì, gì đó!”

Những vụ cướp đất, cướp nhà, cướp của, giết người long trời lở đất đến nay cũng mới được hé lộ đôi phần như trong “Ba Người Khác” của Tô Hoài.

Sau tháng Tư năm 1975, công cuộc cướp bóc này ở miền Nam VN còn bạo liệt hơn nữa, những người được đội mũ “tư sản mại bản” là những nạn nhân trước hết, chủ nhà nếu không sớm nhảy lầu thoát thân thì vào tù, vợ con phải ra khỏi nhà chỉ với bộ áo quần đang mặc trên người.

Số phận của “Ngụy quân ngụy quyền tay sai Đế quốc Mỹ” là những “nạn nhân” nguy hiểm, nhưng đảng và nhà nước “khoan hồng” không đem tắm máu như đài phát thanh BBC lầm tưởng, vừa tốn đạn, tốn hố chôn tập thể lại vừa mang tiếng, nên đảng chỉ mượn rừng sâu nước độc, lam sơn chướng khí, lao động cật lực, đói ăn khát uống, để âm thầm tự tiêu diệt!
Nhà cửa của họ thì sao? Quân đội từ cấp Thiếu tá, Cảnh sát từ cấp Đại úy trở lên dù nhà cửa của họ do ông bà cha mẹ để lại, do vợ con tần tảo tạo ra đều được qui là bóc lột của nhân dân, gia chủ đi “học tập cải tạo”, vợ con được cho ở một góc bếp để thấm nhuần chính sách “nhân đạo” của đảng mà tự nguyện hiến toàn bộ nhà cửa (không hiến cũng bị đuổi ra), “tự nguyện đi vùng kinh tế mới” để cho chồng hoặc vợ, cho cha hoặc mẹ được sớm về đoàn tụ!
Các cơ sở, trường học, đất đai của những tôn giáo độc lập cũng không thoát khỏi chính sách “sung công” của đảng.

Công cuộc “giải phóng miền Nam” thắng lợi, với những bài hát ra rả suốt ngày đêm trên các loa treo khắp nơi đã được trẻ con thuộc và hát lại: “Trong chiến dịch nầy, bác đã cùng về với những đoàn quân, bác đến từng nhà, hỏi các cụ già, vàng đâu chúng con? Bác bắt nhịp bài ca cướp đoạt…”

Ở nông thôn trước đây như các tỉnh miền Tây, Nam bộ với chủ trương “Người cày có ruộng,”chính quyền VNCH đã bỏ tiền ra “ép” các đại điền chủ phải bán bớt ruộng đất với giá cao cho chính quyền, rồi (chính quyền) đem chia cho nông dân. Nhưng khi chiếm được miền Nam thì tất cả ruộng đất đều thuộc về nhà nước CHXHCNVN (cũng có nghĩa là của đảng CSVN!) Người dân chỉ là kẻ ở đậu, làm thuê trên đất đai của “nhà nước” cho nên đảng muốn làm gì thì làm, muốn cấp cho ai thì cấp, muốn thu hồi lúc nào thì thu, tùy thích!

Khắp hang cùng ngõ hẹp, chốn cùng cốc thâm sơn cũng không thoát khỏi nạn cướp bóc tuỳ tiện này. Người viết cũng từng là nạn nhân khi còn ở xã kinh tế mới Phước Tân, Xuyên Mộc!
Số là sau khi hợp tác xã nông nghiệp thí điểm thất bại vì cha chung không ai khóc, người dân ù lì, tiêu cực, ngầm phá hoại, chính quyền địa phương đành giải thể những tổ hợp tác, cho tự túc canh tác để đóng thuế nông nghiệp. Nhiêù người bỏ đi đốt than, thồ củi, chài lưới, đạp xe thồ… Ai bám nghề nông thì tự động chia nhau cánh rừng đầy cỏ tranh, mùa nắng cuốc xới, đốt dọn cỏ, chờ mưa xuống để gieo hạt, khi bắp, đậu vừa nẩy mầm, cỏ dại đã phủ lấp, phải lao động cật lực, dẫy hai, ba đợt cỏ thì cây trồng mới vươn lên nổi! Những chồi cây bụi rậm ven rừng cũng vừa xanh tốt làm chỗ trú ẩn cho heo rừng, sóc, nhím rình chờ ủi phá mùa màng, lại phải thức hằng đêm để canh đuổi giữa mưa gió, muỗi mòng.

Bắp vừa trổ cờ, đậu vừa ra quả, khoai sắn vừa tượng củ, thì đùng một cái, nông trường cao su thông báo cho biết khu đất nầy nằm trong “quy hoạch” bà con phải thu hoạch gấp để trả lại đất cho nông trường!

Đám nông dân nghèo khốn khổ kéo đến nhà ông Đội trưởng nông trường năn nỉ xin gia hạn cho vài tuần lễ để gặt non, chứ bây giờ trái chưa có hạt thì thu hái làm gì. Nhưng ông Đội trưởng đầy quyền uy lạnh lùng phán: Không được! Trên đã có quyết định!

Thế là hết! Hôm sau một vài người nông dân bất dĩ (có bản thân người viết) còn chút can đảm ra đứng nhìn mấy chiếc xe cày lạnh lùng xới tung những thửa rẫy xanh tốt, cuốn theo bao mồ hôi, công sức và niềm hy vọng một vụ mùa tạm no bụng cho cả bao gia đình!
Căm hờn, uất hận! Nhưng biết thưa ai, kiện ai? Kêu cứu với ai?

Đó là thời thập niên 80, 90 của Thế kỷ trước!

Bây giờ thập niên đầu của Thế kỷ 21, dù đã bám víu, hội nhập với thế giới văn minh Tư bản (bóc lột), bản tính cướp bóc của đảng Cộng Sản vẫn không thay đổi, thành phần bị cướp trước đây (có dính líu với chế độ cũ) nay hết rồi, nên chúng quay ra cướp xả láng từ người dân đen cho đến những người “có công với cách mạng, lão thành cách mạng, gia đình và thương binh liệt sĩ.” Cướp tuốt, chẳng chừa ai!

Có phải vì vậy mà chúng chưa thẳng tay đàn áp? Hòan toàn không! Hãy nhớ lại vụ biểu tình của nông dân (hầu hết đều có công với “cách mạng”) Thái Bình cách nay không lâu đã bị đàn áp khốc liệt, những người chủ chốt đứng lên huy động biểu tình là thương binh, bộ đội bị giam cầm hay thủ tiêu đến nay không ai biết rõ.

Những lý do mà chúng chần chờ chưa vội ra tay đàn áp là vì:
Mất khả năng bưng bít thông tin một cách tuyệt đối.
Cần lừa phỉnh “khúc ruột ngàn dặm.”

Sợ phản ứng bất lợi của thế giới tự do, nhất là sau vụ đàn áp những người đối kháng, cung cách tiếp đón khinh thường của lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ đối với tập đoàn Nguyễn Minh Triết vừa rồi.

Và nhiều lý do nữa…

Bọn cướp đất cướp nhà, hà hiếp dân lành ngoài cán bộ đảng viên đảng CSVN còn có đám xã hội đen là thân nhân, vây cánh của những kẻ có chức có quyền, chúng dựa hơi dựa thế để tha hồ làm mưa làm gió, vụ việc mới nhất là trường hợp của nhà văn Nguyễn Thụy Long, trước 1975 Nguyễn Thụy Long là nhà văn xã hội thuần tuý, không dính líu gì đến quân đội hay chính quyền, thế mà vẫn phải đi tù, ra tù phải ngồi sữa xe đạp ngoài vỉa hè để sinh sống, nay ông đã ngoài 70, già yếu, bệnh tật, ông sống trong căn nhà cũ đã năm chục năm trong một ngõ hẽm ở Phú Nhuận, Sài gòn, đang bị hàng xóm có thế lực đập phá để lấn nhà, đe dọa tính mạng, ông gởi đơn khiếu nại xin can thiệp thì cơ quan công quyền làm lơ! Nhà nước do dân, vì dân là như thế đó!

Kêu gọi “hỗ trợ” cho đồng bào Tiền Giang đang biểu tình ở Sài Gòn cũng như đồng bào Bình Thuận và đồng bào Miền Bắc đang biểu tình ở Hà Nội, là chính đáng, nhưng sao không kêu gọi “tham gia” một lần cho xong, nếu như tất cả đồng bào hải ngoại cũng biểu tình đồng loạt tại chỗ, khắp nơi để đánh động lương tri thế giới. Nếu như đồng bào trong nước đồng loạt kéo về Sài Gòn, Hà Nội chung vai sát cánh với những người dân oan cả nước để giải oan một lần.

Bởi vì chừng nào còn cái guồng máy XHCN đó thì tất cả mọi người bất kể ai, trước sau đều là nạn nhân, là dân oan của nó, không sớm thì muộn, không đời nầy thì cũng đời sau:
Hồ Chí Minh là người có công nhập cảng và gầy dựng lên cái cổ máy đó thì chính ông ta là nạn nhân của nó, đến cái xác chết của ông cũng không được toại nguyện theo di chúc mà trở thành nạn nhân để đánh bóng cho “cổ máy” này.

Ông Hồ am tường lịch sử Đông Tây kim cổ mà lại không nhớ nhân vật Thương Ưởng để học kinh nghiệm: (Vệ) Ưởng chỉ làm ra luật lệ khắc nghiệt để cai trị dân, cuối cùng lại chết vì chính thứ luật lệ do mình tạo ra, huống chi là cái cổ máy khủng khiếp của ông Hồ!

Dưới đêm đen XHCN không kể đến người dân và những thế lực “thù địch” đích thị là nạn nhân trực tiếp không khoan nhượng của nó, những người có đại công, những cán bộ, đảng viên cao, thấp, trung kiên, tận tụy với nó cũng đã, đang và sẽ là nạn nhân bất cứ lúc nào. Cả một “chính phủ” Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với biết bao trí thức, khoa bảng, sinh viên, học sinh “ưu tú” được đào tạo ở Miền Nam, nhưng vì mù quáng mắc lừa, rồi mấy ai thoát khỏi! Muốn tạm yên thân như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình thì đã phải cúi rạp người xuống! Lời than vãn của Nguyễn Hữu Thọ chỉ sau khi chết mới nghe được! Tận tụy như Phạm Xuân Ẩn, Nguyễn Ngọc Lan… có thoát được đâu?

Khi nhìn thấy người khác bị cướp đất cướp nhà, không ai nghĩ có ngày cũng tới phiên mình, khi đang có chức cao, có quyền lớn, không ai nghĩ có ngày mình bị thanh trừng, con cháu bị hãm hại, nhưng biết đâu? Cổ máy Xã Hội Chủ Nghĩa “ưu việt” không khó lường lắm!

Hỡi những người Công An! Hỡi những người đảng viên CS dù lớn dù bé! Các người có nghĩ rằng một lúc nào đó biết đâu chính mình, gia đình mình, con cháu mình lại là nạn nhân của chế độ này. Nếu có, sao chưa cùng với những người “dân oan” đứng lên đạp đổ nó đi?

Đừng mơ đảng Cộng Sản thay đổi, nó phải được thay thế thì mọi sự mới thay đổi, một người CS Nga đại phản tỉnh đã nói đại ý như thế.

Nguyễn Duy Ân

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Billboard Hình Lm Lý Bị Công An Bịt Miệng Được Dựng Lên Tại Tiểu Bang Washington

Billboard điện tử hình cha Lý bị bịt miệng được dựng lên tại xa lộ liên bang sộ (I-5) tiểu bang Washington

SEATTLE (TMN News)

Một Billboard khổng lồ hình ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị công an CSVN bịt miệng vừa được trương cao trên vùng trời tiểu bang Washington khoảng trụ mốc số 140 cạnh xa lộ liên bang số 5 (I-5), vào đúng ngày Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ (July 4th, 2007), bắt đầu từ 8 giờ tối. Ngót 100 đại diện tôn giáo, cộng đồng, hội đoàn và đồng bào đã tham dự buổi lễ tuy đơn giản nhưng vô cùng xúc động, trong khu đất cạnh tấm Billboard thuộc thành phố Milton, kế cận Tacoma.

Một số đại diện hội đoàn và tôn giáo đã được mời lên phát biểu. Tất cả đều lên án nghiêm khắc chế độ CSVN đã đàn áp dã man, khủng bố, bắt bớ, đánh đập, giam giữ phi pháp các nhà đấu tranh Tự Do Dân Chủ trong nước VN, mà phiên tòa ở Huế xử Linh mục Nguyễn Văn Lý ngày 30 tháng 3/2007 là một trường hợp điển hình.

Hình ảnh công an CSVN bịt miệng LM Lý trước tòa án, thực sự phơi bày cho thế giới văn minh thấy được nền tư pháp công an trị rừng rú, man rợ đối với nhân dân Việt Nam, đã và đang bị cai trị bởi Đảng CSVN độc tài toàn trị. Do đó, quý vị kêu gọi mọi người hãy dồn nỗ lực yểm trợ các nhà tranh đấu Tự Do Dân Chủ cho VN, đồng thời tất cả diễn giả đều tỏ vẻ xúc động khi được góp phần vào việc hoàn tất công trình ‘Billboard’ ngày hôm nay.

Cuối cùng. cựu Đại Tá Phạm Huy Sảnh (Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Nhân Quyền VN TB/WA) tường trình hoạt động của Ủy Ban từ lúc thành lập cho đến hôm nay mới chỉ nửa tháng, và công việc thực hiện Billboard chỉ vỏn vẹn 1 tuần lễ.

Ngoài một số cá nhân đóng góp tài chánh, các tổ chức sau đây đã hỗ trợ tích cực việc quyên góp, gồm: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tiểu bang Washington, Liên Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH/WA, Hội Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức Washington, Hội Tương Trợ Lực Lượng CSQG/WA, Công Đoàn Công Giáo VN Olympia, Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa Xã Hội Người Việt Quốc Gia Washington, Liên Minh Dân Chủ VN Washington, Hội Đồng Hương Quảng Nam-Đà Nẵng Washington TB/WA v.v…

Theo sự ghi nhận của phái viên chúng tôi: đây là “Billboard hình ảnh LM Lý bị VC bịt miệng” thứ hai, được trương cao cạnh xa lộ liên bang tại Hoa Kỳ. Trước đó là Billboard tương tự được trương cao cạnh xa lộ liên bang 101, tại exit McKee (San Jose, Bắc Cali) ngày 7 tháng 6 năm 2007.
Tấm billboard cao 14 feet (4.26m) và bề ngang 48 feet (14.63m) được dựng trên freeway (xa lộ) 101 tại Bắc Cali nối liền San Jose và San Francisco

Billboard tại xa l I-5 được thực hiện trên bảng điện tử, có thể nhìn thấy từ 2 chiều xa lộ: nếu đi từ Tacoma ngược lên Seattle sẽ thấy tấm bảng bên phía trái cao 20 feet và bề ngang 40 feet, nếu đi từ Seattle xuống phía nam (South I-5) thì sẽ thấy tấm bảng 15’ x 20’ phía tay phải. Cả hai phía đều nhìn thấy Billboard hiện ra hàng chữ lớn Vietnam Today và bức hình LM Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng bởi Công An CSVN, với hàng chữ ‘Father Ly at the People’s Court in Hue City on March 30, 2007’. Màn hình kế tiếp hiện ra hàng chữ: ‘We Must Speak Up: Human Rights Now! Call U.S. State Department (202) 647-8257’. (@vietvungvinh.com)

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Thư của ĐHY Phạm Minh Mẫn kính gởi Báo CG và DT và các Cơ quan Truyền thông CGVN

Thư của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Kính gởi Báo Công Giáo và Dân Tộc
và các Cơ quan Truyền thông Công giáo Việt Nam

1. Tôi nghĩ rằng sự thật là một yếu tố nền tảng cho công cuộc phát triển vững bền đất nuớc, xây dựng các mối quan hệ xã hội thành một sức mạnh cho công cuộc phát triển đó. Tôi cũng nghĩ rằng, theo giáo huấn của Giáo Hội công giáo từ Công Đồng Vatican II đến nay, chức năng của cơ quan truyền thông công giáo là thông truyền trung thực sự thật toàn vẹn về Thiên Chúa, về con người và cuộc sống, nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng nói trên, đồng thời nhằm loan truyền Chúa Giêsu Kitô là sự thật trọn vẹn về Thiên Chúa và con người, là sự thật mang ánh sáng khôn ngoan và sự bình an cho mọi người trong xã hội đang biến chuyển và trong thế giới toàn cầu hoá hôm nay.

2. Thực tế cho thấy cơ quan truyền thông xã hội nơi nầy nơi khác thông truyền có khi là sự thật thật, có khi là sự thật ảo, có khi là sự thật bị cắt xén, bị bóp mép, thêm râu ria, có khi là sự thật một chiều, một mặt. Phải chăng nguyên nhân là do quan điểm cho rằng sự thật chỉ là những gì có lợi cho mình? Hoặc do cái nhìn bị giới hạn bởi hoàn cảnh? Hoặc do nỗi sợ hãi nào đó thường núp bóng sau lưng những hình thức bạo lực? Và hậu quả trước mắt là dễ tạo ra mâu thuẫn đối kháng, hoặc gây nhiễu và làm biến chất những mối quan hệ xã hội.

3. Để minh họa cho thực tế trên, tôi chia sẻ kinh nghiệm qua vài trường hợp liên hệ ít nhiều đến tôi.

* (1) Năm 1998, tôi mới về Thành phố nầy, dịp lễ Giáng Sinh, tôi đi cử hành lễ tại một giáo xứ thôn quê, xa trung tâm TP, vì cha xứ già yếu, bệnh tật. Báo đài thông tin là đêm Giáng Sinh tôi hành lễ tại Nhà Thờ Chánh Toà, có đông đảo người dự.
* (2) Năm 2003, sau khi dự lễ phong Hồng Y ở Roma và dự Đại hội HĐGM Mỹ, với tư cách là Hồng Y, tôi đến chào thăm Thủ Tướng VN. Người tiếp tôi là Phó Thủ Tướng Vũ Khoan. Trước tiên, ông kể cho tôi nghe về chuyến thăm Nước Mỹ của ông, Sau đó tôi có kể cho ông về chuyến đi thăm của tôi. Tôi có thông tin cho ông là HĐGM Mỹ và Tổng Thống Clinton cùng có chủ trương hoà giải giữa 2 bên trước đã từng sát hại lẫn nhau. Tôi có gặp Bộ Ngoại giao Mỹ và góp ý rằng chủ trương hoà giải đòi hỏi phải được thể hiện qua con đường đối thoại trong sự tôn trọng sự thật và tôn trọng lẫn nhau, hợp tác lành mạnh và xây dựng. Cái mình đọc phải được bổ sung bằng cái nhìn vào thực tế cuộc sống, cái trao đổi rộng rãi nhằm nắm bắt sự thật đầy đủ hơn, sự thật về cuộc sống, về lòng người. Sau đó, báo đài chỉ thông tin đơn giản rằng tôi hứa cộng tác vào công việc xây dựng đất nước.
* (3) Tháng 6.2007, tôi đọc một bài báo của Công Giáo và Dân Tộc mà EDA dịch và đăng tải. Đọc xong, tôi có ý kiến với EDA là bài báo đó chỉ nói một mặt, một phần của sự thật, theo suy nghĩ một chiều của cá nhân. Có những trường hợp, nói một nửa sự thật, nói một chiều, cắt xén hay thêm thắt, trở thành cách lừa đảo và ăn gian hay nhất. Đăng tải là phạm tội đồng lõa. Nhưng Chúa có kết tội hay không là tùy có ý thức và cố tình hay không.
* (4) Tháng 7.2007 này, báo ở đây có đăng tải câu chuyện CNN phỏng vấn Chủ Tịch Nước VN, với những thêm thắt, không đúng với sự thật, liên hệ đến HĐGM.VN, làm cho Đức Cha Chủ Tịch phải băn khoăn và bận tâm đính chánh chuyện mà người thì cho là nghiêm trọng, kẻ khác cho là chuyện cơm bữa hằng ngày.

4. Những kinh nghiệm đó dần dần biến nhiều người thành Tào Tháo, thường xuyên sống trong đa nghi và nghị kỵ lẫn nhau. Thế nhưng, đối với người dè dặt, nó cho thấy rằng làm gì có sự thật toàn vẹn trong xã hội ngày nay, chỉ có sự thật một chiều, một mặt, sự thật ảo, và sự thật cần thời gian để xuất hiện dần dần cách đầy đủ hơn.

5. Điều tôi ước mong là cơ quan truyền thông công giáo không bao giờ biến người tín hữu thành kẻ đa nghi đối với chính Chúa và gia đình Giáo Hội của mình, thành Tào Tháo đối với anh em đồng bào và đồng loại của mình. Hãy luôn ý thức và trung thành với chức năng của mình, vì sự nghiệp của đất nước, vì sứ vụ loan truyền sự thật Chúa Kitô yêu thương và phục vụ cho sự sống và phẩm giá con người.

TP. HCM, Ngày 10.7.2007
Gioan B. Phạm Minh Mẫn
+ Hồng Y Tổng Giám mục

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Hãy làm một cái gì đó để không ân hận !

Bài của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa (Hải Phòng) viết đêm 9 tháng 3 năm 2007, tức là ba ngày sau khi Công an Cộng sản Hà nội đột kích bắt giam hai nhà trí thức Việt Nam tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền – luật sư Nguyễn Văn Đài và nữ đồng nghiệp của ông, luật sư Lê Thị Công Nhân. Kể từ ngày 6 tháng 3 năm 2007, bốn tháng nặng nề trôi qua trong trại tù của một chế độ phi nhân phi nghĩa. Thế giới đều biết rằng Cộng sản Hà nội vừa mở một đợt trấn áp nghiêm trọng nhứt từ 20 năm qua. Trong ‘chiến dịch khủng bố’ qui mô đó, nhà cầm quyền cộng sản đã đối xử rất tàn nhẫn và giam cầm độc đoán nhiều nhà văn, nhà báo, dân chủ đối kháng. Đó là những người dấn thân tự nguyện, chỉ có ngòi bút, tiếng nói và tấm lòng đối với dân tộc và quê hương. Họ tranh đấu đòi quyền tự do phát biểu, thông tin, lập hội và quyền bênh vực các từng lớp xã hội thấp cổ bé miệng. Nhứt là công nhân và nông dân nạn nhân của một bộ máy thống trị cường bạo đạt đến đỉnh cao của sự bất công, dối trá và nhũng lạm. Đọc bài viết của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, chúng ta nhớ đến, với niềm tri ân, nhà dân chủ đối kháng trẻ tuổi Lê Thị Công Nhân và người bạn đồng nghiệp chí hữu của cô, luật sư Nguyễn Văn Đài, mà chúng ta quý mến và ngưỡng mộ. Cũng với niềm tri ân, chúng ta sẽ liên tưởng đến nhiều người tù chính trị, ngôn luận và lương tâm bị giam cầm trước và sau ngày 6 tháng 3 năm 2007. Không thể kể hết, nhưng ít nhứt, có những trường hợp gần đây, như linh mục Nguyễn Văn Lý, ông Nguyễn Phong, ông Nguyễn Bình Thành, ông Lê Nguyên Sang, ông Huỳnh Nguyên Đạo, ông Nguyễn Bắc Truyển, ông Trần Quốc Hiền, bà Bùi Kim Thành, bà Trần Khải Thanh Thủy, cô Nguyễn Thị Thùy Trang, ông Lê Trung Hiếu, ông Trương Quốc Huy, ông Vũ Hoàng Hải, ông Nguyễn Ngọc Quang, ông Phạm Bá Hải, v.v.

Đêm nay, chúng tôi cùng nghe lại tiếng nói của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa từ Hải Phòng nhắn gởi chúng ta:

Hãy làm một cái gì đó để không ân hận !

Tôi hân hạnh được gặp LS Nguyễn Văn Đài 2 lần; lần thứ nhất tại tư gia BS Phạm Hồng Sơn vào chiều ngày 23 tháng 10 sau khi BS Phạm Hồng Sơn ra khỏi nhà tù cộng sản được hơn một tháng. Lần đó tôi còn được gặp tại đây cả kỹ sư Nguyễn Phương Anh, Kỹ sư Bạch Ngọc Dương, rồi còn được kỹ sư Nguyễn Phương Anh chở bằng xe gắn máy đến tư gia thăm cử nhân Nguyễn Khắc Toàn (cũng mới được phóng thích do áp lực của dư luận trong và ngoài nước).

Dù ngay chiều tối hôm ấy, khi một mình ra khỏi nhà anh Nguyễn Khắc Toàn bị công an Hà Nội chặn giữ vu cáo tiêu thụ tiền giả và bị câu lưu 4 giờ đồng hồ, tôi vẫn coi đó là cuộc hội ngộ trời ban. Không dễ gì trong sự bao vây, chia cắt và đe doạ của công an mà trong một buổi chiều tôi được gặp gỡ nhiều gương mặt trí thức tiêu biểu của Hà Nội đang dấn thân đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền đến vậy.

Lần thứ hai tôi được gặp LS Nguyễn Văn Đài vào ngày đi dự tang lễ cụ Nguyễn Như Bá, thân sinh tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, một trong những yếu nhân khởi xướng phong trào dân chủ từ những ngày đầu tiên. Những phút gặp gỡ ngắn ngủi ấy tuy chúng tôi không nói với nhau được bao nhiêu, nhưng cũng đủ để quý nhau, kính trọng nhau. Chúng tôi đâu có nhu cầu biến mỗi cuộc gặp gỡ hiếm hoi kia thành một buổi sa lông chính trị. Đáp số về chủ nghĩa cộng sản độc tài phản động, chủ nghĩa đa nguyên tiến bộ, hợp quy luật đã được giải quyết trong các tác phẩm của những nhà triết học uyên bác từ những thập kỉ của thế kỷ XX ở nước ngoài và cả trong nước; và cũng đã được minh chứng bằng thực tiễn mà nhân dân Việt Nam, trong đó có chúng tôi trải nghiệm. Vấn đề bây giờ là chúng tôi có cơ hội gặp nhau, được nhìn thấy và được bắt tay những con người dị sàng đồng mộng.

Cũng như vậy, tôi được gặp nữ LS Lê Thị Công Nhân chỉ hai lần.

Như các bản tin dân chủ đã đăng tải trên mạng ykien.net, http://www.thongluan.org , ngoài vỉa hè và trong nhà tang lễ cụ Nguyễn Như Bá hôm ấy dày đặc công an. Vượt qua những cặp mắt soi mói thù hận vô cớ của một thứ công cụ vô cảm, chúng tôi mang theo tâm trạng chia sẻ đau buồn với tang chủ, nhưng bên cạnh đó vẫn tay bắt mặt mừng vì được gặp nhau.

Khi Lê Thị Công Nhân xuất hiện, chúng tôi ngắm cô từ xa với thứ tình cảm trộn lẫn giữa kính trọng, quý mến và quan ngại.

Nhìn Lê Thị Công Nhân, tôi ao ước được nhìn thấy cô trên sàn diễn thời trang, trên kịch trường hoặc một cuộc thi hoa hậu chứ không phải giữa vòng vây dày đặc của mật vụ Hà Nội. Thế nhưng, cuộc đời là thế! Từ một mẩu xương sườn của ông Adams, Chúa Trời đặt Jeanne d’Arc xuống mặt đất, dù là chốn trần ai, nhưng không phải để chết, thế mà cô đã chết như một liệt nữ cho nền tự do của nhân dân Pháp.

Lê Thị Công Nhân lọt vào giữa chúng tôi với một chiếc khăn len rộng màu trắng vắt hờ qua đầu, một thân hình nhỏ nhắn trong bộ váy áo màu đen xám sang trọng và nụ cười trẻ trung, tự tin, thông minh cùng một bàn tay dịu dàng. Với riêng tôi cô nói thêm bằng thanh đới trong trẻo, dịu dàng và tin cậy:

– Cháu có đọc những bài viết của chú !

Tôi ước được nắm chặt bàn tay cô thật lâu. Đó là một chiếc lá xanh non của một thân cây xanh non nổi bật giữa hàng ngàn thân cây còn xanh mà đã tàn úa tâm hồn và ý chí đang qua lại ngoài kia vì bị đầu độc bởi học thuyết cộng sản từ trong ghế nhà trường hoặc bị ném vào chiếc máng bố thí bổng lộc của chính quyền, hoặc bị nhào nặn thành nô lệ của nỗi sợ cường quyền, thành những viên bi óng ánh trên truyền hình, trên sàn thời trang, trong hộp đêm và các kỳ thi tuyển Speaker… đặng thay tấm khăn voan che đậy một xã hội ô nhục .

Tôi không có can đảm để nói với Lê Thị Công Nhân rằng tôi ước có một người con gái như cô; bởi ngoài tư chất là một người con gái dịu dàng, xinh đẹp, thông thái, có học vấn, Lê Thị Công Nhân còn mang tư chất của một nhân vật của cộng đồng đau khổ và đang biết phản kháng, một thủ lĩnh tinh thần cho ngay cả lớp đã có tuổi như tôi nữa.

Ngay tại nhà tôi đây; lần thứ hai tôi được gặp cô. Đó là ngày mồng bốn tết Đinh Hợi, sau sự kiện công an Hà Nội đàn áp các nhà dân chủ trẻ tại Văn phòng luật sư Thiên Ân. Bà Trần Thị Lệ (thân mẫu) và LS Lê Thị Công Nhân đã mang đến gia đình tôi một hân hạnh to lớn. Không phải chỉ có tôi, vợ tôi và những anh em dân chủ Hải Phòng có mặt hôm ấy, phải ngỡ ngàng, bối rối; mà hai người bạn của vợ tôi, nghe vợ tôi giới thiệu cũng phải sửng sốt.

Lúc ấy Ông Nguyễn Mạnh Sơn đã rỉ tai tôi khen rằng tôi đã “tổ chức được một buổi gặp gỡ để đời”. Nào tôi có công gì trong ngày hôm ấy. Chúng tôi phải cảm ơn Chúa. Chúa đã cho chúng tôi được hội ngộ một lần nữa với cô và lần đầu tiên với mẹ cô.

Tiết trời hôm ấy nóng ấm khác hẳn tiết trời của những cái tết đã qua cộng với không khí nồng nhiệt của những con người chấp nhận hiểm nguy đấu tranh cho lý tưởng dân chủ gặp nhau tạo ra, khiến vợ tôi phải bật quạt máy. Mẹ con LS Lê Thị Công Nhân ăn rất ít. Với Lê Thị Công Nhân, lúc đó tôi chỉ biết cô đã 28 tuổi, chưa xây dựng gia đình; sau này tôi còn biết thêm khi cô chưa hoạt động dân chủ không ít thanh niên thức giả đã coi cô là mục tiêu lớn nhất của cuộc đời. Rồi tất cả cụp đuôi quay gót khi người chủ vượt qua được cái ngưỡng sợ hãi để bước vào con đường phấn đấu cho nền dân chủ của đất nước, còn họ thì không.

Một ai đó nhắc lại câu trả lời phỏng vấn của bà Trần Thị Lệ trước đài RFA: “Không có lý do nào để một đảng muốn thành lập lại đi xin phép một đảng khác”.

Lê Thị Công Nhân nói rất ít để nhường lời cho mẹ. Với giọng Nam bộ, thanh, mỏng dễ nghe, vừa sang trọng vừa khiêm nhường bởi được giáo dục trong nền văn hoá nhân bản của chế độ cũ phi cộng sản, Bà Lệ kể lại cho chúng tôi nghe những lần công an Hà Nội chất vấn bà về hoạt động dân chủ của con gái và cái cách trả lời lại họ, vừa bảo vệ được lý tưởng của con, vừa mềm mỏng và thấu tình đạt lý. “Con gái tôi chính nghĩa! Con gái tôi là người yêu nước, yêu nhân dân Việt Nam…. Đó là những câu của bà tôi còn nhớ từ đài RFA. “Ai trong chúng ta không có một người mẹ! Ai trong chúng ta không nhận được sự yêu thương lo lắng của người mẹ trên từng bước đi chập chững cho đến tuổi dựng vợ, gả chồng, tránh xa chông gai, hệ luỵ để yên ổn làm ăn, chăm sóc gia đình?. Nhưng chấp nhận đặt đôi chân mỏng mảnh như tơ lụa trên con đường dân chủ đầy chông gai và hiểm hoạ này, mấy ai có một người con như LS Lê Thị Công Nhân và một người mẹ như bà? Đấy phải chăng là hình mẫu của người con gái Việt Nam anh hùng và một người mẹ Việt Nam anh hùng trong một tương lai không xa, đạp đổ hình ảnh phi nhân tính và thô lậu của những “người mẹ Việt Nam anh hùng” made in cộng sản mụ mị tiễn con vào chốn nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn trong cuộc nội chiến Bắc- Nam gây bao đau thương di hận.

Cuộc vui nào cũng có hồi kết. Khi chỉ còn lại chúng tôi, ông Vũ Cao Quận so sánh Lê Thị Công Nhân với một chiếc li pha lê, trong suốt, mỏng manh. Ông nói rằng với một người hoạt động dân chủ, ông luôn ao ước có cô, một cô gái xinh đẹp, thông minh, can tường trong lực lượng, một bông hoa giữa gió sương phũ phàng để có cái noi gương và có cái bảo vệ, nhưng với tâm trạng của một người bố, ông không thể đành lòng để Lê Thị Công Nhân nhiều phen phải ” trần trụi giữa bầy sói” khi bước vào con đường hoạt động chính trị. Còn tôi ví Lê Thị Công Nhân như một viên kim cương quý hiếm đã được mài giũa rực sáng lên, cả trong đời thường và môi trường chính trị

Sau buổi hội ngộ hôm ấy, chúng tôi lần lượt bị công an Hải Phòng “mời làm việc”. Sẽ chẳng có bài viết này nếu vào chiều ngày 07-3 tôi được tin luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị bắt qua bản tin và bình luận của giới đĩ bút, đĩ mực trong nước.

Bắt giam luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sau vụ bắt giam linh mục Nguyễn Văn Lý đầu tết Đinh Hợi, khép những nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ này vào tội danh ” tuyên truyền chống nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” chính quyền cộng sản đã phơi bày bộ mặt nham hiểm, đổi trắng thay đen vi phạm Hiến pháp, vi phạm công ước nhân quyền quốc tế mà họ đã ký kết. Vì các vụ bắt giam này xảy ra sau khi được gia nhập WTO, ký được hiệp định thương mại Việt -Mỹ, được rút tên ra khỏi danh sách LHQ quan tâm về tôn giáo nên mang nặng thêm yếu tố ” khỏi vòng cong đuôi” của một chính đảng tồn tại bằng lừa đảo.

Như chúng ta đã biết, tất cả các nước (trừ 4 nước cộng sản còn sót lại) không ở đâu và một chính đảng nào được phép dùng bạo lực đàn áp một chính đảng khác; cũng không một chính phủ nào dám coi việc chỉ trích Chính phủ là “chống lại Nhà nước”. Tương tự như vậy không còn một lực lượng cảnh sát nào và ở đâu là công cụ của một chính đảng đàn áp một đảng đối lập. Tôi tha thiết kêu gọi ĐCSVN và lực lượng CAND Việt Nam hãy suy nghĩ thật nghiêm túc hành vi họ đang làm để không bị mang tiếng là một chính đảng man rợ cùng một công cụ rừng rú trong sinh hoạt chính trị cộng đồng nhân loại. Bạo lực đang và sẽ bị loại trừ hoàn toàn khỏi đời sống chính trị và xã hội loài người (trừ xã hội loài vật) Với Lê Thị Công Nhân, tôi kêu gọi các người hãy thận trọng.

“… nhưng có lẽ nào chúng ta chỉ có thể làm được đến thế!? Thế giới văn minh phát triển về nhân văn, nhân quyền, văn hoá và kinh tế không lẽ chúng ta chỉ làm được như vậy đối với công cuộc đấu tranh giành nhân quyền, dân chủ và tự do của người Việt Nam chúng tôi !?“. Tôi xin nhắc lại đoạn kêu gọi này của nữ luật sư Lê Thị Công Nhân từ Hà Nội gửi qua cuộc biểu tình của cộng đồng người Việt tại Nam California trước khi cô bị bắt; và xin gửi thêm vào đó tiếng nói của tôi với toàn thể anh chị em hoạt động dân chủ trong nước, cộng đồng người Việt Nam yêu quý của tổ quốc đang sinh sống ở nước ngoài, các cá nhân, tổ chức quốc tế đồng cảm với sự đau khổ của đại đa số nhân dân Việt Nam và Chính phủ, Quốc hội các nước quan tâm đến Việt Nam rằng : ” Hãy làm một cái gì đó để không ân hận !“

Hải Phòng, đêm 9 tháng 3 năm 2007
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Đừng khinh thường quần chúng

“…lãnh đạo các tỉnh có dân tập trung khiếu kiện nêu trên, hình như họ “xa nhân dân”, “sợ nhân dân”, “không hiểu biết nhân dân”…”

Có ý kiến cho rằng một số người dân miền Nam tập trung ở trụ sở Văn phòng 2 của Quốc Hội tại Thành phố Hồ Chí Minh để khiếu kiện là do “bọn hải ngoại lôi kéo, xúi giục”. Luận điều này vừa cũ rích vừa thể hiện cái tư duy rất bảo thủ và xem thường quần chúng.

Ai chẳng biết rằng quần chúng nhân dân chính là những người viết nên lịch sử chớ không phải một vài cá nhân hay một giai cấp nào. Dân tộc Việt Nam vốn nổi tiếng thông minh và giàu sáng tạo mà dễ dàng để bị lôi kéo, xúi giục làm chuyện bậy bạ ư?

Chính quyền của ai?

Ông Vũ Đức Khiển-Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật nói: “Khi còn kháng chiến, cán bộ đến nhà, dân mở cửa tiếp đón, nấu cơm cho ăn, nay dân đến nhà, chẳng lẽ không tiếp?” (Thanh Niên ngày 07/5/2006). Ngày xưa, dù bị o ép, bị đàn áp nhưng người dân vẫn một lòng đi theo cách mạng, nuôi giấu cán bộ, chống lại chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lực lượng hùng hậu hơn lực lượng cách mạng miền Nam rất nhiều lần, không màng đến chuyện hiểm nguy đe dọa tính mạng; vậy có phải là quần chúng bị “Việt cộng lôi kéo, xúi giục”, hay là họ quyết tâm làm cái việc mà họ cho là đúng?

Có lẽ cần phải nhắc lại rằng, Báo cáo kết quả làm việc của sáu đoàn công tác Chính phủ kết luận: “Qua kiểm tra, phần lớn là dân khiếu kiện đúng” (VnExpress ngày 2/2/2001).

Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Nguyễn Thị Hoài Thu bày tỏ quan điểm: “Đại biểu phải lắng nghe dân nói, xem xét kỹ lưỡng vụ việc dân khiếu kiện có đúng pháp luật không, nêu rõ yêu cầu, kiến nghị gửi cơ quan có thẩm quyền giải quyết chứ không chỉ làm mỗi việc kính chuyển”. Bà nói thêm: “Trong nhiều năm làm công tác dân nguyện, tôi thấy là đơn thư của dân nhiều vụ khiếu kiện đúng, ít vụ sai.” (Thanh Niên ngày 07/5/2006).

Trong vấn đề người dân tập trung khiếu kiện đông người tại Văn phòng Quốc Hội, công dân bình thường như tôi không thể tiếp xúc được với người khiếu kiện và cũng không được nghiên cứu hồ sơ khiếu kiện nên tôi không bàn đến chuyện khiếu kiện đúng hay sai, người dân có thể đúng và cũng có thể sai.

Ở đây, tôi muốn đề cập đến vấn đề vì sao lại để cho người dân khiếu kiện nửa tháng nay (và chưa có dấu hiệu chấm dứt) như thế? Họ giương biểu ngữ đả đảo tham nhũng, đả đảo chính quyền tỉnh, cắm cờ đỏ sao vàng la liệt, treo ảnh Bác; và bây giờ, do sinh hoạt ăn uống, ngủ nghê tại chỗ nên họ bắt đầu phơi quần áo, căng tấm ni-lông che mưa che nắng lên hàng rào trụ sở Văn phòng Quốc Hội, mỗi buổi chiều đi ngang đều nhìn thấy một đống vỏ bao thức ăn to tướng ngay cổng ra vào Văn phòng, thật là nhếch nhác. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều du khách nước ngoài đến Việt Nam du lịch, nhìn vào cảnh tượng này du khách sẽ nghĩ gì về năng lực làm việc của chính quyền sở tại?

Cổ nhân có câu: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua nhẹ nhất). Đây chính là cái đạo lý dân làm chủ, lấy dân làm gốc, cái tinh thần dân chủ đã có từ thời phong kiến. Nay quần chúng tập trung đông người ăn ở vạ vật bên lề đường, dầm mưa dãi nắng, lại ngay trước trụ sở Văn phòng Quốc Hội, mà chính quyền địa phương (có dân khiếu kiện) không có biện pháp giải quyết ổn thỏa để người dân “tâm phục khẩu phục” thì cái đạo lý “dân vi quý” ở đâu?

Chính quyền chúng ta là chính quyền nhân dân, hành xử theo nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, ở sát ngay bên dân, ở ngay trong dân mà lãnh đạo địa phương lại không thuyết phục được dân. Có người lại đổ cho bên ngoài cách xa vạn dặm lôi kéo, xúi giục thì có còn ý nghĩa chính quyền của dân nữa hay không?

Xa rời nhân dân

Trong bài “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu mệnh lệnh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo (bản gốc hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam), Người kịch liệt phê phán những cán bộ miệng thì nói dân chủ, nhưng khi thực hiện công việc thì lại theo lối quân chủ và xa rời nhân dân.

Người viết:
“Bệnh quan liêu mệnh lệnh từ đâu mà ra?
Nguyên nhân bệnh ấy là:
Xa nhân dân: do đó mà không hiểu tâm lý của nhân dân, nguyện vọng của nhân dân.
Khinh nhân dân: cho là dân ngu khu đen, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị cao xa như mình.
Sợ nhân dân: Khi có sai lầm khuyết điểm thì lại sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa.
Không tin cậy nhân dân: họ quên rằng không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy dễ mấy làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân thì việc khó mấy to mấy cũng làm được.
Không hiểu biết nhân dân: họ quên rằng nhân dân cần trông thấy quyền lợi thiết thực, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích riêng và lợi ích chung, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn cuộc, đối với dân không thể lý luận suông.
Không yêu thương nhân dân: do đó họ chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất, cải thiện sinh hoạt, để bồi dưỡng sức của sức người của nhân dân”.
Tôi thấy lãnh đạo các tỉnh có dân tập trung khiếu kiện nêu trên, hình như họ “xa nhân dân”, “sợ nhân dân”, “không hiểu biết nhân dân”.

Còn ai đó cứ đổ lỗi cho người ngoài lôi kéo, xúi giục dân là “khinh nhân dân”, “không tin cậy nhân dân”, mà còn là tự nhận mình bất lực, bất tài và không có uy tín với dân.

Được biết “Lãnh đạo TTCP đang tập trung cao độ để có biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng dân đổ về TP.HCM khiếu kiện. Hướng chỉ đạo của TTCP vẫn là vận động người dân trở về địa phương và yêu cầu lãnh đạo UBND các tỉnh trực tiếp tiếp xúc với người dân, giải quyết khiếu kiện ngay tại địa phương mình. Cũng với hướng này, TTCP sẽ giải quyết đối với khoảng 140 người dân của tỉnh Bình Thuận hiện đang có mặt ở Hà Nội để khiếu kiện” (Tuổi Trẻ ngày 7/7/2007). Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay (10/7/2007) vẫn còn thấy người khiếu kiện “bám trụ” tại trụ sở Văn phòng Quốc Hội (Thành phố Hồ Chí Minh).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố; cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

Người đề ra biện pháp “chữa bệnh” quan liêu mệnh lệnh là: “Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình. Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm kiểu mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”.

Đừng khinh thường quần chúng ngu dốt để người ngoài “xúi giục”, “lôi kéo” mà xin ai kia hãy thấm nhuần tư tưởng, đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh để dũng cảm tự nhìn lại chính mình.

Tạ Phong Tần
Thành phố HCM
Nguồn: BBC, Tiếng Việt, ngày 10/7/2007

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Thư ngỏ kính gởi Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam Xin hãy bênh vực cho những người dân oan

Kính thưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt,
Kính thưa Đức Giám Mục Nguyễn văn Hòa,
Kính thưa Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn,
Kính thưa các đấng bậc trong HĐGMVN,
Kính thưa quý độc giả trong và ngoài nước,

Từ ngày 22 tháng 6 năm 2007 đến nay, những người dân oan từ các tỉnh Bình Dương, Tiền Giang, Bình Phước, Bến Tre .v.v.. kéo về thành phố SàiGòn khiếu kiện về đất đai nhà cửa của họ bị chế độ Việt gian CS cưỡng chiếm.

Trước thực trạng đau khổ và bi đát của những người dân oan đang bị lâm vào cảnh “màn trời chiếu đất”, kính xin Đức TGM Ngô Quang Kiệt, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và những đấng bậc trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chọn cách hiện hữu và hiện diện đối với những người dân oan qua dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”.

Trong bài viết mới nhất của Đức TGM Ngô Quang Kiệt gởi ra Hải Ngoại dưới nhan đề “Nhớ Mang Theo Trái Tim”.

Để nội dung bài viết “Nhớ Mang Theo Trái Tim” của Đức TGM Ngô Quang Kiệt được đi đôi với hành động cụ thể: con kính mong Đức TGM Ngô Quang Kiệt, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn và những đấng bậc trong Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hãy thương xót bằng cách:

– Quyết tâm hành động và lên tiếng bảo vệ những người dân oan bị Việt gian CS cướp bóc đất đai nhà cửa.

– Mở cửa Nhà Chung cho những nạn nhân bị cướp bóc nhà cửa trú ngụ gọi là “cho khách đỗ nhà”. Vì vườn hoa Mai Xuân Thưởng và Văn Phòng 2 Quốc Hội Việt gian CS không xa Nhà Chung, không xa Tòa Giám mục, nơi Ðức TGM Ngô Quang Kiệt và Hồng Y Phạm Minh Mẫn cư ngụ.

– Kêu gọi các Linh Mục, tu sĩ nam nữ và Giáo Dân tại các Giáo Phận cứu trợ khẩn cấp cho những dân oan.

Trân trọng,
Sarah-Anne Nguyễn


Xin trích dẫn bài viết từ Đức TGM Ngô Quang Kiệt:

Thứ Ba, 10.07.2007
Nhớ Mang Theo Trái Tim
+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

NHỚ MANG THEO TRÁI TIM (Lc 10, 25-37)

Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thầy thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa “làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời”.

Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện bình thường xảy ra hằng ngày: Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thầy tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thầy Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria , một người ngoại đạo, đã chạnh lòng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông còn chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi bình phục.

Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm vì có trộm cướp rình rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:

1. Đó phải là một trái tim nhạy bén.

Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nhìn thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn.

Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động lòng. Trái tim các thầy bị đóng kín vì những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật.

Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nhìn bằng đôi mắt, nhưng nghe và nhìn bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rõ tiếng rên rỉ thì thầm tận đáy lòng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nhìn thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.

2. Đó phải là một trái tim quan tâm.

Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đã tránh sang bên kia đường mà đi.

Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. Vì có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. Vì quan tâm nên ông đã mang sẵn bên mình nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đã lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đã làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đã làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt tình để cứu nạn nhân.

3. Đó phải là một trái tim chung thuỷ.

Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dõi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim, mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì các thầy không mang theo trái tim.

Người xứ Samaria đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình ông. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời.

Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hãy lên đường với trái tim. Hãy lắng nghe với trái tim. Hãy hành động với trái tim. Hãy đi trên đường của trái tim. Hãy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hãy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Theo ý bạn đâu là những dấu hiệu cho thấy một tình yêu đích thực và đáng tin?
2- Mỗi khi gặp một người cần giúp đỡ, bạn có hăng hái ra tay giúp ngay hay còn chần chờ, viện lý do để thoái thác?
3- Sau khi nghe dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”, bạn có quyết tâm gì?
4- Mang theo trái tim nghĩa là gì?

+ TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Lời kêu gọi của Nhóm Người Việt Nam Yêu Nước

NHÓM NGƯỜI VIỆT NAM YÊU NƯỚC
Trụ sở: số nhà 506-A2, Ngõ 29- Phố Lạc Trung,
Quận Hai Bà Trưng, Tp.Hà Nội.
Đt/fax: 0084-04.6362300- 0912370646.
Email: Nhomnguoivietnamyeunuoc2006@yahoo.com .
Nhomnguoivietnamyeunuoc@gmail.com, nhomnguoivietnamyeunuoc2006@gmail.com.
Phía Nam: Ấp 1, xã Long Thọ-Nhơn Trạch-Đồng Nai.
Đt: 0084-0613.559542 – 0957513630

LỜI KÊU GỌI

Kính thưa các Quý Tổ chức và Cá nhân đấu tranh trong và ngoài nước!
Kính thưa Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước!

Nhóm Người Việt Nam Yêu Nước cũng như các Cá nhân và Tổ chức đấu tranh trong nước bị Lãnh đạo Đảng CSVN chỉ đạo Công An trấn áp và bắt bớ, giam tù không xét xử, quy kết đưa vào Bệnh viện tâm thần.

Trong thời gian vừa qua tất cả 100% Thành viên chính thức của Nhóm và những cá nhân liên quan đều bị CA triệu tập, hù dọa, xét hỏi nhiều lần. Anh Nguyễn Văn Ngọc và Anh Trịnh Quốc Thảo là hai Thanh viên lãnh đạo của Nhóm đã bị bắt giam tù từ 01.03.2007 đến nay. Anh Nguyễn Văn Ngọc bị giam một thời gian tại trại Giam Biên Hòa, sau đó bị CA chính trị quy kết và tống vào Bệnh viện tâm thần Tỉnh Đồng Nai đến nay (theo nguồn tin từ Đồng Nai và An Giang). Còn Anh Trịnh Quốc Thảo đến nay vẫn bị giam tại Trại Giam Biên Hòa, Khu giam số 5. Nguyên nhân bị bắt giam không rõ ràng, lý do không chính đáng và chưa có xét xử gì.

Anh Trương Minh Nguyệt và Nguyễn Trung Lĩnh bị triệu tập xét hỏi nhiều lần, hiện vẫn bị giam lỏng và giám sát chặt chẽ. Tất các thành viên khác tại Hà Nội, Hà Tây, Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vũng Tàu và Thanh Hóa đều bị CA triệu tập trấn áp, xét hỏi. Tuy vậy Nhóm vẫn kiên trì mục tiêu đã định, tiếp tục hoạt động tuyên truyền, phát triển Thành viên trên mọi Miền của Tổ Quốc, hoạt động hợp pháp, đấu tranh phù hợp với pháp luật hiện hành, không có dụng ý xấu, tất cả vì một nước Việt Nam phát triển toàn diện, đời sống nhân dân ngày một tốt đẹp, các giá trị Dân chủ Nhân quyền của Người Việt Nam được tôn trọng, vì một Bộ máy Chính quyền nhà nước ngày một hoàn thiện, vì Vấn đề Đảng phái chính trị và Hệ thống chính trị tại Việt Nam được hoàn chỉnh ngày một. Đứng trước những khó khăn của Nhóm và của hai Thành viên lãnh đạo của Nhóm hiện nay chúng tôi kêu gọi tất cả các cá nhân và Tổ chức đấu tranh, đồng bào Việt Nam ta trong và ngoài nước:

1- Có những hành động cụ thể lên tiếng, giúp đỡ Anh Nguyễn Văn Ngọc hiện bị giam tại Bệnh viện Tâm thần Tỉnh Đồng Nai (Anh chỉ còn mỗi mẹ già) và Anh Trịnh Quốc Thảo (có vợ và con trai chuẩn bị vào đại học) hiện bị giam tại Trại giam Biên Hòa, khu số 5. Địa chỉ gia đình 2 Anh là: Ấp 1, Xã Long Thọ, Huyện Long Thành, Đồng Nai và Ấp Bà Ký, Xã Long Phước, Huyện Long Thành, Đồng Nai. ĐT 0084-061.3559542.
2- Tiếp tục ủng hộ và ra nhập Nhóm hoặc liên minh với Nhóm để góp phần xây dựng nền chính trị đúng đắn và văn minh trên đất nước ta.

Xin chân thành cảm ơn và mong được sự ủng hộ, giúp đỡ của các Quý vị!
Hà Nội ngày 10.07.2007

Nguyễn Trung Lĩnh
Phát Ngôn viên của Nhóm Người Việt Nam Yêu Nước.

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

Cấp Tiến hay Thời Cơ? Chỉ Buôn Dân Bán Nước Mà Thôi

Justino Nguyễn
Tâm Thức Việt Nam

Đã hơn 32 năm trôi qua, sự xuất hiện của Việt Cộng tại hải ngoại, dù dưới hình thức nào, xin viện trợ, cầu cạnh chào hàng mua bán, văn công tuyên truyền… đặc biệt là tại các quốc gia tự do, đều gặp sự chống đối với nhiều cường độ khác nhau, nói chung là bền bỉ, của quần chúng khắp nơi, từ Mỹ châu sang đến Ấu châu, Úc châu. Đối với đồng bào và hội đoàn trong cộng đồng thì việc tham gia đông đảo trong các buổi biểu tình là một cơ hội bày tỏ sự bất đồng chính kiến một cách trực tiếp của cộng đồng đối với chế độ độc tài. Là khẳng định sự không chấp nhận chế độ độc tài cai trị trên đất nước Việt .

Tuy nhiên trên các báo chí, sự phản đối của cộng đồng đã được lượng giá khác nhau tùy theo quan điểm chính trị của người viết. Chủ yếu có những khuynh hướng như sau:

Những người có xu hướng thân cộng cho rằng đó chỉ là do một số người quá khích, thủ cựu và có quá khứ liên hệ với chính quyền miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Thành phần con buôn chủ lợi, trí thức tháp ngà thì cho rằng nhà cầm quyền Việt Nam đang phát triển tốt đẹp những giao tiếp với các quốc gia trên thế giới và tin tưởng rằng sự giao thương với cộng đồng quốc tế sẽ giúp Việt Nam cải thiện tình trạng nghèo nàn lạc hậu cũng như sẽ đóng góp vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Những nhà chính trị thời cơ sau nhiều năm tháng ngóng chờ và khi thấy Hoa Kỳ hé mở cánh cửa bang giao với chế độ thì đã ít nhiều lộ diện qua những thái độ, tạm gọi là nhập nhằng bất nhất khó hiểu. Đã nói thay, làm hộ cho Việt Cộng một số điều, bề ngoài thì như quan tâm đến tự do nhân quyền cho Việt Nam nhưng thực chất chỉ loay hoay quanh những việc làm mà bản chất không đi ra ngoài nguyên tắc Xin-Cho với chế độ. Nói một cách khác, những đề nghị của các nhóm người, của các tổ chức này không ngoài mục đích công nhận một cách bán chính thức tư cách đại diện hợp pháp của nhà cầm quyền Hà Nội để đòi hỏi, xin xỏ những nhựợng bộ chiếu cố của chế độ cho một thành phần, trong một lãnh vực hay một nhóm quyền lợi nào đó mà có mình ở trong. Thậm chí có cả những người còn mong mỏi có cơ hội được đấu tranh kiểu tham gia ứng cử trong quốc hội bù nhìn của đảng Việt Cộng dựng ra nữa.

Trong chuyến đi Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết, chúng ta thấy những xu hướng trên đã lộ ra rõ rệt qua các bài viết, qua sự tham dự lấm lét, âm thầm trong buổi tiệc Triết mời ở Dana Point, mặc dù tin tức trước khi Triết tới Mỹ đã cho thấy chuyến đi của Triết về mặt bang giao là thất bại. Thất bại qua việc đón tiếp của quốc gia chủ nhà Hoa Kỳ. Thất bại do những phát biểu lưỡi gỗ, thất học của Triết trước quốc hội Hoa Kỳ, báo chí và giới doanh nhân (thí dụ như những người bị xử tại Việt Nam vì phạm tội hình sự, quan niệm về nhân quyền tại Việt Nam khác với Tây phương,Việt Nam có nhiều gái đẹp…) Ngay cả những hợp đồng mua bán mà phái đoàn của Triết ký với giới tài phiệt Hoa Kỳ (khoảng 7 đến 8 tỷ) được kể là thành công thì cũng còn phải chờ xem. Ký trên văn bản giấy tờ tuy xong nhưng còn biết bao “nhiêu khê” khi thực hiện những hợp đồng trên thực tế. Không biết khi ấy người dân Việt Nam sẽ được hưởng bao nhiêu mẫu vụn của cái bánh hợp đồng nhưng chắc chắn một điều là những cán bộ, từ nhỏ đến lớn, từ Triết cho đến tay chân, hẳn phải được hưởng một số phần trăm hoa hồng không nhỏ so với gốc gác và tài năng. Đó là chưa kể về mặt dài hạn bao nhiêu tài nguyên của đất nước sẽ bị khai thác một cách vô tội vạ qua những hợp đồng trên hay dân Viêt Nam sẽ è cổ ra để trả nợ môt cách gián tiếp cho những hợp đồng mà phái đoàn của Triết đã ký với giới tài phiệt Hoa Kỳ. Vì thế hãy khoan cho rằng nhưng hợp đồng 7, 8 tỷ là môt thắng lợi cho Việt Nam như hệ thống tuyên truyền Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam, hay các tờ báo lá cải tại Hoa Kỳ loan báo.

Mặc dù thế, sau chuyến đi của Triết, một số những luận điệu cũ rích lại được đưa ra. Thoạt xem lướt qua thì có vẻ trung thực phê phán chế độ nhưng lại có tiềm ẩn mục tiêu nhằm đánh bóng các nổ lực của Hà Nội và cho rằng đó là tiến bộ và cải tiến. Phải kể đến những phát biểu của Võ Văn Kiệt, người mà một mặt thì tuyên bố “chính phủ không nên áp dụng biện pháp hành chính, không được quy chụp”, “điều quan trọng là cần đối thoại, chính kiến ý kiến khác nhau là chuyện thường.” Mặt khác thì để sang bên không chỉ thẳng vào bản chất của nhóm lãnh đạo Hà Nội đang nắm quyền, mà hành động chỉ phản ảnh sự ghì chặt quyền hành. Nguyễn Minh Triết thì được coi là đổi mới. Nguyễn Tấn Dũng thì “cần thời gian để đánh giá thêm và có ấn tượng với những quyết tâm của Nguyễn Tấn Dũng.” Kiệt còn nói thêm, ông hy vọng sự thay đổi nội các sẽ có những khuôn mặt nổi có khả năng như Nguyễn Thiện Nhân, Cao Đức Phát, Hoàng Trung Hải sẽ lên. Có tin đuợc chăng lời bàn của Kiệt?

Qua tin tức trên thì rõ ràng truyền thông ngoại quốc (cũng như vài tờ báo thương mại trong cộng đồng, các nhân vật chính trị thời cơ tại hải ngoại) cố khai thác hình ảnh một người cấp tiến của Võ Văn Kiệt từ khi viết lá thư gửi bộ chính trị cách đây trên mưòi năm đòi đổi mới đảng. Kiệt được coi như môt tay còn ảnh hưởng trong đảng Cộng Sản, có đầu óc cấp tiến, đưa ra những lời nói dễ nghe, giới thiệu những thành phần kể là tiến bộ, trẻ, có học, thân Hoa Kỳ và Tây phương, muốn thay đổi, bên cạnh những thành phần già nua, thủ cựu, bảo thủ, thân Trung quốc (là ai?) Luận điệu này đã được nhắc lại như vẹt bởi những tay chính trị thời cơ: “Nếu Hoa Kỳ không tiếp Triết theo nghi thức đàng hoàng thì khi Triết quay về sẽ bị phe thân Trung Quốc lấn lướt” (Lý Thái Hùng) hay “Ví dụ như ông Võ Văn Kiệt, ông ấy nêu ra mấy quan điểm mới. Ông ấy không thể gợi ý mạnh hơn các nhà dân chủ triệt để, nhưng cũng rất đáng hoan nghênh rồi…. Vâng. Tôi muốn nói thêm thế này. Đại tướng Mai Chí Thọ, khi còn sống, năm kia, ông ấy nói chưa chắc cái đảng này còn trụ nổi đến Đại hội Đảng lần sau. Nó chứng tỏ trong nội bộ cấp cao, có những người giữ quan điểm tiến bộ. Chúng tôi hoan nghênh những người Cộng Sản cấp tiến đó” (Hoàng Minh Chính)

Nhưng chỉ cần những ai có trí nhớ trung bình thì cũng biết rằng chính bản thân Kiệt là một tay cộng sản từng chủ trương “thay đổi” để cứu đảng chứ chẳng phải vì muốn cho dân có tự do dân chủ. Kiệt đã từng ký sắc lệnh quản chế 31 CP mà mọi người lên án. Và trong cuộc phỏng vấn của BBC mới đây, Kiệt không ngần ngại nói (như Nguyễn Minh Triết): “nếu một đảng có thể lãnh đạo đất nước, phát triển kinh tế, duy trì ổn định và làm dân hài lòng thì không cần có thêm môt đảng mới.” Trong chuyến đi của Triết vừa qua, chính Nguyễn Thiện Nhân với vai trò bộ trưởng bộ giáo dục, khi bị Thượng Nghị sĩ Chuck Hagel hỏi về cơ hội của những người trí thức trong chính trường Việt Nam thì Nguyễn Thiện Nhân đã ngậm miệng để cho phát ngôn viên phái đoàn từ chối trả lời thay là “bộ trưởng chỉ giải thích về những vấn đề giáo dục thôi, còn những vấn đề khác thì không nên mất thời giờ.” Chúng ta cũng nhớ rằng sau APEC thì Nguyễn Tấn Dũng là người ký nghị định gia tăng kiểm soát thông tin, sau khi gặp Đức Giáo Hoàng thì xảy ra vụ đàn áp bắt giam Linh mục Lý tại Huế. Triết thì đem phụ nữ Việt Nam ra dụ doanh nhân tài phiệt Hoa Kỳ đầu tư, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết đều được xếp loại là “trẻ và cấp tiến” và có khuynh hướng “muốn thay đổi” đã được Kiệt “là thế hệ già” bảo kê, lăng xê trên phương tiện truyền thông ngoại quốc. Ai có thể tin tưởng gì nơi thành phần trẻ và cấp tiến kiểu này?

Tóm lại, trong tập đoàn cầm quyền tại Việt Nam hiện nay, dù trẻ hay già, chẳng ai có thể đáng gọi là cấp tiến hay bảo thủ cả, mà chỉ là những tay ham quyền tham tiền và giữ ghế. Tài phiệt Trung quốc, Hoa Kỳ hay một nước nào khác nếu có liên hệ buôn bán với họ cũng chỉ vì những tay này có quyền lực trong tay, có quyền ký kết hợp đồng mua bán. Thấy được như thế thì sẽ hiểu rằng cho dù truyền thông ngoại quốc có thổi phồng, đặt tên hay dán nhãn mỹ miều cấp tiến cho một số nào trong tập đoàn độc tài cộng sản thì dưới mặt dân chúng Việt họ cũng chỉ là những phường buôn dân bán nước mà thôi.

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Biểu Tình Đòi Công Lý ở Saigon Protests over Land Robbery

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Độc đảng để ổn định? Thôi đi, đừng bốc phét!

Lê Diễn Đức

“Ổn định” Việt Nam?

Bản tin của đài phát thanh quốc tế Pháp RFI (Radio France Internationale) ngày 07/07/2007 đã trích dẫn nguồn tin của hãng thông tấn AP, thuật lại lời một sĩ quan công an quận Phú Nhuận, xác nhận tin tức biểu tình diễn ra từ 22 tháng 6 năm 2007 đến nay tại Sài Gòn của người dân 9 tỉnh thành miền Nam. Họ đã kéo đến Văn phòng II của Quốc Hội Việt Nam, chăng biểu ngữ, dựng lều cố thủ, phản đối nạn tham nhũng của quan chức các địa phương và đòi bồi thường đất đai bị cướp đoạt.

Dân Bến Tre chịu đựng đói khát, mưa gió để đòi lại “đất sắt thành đồng”
Nguồn:hohuong20042000
Như vậy là sự gan lỳ, chịu đựng đói khát, mưa gió để đòi quyền sống công bằng và chính đáng của bà con đã làm chính quyền không thể cứ giả mù, giả điếc và 600 tờ báo đảng cùng mấy kênh truyền hình bị há miệng mắc quai, cứ mãi mãi im thin thít như thịt nấu đông!

Tuổi Trẻ, (tờ báo mà giới thạo tin trong nước đồn rằng được cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt bảo hộ, che chở), bị quần chúng lên án ê chề, đã tự thấy không thể không lên tiếng, dù rất yếu ớt và né tránh thực tế. Họ chỉ dám đưa tin vắn tắt, chủ yếu về việc chính quyền đang phải đối phó ra sao. Còn không một chữ nào về các dữ kiện như chính quyền cho công an phong toả, cách ly người biểu tình với những người hảo tâm muốn đến giúp đỡ, tiếp tế đồ ăn thức uống và nhà nước đã ngầm tung ra mạng lưới đặc tình, mật vụ (đóng vai xe ôm, sửa xe gắn máy) xua đuổi quần chúng vì sợ đến lấy tin.

Mọi hành xử bội bạc, bất nhân của nhà cầm quyền đều vô hiệu. Cả nước và dư luận quốc tế trong mấy ngày qua biết rất rõ. Không bức tường nào ngăn được sự thật và tiếng nói lương tri của con người.

Nói về cuộc biểu tình của hàng trăm người dân, đặc biệt của nông dân tỉnh Tiền Giang, một căn cứ địa cách mạng thời chiến tranh của đảng cộng sản Việt Nam với nhiều bà mẹ anh hùng, liệt sĩ, xảy ra liên tiếp nhiều ngày ngay giữa thành phố Sài Gòn, RFI cũng nhấn mạnh rằng, “chưa có tờ báo nào trong nước loan tin”. Mãi đến ngày 07/07, tờ Tuổi Trẻ mới cho hay, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền yêu cầu lãnh đạo các địa phương phải giải quyết khiếu kiện của nhân dân địa phương, không để họ đi lên Sài Gòn.

Cũng theo Tuổi Trẻ, phó Tổng thanh tra chính phủ Mai Quốc Bình đã được cử về Tiền Giang chỉ đạo các quan chức địa phương để giải quyết khiếu kiện.

Lãnh đạo Tiền Giang đã thuyết phục được một số người quay về nhưng vẫn còn khoảng 70 đến 80 người ở lại bám trụ. Được biết, những người ở lại cho rằng, khiếu kiện không phải chỉ mới đưa ra vào lúc này mà hàng chồng đơn kêu cứu của bà con đã được các quan chức biết rất rõ từ nhiều năm nay nhưng bị vứt vào sọt rác. Bà con không muốn mình tiếp tục bị lừa phỉnh, dụ dỗ rồi đâu lại vào đó.

Một phó Tổng thanh tra Chính phủ khác là Lê Tiến Hào đã nói rằng, nhà nước sẽ phải giải quyết khiếu nại của 140 người dân khác của tỉnh Bình Thuận cũng đang “bám trụ” ở thủ đô Hà Nội.

RFI nhận xét rằng, những vụ tập trung, biểu tình trước các cơ quan đảng và nhà nước để khiếu nại về tình trạng đất đai, nhà cửa bị các quan chức địa phương chiếm đoạt bất công đã “trở nên quen thuộc trong những năm gần đây”, nhưng dường như “đây là lần đầu tiên, một cuộc biểu tình đã kéo dài như thế”.

Các cuộc biểu tình mới chỉ là hành động tự phát của bà con nông dân. Nếu như họ có tổ chức và được hỗ trợ mạnh mẽ về tinh thần và vật chất của toàn xã hội, của cộng đồng người Việt hải ngoại bằng những việc làm cụ thể với tinh thần đùm bọc và chia sẻ chân tình, chắc chắn sẽ làm Ba Đình điên đầu. Đại đa số quần chúng có nhân tâm không ai nỡ bàng quan và vô tình trước nỗi oan ức, thống khổ của những người nghèo đã từng một thời bao bọc, nuôi nấng các vị lãnh đạo đảng và nhà nước trong khó khăn, gian khổ, thậm chí đổi cả mạng sống, để cho họ được ngồi chệm chễ trên ngai vàng ngày hôm nay và trơ trẽn hiện nguyên hình những tên lừa đảo, phản trắc.

“Ổn định” Trung Nam Hải?

Trong khi đó, tại nước láng giềng phương Bắc của Việt Nam, người dân cũng đang tranh đấu với chính quyền càng ngày càng quyết liệt hơn, kể cả những cuộc biểu tình đụng độ với cảnh sát, đốt phá các cơ sở của nhà nước.

Theo RFI, Bắc Kinh vừa ra chỉ thị cho các chính quyền địa phương phải lưu tâm đến tình trạng mà họ gọi là “bất ổn xã hội” và phải tìm ra nguyên nhân làm cho quần chúng phẫn nộ để giải quyết. Nếu thất bại, cán bộ, nhân viên nhà nước sẽ không thăng chức. Theo hãng AFP, chính Tân Hoa Xã (Xinhua) đã đưa tin này trong ngày 07/07/2007, như là “một dấu hiệu phản ảnh sự lo ngại của Trung Ương”.

Cùng ngày, một cuộc họp về vấn đề nông thôn được diễn ra tại Bắc Kinh. Âu Dương Tùng, quan chức cao cấp của đảng cộng sản Trung Quốc đặc trách về vấn đề nhân sự cũng đã tuyên bố rằng, “các viên chức nào không đảm bảo được sự ổn định ở nông thôn sẽ không được thăng chức”.

Thứ trưởng công an Lưu Kim Quốc ra lệnh cho công an địa phương phải tiến hành các cuộc thanh tra, có thể kéo dài cả tháng, để tìm hiểu nguyên nhân và quy mô của cái gọi là “sự cố tập thể” và tình trạng bất ổn trật tự xã hội tại nông thôn.

Chính phủ Trung Quốc sử dụng cụm từ “sự cố tập thể” để chỉ những vụ bạo loạn và những cuộc tập hợp của quần chúng biểu tình, phản đối nhà nước.

Lưu Kim Quốc nêu ra các vụ tội phạm chạy trốn hay băng đảng hoành hành, cũng như những vụ đánh cắp nguyên liệu sản xuất; nạn làm hàng giả mạo; bắt cóc, buôn bán trẻ em và phụ nữ; buôn lậu ma tuý, chất nổ và súng ống.

Hãng thông tấn Ba Lan PAP, trong ngày 04/07 và 05/07/2007 đã đăng tin, trước sự phẫn nộ dữ dội của dư luận Trung Quốc và thế giới, nhà cầm quyền Trung Quốc đã bắt giam 60 người liên quan tới xì-căng-đan cưỡng bức trẻ em làm nô lệ lao động tại các lò gạch ở một số tỉnh nghèo nhất Trung Quốc. Đây cũng là lần đầu tiên, hầu hết báo chí và phương tiện truyền thông Trung Quốc đồng loạt đăng tải tin tức về sự kiện này.

Trẻ em được bán đến các lò gạch với giá 60 USD mỗi người, phải lao động 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày trong điều kiện làm việc vô cùng khắc nghiệt, thường xuyên bị đói, bị đánh đập mà không có ai kiểm soát.

12 người đã ra hầu Toà tại tỉnh Shanxi trong ngày 05/07/2007. Một trong những chủ lò gạch tên là Wang Bingbing, cùng với sếp bảo vệ Heng Tinghan và nhân viên trong nhóm của y. Được biết Wang là con trai của một lãnh đạo đảng cao cấp của địa phương. Còn Heng bị xử tội đã dùng xẻng đánh chết một em trai rồi giấu xác.

Chính phủ Trung Quốc đã biệt phái một lực lượng đặc biệt điều tra tình trạng lao động tại các lò gạch, cho đến 5/07/2007 đã giải thoát 600 người bị bắt làm nô lệ, trong đó có 50 trẻ em vị thành niên. Không thấy chính quyền nói gì đến bồi thường thiệt hại cho những người này hoặc họ sẽ được nhận một đãi ngộ nào đó của nhà nước, khả dĩ để phục hồi sức khoẻ và trở về gia đình với đời sống bình thường.

Bất mãn của dân chúng Trung Quốc đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong tầng lớp lao động nghèo bị gạt ra lề xã hội trong bối cảnh kinh tế thị trường bùng nổ, con người mất hết nhân tính khi chạy theo sức hút của đồng tiền, còn nhà nước thì làm ngơ, hầu như chẳng hề có chính sách đáng kể nào để cải thiện đời sống công nhân và nông dân. Bên cạnh đó, nạn “phép vua thua lệ làng” và tham nhũng triệt tiêu mọi hành động ngăn chặn của các cơ quan tư pháp trước bất công xã hội.

Dân Trung Quốc biểu tình (trên 74.000 vụ với hơn 3,8 triệu người tham gia năm 2006)
Nguồn: chinadigitaltimes.net
Theo RFI, con số mới nhất mà chính quyền Trung Nam Hải đưa ra, trong năm 2005 đã có “85.000 sự cố tập thể”, tăng hơn 6% so với 2004, tăng hơn 50% so với 2003. Con số thực tế chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều.

Nông dân Trung Quốc đang phải gánh trên vai những hậu quả nghiêm trọng của cuộc cách mạng “mèo nào cũng tốt, miễn bắt được chuột”. Đập Tam Hiệp xây lên năm ngoái cùng với sự phô trương khánh thành nhà máy thuỷ điện lớn nhất thế giới, ngốn hàng chục tỷ đô la đầu tư, đang huỷ diệt nguồn nước. Từ cách xa nhiều cây số người ta có thể ngửi thấy mùi hôi thối bốc lên do cây cỏ và rong rêu tự hoại mà không có biện pháp xử lý kỹ thuật khi cho nước ngập.

Trong khi đó, thiên tai thường xuyên càng làm tình trạng sống của 800 triệu người ở nông thôn chật vật hơn. Thu nhập của họ, tính bình quân, mỗi ngày chưa được 1 đô la.

Theo hãng thống tấn Ba Lan PAP ngày 08/07/2007, lũ lụt trong mấy ngày qua tại tỉnh Sychuan đã làm thiệt hại khoảng 3 tỷ Yuan (tương đương 400 triệu đô la), ít nhất 26 người chết, đe doạ trực tiếp cuộc sống của 42 triệu người và 7,2 triệu người đang bị mất nguồn nước uống. Đã cơ cực lại càng thêm cơ cực.

Kết

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền đều có chung một nhận định rằng, những vụ bạo loạn của dân chúng (Trung Quốc và Việt Nam) bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, nhưng thường xuyên là các trường hợp đất đai của dân chúng bị các quan chức tham nhũng chiếm đoạt, vấn đề môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, nạn ăn hối lộ tiếp tay cho giới mafia và tư bản đỏ đầu cơ trục lợi hoặc là các vụ công dân bị đàn áp mạnh tay bởi chính quyền địa phương.

Xem ra, cả Trung Quốc và Việt Nam tuyên truyền rằng, do hoàn cảnh văn hoá, lịch sử Á đông và dân trí còn thấp nên phải duy trì hệ thống cai trị độc đảng để giữ ổn định xã hội cho mục tiêu phát triển kinh tế là hoàn toàn không thuyết phục, hay đúng hơn, đây là lối nguỵ biện sáo mòn, rẻ tiền và trâng tráo. Làm sao có thể ổn định trong một xã hội đầy rẫy bất công, suy đồi về đạo đức truyền thống?

Loài người đã chứng minh câu ngạn ngữ: “Con giun xéo mãi cũng quằn”. Những kẻ mệnh danh là “đầy tớ của nhân dân”, sống bằng tiền thu thuế của dân và bòn rút tài sản của dân, đang thi nhau đè đầu, cưỡi lên cổ Ông Chủ Nhân Dân, chắc chắn sẽ có ngày phải trả giá.

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Dân chủ: quyền lực và ngờ vực

Phạm Phú Đức

Có thể hiểu một cách đơn giản và khái quát rằng dân chủ nghĩa là dân làm chủ. Nhưng nếu chỉ nói chung chung như thế thì dễ quá, bởi các chế độ độc tài chuyên chính cũng dám tự xưng một cách không thẹn thùng là dân chủ gấp ngàn lần chế độ dân chủ tư bản. Cho nên câu hỏi cần đặt ra là: dân làm chủ bằng cách nào, hay làm thế nào để bảo đảm dân làm chủ?

Để dân có thể làm chủ đất nước thì dân phải có quyền, bởi nếu dân không có quyền, làm gì cũng phải xin phép, thì dân là nô lệ chứ chẳng phải làm chủ. Vì dân quyền là điều kiện quan trọng của nền dân chủ nên công cuộc đấu tranh đòi dân quyền của phong trào Duy tân, lãnh đạo bởi các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp v.v… vào đầu thế kỷ 20, có thể được xem là phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ đầu tiên tại Việt Nam. [1]

Nhưng để dân chủ hoạt động hữu hiệu và chính đáng đòi hỏi nhiều hơn dân quyền. Điểm khác biệt cơ bản trong ý niệm dân chủ của trường phái chuyên chế – cộng sản (điển hình là tư tưởng Mác, Lênin) và trường phái tự do – phóng khoáng (điển hình là tư tưởng Hobbes, Locke) là một bên tin tưởng gần như tuyệt đối vào một giai cấp lãnh đạo chính trị, ít nhất ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng; trong khi đó, bên kia lại luôn ngờ vực lãnh đạo chính trị ở mọi giai đoạn, ngờ vực quyền lực tập trung, và nhìn rõ những giới hạn lẫn tác hại khi người ta nắm quá nhiều quyền lực trong tay.

Đối với khuynh hướng “cộng sản”, điển hình qua tác phẩm Nhà nước và Cách mạng của Lênin, [2] thì dân chủ kiểu tư bản là dân chủ cho thiểu số, cho giai cấp tư sản, trong khi đó người dân không được tham dự vào các hoạt động quan trọng của xã hội. Cả Mác lẫn Lênin đều cho rằng khi nhà nước tàn lụi, nghĩa là không còn chính phủ nữa (tức vô chính phủ), thì đó là chế độ cộng sản ở mức cao nhất, và lúc đó mới là nền dân chủ đích thực. Trong tác phẩm này, Lênin vạch ra ba giai đoạn cho cuộc cách mạng vô sản (trong khi Mác không vạch ra ba giai đoạn rõ rệt như Lênin): thứ nhất là hình thành chuyên chính vô sản; thứ hai là hình thành xã hội chủ nghĩa, tức giai đoạn chuyển tiếp giữa tư bản sang cộng sản; và thứ ba là giai đoạn cộng sản, tức thời điểm mà không còn chính phủ (hay nhà nước) nữa. [3] Trên thực tế thì chuyên chính vô sản tại tất cả các nước theo đường lối này không bao giờ chịu bỏ quyền lực của mình, chỉ giỏi hô hào chứ không thật sự tiến bao nhiêu lên xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa như Mác và Lênin tưởng tượng. Còn nhà nước thì không tan biến mà còn phình ra và chiếm lĩnh mọi mặt xã hội kiểu độc tài toàn trị. Sự sai lầm lớn lao này là do các nhà Mác-xít đã quanh quẩn trong khung sườn suy nghĩ của duy vật biện chứng mà xem nhẹ bao nhiêu yếu tố quan trọng khác về bản chất con người, trong đó quyền lực là một yếu tố cơ bản tác động hay chỉ đạo hành động con người trong chính trị. Thêm vào đó, đối với cộng sản, quan điểm cho rằng còn tư hữu các phương tiện sản xuất là còn bóc lột thì lại được xem như là chân lý tuyệt đối, do đó để được tự do và không còn bóc lột thì phải tiêu diệt giai cấp tư sản bằng mọi giá. Với những suy nghĩ như thế, xã hội do những người tự xưng là cộng sản biến thành trong suốt thế kỷ 20 đã mang đầy những đặc tính cách mạng bạo lực và cực kỳ phản động.

Điều quan trọng cần suy nghĩ rốt ráo khác là rằng chế độ cộng sản và các nhà Mác-xít, từ trong bản chất, nghĩa là từ trong tư tưởng của họ, không thật sự tin tưởng vào nhân quyền hay dân chủ gì cả. Họ xem việc cân bằng quyền lực, “bàn tay vô hình” (tức kinh tế thị trường, ý niệm xuất phát từ Adam Smith), nhân quyền, dân chủ toàn cầu v.v… chẳng qua là màn hoả mù hay bình phong che dấu bản chất bóc lột của chế độ tư bản mà các hệ thống tân đế quốc hay tân thực dân hôm nay đại diện. [4]

Đối với khuynh hướng “tư bản”, người ta không còn ngây thơ gì với quyền lực cả, bởi lịch sử đã cho họ những bài học đáng nhớ đời rồi. Đam mê quyền lực, tham nhũng, bè phái, thủ cựu, thủ đoạn, ích kỷ v.v… là các đặc tính con người nơi đâu cũng có, sắc dân nào cũng có, đặc biệt trong hoạt động chính trị. Thêm vào đó, tin hay không tin vào một chính thể chẳng qua là hai mặt của cùng một vấn đề chính trị. Một mặt, người ta biết rằng nếu không tin vào thể chế chính trị nào thì khó thể làm cho nó hoạt động hữu hiệu và tồn tại. Mặt khác, người ta cũng biết rằng nếu quá tin vào một thể chế chính trị mà không có biện pháp hay cơ chế (mechanism) gì để bảo đảm, đo lường hay phối kiểm hành động của thành phần lãnh đạo thì trước sau gì nó cũng chỉ đưa đến sự suy vong mà thôi. Nói cách khác, trong chính trị, tin tưởng là cần thiết, nhưng chưa đủ, bởi không phải chỉ có một loại người làm chính trị tốt mà còn có các thành phần xấu hay tính toán. Ngoài ra, chính trị không chỉ là về vấn đề kinh tế mà chính trị liên hệ trực tiếp và toàn diện đến mọi mặt đời sống. Cho nên, đối với ngay cả hạng người tốt làm chính trị thì chắc gì họ có thể thi hành những điều cam kết bởi vì họ cũng phải lệ thuộc ở bao nhiêu người khác vào sự liên hệ và đan kết chằng chịt nhau. Nhìn bản chất như thế, người ta cũng không ngây thơ tin rằng dân chủ sẽ là lời giải cho mọi vấn đề, là thần dược cho các bệnh nan y trong chính trị. Do đó, những nhà tiên phong xây dựng chính thể dân chủ hiện đại đã đặt nền tảng cơ bản của dân chủ vào sự ngờ vực mọi quyền lực. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta trở nên bi quan hay ngờ vực mọi thứ, nhưng họ chỉ không tin vào cái gì tuyệt đối, và họ muốn khẳng định thực tế rằng thà bắt đầu với cái tương đối làm nền tảng để vươn tới kết quả tốt nhất có thể được. Nói tóm lại, để xây dựng một nền dân chủ bền vững, nguyên tắc dân chủ được xây dựng chính từ sự ngờ vực đã được định chế hoá (institutionalised distrust), nghĩa là các định chế phải được xây dựng từ sự ngờ vực mà phát triển. Nói theo kiểu Việt Nam, tinh thần dân chủ là “thà mất lòng trước, được lòng sau”, để mà còn có thể “ăn chắc, mặt bền”, còn hơn là “mất cả chì lẫn chài”. Nói cách khác nữa, thà đến với nhau bằng sự ngờ vực cho đến khi nào các ngờ vực được giải toả, lúc đó sự tin tưởng sẽ đến và có giá trị hơn. Tóm lại, niềm tin vào tính chính đáng của dân chủ, một yếu tố quan yếu của nguyên tắc dân chủ, là việc định chế hoá sự ngờ vực vào kiến trúc của nền dân chủ.

Giáo sư Piotr Sztompka [5] liệt kê 10 nguyên tắc dân chủ dựa trên sự ngờ vực được định chế hoá này. Nguyên tắc thứ nhất của dân chủ đòi hỏi tính hợp pháp và chính đáng của mọi quyền lực, điều đó cho thấy chính nghĩa là nguyên tố quan trọng hàng đầu của dân chủ. Do đó, chỉ khi nào quyền lực được chứng minh là xuất phát từ ý nguyện của người dân, hơn nữa, khi nào những vị dân cử này đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng, thì chính quyền đó mới có chính nghĩa. Nhưng ngay cả như thế, sự ngờ vực chưa hẳn biến đi bởi chính trị luôn có ẩn số, không phải lúc nào cũng minh bạch, phân định rõ ràng.

Nguyên tắc thứ hai là về tái bầu cử và thời hạn của nhiệm kỳ. Vấn đề “cha truyền con nối” hay bất hạn định nhiệm kỳ như thời xưa nay không còn ai chấp nhận nữa (riêng đối với 9 thẩm phán tối cao của Hoa Kỳ thì nhiệm kỳ là bất hạn định). Nguyên tắc này cho thấy nền dân chủ ngờ vực những người đang cầm quyền không có tinh thần sẵn sàng tự nguyện từ bỏ quyền lực của mình. Thêm vào đó, vấn đề được tín nhiệm hay tái tín nhiệm phải được đánh giá trên khả năng và viễn kiến của người tranh cử, hay thành quả và trách nhiệm đạt được mỗi kỳ của người đương nhiệm. Mỗi kỳ bầu cử là một thử thách mới, cần sáng kiến mới, cần tư tưởng chỉ đạo đường dài và thực tiễn trong lúc xã hội ít nhiều thay đổi với thời gian; hơn nữa, bầu cử là phương thức tuyển chọn người tài, và chỉ có sự cạnh tranh tự do, minh bạch và bình đẳng mới bảo đảm được phần nào các sự chọn lựa thích đáng.

Nguyên tắc thứ ba là tam quyền phân lập, kiểm soát và cân bằng, và sự giới hạn quyền hành của mỗi định chế (như có đề cập trong bài “Ý niệm tự do”). Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các định chế thể hiện rõ, thí dụ, cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp tại Hoa Kỳ luôn chủ trương mở rộng quyền hành của mình, tất nhiên ở trong vòng hiến pháp. Do đó, nếu không có sự kiểm soát và cân bằng của các ngành khác thì sự độc quyền hay lạm quyền là điều tất yếu xảy ra.

Nguyên tắc thứ tư là nền pháp trị (the rule of law) và các toà án độc lập. Nghĩa rằng mọi người, từ công dân bình thường đến lãnh đạo chính trị hàng đầu (mọi thành viên của ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp), đều được đối xử giống nhau trước pháp luật. Điều này cho thấy dân chủ ngờ vực các thái độ tuỳ tiện, lạm dụng, thiên vị hay những hành động lầm đường lạc lối, cho nên dân chủ yêu cầu mọi công dân và mọi định chế phải tuân thủ khung sườn luật pháp chung. Nhưng để bảo đảm rằng luật pháp đứng trên mọi cá nhân và định chế, nhiều biện pháp phòng vệ khác nhau được bắt buộc thi hành với mục tiêu bảo đảm sự độc lập, tính khách quan, và không thiên vị của toà án và pháp luật. Tất cả các biện pháp phòng hờ này cốt yếu là để tạo niềm tin rộng rãi của dân chúng vào tính minh bạch và công bằng của pháp luật.

Nguyên tắc thứ năm là tính hiến pháp hoá (constitutionalism) và sự xét lại hay phê bình pháp luật (judicial review) khi thích hợp. Điều này cho thấy sự ngờ vực đối với các cơ quan lập pháp. Thí dụ, họ có thể bẻ cong pháp luật để hỗ trợ quyền lợi cụ thể nào đó hay thay đổi pháp luật vì cơ hội chủ nghĩa. Vì thế, phải có các điều luật căn bản để ngăn ngừa sự thay đổi pháp luật một cách tuỳ tiện hay dễ dãi. Ngoài ra, các định chế bảo vệ và hỗ trợ hiến pháp, thí dụ các toà án tối cao hay toà án hiến pháp, mới có thẩm quyền để diễn giải hay bắt tuân theo mệnh lệnh pháp luật, đặc biệt khi có những tranh chấp liên hệ trực tiếp đến vấn đề hợp hiến hay không.

Nguyên tắc thứ sáu là tiến trình đúng đắn, thích hợp (due process). Hậu quả của một quyết định chính trị có đúng đắn hay không phần lớn đến từ việc thực hiện đúng đắn tiến trình minh bạch và dân chủ được quy định trong nguyên tắc hay thủ tục được công nhận. Không phải ai cũng tuân thủ các thủ tục hay nguyên tắc này, ngay cả trong các thể chế được xem là rất dân chủ. Do đó, người ta ngờ vực cả các cơ quan thi hành luật và phân xử luôn cả các định chế này. Các toà án cũng không nằm ngoài nghi vấn về tính thiên vị hay cẩu thả của họ. Vì thế, người ta có quyền kháng án đối với các định chế, và thỉnh thoảng có thể kháng án nhiều lần, cho đến khi quyết định trở thành có giá trị và bắt buộc.

Nguyên tắc thứ bảy là sự tôn trọng và bảo đảm dân quyền. Như đã nói trên, nếu người dân không có quyền thì chẳng thể gọi nền dân chủ đó là đích thực. Người ta ngờ vực thiện chí của giới chức có thẩm quyền trong việc đáp ứng nhu cầu và quyền lợi của công dân. Hơn nữa, công dân có thể bị sách nhiễu bởi giới có quyền lực. Chính vì thế nên người ta đòi hỏi các biện pháp có thể đo lường trách nhiệm của giới thẩm quyền, đòi hỏi các nhu cầu của họ được thoả mãn, và bảo vệ họ để khỏi bị giới chính trị lạm dụng. Để làm việc này thì người dân phải có quyền, và quyền của họ phải được bảo vệ tối đa trong hiến pháp. Do đó, bảo đảm các quyền dân sự trong hiến pháp, mở rộng nhu cầu để người dân có thể kiện tụng cả các định chế công cộng, thành lập các văn phòng để các nhân viên thanh tra độc lập kiểm soát việc làm của nhân viên nhà nước… Đối với một số quốc gia, người ta có thể trực tiếp kiện tụng tính hợp pháp của chính quyền. Dân quyền, trong ý nghĩa này, là để bảo vệ và khuyến khích người dân trực tiếp sử dụng quyền công dân của mình để khi nhà nước không thi hành những gì họ cam kết thì họ sẽ bị người dân thay thế. Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ cách đây 231 năm (4/7/1776) và bộ luật dân quyền (Bill of Rights) thể hiện trong 10 Tu chính án đầu tiên của Hiếp pháp Hoa Kỳ đã thể hiện rõ suy nghĩ và tinh thần của các nhà lập pháp Hoa Kỳ thời đó. [6]

Nguyên tắc thứ tám là vấn đề áp dụng thi hành luật. Điều này, ngược lại các nguyên tắc đã nêu trên, ngờ vực công dân nghiêm chỉnh thi hành hay tuân thủ luật. Do đó, phải có các biện pháp kiểm tra xem công dân có thi hành trách nhiệm của mình hay không, và nếu cần thì phải áp dụng các biện pháp mang tính bắt buộc. Những ai không tôn trọng luật pháp đối với nhà nước hay với những công dân khác sẽ phải chịu các cơ quan như cảnh sát, công tố viên, người thu thuế v.v… áp lực tuân hành.

Nguyên tắc thứ chín là nhu cầu thông tin rộng mở. Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã dạy một bài học vô cùng quan trọng rằng chúng ta, dù rất muốn đi chăng nữa, cũng không thể dễ dàng tin tưởng sự thành thật của mọi người và mọi định chế cho đến khi nào có đủ bằng chứng là thế. Do đó, chỉ có tranh luận công khai và minh bạch để quan điểm của mọi phiá được trình bày chi tiết và rõ ràng thì mới có thể tìm ra sự thật tương đối. Hơn nữa, không có nhà nước nào muốn để cho giới truyền thông có hoàn toàn quyền tự do hành nghề nên thường đưa ra các biện pháp kiểm duyệt hay giới hạn quyền lực của truyền thông. Tuy nhiên, cho đến nay, người ta đều thấy nhu cầu chống lại các chế độ kiểm duyệt, tuyên truyền, giáo điều, các chủ trương giới hạn quyền tự do thông tin ngôn luận, hay sự lường gạt thẳng thừng xảy ra trong giới quyền lực và với cả công dân. Thêm vào đó, người ta cũng thấy rằng việc bảo vệ và đề cao lòng khoan dung, tranh luận công khai, và sự tôn trọng đối với các cơ quan truyền thông đa dạng và độc lập là vô cùng cần thiết để bảo đảm nguyên tắc hành xử căn bản của nền dân chủ. Đó cũng là nhu cầu đi tìm sự thật, đi tìm sự thoả thuận và đồng thuận. Chính ngành “đệ tứ quyền” này, và tính cách độc lập của nó, mới bảo đảm được phần nào giá trị kiểm soát hiệu quả đối với sự lạm quyền, tính thiên vị hay phân biệt đối xử của mọi người và mọi định chế.

Nguyên tắc thứ mười là tính chính trị cộng đồng. Dân chủ mở rộng cơ hội cho khối quần chúng tham gia các hoạt động chính trị qua các tổ chức tự nguyện, dân sự và chính trị địa phương. Đây được xem là biện pháp để cân bằng lại các nhà nước hành chánh hay chủ yếu phục vụ chính mình và các guồng máy của mình. Do đó, các nhóm dân sự góp phần làm nở rộ nền dân chủ thường là các tổ chức bảo vệ người tiêu thụ, các công đoàn, nghiệp đoàn, các nhóm quyền lợi (interest groups), các nhóm vận động chính trị (lobbying groups) v.v…. Các tổ chức dân sự, dù chẳng ai giao phó, nhưng tự nhận lãnh trách nhiệm kiểm soát, quan sát, hay áp lực lên chính quyền bởi vì họ ngờ vực nhà nước và guồng máy của nó. Trong một số trường hợp, người ta ngờ vực rằng chính quyền mãi lo phục vụ cho các nhóm giòng chính, các nhóm cử tri ảnh hưởng lên lá phiếu quyết định nhưng lại quên đi thành phần dân chúng “thấp cổ bé miệng”, các thành phần cần được quan tâm hỗ trợ hay thành phần bị đẩy ra vòng biên (marginalised groups).

Nói tóm lại, theo Sztompka, người ta sẵn sàng tin tưởng vào định chế và người khác nếu các tổ chức xã hội đang hoạt động có thể bảo đảm họ khỏi bị sức mẻ hay khủng hoảng niềm tin. Tin thường đi đôi với rủi ro mà hậu quả nhiều khi không thể ngờ được. Do đó, khi càng nghi ngờ sự khả tín và khả thi của các định chế (nhà nước hay các cơ quan công quyền…) để tìm ra các biện pháp hiệu quả và thực tiễn chống lại sự độc quyền hay lạm quyền của những cá nhân hay định chế thì nền dân chủ xây dựng được sẽ bền vững hơn và dễ tạo ra văn hoá tin tưởng nhau (culture of trust). Một xã hội mà người dân tin tưởng nhau và tin tưởng các định chế là một xã hội lý tưởng bởi vì tin là yếu tố quan trọng đối với hiệu năng của lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội dân sự v.v… Tin là một giá trị có tiềm lực rất cao, được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất của vốn xã hội (social capital). Ba quốc gia có nền kinh tế hàng đầu của thế giới là Mỹ, Nhật, Đức… được đánh giá là có văn hoá tin tưởng cao hàng đầu (tuy rằng niềm tin tổng quát, tức generalised trust, tại Hoa Kỳ đã sút giảm đáng kể trong nửa thế kỷ qua, theo nhận xét của một số chuyên gia). [7] Tóm lại, tin tưởng và ngờ vực đều quan trọng và cần thiết như nhau để bảo đảm và phát huy dân chủ, dù thoạt nhìn thì trông có vẽ nghịch lý hay mâu thuẫn.

Nếu dựa vào mười nguyên tắc trên để lượng giá nền dân chủ Việt Nam thì chúng ta có thể thấy rằng: 1) tính hợp pháp hay chính đáng của nhà nước Việt Nam là rất thấp; 2) về tái bầu cử thì tuy có trên thực tế nhưng vẫn chủ yếu là đảng cử dân bầu chứ người dân không được tự do ứng cử; 3) về tam quyền phân lập hay cân bằng kiểm soát thì hầu như biểu kiến vì đảng cầm quyền chi phối cả ba ngành tư pháp, hành pháp và lập pháp, nếu không phải là mọi mặt chính trị và xã hội; 4) nền pháp trị thì vẫn còn rất tuỳ tiện bởi chính những nhà làm luật có tuân thủ hay tôn trọng nó đâu, còn toà án độc lập thì vẫn chủ yếu nghe theo mệnh lệnh của giới chính trị như đã từng thấy rất nhiều qua phiên xử các nhà dân chủ; 5) về tính hiến pháp hoá và phê bình pháp luật thì: khi chưa có một tiến trình đúng đắn thích hợp trong việc thi hành luật (nguyên tắc 6), khi người dân chưa có quyền thực sự (nguyên tắc 7), khi người dân chưa ý thức và chưa thấy những người khác tuân thủ pháp luật (nguyên tắc 8), khi chưa có hệ thống thông tin rộng mở và chưa có nền truyền thông tự do, độc lập (nguyên tắc 9), và khi chưa có một xã hội dân sự đúng nghĩa (nguyên tắc 10), thì hiến pháp hay giá trị pháp luật cũng chủ yếu là phương tiện để các thành phần có quyền lực và tiền bạc diễn giải hay sử dụng mà thôi. Nói cách khác, nền dân chủ tại Việt Nam hôm nay, nếu thử nghiệm trên các điều kiện này, thì khó thể nào đạt tiêu chuẩn đủ cho bất kỳ một nguyên tắc nào.

Một trong những hậu quả nghiêm trọng của sự thất bại chính trị tại Việt Nam, hiện thân bởi nền dân chủ giả hiệu bây giờ, là làm mất niềm tin. Không biết hồi xưa ra sao, chứ chỉ cần nhìn kỹ các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá hay xã hội của mọi thành phần trong suốt 32 năm qua thì mức độ tin tưởng, hợp tác nhau chủ yếu vẫn là tượng trưng, biểu kiến. Ngược lại, mức độ từ nhẹ như nghi kỵ hay bất hợp tác cho đến nặng như chụp mũ hay đánh phá nhau, ngay cả đến từ khuynh hướng hay mục đích giống nhau, lại rất phổ biến.

Ở trong nước, người dân không thể tin nhau thì cũng không có gì khó hiểu cả bởi nhà nước Việt Nam chủ trương như thế, và áp dụng bao nhiêu thủ đoạn để bảo đảm kết quả là như thế. Từ lúc bắt đầu cầm quyền cho đến nay, họ đã cho ra đời không biết bao nhiêu thứ nghị quyết và nghị định, nào là về tôn giáo, truyền thông, hội họp, đi lại, v.v… hay Internet để chia (rẽ) cho dễ trị. Người dân phải đi qua không biết bao nhiêu thứ thủ tục rườm rà “xin cho”, đủ thấy sự kiểm soát chặt chẽ từng lời nói và hành vi của từng cá nhân trong xã hội đó. Nếu chỉ tụ tập mươi người mà còn không được, còn phải xin phép, dù với mục đích chính trị hay gì đi nữa, thì đủ biết mức độ lo ngại của chế độ về sự kết đoàn, kết hợp và tin tưởng của người dân như thế nào. Ngoài ra, khi tiềm lực của dân tộc đã cạn kiệt qua bao nhiêu cuộc chiến đã xảy ra và khi niềm tin của người dân đã bị tráo trở, lật lọng thì sự phục hồi niềm tin, nhất là trong lãnh vực chính trị và xã hội, đã trở thành yếu tố nhức nhối nhất trong công cuộc xây dựng dân chủ và phục hưng Việt Nam.

Xây dựng niềm tin là cả một quá trình lâu dài, bền bĩ và nhất là phải đồng tâm và thành tâm. Không có cách tắt nào để xây dựng niềm tin, bởi làm không khéo thì sẽ “dục tốc bất đạt”. Ngờ vực là cần thiết để bảo đảm và phát huy dân chủ, nhưng xây dựng dân chủ luôn cần sự tin tưởng của mọi thành phần dân tộc vào mục tiêu chung, vào hiến pháp, vào nền tảng công lý, vào định chế xã hội v.v…

Hơn bao giờ hết, các phong trào dân chủ cần nỗ lực hơn nữa để xây dựng niềm tin và tinh thần hướng thượng cho tương lai Việt Nam. Không tin tưởng nhau thì khó thể nào hợp tác, dù là ngắn hạn, khoan nói đến hợp tác lâu dài. Thiếu sự kết hợp chặt chẽ và lâu dài thì khó thể nào hoàn thành việc trọng đại. Sức mạnh sẽ đến khi nào các phong trào dân chủ tin nhau và hợp tác với nhau bằng những hành động thành tâm và sáng suốt của mình; và trên hết, biến sự ngờ vực thành nỗ lực xây dựng khung sườn chung cho tiến trình dân chủ hoá để người dân bớt hoang mang về thứ “dân chủ giả hiệu”. Nói tóm lại, chỉ khi nào người dân dành sự tin tưởng cho phong trào dân chủ thay vì “bán tin bán nghi” vào chế độ độc tài thì công cuộc xây dựng dân chủ và canh tân Việt Nam hẳn sẽ có nhiều hứa hẹn tích cực.

Melbourne 4/7/2007

——————————————————————————–
[1]Xin đọc tác phẩm Phong trào Duy Tân của Nguyễn Văn Xuân, Lá Bối in lần thứ nhất 1970, Sài Gòn, Việt Nam.
[2]Xin đọc Nhà nước và Cách mạng của V.I. Lenin (The State and Revolution, Selected Works, In Three Volumes, Vol 2, Progress Publishers, Moscow 1970), trang 289-362.
[3]Theo Lênin, giai đoạn thứ ba là cộng sản, là thời điểm cao nhất, tột đỉnh của nhân loại, và lúc này không còn Nhà nước gì nữa. Lenin cho rằng người ta đã rất quen với các điều lệ căn bản trong nếp sống xã hội nên họ không cần các biện pháp cưỡng bức nữa. Năng suất lao động của thời kỳ này đã trở nên quá hiệu quả nên con người chỉ cần tình nguyện “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Ông hình dung, hay nói đúng hơn, là tưởng tượng ra một xã hội hài hoà, hạnh phúc, đầy đủ vật chất đến độ con người không cần phải lo âu một thứ gì bởi vì luôn luôn có đầy đủ nên không cần lấy hơn những gì mình cần. Ông cũng nhấn mạnh đến những thay đổi cần có trong đầu con người, tức là ý thức cần có để có thể đem lại một xã hội giống cộng sản như thế.
[4]Xin đọc bài của giáo sư Ralph Pettman, ‘World Politics: an overview’, (Unpub.), 2007, trang 13.
[5]Xin đọc Tín: một lý thuyết xã hội học của Piotr Sztompka (Trust: A Socialogical Theory, Cambridge, Cambridge University Press, 1999), trang 139-143.
[6]Ngày 4 tháng 7 năm nay đánh dấu kỷ niệm lần thứ 231 ngày tuyên ngôn độc lập (TNĐL) của Hoa Kỳ. Thomas Jefferson, người soạn thảo bản tuyên ngôn này, hay John Locke, triết gia được xem là có tư tưởng chính trị ảnh hưởng nhất lên các nhà lập quốc, Tuyên ngôn độc lập cũng như Hiến Pháp Hoa Kỳ, đều thuộc trường phái chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism). Cốt yếu của tư tưởng chính trị của CNPK thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập là: mọi người được sinh ra bình đẳng, được tạo hoá ban cho những quyền bất khả chuyển nhượng, trong số đó có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc; tuy nhiên, để bảo đảm các quyền này, người dân thành lập nên chính phủ và trao cho chính phủ quyền đại diện để điều hành đất nước; khi nào chính phủ không còn phục vụ cho các mục tiêu trên thì người dân có quyền thay đổi hay huỷ bỏ nó và thành lập chính phủ mới để bảo đảm sự an toàn và hạnh phúc của họ. Đến năm 1789, Hiến Pháp Hoa Kỳ mới được chính thức thông qua, và 2 năm sau đó (1891), Bộ luật dân quyền (Bill of Rights) đã được bổ sung vào hiến pháp thành 10 Tu chánh án đầu tiên.
[7]Hy vọng trong tương lai gần, tôi có thời gian để viết một bài riêng về đề tài Tin hay Tín. Muốn tìm hiểu thêm đề tài này, xin đọc các bài viết của Francis Fukuyama hay Robert D. Putnam. Fukuyama, Francis, ‘Confucianism and Democracy’, Journal of Democracy, Vol. 6, No. 2, April 1995b, pp. 20-33; Fukuyama, Francis, Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity, New York, Simon & Schuster, 1995c.; Fukuyama, Francis, ‘Social Capital and Development: The Coming Agenda’, SAIS Review, Vol. XXII, No. 1, Winter-Spring, 2002, pp. 23-37; Putnam, Robert D., “The Prosperous Community: Social Capital and Public Life,” American Prospect, Vol. 13, 1993, pp. 35-42; Putnam, Robert D., ‘Bowling alone: America’s declining social capital’ Journal of Democracy, Vol. 6, No.1, 1995, 65-78.

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Góp ý với bài viết về Giáo dục của Hoàng Xuân Ba

Trần Quang Hạ
Không có tư tưởng Hồ Chí Minh, không có chủ nghĩa khoa học Maxist Leninist?
Nguồn: panoramaproductions.net
Những năm sau 75, tất cả các trường học tư miến Nam đều bị đưa vào quản lý nhà nước. Các trường học của giáo hội, thậm chí những trường mẫu giáo mầm non cũng chung số phận. Nhà nước quản lý giáo dục là quản lý máy cái sản xuất ra con người mới xã hội chủ nghĩa (XHCN). Máy cái nầy bắt đầu bằng các lớp mầm non và đầu kia là ngỏ ra các trường đại học. Khâu giáo dục là then chốt; dứt khoát không để tư nhân hay đoàn thể làm được.

Kết quả sau 30 năm, những con người mới càng ngày càng tệ; Đảng có khối người sẵn sàng bán linh hồn để bon chen vào hệ thống quyền lực, nhưng thiếu những con người trung thực, dám suy nghĩ độc lập để thực sự có ích cho đất nước. Một trong các nguyên nhân là bệnh thành tích, như tác giả Hoàng Xuân Ba phân tích, tuy nhiên ở đây tôi chú ý đến cách trả lời của bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân để thử thẩm định nỗ lực của ông trong cải cách giáo dục.

Trong lá thư đăng báo Tuổi Trẻ ngày 02/07/2007, ông Nhân cho rằng nguyên nhân gây ra không chỉ ở ngành giáo dục, ở nhà trường, ở thày cô giáo mà còn ở hằng chục triệu phụ huynh là đồng tác giả. Ông dẫn chứng chuyện buôn lậu: Vì có người thích mua hàng rẻ, nên mới có người buôn lậu. Tương tự như thế, vì phụ huynh muốn con em học giỏi, vì xã hội tạo sức ép nên mới có bệnh thành tích (?). Tôi không hiểu có phải ý ông kết luận rằng muốn chống buôn lậu, phải chống người chuộng hàng tốt, rẻ; muốn chống bệnh thành tích, phải cải tạo tâm lý xã hội, điều chỉnh lại ước mơ của các cháu học sinh?

Phụ huynh nào chẳng muốn con em học giỏi, nhưng họ muốn con em mình thực sự được rèn luyện, đạt thành tích có chất lượng, không ai muốn các em mang về một thành tích gian dối, một tấm bằng giả mạo. Lẽ đơn giản chính phụ huynh là người bỏ tiền thật cho con em ăn học và mai đây chúng không thể dùng khả năng giả đánh đố với cuộc sống.

Cách nói của ông Nhân phản ánh một não trạng rất cộng sản: Đảng lãnh đạo không có gì sai. Căn bịnh thành tích là xấu, nhưng không hoàn toàn do cơ chế mà còn do lỗi ở xã hội. Cách nói nầy chứng tỏ ông Nhân không can đảm nhận khuyết điểm; đẩy trái bóng qua chân người khác; không đụng vào cơ chế độc tài ngành ông lãnh đạo. Việc trả lời thư độc giả trên báo Tuổi Trẻ chỉ thực sự “vô tiến khoáng hậu” khi nào ông ta nhận lỗi cơ chế, và đưa ra phương cách sửa chữa cụ thể. Không làm việc nầy, hứa hẹn 10 năm giáo dục Việt Nam sẽ cất cánh chỉ là hưa hẹn suông, nếu không nói là láo.

Bệnh thành tích có mọi nơi, không riêng gì ngành giáo dục. Nó cùng tuổi với cuộc cách mạng vô sản Xô Viết, khi người ta muốn thay thế hiệu quả cạnh tranh bằng thi đua. Để tăng năng suất, lãnh đạo phát động các đợt thi đua; để ấn định mức độ phải làm, người ta đặt ra chỉ tiêu hoàn thành.Thi đua chào mừng các ngày lễ lớn, thi đua lập công dâng Đảng. Trong thời chiến tranh, đến gần ngày 2/9 hay 19/5, mức độ chém giết trên chiến trường càng khốc liệt do những đợt phát động lập công chào mừng ngày độc lập hay mừng ngày sinh nhật bác.

Hệ thống bình chọn 5 năm tiên tiến, chiến sĩ thi đua… kèm tiền thưởng chính là áp lực cấp dưới nói dối hàng loạt. Cá nhân nào báo cáo thật, sẽ ảnh hưởng tất cả những thành viên còn lại. Một người không đạt “tiên tiến”, cả đơn vị bị cắt tiền thưởng. Nhiều thày cô giáo có lương tâm không muốn nói dối, nhưng không thể không nghĩ đến món tiền thưởng bù đắp vào đồng lương ít ỏi, hoặc nguy cơ bị cho thôi việc vì làm hại tập thể. Rõ ràng đó là hệ thống phản động và tàn nhẫn nhất mà người cộng sản có thể nghĩ ra, chỉ để đánh bóng cho tài lãnh đạo và hoàn toàn có hại cho xã hội.

Dù được chú ý thế nào, tôi không tin tưởng ông Nhân làm ra phép lạ; nhưng tôi lạc quan vào hệ thống giáo dục song song như tác giả gợi ý. Hệ thống nầy nằm ngoài tầm kiểm soát của Đảng. Học sinh/sinh viên đang cố gắng trau dồi chuyên môn thay vì phấn đấu lập thành tích với Đoàn, với Đảng. Không có tư tưởng Hồ Chí Minh, không có chủ nghĩa khoa học Maxist Leninist. Những con người mới đang được tạo ra, nhưng không phải để xây dựng cái chủ nghĩa không tưởng, bịp bợm mà là để đánh dấu chấm hết vào chuyện dài những giấc mơ của người cộng sản.

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Những chuyện khôi hài quanh chuyến đi của Nguyễn Minh Triết

Phải nói chuyến du Mỹ của thủ tướng Nguyễn Minh Triết là một cơ hội tốt giúp cho đồng bào tỵ nạn nhìn rõ hơn bản chất của nghị quyết 36 và diễn biến hoà bình ngày càng lộ rõ nét qua những sự dàn dựng vụng về của chính phủ Hoa Kỳ chọn lọc một số người Việt để tham khảo ý kiến về đối sách của Hoa kỳ với Việt Nam, trước và sau chuyến đi của ông Triết.
Nguyễn Minh Triết qua Mỹ với 2 mục đích chính: ký hợp đồng thương mại với Mỹ và hô hào cổ võ nghị quyết 36. Cái bắt tay trị giá 7 tỉ đô la hẳn làm cho cả đôi bên đối tác đều hài lòng về những quyền lợi béo bở riêng tư. Riêng người dân Việt phải chờ xem những hợp đồng thương mại vừa ký là điều may hay lại vẫn là một sự bất hạnh cho dân tộc Việt Nam . Nếu đó chỉ là những loại hợp đồng đại loại kiểu mua máy bay du lịch giống như Phan Văn Khải đã ký thuở nào, thì đó quả là đại hoạ cho dân tộc ta phải cưu mang thêm những món nợ lớn ngày càng chồng chất biết bao giờ con cháu mới trả hết cho ngoại bang. Nói như thế có nghiã là con nợ là chính quyền phải khom lưng chịu sự sai bảo của chủ nợ để được ngồi yên trên chiếc ghế quyền lực của họ.
Ý đồ thứ hai của ông Triết trong chuyến công du này là muốn hợp thức hoá sự có mặt của nhà nước và phổ biến rộng rãi nghị quyết 36 qua sự việc lên tiếng kêu gọi đồng bào hải ngoại ” khép quá khứ hướng về tương lai để trở về đầu tư xây dựng đất nước vì Việt Nam có nhiều gái đẹp. Câu nói trên tự nó đã làm mất đi “chính nghĩa” lẫn tư cách của kẻ “lãnh đạo” một quốc gia. Thêm vào đó trong khi Nguyễn Minh Triết rêu rao đánh bóng chế độ thì ở quê nhà cả ngàn người dân đang phẫn nộ biểu tình ở nhiều nơi, khiếu kiện đòi nhà nước phải trả lại đất đai cướp giật của dân. Những chuyện khiếu kiện này đâu phải chỉ có mới xảy ra ngày hôm nay. Nó đã xảy ra từ hơn mấy chục năm rồi. Người dân khiếu kiện nhiều đến nỗi nhà nước phải tung ra chiến dịch “giải quyết khiếu kiện” để giải quyết cho một triệu hai trăm ngàn gia đình đã bị cán bộ tham ô ăn cướp nhà đất, vườn tược của họ. Giải quyết đâu chưa ai thấy mà chỉ thấy ngày hôm nay con số người bất mãn đi khiếu kiện ngày càng gia tăng. Còn những kẻ cầm quyền ngày càng tàn bạo hơn. Thí dụ gần đây nhất cho thấy cụ bà Võ Thị Thu, 84 tuổi trong đoàn biểu tình đã bị công an đánh trọng thương phải đem cụ gấp vào nhà thương cấp cứu. Cụ nay hồi sinh và được bà con biểu tình đến bệnh viện săn sóc cụ. Chỉ nội sự việc trên cũng đủ cho đồng bào nhìn thấy là làm sao người Việt hải ngoại có thể trở về canh tân đất nước và xây dựng một xã hội dân sự khi mà những kẻ nắm quyền vẫn tiếp tục bao che nhau, cướp của dân và coi mạng sống người dân như cỏ rác.
Về phiá chính quyền Mỹ, thì phải nói là vở tuồng diễn biến hoà bình vào giai đoạn chót lần này Hoa Kỳ đóng khá vụng về. Vụng đến độ dớ dẩn khiến người xem phải phì cười. Ai đời một siêu cường quốc như Hoa Kỳ có tầm ảnh hưởng chính trị trên toàn thế giới, vậy mà trước khi Nguyễn Minh Triết qua, tổng thống Bush lại phải mời một số nhân vật chính trị trong cộng đồng để xin tham vấn ý kiến của họ về việc đối sách với Việt Nam. Nếu quả thật tổng thống của một cường quốc mà đại dốt như thế thì vị ấy nên từ chức đi là vừa để cho khỏi nhục quốc sỉ. Nào đã hết, toà Bạch Ốc lại phong chức cho 4 nhân vật đó là đại diện cho cộng đồng tỵ nạn ở Mỹ. Ô hay, thật là dớ dẩn chưa kìa! Tổng thống Bush thừa biết là nhờ ông được toàn dân bầu nên ông mới được là đại diện của dân Mỹ. Còn cộng đồng người Việt tỵ nạn bên Mỹ có bao giờ bầu những người đó làm đại diện cho họ đâu mà sao ông lại lấy quyền tổng thống của mình phong chức đại diện cho họ mà không hề tham khảo ý kiến người dân Mỹ gốc Việt?!
Nếu chỉ nghĩ phớt qua như thế rồi hồ đồ kết luận là tổng thống Bush ngu dốt, thì qủa là lầm to. Chính phủ Mỹ thông minh và nhiều mưu mô lắm cơ. Này nhé trong diễn biến hoà bình bước vào giai đoạn chót, Mỹ và CSVN cần phải vẽ ra một quốc hội đa nguyên đa đảng trên hình thức. Họ cần sự tham gia của những chính trị gia sa lông ở hải ngoại để cho cái quốc hội hình thức đó thêm màu sắc sặc sỡ. Bởi thế cho nên tổng thống Bush mới có nhu cầu đánh bóng một số người mà họ nghĩ có thể chỉ bảo dễ dàng để chuẩn bị cho những người đó vào ngồi trong những chiếc ghế chính trị sa lông đẹp như chậu kiểng, và dĩ nhiên với sự thoả thuận ngầm của Cộng sản Việt Nam.
Đối với những ai thích chạy theo chủ nghiã thời cơ thì đây là một cơ hội ngàn vàng được bắt tay tổng thống Bush. Thái độ khúm núm chắp hai tay ngồi tiếp chuyện với tổng thống Bush tự nó nói lên tinh thần xin cho của một người. Còn đối với những kẻ sĩ đã từng thấu đau bài học Mỹ bỏ rơi Saigon, cũng như chứng kiến Mỹ vắt chanh bỏ vỏ những đồng minh của họ như Sadam Hussein, tổng thống Marcos, v.v.., thì tất nhiên những người đó sẽ không bao giờ cảm thấy hân hạnh được chơi trong ván bài diễn biến hoà bình này, vì họ hiểu rằng chỉ có người dân Việt mới biết thương dân Việt mà thôi. Những ai thực tâm yêu nước đều hiểu rằng trên chặng đường đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho Việt Nam , để thắng địch thì phải biết “Lấy sức mạnh dân tộc làm chính”. Có như thế mới giải quyết được tận gốc bài toán Việt Nam trong quá khứ đã và ngày hôm nay đang bị ngoại bang tranh giành xâu xé nhau vì quyền lợi kinh tế.
Thời gian 30 năm cũng khá đủ dài để làm nhụt chí những con người đi đấu tranh muốn nhìn thấy kết qủa đến với mình. Tuy nhiên không vì thế mà chúng ta, lại đi chọn thái độ từ bỏ con đường chông gai lấy sức mạnh dân tộc làm chính để chạy theo xin ngoại bang giúp giải quyết chuyện Việt Nam dùm cho dân tộc mình. Một vấn đề lương tâm rất nhức nhối cần đặt ra cho những ai đang hí hửng mơ được lọt vào mắt xanh của tổng thống Bush, cần phải suy gẫm về lời tuyên bố của ông khi mới đắc cử: “Những ai đang sống dưới bạo quyền và trong niềm tuyệt vọng hãy nhớ rằng Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ không quên quý vị đang bị đàn áp hoặc tha thứ cho kẻ đàn áp quý vị. Khi quý vị tranh đấu cho Tự do, Hoa Kỳ đứng bên cạnh quý vị”. Và cũng xin đừng quên thông điệp của Hoà Thượng Thích Quảng Độ, trong 1 cuộc phỏng vấn với một nhà báo ngoại quốc liên quan đến tự do tín ngưỡng ở Việt Nam, Ngài đã nhắc lại câu nói bất hủ trên của tổng thống Bush rồi kết luận rằng: “Nhưng thực tại hôm nay trái ngược hẳn, Tổng thống (Bush) không đến đây đứng vào hàng ngũ chúng tôi, những kẻ bị áp bức, mà lại đứng bên cạnh những kẻ đàn áp chúng tôi”.
Sự thật phũ phàng như thế đó. Người Mỹ đặt quyền lợi kinh tế cuả họ trên hết là chuyện bình thường. Khi hiểu được như thế thì chúng ta mới thấy rõ đường đi nước bước của tổng thống Bush là ngày hôm nay cái bắt tay trị giá 7 tỉ đô la, tự nó cũng đủ nói lên ông Bush cần những đồng minh có chủ trương “xin, cho” mà CSVN muốn, nhảy vào sân chơi đa đảng hình thức để Mỹ khỏi xấu hổ trước dư luận quốc tế về sự thờ ơ của Hoa Kỳ trước những vị phạm nhân quyền trầm trọng ở Việt Nam.
Ở hải ngoại, chúng ta có một căn nhà rạng ngời chính nghiã cần phải bảo vệ. Chúng ta là chủ của căn nhà này, cho nên không có lý do gì một kẻ lạ Cộng sản Việt Nam khi đặt chân lên đất của chúng ta lại bắt chúng ta phải có thái độ “xin cho” với họ. Nhất là kè thù đó chả có gì tốt để cho người Việt tỵ nạn chúng ta, cũng như họ chả có làm điều gì hay để mà chúng ta phải hãnh diện qụy lụy xin. Mọi nỗ lực đối thoại trong tinh thần “xin cho” chỉ làm cản trở công cuộc đấu tranh và kéo dài ngày đau thương cho dân tộc mà thôi. Cũng vì thế mà người Việt tỵ nạn chúng ta phải quyết đập tan những ý đồ “đối thoại, xin-cho” mà CSVN thâm độc tung ra để hợp thức hoá sự có mặt dan h chính ngôn thuận của họ ở hải ngoại. Không những thế chúng ta phải nhất quyết đồng tâm triển dương chính nghiã “đối đầu” để lật đổ chế độ độc tài tàn bạo. Đây mới chính là con đường đấu tranh đúng đắn nhất để đem lại tự do dân chủ đích thực cho Việt Nam . Ngày nào những tư bản đỏ CSVN còn nắm quyền lực thì ngày đó quốc hội đa đảng vẫn chỉ là một chậu kiểng để cho CSVN và những nhà tư bản trắng khai thác rêu rao Việt Nam nay đã có dân chủ hầu xoa dịu sự phẫn nộ của dư luận thế giới về sự chà đạp dân chủ nhân quyền ở Việt Nam.

Hạnh Quỳnh

Thêm bình luận Tháng Bảy 8, 2007

Previous Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Mười Hai 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

Posts by Month

Posts by Category