Posts filed under ‘Giáo dục




Chủ tịch Triết bị Hội Đồng Giám Mục VN chỉ mặt mắng:”nói dối !”, ”nói láo !”

Ngày 7/7 từ Toà Giám mục VN ở Nha Trang, Ngài Chủ tịch Hội Đồng Giám mục VN – Giám mục Phao lồ Nguyễn Văn Hòa đã gửi công văn cho ông Triết, sau khi báo Tuổi Trẻ trong số ra ngày 6/7/07 đăng cuộc phỏng vấn của ông Triết trả lời hãng CNN Hoa Kỳ rằng ” Hội Đồng Giám Mục VN và Toà Thánh Vatican đã hết sức đồng tình và ủng hộ việc xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý ”.

Nguyên văn trong bức thư công khai và chính thức này là:
Hội Đồng Giám mục Việt nam nhận định như sau:

Câu trả lởi của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết ”Hội Đồng Giám mục Việt nam và Toà Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi ” là không đúng sự thật.
Bức thư rất ngắn, gọn, rõ.

Xin nhớ rằng trong chuyến Mỹ du của ông Triết, ông ta đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại lời bịa đặt dựng đứng trên đây. Khi gặp bà Chủ tịch Thượng Viện Mỹ Nancy Pelosi ngày 21/6, khi gặp Tổng thống Hoa kỳ Bush ngày 22/6, khi gặp người Việt ở Dana Point ngày 23/6. Ít nhất là 3 lần nói dối, chưa kể khi trả lời hãng vô tuyến truyền hình lớn nhất Hoa kỳ CNN trên đây.

Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hoà sâu sắc thật, nâng ông Triết lên hàng ”Cụ”, lên chức cao chót vót ” Chủ tịch Nước ” … để rồi hạ xuống một nhát đau hơn hoạn: kẻ nói dối ! kẻ nói láo ! Mà lại nói láo với những vị đứng đầu một nước lớn đang tiếp đón mình.

Xin miễn bàn gì nhiều. Để xem phản ứng của các ông bà nghị sĩ, của ngài Tổng thống, của hãng CNN Mỹ, các nhà kinh doanh Mỹ và chư vị người Việt từng nghe ông Triết trực tiếp nói dối với mình sẽ nghĩ gì về ”cái quả lừa” ông khách không giống một ai này.

Nói dối lòi đuôi. Sẽ là một sự kiện thời sự làm sôi nổi thêm Hội nghị Trung ương 5 đang vô cùng căng thẳng và cả phiên khai mạc quốc hội khóa 12 sắp tới cho bớt phần tẻ nhạt.
Bùi Tín
Paris. 10/7/2007

Tài liệu liên quan:
Thư minh xác của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
về lời tuyên bố của Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết

Tòa Giám Mục Nha Trang
22, Trần Phú
Nha Trang
Nha Trang, ngày 7 tháng 7 năm 2007

Kính gởi : Cụ NGUYỄN MINH TRIẾT
Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Kính thưa Cụ Chủ Tịch Nước,

Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây :
Nhân đọc trong báo “ Tuổi Trẻ “, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lý,

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau:
Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Tòa Thánh Vatican cũng đồng tình với chúng tôi” là không đúng sự thật.

Kính chúc Cụ sức khỏe.

TM. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam :
+ Phaolô Nguyễn Văn Hòa
Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Nguồn: Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Hệ thống giáo dục song song

Hoàng Xuân Ba

Một hệ thống giáo dục song song là điều cực kỳ cần thiết để tạo tiền đề cho việc đổi mới hoàn toàn nền giáo dục Việt Nam (VN). Ý tưởng của bài viết này được gởi cảm hứng từ tư tưởng xây dựng một hệ thống song song trong tác phẩm kiệt xuất “Quyền lực của không quyền lực” do Havel, nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng người Tiệp Khắc (cũ).

Đầu tiên bài viết sẽ mô tả căn bệnh trầm kha nhất của hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay là căn bệnh thành tích. Sau đó bài viết sẽ phân tích nguyên nhân của căn bệnh đó đồng thời sẽ cho độc giả biết căn bệnh đó đang được bộ giáo dục Việt Nam “chạy chữa ra sao”. Phần cuối của bài viết cho thấy “ngưỡng giới hạn” của việc chữa trị căn bệnh thành tích và phần cuối cùng đồng thời cũng là phần quan trọng nhất của bài viết này sẽ cho thấy vì sao việc qua vượt qua “ngưỡng giới hạn” đó sẽ làm thay đổi thể chế chính trị Việt Nam hiện nay.

Bệnh thành tích: căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam

Ngay cả thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phải thừa nhận rằng bệnh thành tích là một căn bệnh cần phải được chấm dứt. Trong vai trò là Chủ tịch Hội đồng quốc gia giáo dục, ông Dũng nhấn mạnh “phải chấn chỉnh vấn đề dạy thêm, học thêm, chú trọng phát triển giáo dục mầm non. Cải cách giáo dục cần chấm dứt tình trạng nhồi nhét thụ động, bệnh thành tích” (1).

Bệnh thành tích là một căn bệnh đã có từ lâu của nền giáo dục mang tính xã hội chủ nghĩa đậm nét ở Việt Nam. Biểu hiện đặc trưng của nó là những con số trong mơ: tỉ lệ lên lớp luôn đạt 90-100%, tỉ lệ tốt nghiệp luôn ở một mức cao ngất ngưỡng; những bản cáo cáo dầy đặc những con số thành tích ấn tượng.

Bệnh thành tích đã trở thành một căn bệnh phổ biến đến nỗi rất nhiều nhận định của các nhà giáo dục nổi tiếng trong và ngoài nước đều nhận định một cách bi quan rằng muốn cứu vãn nền giáo dục Việt Nam điều đầu tiên là phải chạy chữa “căn bệnh” thành tích.

Không phải ngẫu nhiên mà một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân đặt ra khi bắt đầu nhiệm kỳ của mình đó chính là: chống bệnh thành tích. Rõ ràng với tư cách là người đứng đầu ngành giáo dục Việt Nam, hơn ai hết ông Nhân hiểu rất rõ về căn bệnh thành tích trầm kha của hệ thống giáo dục Việt Nam. Và với những nỗ lực tưởng chừng như không mệt mỏi trong thời gian vừa qua ông Nhân đã cùng với cả ngành giáo dục Việt Nam đang ra sức chữa chạy căn bệnh trầm kha này? Liệu những nỗ lực đó có giúp chữa chạy “tận gốc” căn bệnh này hay không? Liệu có một “ngưỡng giới hạn” mà ông Nhân và những người tâm huyết cải cách giáo dục không thể vượt qua hay không? Để trả lời câu hỏi trên chúng ta cần tìm ra nguyên nhân của bệnh thành tích.

Nguyên nhân bệnh thành tích

Theo định nghĩa của Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên: “Thành tích là kết quả tốt đẹp do cố gắng mà đạt được”. Với ý nghĩa như trên thì rõ ràng những bản báo cáo thành tích của ngành giáo dục Việt Nam trong những năm vừa qua đã làm thay đổi ý nghĩa đích thực của hai từ “thành tích”. Bởi vì thành tích mà ngành giáo dục Việt Nam đạt được bằng những gian lận trong thi cử qua đó tạo nên những bản báo cáo láo, báo cáo sai sự thật. Năm nào cũng vậy, cứ đến cuối năm thì những bản báo cáo tổng kết năm học với những con số ấn tượng luôn được nêu bật như một trong những thành tích của ngành giáo dục trong sự nghiệp trồng người. Thế nhưng đằng sau nó là không biết bao nhiêu tệ nạn trong giáo dục.

Những con số ấn tượng đó được nhiều người lý giải rằng đó là do sức ép của xã hội, sức ép của phụ huynh học sinh, sức ép của lãnh đạo ngành giáo dục, thậm chí có người còn cho rằng đó là do sức ép của dư luận, của các phương tiện truyền thông.

Thật ra tất cả những sức ép đó đều chỉ là những sức ép từ bên ngoài. Nguyên nhân sâu xa và chủ yếu đó vẫn là sức ép từ bên trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Cũng như trong lĩnh vực kinh tế, hay bất kỳ một lĩnh vực nào khác, hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa luôn cho rằng hệ thống của mình tốt đẹp hơn hệ thống tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc tốt đẹp đó không đúng như bản chất vốn có của nó. Hơn thế nữa, đánh giá đúng thực chất của hệ thống giáo dục sẽ gây ra sự thiếu niềm tin vào sự tồn tại của hệ thống, tạo nên một sức ép to lớn từ phía người dân vào lý do tồn tại của nó, gây ra sự sụp đổ của hệ thống giáo dục đang có. Điều này dẫn tới sự tồn vong của chế độ.

Do đó, từ trước đến nay, bằng mọi cách, bằng mọi biện pháp các nhà lãnh đạo của Việt Nam vẫn chấp nhận tồn tại của căn bệnh thành tích như là một căn bệnh trầm tra của nền giáo dục Việt Nam đơn giản bởi vì sự tồn tại của nó gắn liền với sự tồn vong của chế độ.

Căn bệnh đang được chạy chữa

Tuy nhiên trước sức ép to lớn của dư luận, của những bậc phụ huynh mong muốn có một nền giáo dục thực chất và hiệu quả, đặc biệt là sức ép của hội nhập trong thời đại toàn cầu hóa những nỗ lực chạy chữa căn bệnh này đang được bắt đầu. Chúng ta thử tưởng tượng xem với một nền giáo dục kém hiệu quả như hiện nay, một cử nhân đại học khi tốt nghiệp ra trường khi đi làm không có được những kỹ năng cơ bản về giao tiếp, quản lý dự án, lập kế hoạch… buộc doanh nghiệp phải đào tạo lại từ đầu thì Việt Nam làm thế nào có thể tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, làm thế nào để thành công sau khi gia nhập WTO.

Chậm trễ trong việc chạy chữa căn bệnh thành tích trong giáo dục sẽ để lại nhiều hậu quả khôn lường. Sức ép của dư luận, của hội nhập giống như một quả bong bóng đang phình to ra, nếu không xì hơi kịp thời thì một ngày nào đó sẽ nổ tung và hậu quả lúc đó sẽ khó lòng cứu vãn.

Chắc chắn rằng Thủ tướng mới nhận chức Nguyễn Tấn Dũng nhận thức được vấn đề quan trọng này. Do đó, ông đã bổ nhiệm Tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, một người được đánh giá rất cởi mở và có năng lực trong việc quản lý giáo dục để mong làm “xì hơi” quả bong bóng đang muốn nổ tung của nền giáo dục Việt Nam. Ông Nhân từng được cử đi học Cao học quản lý cộng đồng (quản lý Nhà nước) chuyên ngành Tài chính công tại Trường Đại học Oregon (Mỹ) và học khóa đào tạo về thẩm định dự án đầu tư tại Trường Đại học Harvard (Mỹ) (2). Với sự đào tạo trong một nền giáo dục tư bản chủ nghĩa thì ông Nhân đủ khả năng đánh giá được căn bệnh thành tích và đề ra được những phương thuốc hiệu quả để chữa trị căn bệnh này.

Đầu tiên, khi vừa mới nhận chức ông Nhân đã làm một việc “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử giáo dục Việt Nam đó là trả lời “Thư gửi tân Bộ trưởng Bộ Gíao dục-Đào tạo” (3) của thư một người dân ở Đà Nẵng được đăng trên báo Tuổi Trẻ. Trong lá thư thứ nhất ông Nhân khẳng định: 10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác (4). Ông viết: “Với truyền thống hiếu học, truyền thống tôn sư trọng đạo, với thế và lực mới của đất nước sau 20 năm đổi mới, với quyết tâm chiến lược của Đảng coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, với lòng yêu nghề và quyết tâm tự khẳng định của hơn 1 triệu thầy cô giáo trong cả nước, với sự quyết tâm và chia lửa của hàng triệu người VN là đồng tác giả của sự nghiệp chấn hưng giáo dục, tôi tin là trong 10 năm tới nền giáo dục VN sẽ có những bước phát triển mới, xứng đáng với đòi hỏi của sự nghiệp hiện đại hóa – công nghiệp hóa đất nước, với mong muốn và tin cậy của nhân dân cả nước, với truyền thống văn hiến của dân tộc VN”.

Tuy nhiên, khi đề cập đến căn bệnh thành tích thì ông Nhân lại né tránh không cho rằng đó là do “lỗi của hệ thống” mà do: lý do cơ bản là chúng ta nhận thức và thực hành đánh giá kết quả học tập rèn luyện của học sinh (HS) phổ thông chủ yếu dựa vào tiêu chí là điểm thi các môn.
Dĩ nhiên trên cương vị là một Đảng viên Đảng Cộng sản, một người đứng đầu hệ thống giáo dục Việt Nam, ông Nhân không thể thừa nhận nguyên nhân cơ bản nhất của bệnh thành tích. Dù sao chúng ta cũng phải cảm thông cho ông Nhân về điều này.

Một sự kiện tiếp theo tạo thuận lợi cho việc chống bệnh thành tích trong giáo dục của ông nhân đó là sự kiện thầy giáo Đỗ Việt Khoa (5), một giám thị tố cáo tiêu cực trong thi cử ở tỉnh Hà Tây. Sự kiện này tạo nên một làn sóng dư luận mạnh mẽ ủng hộ việc chống tiêu cực trong giáo dục, tạo tiền đề cho ông Nhân đề ra những biện pháp hữu hiệu để chữa trị căn bệnh thành tích vốn đã rất trầm kha mà các đời bộ trưởng giáo dục trước để lại.

Nếu theo dõi sát sao tình hình giáo dục Việt Nam, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng lâu nay rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về giáo dục đã đề ra thuốc để chữa trị căn bệnh này. Ví dụ như ở bậc trung học phổ thông là thay thể phương pháp thi tự luận bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan, chấp nhận việc một phần lớn các thí sinh không đỗ tú tài, gộp hai kỳ thi tú tài và tuyển sinh đại học thành một; ở bậc đại học là chuyển việc đào tạo theo học phần sang việc đào tạo theo tín chỉ, trao quyền tự chủ cho các trường đại học, thành lập đại học quốc tế có chất lượng cao…

Thuốc đã có, thế nhưng sức ỳ của hệ thống vẫn rất lớn làm cho những lời kêu gọi cải cách, chấn hưng giáo dục đó đi vào quên lãng. Đến khi ông Nhân trở thành bộ trưởng giáo dục thì những cải cách đó mới dần dần được thực hiện.

Và “liều thuốc đắng” để chữa trị căn bệnh thành tích trong giáo dục đã có kết quả ngay từ kỳ thi tú tài 2007. Với “tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) cả nước là 66,7% (6)”, so với những năm trước là trên 90%, đã bộc lộ rất rõ bệnh thành tích trong giáo dục Việt Nam và “liều thuốc đắng” mà ông Nhân đưa ra đã có tác dụng. Nhìn chung dư luận có phản ứng không quá gay gắt trước một tỉ lệ thí sinh rớt cao như thế. Các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam đánh giá về kỳ thi này là một kỳ thi nghiêm túc khá thuận lợi cho công cuộc cải cách giáo dục của ông Nhân.

Với đà “thừa thắng xông lên”, chắc chắn rằng ông Nhân sẽ tiếp tục thực hiện nhiều chương trình cải cách giáo dục khác nhằm vực dậy một nền giáo dục vốn đã rệu rã của Việt Nam.

Tuy nhiên những cải cách đó sẽ vấp phải một giới hạn trên, một giới hạn do hệ thống chính trị Việt Nam qui định. Là một thành viên trong hệ thống chính trị đó, dù cho nhận thức được lỗi hệ thống đó trong giáo dục thì ông Nhân cũng sẽ không thể nào vượt qua được để đưa giáo dục Việt Nam trở thành một quốc gia có nền giáo dục tiên tiến.

“Ngưỡng giới hạn” của hệ thống

Trong tác phẩm Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Kornai János, một học giả hàng đầu về các hệ thống kinh tế đã nêu ra những đặc trưng cơ bản của hệ thống xã hội chủ nghĩa thị trường về mặt hệ tư tưởng và nhất là sự lãnh đạo của Đảng:

– Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo có thẩm quyền của xã hội. Sự độc quyền về quyền lực đó là hợp pháp; việc tiếp tục duy trì nó là để phục vụ quyền lợi của nhân dân. Gắn chặt với nó là các nguyên tắc hoạt động nội bộ của Đảng: cấm bè phái, nguyên tắc tập trung dân chủ, và sự cần thiết của kỉ luật Đảng

– Tất cả những điều giáo huấn cơ bản của chủ nghĩa Marx-Leninist và hai nhà cổ điển của nó là Marx và Lenin vẫn còn có giá trị không đổi. Các vấn đề đã nảy sinh không phải là do các nguyên lý của chủ nghĩa Marx-Lenin mà ngược lại là vì sự xa rời những điều giáo huấn của Marx và Lenin.

Hai nhận định trên giúp ta hiểu rõ rằng vì sao sự lãnh đạo độc quyền của Đảng và hệ tư tưởng Marx-Lenin vẫn được lồng ghép vào các môn học ở bậc phổ thông và đại học, nhất là các môn học xã hội.

“Giới hạn trên” của hệ thống chính là ở hai điểm này. Và đó cũng chính là giới hạn trên mà những nỗ lực cải cách giáo dục của bản thân ông Nhân và ngành giáo dục sẽ phải gặp phải trong quá trình đổi mới giáo dục và triệt tiêu căn bệnh thành tích ở Việt Nam.

Thứ nhất, những môn học tư tưởng như triết học chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa khoa học xã hội, kinh tế chính trị vẫn sẽ là những môn học mang tính bắt buộc trong chương trình đại học và trong chương trình trung học thì nó sẽ được giảng dạy thông qua môn giáo dục công dân và tư tưởng của nó sẽ được lồng ghép vào các môn như sử, địa…

Thứ hai, việc đổi mới giáo dục sẽ tạo cho học sinh Việt Nam có một thói quen suy nghĩ độc lập, không dựa dẫm vào suy nghĩ của người khác. Chúng ta thử hình dung xem một khi học sinh Việt Nam có được những suy nghĩ không phụ thuộc vào “suy nghĩ” của Đảng thì kết quả tất yếu xảy ra đó là những thanh niên Việt Nam được đào tạo trong nền giáo dục đó sẽ nhận thức một cách rõ ràng hơn về những nhu cầu dân chủ, đa nguyên, đa đảng. Sự thay đổi thể chế, sự sụp đổ của đảng cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ xảy ra.

Có thể nhận định rằng việc thay đổi tận gốc hệ thống giáo dục sẽ không thể thực hiện được bởi vì nó sẽ dẫn đến hậu quả là thay đổi chế độ hiện tại. Vậy làm thế nào để cải cách một cách triệt để hệ thống giáo dục Việt Nam? Câu trả lời đã được Havel gợi hứng từ tác phẩm kiệt xuất: Quyền lực của không quyền lực. Đó là tạo ra một hệ thống giáo dục song song với hệ thống giáo dục hiện tại.

Hệ thống giáo dục song song

Trong tác phẩm Quyền lực của không quyền lực, Havel cho rằng hệ thống hậu toàn trị, hệ thống chính trị ở Việt Nam được xem như một hệ thống hậu toàn trị, được vận hành dựa trên nền tảng của sự giả dối, căn bệnh thành tích trong giáo dục là một biểu hiện sinh động của sự giả dối đó. Chính vì toàn bộ hệ thống được xây dựng trên sự dối trá đó cho nên nó sợ sự thật. Căn bệnh thành tích trầm kha của nền giáo dục Việt Nam cũng chính là nguyên nhân sợ bộc lộ sự thật về những yếu kém của nó.

Havel cho rằng để phá vỡ những móc xích của hệ thống thì không còn cách nào khác hơn đó chính là nỗ lực sống trong sự thật. Những cải cách giáo dục, dù có nửa vời mà ông Nhân đang thực hiện cũng chính là những nỗ lực đó. Tuy nhiên bởi vì ông Nhân chính là một trong những móc xích cực kỳ quan trọng của hệ thống do đó ông cũng không thể nào thoát ra được khỏi hệ thống.

Để có thể thoát ra khỏi hệ thống thì Havel cho rằng cần phải có những người đi tiên phong trong việc xây dựng một đời sống độc lập xã hội bao gồm mọi thứ từ tự giáo dục và nghĩ về thế giới, từ các hoạt động sáng tác tự do và truyền tải nó tới người khác, đến cách phong phú tự do bày tỏ thái độ công dân, bao gồm cả những tổ chức xã hội độc lập hình thành tự phát. Tóm lại, nó là một khu vực mà trong đó sống trong sự thật được chi tiết hóa và vật chất hóa theo cách nhìn thấy được. Trong lĩnh vực giáo dục thì họ chính là các giáo viên, những người dạy cho thanh niên những điều vốn bị “cấm kị” trong các trường công.

Như vậy, làm thế nào để xây dựng được một hệ thống giáo dục song song?

Trên thực tế thì một hệ thống giáo dục song song đang dần được hình thành. Nếu như trước đây khó ai có thể tưởng tượng được rằng các trường trung học quốc tế với một chương trình đào tạo theo đúng tiêu chuẩn quốc tế được hình thành ở Việt Nam thì nay một mạng lưới rộng lớn các trường này đang dần hình thành. Hơn thế nữa nó đang tạo ra một chỗ đứng vững chắc nhờ vào các chương trình giảng dạy tiên tiến, “thoát ly” với những nội dung giảng dạy ở các trường công lập do nhà nước quản lý. Những môn học mang tính “nhồi sọ” kiểu như giáo dục công dân đang được loại ra khỏi chương trình giảng dạy của các trường trên.

Ở bậc đại học, một điểm sáng mà chúng ta có thể nhận thấy được đó là sự thành lập đại học FPT. Với khả năng tài chính hùng hậu của mình, FPT đã “mặc cả” với Bộ Giáo dục và Đào tạo để có thể được tự chủ hoàn toàn trong việc dạy và học. Với quyền tự chủ này FPT có thể từ bỏ chương trình khung của mà bộ bắt buộc tất cả các trường đại học ở VN sử dụng từ trước đến nay để áp dụng một chương trình giảng dạy mới tạo cho sinh viên có được những suy nghĩ độc lập và những kỹ năng cần thiết sau khi ra trường.

Kết luận, một giải pháp khả thi trong việc đổi mới giáo dục Việt Nam đó là xây dựng một hệ thống giáo dục song song, xuất phát từ hệ thống giáo dục cũ, cùng tồn tại với nó nhưng dựa trên những mục tiêu, cách đánh giá, phương pháp hoàn toàn khác hẳn với hệ thống cũ. Một ngày nào đó không xa, hệ thống mới sẽ hoàn toàn lấn áp hệ thống cũ và khi đó hệ thống cũ sẽ bị loại bỏ.

————————————-

(1): vietnamnet.vn.
(2): sonoivu.hochiminhcity.
(3): tuoitre.com.
(4): tuoitre.com.
(5): tuoitre.com.
(6): tuoitre.com.

Thêm bình luận Tháng Bảy 3, 2007

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

Dẫn đề

“Sin thì sincos cossin, cos thi coscos sinsin dấu trừ”. Đó là câu vè để nhớ một công thức toán lượng giác mà ta tiếp thu được trong đời trung học. Những kiến thức về khoa học tự nhiên và nhân văn khiến con người mở mang hiểu biết cũng là căn bản cho những sự học vấn cao hơn ở bậc đại học, với mục đích sau cùng là để phục vụ thực tế của đời sống. Song, rốt cuộc trong đời sống hàng ngày của chúng ta, không mấy ai gặp lại hay cần dùng cái hiểu biết “sin, cos” của môn hình học lượng giác này.

Những điều mà các em học sinh va chạm trong đời sống hàng ngày sau khi tốt nghiệp trung học ngoài việc thi vào đại học là đi tìm việc làm, là tình yêu đôi lứa và nói chung là sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong một cuộc phỏng vấn xin việc làm, trong những lần tạo ấn tượng với người bạn khác phái, thậm chí trong những cuộc tiếp xúc hàng ngày với người quen hay kẻ lạ, các em cần thuyết phục đối tượng. Nhưng kiến thức làm sao để thuyết phục đối tượng không được dạy trong trung học. Các em sẽ phải đương đầu với những lo lắng trong thi cử, thất chí trong cuộc sống kiếm cơm, đau khổ trong những cuộc tình dang dở, đối phó với những thăng trầm của cuộc sống. Làm sao để có đủ ý chí vượt qua các thử thách? Làm sao để bớt lo lắng? Làm sao để sự thất vọng không làm ta nhụt chí? Trước sự thất tình ta phải nghĩ sao, làm gì?

Những vấn nạn này không những chỉ xuất hiện ở tuổi đôi mươi, mà nếu không may, còn theo đuổi con người suốt một kiếp. Sa ngã trong nghiện ngập, thất bại trong kế mưu sinh, bị bạn bè phản bội, người thân lừa dối, con cái ngỗ nghịch không nên người là những nỗi khổ và khó khăn của đời người. Làm sao để tránh, làm sao để vượt qua?

Trong 100 em học sinh, có lẽ chỉ có một vài em sẽ cần kiến thức “sin, cos” của hình học lượng giác sau này, chỉ có vài em cần áp dụng kiến thức công thức vật lý F=ma nhưng em nào cũng được học. Trong khi đó, trên 90% các em sẽ trở thành những người cha, người mẹ, cần phải hướng dẫn con cái, nhưng không có bài học nào dạy làm sao để hiểu, đối xử và dạy dỗ trẻ em. Những công thức hóa học, những định lý toán học, những câu ca dao lục bát tuy không thể thiếu trong chương trình trung học, song trên bình diện đời sống cá nhân, có những điều rất ư là quan trọng, lại thường xảy ra, mà các em cần được trang bị để ra đời đã không được giảng dạy đúng mức.

Đó là nói trên bình diện của mỗi cá nhân. Trên tầm nhìn quốc gia, dân tộc ta lại thấy những điểm khác, có thể bổ túc thêm cho chương trình giáo dục của Việt Nam.

Ai đã từng tiếp xúc qua với học sinh của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, hay đã từng biết sinh hoạt của người Tây Phương thì có lẽ cũng thấy được sự dạn dĩ, tự nhiên của họ. Những đứa trẻ trong nền giáo dục của các nước tiên tiến lớn lên với một sự tự tin. Ngoài sự tác động từ đời sống bên ngoài, sự giáo dục của nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng. Sự giáo dục này không chỉ nằm trong kiến thức được truyền thụ mà tùy thuộc rất nhiều vào phương pháp giáo dục.

Những tiền đề trên cho ta ấn tượng là có rất nhiều điều cần được bổ túc, cải cách, trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, từ nội dung chương trình đến phương pháp, song bài viết này chỉ chú trọng về phương diện nội dung chương trình giáo dục.

Kiến thức về khoa học có thể giúp cho một người có bằng cấp kỹ sư. Song trong đời sống của một kỹ sư thì có gia đình, bạn bè, cấp trên, thuộc hạ, bạn đồng nghiệp, cộng đồng, dân tộc… chứ không chỉ có công việc tính toán khoa học. Cái hành trang kiến thức của trung học chỉ đóng góp được một phần rất nhỏ trong cả cuộc đời người kỹ sư. Và nếu chẳng may sau khi ra khỏi trung học đương sự không trở thành kỹ sư mà làm ca sĩ, thì tất cả những kiến thức toán, vật lý cũng không còn công dụng gì nữa. Song một ca sĩ thì cũng như một kỹ sư, ai cũng phải đối diện với thực tế đời sống, trong đó cảm nhận của bản thân và quan hệ giữa người và người là điều quan trọng và thực tế nhất.

Như vậy, xin được tạm gọi cái kiến thức mà chúng ta cần trang bị thêm một cách chu đáo cho các em tốt nghiệp bậc trung học là môn “con người và đời sống”. Nếu gọi những kiến thức khoa học và nhân văn là để làm tăng IQ (intelligence quotient) của học sinh, thì môn “con người và đời sống” là phần nào để làm tăng “EQ” (Emotional Quotient) của học sinh, chuẩn bị cho các em ra đời thành công. Sự thành công không chỉ đặt căn bản trên vật chất mà còn có ý nghĩa tinh thần. Người cảm thấy hạnh phúc là người thành công.

Việc soạn thảo chương trình của môn “Con Người và Đời Sống” phải là công trình của nhiều người, nhiều chuyên gia. Chương trình này là tổng hợp của nhiều kiến thức về tâm lý, sinh lý, triết lý… bao gồm công dân, đức dục được sàng lọc và gói ghém lại để thích hợp với trình độ và nhu cầu của người tiếp thu. Khuôn khổ một bài viết của một người sẽ không thể nào trình bày hết.

Song, muốn hoàn thiện hóa một cơ chế, một sự việc điều tiên quyết là chúng ta cần hiểu rõ cơ chế hay sự việc ấy. Muốn hoàn thiện hóa cá nhân chúng ta và quan hệ giữa người với người, chúng ta phải hiểu rõ về con người. Đóng góp dưới đây là một vài kiến thức mà người viết cho là căn bản cho môn “Con Người và Đời Sống”. Bài viết này được gởi đến các em học sinh của những năm cuối cùng của trung học, vì người đọc cần một số kiến thức khoa học căn bản để có thể tiếp thu một cách dễ dàng.

Viết cho các bạn trẻ…

Các bạn trẻ thân mến,

Sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ đã làm chấn động hoàn cầu. Hàng chục người đã tham gia vào công tác cảm tử, cướp các phi cơ dân sự, lao vào các mục tiêu quân sự lẫn dân sự của Mỹ. Có người xem đó là hành động khủng bố, hèn hạ, vô nhân, cũng có người xem đó là những hành động tử vì đạo vô cùng anh hùng, cao thượng. Còn những cảm tử quân kia thì nghĩ gì? Không nhiều thì ít, chắc chắn phải có một số cảm tử quân tin vào đấng thượng đế của họ và một thiên đàng sau cõi chết. Nhưng cũng có những người trên thế giới không tin như vậy.

Đời sống của nhân loại quả thật là muôn màu muôn vẻ, một lãnh tụ chính trị được nhiều người suy tôn, nhưng cũng bị nhiều người khác khinh dễ, và lại cũng có người dửng dưng. Trước một biến cố, thậm chí một bài thơ hay một bản nhạc, qua nhãn (và nhĩ) quan của con người nó bỗng trở thành hay, dở, tốt, xấu khác nhau, nghĩa là được cảm nhận một cách khác nhau.

Tại sao như vậy? Cá nhân chúng ta thuộc loại nào? Tại sao ta lại nghĩ như vầy, mà người khác lại nghĩ như thế kia? Các cảm tử quân rốt cuộc có lên thiên đàng không? Trước quá nhiều gút mắc chúng ta hãy chọn những gút chính mà tháo gỡ. Cái gút đầu tiên cần được tháo gỡ là “Tại sao người ta lại có những niềm tin, suy nghĩ khác nhau?”.

Memes- ký và niềm tin

Chắc các bạn trẻ đều có nghe qua chuyện Tarzan hay những mẩu chuyện em bé được chó sói nuôi trong rừng. Những người này, chưa từng tiếp xúc với loài người, không nói được tiếng người, chỉ biết sủa và tru. Một con người chưa bao giờ nghe qua tôn giáo A nào đó thì không thể nào biết có tôn giáo đó để mà đặt niềm tin vào. Một người chưa từng bao giờ nghe qua tên nhân vậy B thì cũng không thể nào tôn sùng, yêu kính hay ghét bỏ nhân vật B. Nhưng cuối cùng, khi họ lớn lên thì người này tin thế này, người kia nghĩ thế kia. Để tìm hiểu xem tại sao như vậy ta hãy theo dõi họ ngay từ thuở lọt lòng.

Các bạn trẻ thân mến,

Ngay từ thuở lọt lòng, không có một đứa trẻ nào có một niềm tin nào cả. Điều nó biết chỉ là những cảm giác sinh lý như đói no, nóng lạnh, sáng tối, đau đớn hay thoải mái. Để dễ hiểu cho những lập luận sau này, chúng ta hãy tạm xem bộ não của đứa nhỏ như một cái máy điện não vi tính mới mua về, trong đó chỉ có những chương trình thật căn bản để sinh tồn mà thôi.

Rồi thì nó nhìn thấy nụ cười của bà mẹ. Nó tiếp thu nụ cười vào não như một máy vi tính tải vào một chương trình nhỏ. Rồi một hôm nó húp một chút nước đường, cái vị ngọt của nước đường làm nó thoải mái, và đó cũng là một chương trình nhỏ giữ lại trong bộ não non nớt trinh trắng đó. Lớn lên một chút, một hôm nó nghe người ta kể chuyện ma, câu chuyện ma được tiếp thu vào ký ức của nó như một “program” được “load” vào “computer”.

Nụ cười của bà mẹ, vị ngọt của đường, câu chuyện ma, những cái mà ta tạm gọi là chương trình (program) bên trên được các nhà khoa học gọi là những “memes”, tạm dịch là “ký” (như ký hiệu).

Meme có thể nhỏ như một nụ cười, nhưng cũng có thể lớn như một lý thuyết tôn giáo hay chính trị. Không ai tự nhiên sinh ra mà tin vào lý thuyết này, sự kiện nọ. Tất cả đều dựa trên những memes trong đầu, và những memes này được đưa vào não qua ngũ quan của ta. Một cách nôm na, memes hay ký là những kinh lịch của cuộc sống.

Hãy giả sử khi vừa ra đời, các cảm tử quân trong vụ 11 tháng 9 bị bắt cóc. Một số được nuôi dưỡng trong nhà dòng ở La Mã, một số được gởi qua Tây Tạng ở cùng các vị Lạt Ma, một số đưa sang VN cho những gia đình nông dân nuôi dưỡng, tất cả đều không có phương tiện liên lạc truyền thông như TV, radio, để biết về Hồi giáo, thì khi lớn lên có được mấy người tin vào đấng Allah và thuyết Hồi Giáo? Có lẽ chúng ta cùng tin rằng không có người nào có niềm tin như họ đã có khi tham gia công tác cảm tử. Và có lẽ không một ai tham gia công tác cảm tử này. Nếu chưa nghe qua thánh Allah, chưa bao giờ biết qua trên đời có kinh Koran thì người ta không thể tự nhiên mà có niềm tin vào lý thuyết của đạo Hồi. Đó là điều chắc chắn. Trước khi người Tây Phương sang Việt Nam, vì chưa nghe đến đạo Kitô nên không có người Việt Nam nào theo đạo Chúa và thờ Chúa Giê-su cả. Do đó, niềm tin trong ta được thành lập trên những điều ta được nghe qua, thấy qua, dạy dỗ, và đó là những memes, những ký chứ không phải tự nhiên mà có.

Memes là những ký hiệu được giữ lại trong tiềm thức của ta. Chúng là căn bản cho sự suy nghĩ của ta. Người ta nghĩ khác nhau, cảm nhận khác nhau về cùng một sự kiện 11 tháng 9, cũng vì có những memes khác nhau.

Như vậy, việc đầu tiên chúng ta đồng ý là suy nghĩ của mình chỉ có thể dựa trên những memes mà mình đã kinh qua. Người Việt, có những memes về văn hóa giống nhau nên có suy nghĩ tương tự nhau. Nhưng người Việt ở trong nước suy nghĩ khác người Việt ở hải ngoại, người có memes của chủ nghĩa này, kẻ có memes của lý thuyết kia, vì họ có kinh lịch đời sống khác nhau.

Nếu mỗi người chúng ta chỉ có một bộ memes thì chỉ có memes chịu trách nhiệm cho mỗi suy nghĩ, cảm nhận và hành động của ta, nhưng trong một con người thường khi có rất nhiều memes và người ấy phải chọn lựa. Thí dụ như cô A có hai anh chàng đang theo đuổi, mỗi chàng đã để lại môt bộ ký (set of memes) trong ký ức của cô. Vấn đề của cô là phải quyết định xem chọn anh nào, hoặc không chọn ai cả, hay… bắt cá hai tay. Một người Việt lớn lên thường đã nghe qua và biết qua nhiều lý thuyết tôn giáo lẫn phi tôn giáo, tức là có nhiều memes khác nhau, vậy thì họ sẽ chọn tin theo lý thuyết nào?

Các bạn trẻ thân mến,

Khi các memes mâu thuẫn nhau, tranh chấp với nhau trong đầu thì cũng chính là lúc ta đang suy nghĩ và cuộc tranh đấu giữa các memes càng ác liệt, càng khó phân thắng bại thì ta càng cảm thấy bối rối, phân vân. Và đó là vấn đề mà chúng ta phải đụng độ hàng ngày.

Vậy thì cái gì có quyền quyết định, cái gì có quyền chọn lựa? Thông thường, câu trả lời là “TA” chọn lựa, “TA” quyết định.

Các bạn trẻ thân mến,

Muốn hiểu về con người và đời sống thì cái đầu tiên, và quan trọng nhất mà ta cần hiểu biết là cái TA. Nó thực sự bí ẩn hơn cách hiểu thông thường.

Thông thường, khi nói “TA”, hay “TÔI”, thì người ta chỉ vào ngực, hoặc vỗ vào ngực và có lẽ người ta muốn chỉ trái tim. Song mọi người đều biết trái tim không phải là trung tâm của sự chọn lựa, quyết định, và điều này được dẫn chứng bởi những ca đau tim và những người được thay tim. Có khi xưng tôi thì người ta chỉ vào mặt, nhưng dĩ nhiên mặt mũi không phải là nơi quyết định, và điều này cũng được dẫn chứng qua những ca giải phẫu thẩm mỹ.

Vậy thì cái “TA” có phải nằm trong não bộ chăng, bởi vì khi bị thương tổn não bộ người ta mất trí, chọn lựa và quyết định trở nên bậy bạ? Đặc biệt, các người mà não bộ bị đánh thuốc mê, hay thậm chí chỉ cần say rượu đến bất tỉnh (tức là bị phân tử rượu tác động lên não), thì họ cũng không quyết định gì được cả.

Từ trước đến nay, người ta thường phân tích hoạt động sinh lý của não, và phân tích đời sống tinh thần, tâm lý, của con người một cách tách biệt. Nhưng kỳ thật, thưa các bạn, cái thí dụ đánh thuốc mê bên trên đã cho thấy rõ đời sống tinh thần, suy nghĩ, cảm giác của ta có liên quan mật thiết đến não bộ và những phân tử thuốc mê vật chất. Sự liên quan giữa tinh thần, tâm lý, suy nghĩ và não bộ có thể được ví như mối liên quan giữa các chương trình, hay phần mềm (software), và phần cứng (hardware) của máy vi tính. Phần mềm là các memes, còn não bộ của ta là phần cứng. Cái “TA” quyết định mọi thứ cũng núp trong cái phần cứng và phần mềm này.

Các bạn trẻ thân mến,

Tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình, tổ quốc, đồng loại, sự phân biệt thiện ác, đúng sai, niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ, hy vọng, tức giân, hờn ghen, tủi nhục, vinh quang, đến tất cả những ký ức, và cuối cùng là quyết định của các bạn, của tất cả chúng ta đều diễn ra trong bộ não. Hôm nay chúng ta bỏ ra vài phút, truy cho tới cùng cái TA, hiểu nó cho tường tận. Cái kết quả của vài phút suy nghiệm này sẽ đưa ta đến một khám phá đáng ngạc nhiên, tương tự như lúc mọi người đang tin là trái đất là mặt phẳng, bỗng một hôm phát hiện ra nó hình cầu.

Trong vài dòng tới, các bạn trẻ sẽ có cơ hội vận dụng những kiến thức khoa học căn bản nhất để suy ra một chân lý mà trường trung học chưa bao giờ giảng dạy qua, ngay cả ở đại học cũng vậy. Các bạn sẽ hiểu được cái “TA” mà có lẽ bạn chưa từng nghe nói tới kể cả trong tôn giáo hay ngoài xã hội. Nó lạ lùng kỳ diệu mà cũng rất ư đơn giản và khoa học.

Ta

Một hôm, một nhân công làm đường rầy xe lửa, trong khi đang đặt thuốc nổ phá núi đã bị tai nạn, cây xà beng cắm vào đầu ông xuyên qua não bộ. Bộ óc bị mất một phần nhưng ông ta không chết. Sau thời gian dưỡng bệnh, ông ta trở lại làm việc. Tuy sức khỏe bình thường, tính tình của ông ta đã đổi khác. Từ một người nhút nhát ông trở nên rất bạo dạn. Không những chỉ khác ở tính tình mà sau khi bị mất một phần não ông còn khác xưa ở những điểm kỳ lạ. Sau khi lành bệnh, ông ta dùng lưỡi để khám phá ra vật lạ thay vì dùng mắt hay tay như trước đây dù ông ta vẫn thấy đường và có xúc giác bình thường. Ông ta lại có thể động tình với bất cứ ai nam cũng như nữ, luôn cả với thú vật mà trước đó thì ông là một người đàn ông bình thường, không phải như vậy.

Qua hiện tượng này cùng với nhiều hiện tượng bị bệnh hay giải phẫu não bộ, người ta nhận thấy rằng cá tính, suy nghĩ, cảm giác, thái độ của con người sẽ khác đi nếu như não bộ bị hư hao, thương tổn và người ta biết rằng có những trung khu với những chức năng riêng, như cảm giác, suy nghĩ vân vân.

Các bạn trẻ thân mến,

Nếu có cái ta cao hơn bộ não, nghĩa là có thẩm quyền trên bộ não thì sao ông nhân viên hỏa xa kia lại thay đổi ý thích về tình dục và có thái độ kỳ dị như vậy?

Để thí nghiệm, người ta đã cắt mất phần não tương ứng của những con khỉ tương tự như trường hợp của nhân viên hỏa xa nói trên. Kết quả là những con khỉ trở nên rất dễ dạy, không sợ hãi như trước. Chúng cũng khám phá đồ vật bằng miệng và lưỡi và cũng làm tình với cả cái lẫn đực, lẫn những con vật khác.

Các bạn trẻ không cần lo lắng là chúng ta sẽ phải kinh qua một bài học về sinh lý não. Ở đây chúng ta chỉ muốn chứng minh rằng từ cảm giác của ngũ quan, sinh lý đến các cảm giác tâm lý như vui buồn, sợ, tức, đến cả suy nghĩ và quyết định của ta cũng nằm trong não bộ và liên quan đến sự vận hành của não bộ.

Bộ não là tập hợp của các tế bào, mà sự vận hành trong đó là những phản ứng hóa học. Nếu các tế bào ấy không hoạt động, tức là các phản ứng hóa học không xảy ra, thì ta không có cảm giác, suy nghĩ hay quyết định, thậm chí không biết ta hiện hữu. Ứng với mỗi sự suy nghĩ hay quyết định của ta phải là một luồng thần kinh, tức là một chuỗi phản ứng sinh hóa xảy ra trong não bộ. Hiện tượng sinh hóa khác nhau thì ứng với những suy nghĩ quyết định và cảm giác khác nhau. Các hóa chất gây mê, kích thích, lượng đường trong máu, thuốc trị bệnh trầm cảm và các loại bệnh thần kinh khác là những minh chứng cho vai trò của hóa chất trên suy nghĩ và cảm giác của ta. Các chuỗi phản ứng hóa học trong não bộ, tức là hoạt động thần kinh trung ương là bất khả phân với suy nghĩ và quyết định của ta, tức là TA.

Đến đây thì có một câu hỏi lớn nhất mà chúng ta phải trả lời. Trả lời xong câu hỏi này thì ta hiểu được cái TA kỳ diệu và có được chiếc chìa khóa để mở tất cả những hệ luận triết lý sau này. Câu hỏi đó là:

(1) sự quyết định, suy nghĩ của ta khiến cho những hóa chất trong tế bào vận hành và phản ứng (theo ý ta), hay

(2) những chuỗi phản ứng hóa học ấy chỉ diễn ra theo định luật của tự nhiên – tức là những định luật lý, hóa, mà chúng ta đã được học qua – và chính những phản ứng hóa học này đã phát sinh ra cái mà ta goi là suy nghĩ ý muốn và quyết định của ta?

Câu hỏi này có tính cách quyết định, bởi vì nếu ta cho rằng là ý chí của ta điều khiển sự hoạt động của não bộ, thì quả là trên đời này có một cái TA làm chủ não bộ này và ta phải đi tìm cho ra nó. Còn bằng cho rằng chính cái ý chí ấy cũng chỉ là một sản phẩm của sự vận hành của những hạt hóa chất li ti trong một khối não trăng trắng bầy nhầy, thì không còn cái TA nữa, mà chỉ còn một bộ máy sinh hóa chạy tự động, và trong quá trình hoạt động này nó sản sinh ra một dạng hiện hữu khác, mà ta gọi là suy nghĩ, cảm giác.

Các bạn trẻ thân mến,

Qua các kiến thức sơ đẳng về vật lý, như điện tích âm hút điện tích dương, và những kiến thức sơ đẳng về hoá học, các bạn đều biết rằng vật chất, hóa chất chỉ hoạt động, phản ứng tuân theo luật thiên nhiên chứ không hề tuân theo một ý chí nào. Vậy, việc bảo rằng ý chí của ta khống chế các hoạt động hóa học trong não là không đúng.

Nhưng rõ ràng là các hoạt động của não bộ ứng với cảm giác và suy nghĩ của ta. Vậy thì cách giải thích duy nhất là cảm giác của ta, suy nghĩ của ta, là thành phẩm, hay được gọi là sản phẩm phụ, của các hoạt động vật chất trong não bộ.

Khi có một ánh đèn xanh chiếu vào mắt, một chuỗi hoạt động thần kinh sẽ diễn ra trong trung khu thị giác của não bộ ta, và thế là ta có được cái cảm giác “thấy” màu xanh. Khi miếng chanh kích thích tế bào vị giác ở lưỡi, luồng thần kinh được đưa vào khu vị giác của não bộ và một cảm giác “chua” xuất hiện. Tương tự như vậy, những luồng thần kinh, tức là những phản ứng hóa học, xảy ra ở những trung khu khác sẽ tạo ra những cảm giác tâm lý như vui buồn, và cả cái cảm giác mà ta vẫn mệnh danh là suy nghĩ, hay quyết định.

Các bạn trẻ thân mến,

Đến đây ta gặp phải một vấn đề khó hiểu, đó là cái “phẩm chất” của cảm giác vui buồn, của vị chua, của màu xanh hay của suy nghĩ hoàn toàn khác với những chuỗi phản ứng hóa học mà ta vừa mô tả. Đó là hai dạng hiện hữu hoàn toàn khác nhau. Thật khó mà tưởng tượng ra sự tương quan giữa những phản ứng hóa học trong não và quyết định chọn ai, bỏ ai, hay cảm giác ghen tức, thất tình trong một cuộc tình tay ba.

Để dễ hiểu, xin tạm lấy một vài ví dụ.

Chúng ta đều biết hễ có dòng điện chạy qua bóng đèn thì tim đèn mới bật sáng. Giữa ánh sáng, tức hiện tượng phát quang, và chuyện các điện tử chạy trong dây điện và tim đèn thoạt xem thì thấy khác nhau, như kỳ thực từ một mà ra. Dòng điện đã tạo nên hiện tượng phát quang. Tương tự, cảm giác của ta có thể được ví như ánh sáng và luồng thần kinh thì được ví như những luồng điện trong dây đèn. Có rất nhiều thí dụ về cơ chế tương tự như trên. Khi cái dĩa CD quay thì có tiếng nhạc phát ra từ cặp loa. Tuy lời ca tiếng hát xem chừng như khác hẳn việc cái dĩa CD đang quay nhưng kỳ thực tất cả những âm thanh phát ra đều hoàn toàn tùy thuộc vào các tín hiệu trên dĩa CD. Trong trường hợp này, cảm giác và suy nghĩ của ta có thể ví như âm thanh bản nhạc, còn các memes là những tín hiệu trên CD, não bộ thì được ví như cái máy CD.

Ô hay, nhưng như vậy thì trớ trêu lắm. Như vậy thì con người nào khác chi cái máy!

Thực vậy các bạn trẻ ạ, nếu có bạn nào đọc đến đây mà không đồng ý với bài viết, thì đó là vì các memes được chứa trong não bộ của các bạn không hạp với cái meme mà bạn đang tiếp nhận qua những dòng chữ này. Hầu hết chúng ta đều cho là con người khác với cái máy, nguyên nhân chính là vì con người có quyền tự quyết.

Các bạn trẻ ạ, chơi cờ là điển hình của sự suy nghĩ và quyết định, và công việc suy nghĩ cùng quyết định này được computer chơi rất tài tình, tài tình bằng hay hơn cả con người. Điều duy nhất khác biệt giữa ta và cái computer, là khi suy nghĩ đế đánh cờ thì ta biết ta đang chơi cờ và suy nghĩ, rồi khi thắng, khi bại ta cảm thấy vui hay buồn. Computer thì không hề biết nó đang làm công việc suy nghĩ, cũng không biết vui buồn. Nếu cái computer có cảm giác như con người thì nó cũng ngỡ rằng nó có quyền tự quyết trên mỗi nước cờ, nó chẳng biết rằng suy nghĩ của nó đã bị chương trình hóa và những suy tính của nó đều là tự động. Nó cũng sẽ bị lầm như chúng ta đang bị lầm là TA có quyền tự quyết (freewill).

Quyền tự quyết của ta vẫn có, trên một phương diện nào đó, vì không có ai có thể nhảy vào não để làm thay đổi tư tưởng của ta, nhưng trên cái nhìn rộng hơn thì chính ta cũng không làm sao thay đổi nó được. Việc nó thay đổi hay không là tùy thuộc vào một quá trình tự động, vận hành theo luật của tự nhiên (hay nếu muốn, có thể nói là theo “thiên ý”).

Cấu trúc kỳ diệu nhất vũ trụ

Chắc một số bạn trẻ cũng có nghe qua nhạc phẩm Cát Bụi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với câu bất hủ “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”. Thật thi vị nhưng cũng thật chính xác. Các hạt bụi oxygen, carbon, điện tử, vân vân… ráp lại thành thân ta, não ta, và kỳ diệu thay, trong sự tương tác của hạt bụi trần gian này phát sinh ra những tâm hồn vui buồn, lãng mạn, phát sinh ra cả những dòng nhạc và lời của Trịnh Công Sơn.

Theo các khoa học gia, cấu trúc tinh vi, kỳ diệu, nhất của vũ trụ là bộ não. Nó tinh vi và kỳ diệu không chỉ vì khả năng suy nghĩ của nó, vì nó suy nghĩ còn kém máy vi tính, nhưng là vì sự vận hành của nó. Khi các mạch điện não trong óc hoạt động, bộ não phát sinh ra được một dạng hiện hữu, khác hẳn với những dạng đang tồn tại mà ta biết đến, đó là cái giác và thức.

Khi các mạch điện trong não của ta hoạt động thì nó phát sinh ra cảm giác sinh lý như đói, no, nóng lạnh, vị giác, xúc giác, thị giác, và những cảm giác tâm lý như sợ, tức, vui, buồn, yêu, ghét, thương, hận. Xin tạm gọi chung những cảm giác trên là giác. Chua và đắng cùng là vị giác, nhưng khác nhau về “phẩm”. Cảm giác thấy màu xanh, hay đỏ, cũng khác nhau về “phẩm”, tuy cùng là thị giác. Vui buồn, tức sợ, suy nghĩ cũng vậy, là những cảm giác, và chúng khác nhau về phẩm.

Sự “biết”, hay “cảm nhận” được các suy nghĩ, quyết định, cảm giác vui buồn được gọi là thức, hay ý thức, tiếng Anh gọi là consciousness.

Như vậy, TA là một bộ máy sinh học nhưng có cảm giác. Điều ta cần biết là mọi suy nghĩ, âm mưu, tham vọng, tình thương, lòng nhân từ của ta đều không phải do ta muốn mà ra, và ngay cả cái ý muốn của ta cũng không phải do ta muốn mà có, mà tất cả chỉ là thành quả của những sự vận hành vô tri, vô giác của những hạt bụi vật chất li ti.

(Nếu bạn trẻ nào có những suy nghĩ liên quan đến linh hồn để phản bác những lập luận trên, xin đọc thêm phụ lục 1 bên dưới)

Các bạn trẻ thân mến,

Có lẽ các bạn chưa nghe một môn học nào, một bài học nào kết luận rằng con người là một cái máy có cảm giác. Song đó là sự thật. Sở dĩ bao lâu nay ta không nghe người ta nói đến là vì thứ nhất, các hiểu biết về não khoa, phân tâm học chỉ mới phát triển gần đây, thứ nhì, các khoa học gia thường chỉ chú trọng vào sự phân tích khoa học mà không áp dụng những hiểu biết vào triết lý, thứ ba, các khoa học gia và triết gia đã nói đến vấn đề này trong 10 năm nay, nhưng những kiến thức này chưa được phổ quát đến học sinh trung học, và cuối cùng, những kiến thức này đi ngược lại một số các lý thuyết tôn giáo nên sự phổ biến bị dè dặt hơn.

(Neuronal Correlates of Consciousness, sự liên quan giữa ý thức và hoạt động thần kinh, là đề tài mà Francis Ckick, người khám phá ra phân tử DNA của di truyền học, được trao giải Nobel năm 1962, nghiên cứu. Các bạn có thể đọc thêm qua những quyển sách trong trang Neuronal Correlates of Consciousness).

Những phân tích về não học bên trên có thể được tìm đọc trong quyển “An Anatomy of Thought” của Giáo Sư Ian Glynn, Cambridge University. Định nghĩa con người là một cái máy tự động có ý thức, human beings are conscious automata, cũng được ghi lại trong quyển sách này, và đó là ý kiến chung của nhiều triết gia.

Những kiến thức về Memes có thể được tìm đọc trong “The Meme Machine” của Dr Susan Blackmore. )

Các bạn thân mến,

Như vậy là các bạn đã có một khái niệm khá mới nhưng khoa học về cái ta. Cái ta mà ta thường tưởng là chủ của cơ thể này, quyết định mọi việc thực ra chỉ như là cái bóng bên lề, mà cái thực thể chính là sự vận hành của những phân tử vô tri trong não bộ. Các phân tử vô tri vận hành thế nào, thì cái bóng ghi lại hoạt động y như vậy. Nhưng cái bóng thì chẳng thể nào quyết định được hoạt động của thực thể. Đến đây thì ta đã hiểu được con người.

Con người

Cổ nhân có nói nhân chi sơ tính bản thiện. Theo ngành phân tâm học, tâm lý học thì câu trên không đúng. Con người khi vừa chào đời không hề biết thiện hay ác mà chỉ biết đến bản thân. Nhân chi sơ tính bổn ích kỷ thì mới đúng hơn.

Một đứa trẻ sơ sinh không hề nghĩ cho nỗi đau của mẹ nó, nó chỉ biết khóc khi đói sữa. Một em bé 6 tháng không hề biết chia xẻ thức ăn cùng cha mẹ dù họ đang đói. Nó không hề biết thiện hay có hành động thiện. Nhưng các em bé cũng không hề muốn hại ai, do đó cũng chẳng ác. Tính thiện ác chỉ có sau khi lớn lên nhưng mầm mống của ích kỷ thì sẵn có, chẳng cần ai dạy nó vì nó thuộc về bản năng để cá thể đó sinh tồn. Nó đã được quy định sẵn trong hệ di truyền, giống như khi mua một cái máy computer mới về thì luôn luôn nó có sẵn chương trình của windows.

Vì con người là cái máy, nó cũng phải hoạt động theo một số nguyên tắc hay nguyên lý chung.

Nguyên lý chung là con người luôn luôn hướng về một cảm giác tốt đẹp hơn hay trong nhiều trường hợp phải nói là hướng về một cảm giác ít xấu hơn. Mục tiêu chung của con người là những cảm giác tốt đẹp, tức hạnh phúc, và động cơ chung là những cảm giác xấu, như sự đói rét khiến người ta cố gắng, sự đau khổ, tức giận là động cơ của sự vùng dậy. Cảm giác là tất cả.

Nhưng dù có toan tính, dù có thương yêu, dù cảm thấy vinh nhục thăng trầm, dù luôn luôn nghĩ rằng ta làm chủ bản thân này, sự thật, tất cả chỉ là kết tinh của những hoạt động sinh hóa vô tri. Ta hiện hữu vì ta biết ta hiện hữu, song ta không thể nào suy nghĩ, quyết định và toan tính khác hơn những gì mà định luật tự nhiên bắt buộc. Nhưng biết được con người là một bộ máy, hiểu được những điều ta suy nghĩ, cảm nhận chỉ là sản phẩm của những hoạt động vô tri thì có ích gì? Có ý nghĩa gì?

Thấu triệt, tha thứ và chấp nhận

Các bạn trẻ thân mến,

Nhiều người, đặc biệt là người Do Thái rất căm ghét Hitler vì ông ta đã cố ý giết hại hàng triệu người Do Thái, gây đau khổ cho biết bao sinh linh. Các bạo chúa đều bị căm ghét như vậy. Nhưng nếu hiểu rằng chính ý muốn diệt chủng Do Thái của Hitler cũng chỉ là một quá trình của các phản ứng hóa học vô tri mà ngay cả chính Hitler cũng không hề làm chủ thì ta không thể nào căm hận, hay chẳng cần căm hận. Cái meme trong đầu của Hitler, chủ thuyết phát xít Đức quốc xã, kỳ thị chủng tộc có thể xem như một con virus. Tự bản thân con virus không sống được bên ngoài nhưng có khả năng sống trong các bộ não và nhân lên từ bộ não này sang bộ não khác. Trường hợp một máy vi tính nào đó bị virus thì ta bắt virus ra, nếu bắt ra không được thì cùng lắm là tắt điện, dẹp máy vi tính đó chứ chẳng hơi đâu mà ta hận thù nó.

Hiểu được con người là cái máy, hiểu được cái ý thức của một người là sản phẩm tất nhiên của những quá trình vô tri thì ta không còn tức, giận, oán, hờn, trách móc mà chỉ còn hiểu. Nếu phải triệt tiêu một virus, một meme hay một con người thì ta cũng chỉ làm vì để bảo vệ hạnh phúc cho những con người khác chứ không vì thù, vì hận, vì tức giận.

Hiểu được rằng sự phản bội, gian dối, yếm trá của con người cũng chỉ là hậu quả tất yếu của những quá trình tự nhiên, vô tri, thì ta không còn căm ghét họ. Trên mặt tình cảm đó là một sự tha thứ, trên phương diện lý trí đó là sự chấp nhận sau khi thấu triệt căn nguyên.

Nhưng, các bạn trẻ thân mến, nhiều khi chính chúng ta cũng mang lòng căm hận, cũng rắp tâm, toan tính và thực hiện việc trả thù. Và, các bạn trẻ thân mến, đôi lúc chính chúng ta cũng tham lam mưu lợi cho mình hay vì nhỏ mọn mà hãm hại người. Nếu công nhận rằng chính bản thân ta cũng giống như Hitler và mọi người khác, nghĩa là ta cũng chỉ là những cái máy tự động, và những toan tính xấu xa kia cũng chỉ là kết quả tự nhiên không thể khác hơn được, thì ta cũng sẽ tha thứ cho chúng ta. Trớ trêu hơn nữa, nếu ta vẫn không tha thứ cho chúng ta thì sự dằn vặt này cũng chỉ là một kết quả tự nhiên và tất nhiên thôi. Sự dằn vặt trong tâm trí ta là cuộc chiến giữa các memes, không có cách gì tránh nó nhưng hiểu nó là sự tất nhiên, là kết quả đương nhiên của những quá trình vô tri thì ta dễ dàng chấp nhận nó, ít phiền muộn vì nó.

Các bạn trẻ thân mến,

Có nhiều người e rằng khi nhận ra con người chỉ là cái máy thì nhiều giá trị đạo đức và tinh thần sẽ bị mai một. Có người e rằng là khi hoàn toàn vô thần, duy vật con người dễ trở nên vật chất, xấu xa, tàn bạo. Các bạn thân mến, sự xấu xa và tàn bạo có ở mọi xã hội, từ vô thần đến hữu thần. Lương tâm và đạo đức của con người cũng hiện diện cả trong những người vô thần lẫn hữu thần. Cùng là người Đức, Đức quốc xã tin vào tôn giáo, còn Đông Đức thì theo chủ nghĩa vô thần, nhưng không hẳn Đức Quốc Xã đã nhân từ và đạo đức hơn Đông Đức. Một tay anh chị Mafia có thể là một tín đồ của đạo giáo, cũng có thể là một kẻ vô thần. Một tín đồ tôn giáo cũng có thể là tên khủng bố, gây nhà tan cửa nát. Trong số hải tặc Thái Lan hãm hiếp phụ nữ thuyền nhân Việt Nam ắt cũng có tên từng đi chùa lạy Phật, cũng tin vào cõi siêu hình. Cuối cùng, khi tiếp xúc với một người, đánh giá họ tốt hay xấu, thiện hay ác hình như ít có ai trong chúng ta dựa vào niềm tin tôn giáo của họ. Lý thuyết tôn giáo giúp con người hướng thiện nhưng không hẳn con người phải bất thiện khi không có niềm tin tôn giáo.

Chỉ cần hiểu con người là cái máy tự động thì ta sẵn sàng tha thứ và chấp nhận cho mọi người cũng như cho bản thân ta. Ta không tha thứ vì mong rằng lòng vị tha đưa ta đến thiên đàng hay vì lòng vị tha là cao thượng, mà chỉ đơn thuần vì một chữ hiểu.

Nếu hiểu để rồi tha thứ, thế thì ta có chống lại sự trừng phạt, những bản án tử hình chăng? Cổ nhân có câu “giết một nhà, răn trăm họ”, hình phạt đôi khi là biện pháp duy nhất để thay đổi các memes xấu, hay ít nhất, cũng ngăn chận sự tác hại tiếp tục của những memes này, những con người này. Cho nên tha thứ luôn luôn là tư tưởng của người hiểu biết, nhưng không phải luôn luôn là hành động của người hiểu biết.

Nguyễn Văn Hoàng

Thêm bình luận Tháng Bảy 3, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Hai 2018
H B T N S B C
« Th7    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728  

Posts by Month

Posts by Category