Posts filed under ‘Huyền bí




Sự thật về hiện tượng người tự bốc hoả


Vị khách đến gõ cửa nhà bà Reeser, một phụ nữ luống tuổi về hưu sống tại bang Florida, Mỹ. Mãi không thấy ai ra, bà gọi thêm người phá cửa. Trong nhà, trên chiếc ghế bành, chủ nhân đã cháy thành than, chỉ còn lại một bàn chân đi giày vải, xung quanh, đồ đạc hầu như vẫn nguyên vẹn…

Sự việc này xảy ra vào năm 1951. Bà Reeser chỉ là một trong nhiều trường hợp được lịch sử ghi nhận là nạn nhân của cái chết rất lạ: tự bốc hoả thành than. Vào năm 1660, dư luận Paris từng rộn lên với vụ cháy “tự nhiên” của một phụ nữ nghiện rượu nặng, chỉ còn lại vài đốt ngón tay và chiếc sọ.

Điều lạ là trong mọi vụ cháy, các nạn nhân đều để lại các dấu hiệu giống nhau: thân thể hoá than nhưng bao giờ cũng sót lại một bộ phận không cháy trụi, thường đó là cẳng chân hay bàn chân và lại còn nguyên vẹn đến kỳ lạ.

Người ta không hiểu lửa từ đâu ra, vì xung quanh nạn nhân, thường được tìm thấy trong tư thế ngồi trên ghế, lửa hầu như không gây hư hại. Chính vì vậy, các nhà quan sát thời đó không chút nghi ngờ, một mực cho rằng lửa nhất thiết phải khởi phát từ phủ tạng của nạn nhân. Khởi phát từ một lý do… không rõ và bất ngờ. Vì thế, tên gọi mà bấy lâu người ta vẫn gán cho hiện tượng bí ẩn trên là “Vụ cháy người tự phát”.

Ngọn đuốc cồn?

Một giả thuyết không khỏi khiến người ta nghĩ đến ngay, do nó được suy ra một cách tự nhiên từ những đặc trưng của các nạn nhân chính đều là những người nghiện rượu nặng, kinh niên. Nếu họ bốc cháy thì lý do có lẽ cũng rất đơn giản: nốc quá nhiều chất men, khiến rượu thấm vào cả cơ thể và chỉ cần một tia lửa là đủ làm họ bốc cháy.

Lập luận nghe có vẻ xuôi tai, nhưng kỳ thực quá vội vã, hấp tấp. Bác sĩ Mercier Guyon giải thích: Cứ lấy thử một tỷ suất khổng lồ là trong mỗi lít máu nạn nhân có đến 9 g rượu, tương đương một lượng rượu có thể gây tử vong nếu nó được uống cạn một hơi. Một lít máu cân nặng chừng 1000 g, vậy tỷ lệ rượu ở đây là 0,9%: gí lửa vào một chất lỏng có độ cồn yếu đến vậy cũng chẳng khác gì thử đốt cháy nước giải khát soda!

Và ngay cả khi toàn cơ thể người nghiện rượu có thấm chất men đến đâu đi nữa, nó cũng không thể bốc cháy. Từ 1850, nhà hoá học Đức Justus von Liebig đã chứng minh rằng không thể nào đốt cháy ra tro các mô của con người tẩm rượu pha loãng chỉ với một ngọn lửa đơn thuần.

Bốc lửa vì stress?

Lại có một giả thuyết được đưa ra như sau: con người lắm khi có thể đóng vai trò của những ắc-quy điện và thu sét. Những người có trí tưởng tượng hơn cả còn nói đến một dạng “tự sát tâm thần”: cơ thể bốc lửa dưới tác động của stress cao độ! Kỳ thực vấn đề không dễ dàng giải quyết như vậy.

Chẳng hạn Thomas Krompecher, bác sĩ pháp y ở Đại học Lausanne (Thuỵ Sĩ) đã phải trăn trở: “Cơ thể con người được tạo ra bởi gần 70% là nước. Điều đó khiến việc đốt cháy là cực kỳ khó khăn!”. Quả vậy, để đốt cháy một xác người cần một nhiệt độ rất lớn. Trong một lò đốt xác, để thiêu xác người thành tro phải đạt nhiệt độ 950 độ C, trong một tiếng rưỡi. Còn muốn đạt kết quả đó ở bên trong một ngôi nhà, phải dùng nhiên liệu như xăng. Và kết quả sẽ ra sao? Một ngọn lửa mạnh như vậy sẽ lan tỏa khắp ngôi nhà. Mà điều này lại không khớp với chuyện kể về các nạn nhân của chứng bốc hoả đáng sợ: các xác chết cháy thành than một phần, nhưng xung quanh rất ít bị ngọn lửa xâm hại.

Lời giải

Cuối cùng, các nhà khoa học cũng đưa ra được một đáp án hợp lý hơn cả. Đó là hiện tượng “hiệu ứng đèn cầy”, không có chút gì là siêu nhiên. Theo giả thuyết này, ngọn lửa được truyền lan sang thân thể của nạn nhân qua một nguồn bên ngoài, cứ thế thiêu cháy dần dần thân thể người đó như một ngọn sáp cháy vậy.

Đại thể, kịch bản bao giờ cũng như nhau: Bị một sự cố gì về tim hay ngã, một người tắt thở. Lửa, từ một vật trung gian là thuốc lá, tẩu hay một đèn cầy, cháy lan ra áo quần, rồi cháy đến da và lớp mỡ nằm ngay dưới da. Tiếp xúc với lửa, mỡ này tan ra nước, chảy ra bên ngoài thân thể, thấm vào các lần vải tiếp xúc với nạn nhân. Trong phần lớn các trường hợp thì đấy là quần áo đang bận trên người, đồ phủ ghế tựa trên đó nạn nhân đang ngồi. Đồ vải thấm ướt mỡ sẽ cháy từ từ trong nhiều giờ. Sự cháy này tạo ra và duy trì một ngọn lửa cháy đượm có nhiệt độ xấp xỉ 600 độ C, nó không làm hư hại được toàn gian phòng mà chỉ thiêu huỷ được xác chết trên đó nó được phát sinh ra.

Sự cháy chậm kéo dài có thể làm hư hại một số bộ phận của thân thể, nhưng vẫn không làm chúng cháy thành tro và để lại một số bộ phận hoàn toàn lành lặn. Mark Benecke, bác sĩ pháp y tại Đại học Cologne (Đức) giải thích: lửa chỉ thiêu huỷ các mô của cơ thể người chết nằm phía bên trên ngọn lửa. Hai bàn chân và cẳng chân thường còn nguyên vẹn là do chúng nằm bên dưới ngọn lửa.

Lửa thường bắt cháy từ hai đùi của một người ngồi, hầu hết là những người già hay đứng tuổi – lớp người dễ gặp tai biến về tim khiến họ phải ngồi lỳ một chỗ – hoặc những người đang cơn say rượu khi thảm cảnh xảy đến. Chính rượu tạo thuận lợi cho loại tai nạn đó. Trước hết, một ai đó khi say thì ít chú ý đến loại lửa mà họ đang cầm trong tay, sau nữa rượu góp phần làm hình thành mô béo, có nghĩa mỡ là chất đốt chính trong vụ cháy chậm này.

Rõ ràng, hiện tượng người cháy “tự nhiên” hay “tự phát” lâu nay chỉ là huyền thoại hoặc huyễn hoặc, được nuôi dưỡng bởi trào lưu văn học kinh dị thế kỷ 19 và đặc biệt trong các chuyện tranh vui của Mỹ sau này.

Kiến thức ngày nay (theo Science et Vie Junior, 5/2001)

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Ảo giác về nụ cười của Mona Lisa


Nụ cười của Mona Lisa cũng gây ảo giác. Càng nhìn lâu vào khuôn mặt nàng, bạn càng thấy đôi mắt ấy đang cười, rất kiêu sa và rất mãn nguyện. Nhưng chỉ cần nhìn xuống khoé miệng một chút, bạn sẽ thấy khuôn mặt người thiếu nữ nghiêm nghị kỳ lạ. Đột nhiên, bạn không hiểu nàng đang vui hay buồn, thanh thản hay lo lắng.

Trong phần trước chúng tôi đã đề cập tới hiện tượng “mù chớp nhoáng”, giải thích vì sao cặp mắt thường bỏ sót một số chi tiết nhất định khi ta quan sát một khung cảnh nào đó. Hoạ sĩ, triết gia, nhà khoa học thiên tài người Italia Leonardo DaVinci đã “vô tình” lợi dụng hiện tượng này để sáng tạo ra nụ cười bí hiểm có một không hai trên khoé miệng Mona Lisa.

Nhà khoa học thần kinh Margaret Livingstone (Mỹ) giải thích, khi chăm chú nhìn vào đôi mắt của Mona Lisa, bạn chỉ “khoanh” được một khu vực rất nhỏ bên lông mày và gò má. Vì vậy, bạn không nhìn thấy toàn bộ khuôn mặt và không gian đằng sau bức tranh. Khi đó, các nét mờ trên gò má Mona Lisa sẽ hiện lên khá rõ, khiến bạn có cảm giác khoé môi của người phụ nữ cũng được kéo nhếch lên và tô đậm hơn. Kết quả, bạn thấy người phụ nữ cười. Ngược lại, khi bạn nhìn vào miệng nàng thì hiệu ứng này cũng lập tức biến mất cùng với nụ cười ấy. Thì ra, nụ cười này vừa thật, vừa ảo. Người xem tranh Mona Lisa rất khó nhận thấy khi nào nàng cười thật và khi nào nàng cười ảo. Đây chính là bí mật lớn nhất về Mona Lisa, nó giải thích vì sao mấy trăm năm nay, người xem luôn có cảm xúc rất trái ngược khi đứng trước bức tranh này. Có điều, khi sử dụng “mẹo” này, Leonardo DaVinci có lẽ đã không vận dụng đến kiến thức khoa học mà dựa vào kinh nghiệm của một nghệ sĩ nhiều hơn.

“Mắt thần”

Bài nghiên cứu của Giáo sư Itzhak Fried, Đại học California (Mỹ) đăng trên tạp chí khoa học The Lancet năm 1992 khẳng định: “Để nhận biết hình ảnh, con người cần rất ít thực tế”. Đây là một kết luận thật khó hiểu. Để tìm hiểu xem Fried nói gì, một lần nữa, chúng ta lại phải quay lại… Mona Lisa.

Fried cho mời 100 người đàn ông tới một cuộc thử nghiệm. Ông chia họ làm hai nhóm. Nhóm thứ nhất được nhìn thấy bản sao của Mona Lisa treo trên tường, còn nhóm thứ hai tới một căn phòng trống trơn để nghe một người kể về bức tranh. Sau đó ông mời hai nhóm tới một căn phòng khác và đề nghị họ miêu tả lại bức tranh. Trong khi những người này miêu tả, Fried dùng một phương pháp đặc biệt để đo các hoạt động trong não bộ của họ. Kết quả thật kỳ lạ: Não bộ của những người này đều vận động các tế bào giống hệt nhau và “bức tranh” mà họ kể lại khá giống nhau: Chúng đều là sản phẩm của rất ít thực tế và rất nhiều tưởng tượng.

“Điều quan trọng không phải là chúng ta nhìn thấy bức tranh thật hay chỉ ngồi tưởng tượng. Mỗi người đều có một con mắt thần – bộ phận lưu giữ các hình ảnh tưởng tượng – giúp chúng ta có thể tổng hợp hình ảnh và trình bày một khung cảnh nhất định”, Fried nói.

Thực tế và ảo giác

Tại sao bạn luôn có cảm giác rằng bạn có một bức tranh đầy đủ và thực tế về cuộc hiện sinh này?. “Bởi vì rất hiếm khi bạn gặp được ai đó chỉ cho thấy điều ngược lại!”, các nhà nghiên cứu hành vi giải thích.

Não bộ của bạn luôn thu nạp và xử lý một số hình ảnh mà mắt bạn “quét” được từ thực tế, nhưng nó còn thu nhận một khối lượng lớn hơn nhiều các hình ảnh từ kho kinh nghiệm và trí tưởng tượng của bạn. Mặt khác, việc não bộ của bạn lựa chọn “thực tế” nào lại do trí tưởng tượng quyết định. Ví dụ, mắt bạn “quét” được toàn cảnh một cánh đồng gồm nhiều bươm bướm và chuột, nhưng nếu trí tưởng tượng của bạn chỉ “thích” bươm bướm thôi chẳng hạn, thì não bộ sẽ tự động xoá những con chuột ra khỏi bức tranh. Kết quả là bạn chỉ nhớ được một bức tranh toàn bươm bướm. Tóm lại, bức tranh tổng thể về thế giới của bạn phần nhiều là tưởng tượng chứ không phải thực tế. Nói cách khác, thế giới chỉ do ảo giác mà có.

Các nghiên cứu mới nhất về khoa học thần kinh cho biết, không ai có thể cùng một lúc nhìn thấy tất cả những chi tiết của một bức tranh. Mỗi vật thể, dưới con mắt của người khác sẽ có một hình thù khác hẳn. “Nhìn và lựa chọn hình ảnh là một quá trình sáng tạo, y hệt như vẽ một bức tranh vậy. Sản phẩm của nó chỉ vô tình trùng lặp với thế giới của những hiện tượng vật lý mà thôi”, các nhà khoa học giả thuyết.

Chuyện chọn áo nhầm màu trong siêu thị

Nếu giả thuyết trên được ủng hộ hoặc kiểm chứng thì đó sẽ là một tin mừng lớn với nhà vật lý thiên tài Isaac Newton. Cuối thế kỷ 17, Newton đã có ý tưởng cho rằng, mọi vật tự nó đều không có màu sắc nếu không có sự hiện hữu của ánh sáng. Tuy vậy, não bộ của chúng ta vẫn cố gán cho chúng một màu sắc nào đó.

Hai nhà sinh học thần kinh Dale Purves và Beau Lotto, Đại học Duke (Anh), cho biết: “Màu sắc là sản phẩm của cảm nhận chứ không phải thực tế”. Theo đó, con người có thể thu nạp hình ảnh dựa trên tưởng tượng và kinh nghiệm một cách khá chính xác. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy. Nhiều trường hợp, người mua hàng chọn một chiếc áo theo màu ưa thích trong siêu thị, nhưng khi về nhà mới phát hiện ra nó có màu khác hẳn. Nguyên nhân là khi ở cửa hàng, người đó đã chọn màu theo tưởng tượng và kinh nghiệm chứ không phải theo màu thực do mắt “quét” được.

Vấn đề nhân chứng

Nếu các hình ảnh lưu giữ trong não bộ không có liên hệ gì rõ ràng với thế giới hiện hữu, thì ai có thể khẳng định rằng, cái anh ta nhìn thấy là “thật sự đã xảy ra”, hay đó chỉ là “ảo giác”. Trong thí nghiệm ở phần thứ nhất, người phụ nữ đã nói chuyện mấy phút liền với khách khỏi đường mà không nhận ra anh ta đã bị tráo đổi. Vậy thì lời kể của nhân chứng trong một sự kiện chỉ diễn ra chớp nhoáng có thể tin được hay không? Hơn nữa, ở thời điểm xảy ra sự kiện, nhân chứng thường khá thờ ơ, thậm chí anh ta đang chú tâm vào một việc gì đó hoàn toàn khác. Thế thì, nhân chứng có khác gì những người đàn ông xem bóng rổ, không hề nhìn thấy con vượn đi qua.

Nhà khoa học Stephen Kosslyn, Đại học Haward, còn làm một thí nghiệm như sau: Ông mời 10 người xem bức ảnh của một người đàn ông. Sau đó, ông cho họ xem một bức ảnh khác cũng của người ấy với một số nét thay đổi về quần áo và kiểu tóc. Khi được mời kể lại về sự khác biệt giữa hai bức ảnh, 10 người này đã nói rất khác nhau, trong đó có nhiều chi tiết không hề có trong cả hai bức ảnh. Kosslyn kết luận: “Con người không thể phân biệt được đâu là thông tin khách quan (thực tế) và đâu là tưởng tượng. Bình thường, họ thu nhận hỗn hợp của cả hai”.

Một mình giữa cõi đời

Có lẽ còn lâu khoa học mới giải thích được mối liên hệ giữa nhận biết, thực tế và tưởng tượng. Tuy nhiên ngày càng có nhiều giả thuyết cho rằng: Thế giới thị giác đầy đủ của chúng ta được hình thành từ một số hình ảnh cụ thể, kết hợp với một số hình ảnh chìm sâu trong kho kinh nghiệm và…rất nhiều tưởng tượng.

Vì mỗi người đều có một trí tưởng tượng riêng, nên mỗi người đều cô độc trong một thế giới của những hình ảnh thị giác đơn lẻ. Tiến sĩ Richard Gregory, nhà tâm lý, tác giả của rất nhiều cuốn sách về tri thức của thị giác đã đưa ra một tổng kết bi quan như sau: “Thế giới thị giác mà bạn đang sống là ngôi nhà riêng của bạn. Thỉnh thoảng bạn lại nuôi ảo tưởng rằng, có thể chia sẻ nó với một người nào đó. Nhưng thực tế, chẳng ai có thể chia sẻ với bạn. Bạn chỉ có một mình mà thôi… Một mình giữa cõi đời này”.

Minh Hy (Theo Surfmed News)

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Bí mật về hiện tượng ảo giác


Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên, hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách. Bạn hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà không nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra…

Người khách hỏi: “Chị thấy gì lạ không?”. Bạn nhăn trán… Hình như bạn cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không hiểu là gì. Người khách lại hỏi: “Chị thử nhìn tôi kỹ hơn xem nào!” Bạn nhìn rất sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới giọng anh ta nói, tới áo quần anh ta mặc… Hồi lâu… A! Bạn bỗng hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác chứ không phải người đã hỏi đường bạn… Một lúc sau, người lạ này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người đàn ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai người…

Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người làm thí nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường hợp khác nhau và kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi đường đã bị đánh tráo mà không nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ hình dáng, giọng nói tới quần áo.

Nhận biết có lựa chọn

Hiện tượng trên còn có tên khoa học là “mù thoáng qua”(change-blindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu những năm 90, hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít hơn rất nhiều so với cái chúng ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống trong ảo giác do niềm tin gây ra. Trong thí nghiệm trên, người chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người hỏi đường, nên hoàn toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì sau khi đã bị đánh tráo.

Ông Simons giải thích: “Nếu bạn quan sát một khung cảnh với những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận biết một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn, để cho ra một hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được trong não bộ”.

Mắt có vai trò như một ống kính

Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa và trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có những chi tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất định mới đọng lại trong não bộ.

“Nhờ có thể lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan trọng nên con người mới tồn tại được”, Triết gia Daniel Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề “Kiến giải về Ý thức”. Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong não bộ lâu ngày sẽ chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ nguyên như vậy.

Chuyện về một con vượn chạy qua…

Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm sau để chứng minh rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định. Ông cho mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm tất cả các đường chuyền của hai đội. Những người đàn ông đều tập trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con vượn chạy đi chạy lại qua sân bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó, Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả lời là không nhìn thấy gì cả.

“Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa đám cây cối rậm rạp”, Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy hiểm. Các chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô đều có liên quan tới hiên tượng “mù thoáng qua”. Trong thí nghiệm trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so với người tài xế đang lái xe chạy trên đường và mải mê nghĩ về một chuyện gì đó, còn con vượn đóng vai người qua đường. Thế là xảy ra tai nạn!

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Bí Mật Của Những Con Sóng Ma


Khác với những con sóng thần (tsumani, được sinh ra từ các vụ động đất hoặc trượt đất dưới đáy biển), sóng ma (freak wave) thường xuất hiện đột ngột không vì lý do gì. Lâu nay, người ta không giải thích nổi vì sao từ lòng biển yên bình bỗng dưng lại dựng đứng lên những cột sóng cao tới mấy chục mét.

Trong những giai thoại do những người đi biển kể lại, thì sóng ma luôn là một nỗi ám ảnh, bởi vì nó xuất hiện đột ngột như một hung thần, không thể hiểu nổi. Nhiều người cho rằng, nó thực ra không có thật, mà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những đầu óc ưa phiêu lưu. Tuy nhiên gần đây, các nhà khoa học Anh đã tìm ra những bằng chứng khá thuyết phục về sự hiện hữu của sóng ma.

Năm 1978, con tàu chở dầu khổng lồ Munchen (Đức), một trong những con tàu lớn nhất thế giới, đã bị chìm bất ngờ. Nhiều người cho rằng, nó gặp sự cố kỹ thuật. Tuy nhiên, gần đây khi phân tích những mảnh vỡ của nó, các nhà khoa học Anh thấy rằng con tàu đã bị tấn công bởi một lực lớn khủng khiếp, ập từ trên cao xuống. Rất có thể đấy là một con sóng ma.

Trên thế giới hiện nay, cứ mỗi tuần lại có một con tàu nhỏ bị nhận chìm một cách hết sức khó hiểu. Nhiều nhà khoa học cho rằng, chúng đều bị tấn công bởi các con sóng ma đơn lẻ, đột ngột trồi lên từ đáy biển. Các bức ảnh chụp từ vệ tinh gần đây cho thấy, những con sóng ma này là hoàn toàn có thật.

Các nhà khoa học giải thích rằng, sóng ma xuất hiện trong những trường hợp đặc biệt, khi sóng thủy triều kết hợp với các cơn gió mạnh bất chợt, tạo ra một khu vực nhỏ “bất thường”. Khu vực này nhanh chóng cuốn các con sóng “bình thường” khác vào nó, “nuốt” năng lượng của chúng để tạo ra một cột sóng lớn. Cột sóng này chỉ xuất hiện đơn lẻ, ào lên một lần rồi bị hóa giải ngay. Quá trình này xảy ra rất nhanh, khiến người ta hầu như không kịp phản ứng.

Việc nghiên cứu sóng ma rất có ý nghĩa, vì nó giúp các nhà khoa học thiết kế những con tàu có thể chống lại nó.

Minh Hy (theo BBC)

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Gỡ bỏ lời nguyền của xác ướp Tutankhamen


Các nhà khoa học Australia tuyên bố, không cần phải sợ hãi lời nguyền của vị hoàng đế Ai Cập trẻ tuổi thêm nữa. Vì rằng, tất cả những người quấy rối lăng mộ của Tutankhamen tuy đều đã chết, nhưng họ thọ chẳng kém gì những người chưa từng đặt chân đến nơi an nghỉ vĩnh hằng của ông.

Tuyên bố này được đưa ra trong một cuộc điều tra mới nhất đăng trên tạp chí British Medical.

Theo ghi chép của nhà khảo cổ người Anh Howard Carter (người cũng có mặt khi quan tài của Tutankhamen được mở ra vào tháng 2/1923), có 44 người phương Tây ở Ai Cập vào thời điểm đó, trong đó 25 người bị coi là đã tiếp xúc với lời nguyền. Họ là thành viên của đoàn khai quật, nhà báo, các quan chức Anh, thành viên hoàng gia Bỉ, những chức sắc và chuyên gia do chính phủ Ai Cập đề cử hỗ trợ đoàn thám hiểm. Tuy nhiên, tiến sĩ Mark Nelson, Đại học Monash ở Australia, khi phân tích tuổi thọ của những người này, đã phát hiện thấy nhóm động đến “lời nguyền” có tuổi thọ chẳng kém bao nhiêu so với những người không có liên quan.

Lời nguyền xuất hiện như thế nào?

Tháng 2/1923, người ta khai quật lăng mộ của Tutankhamen tại Thung lũng của các ông hoàng, gần Luxor, Ai Cập. Lời nguyền xuất hiện và lan truyền khi Lord Carnarvon, người hỗ trợ tài chính cho cuộc thám hiểm, bị chết ngay trong năm sau. Carnarvon, 57 tuổi, mất vì nhiễm độc máu và viêm phổi do các vết muỗi cắn bị nhiễm trùng. Tuy nhiên, báo chí trên thế giới nhanh chóng loan tin rằng đó là do lời nguyền Tutankhamen đã phát huy hiệu lực. Thậm chí cả con chó 3 chân của Carnarvon, do đau buồn vì cái chết của chủ nên thường tru lên những tiếng kêu thảm thiết, cũng bị “buộc tội” là một bóng ma. Lần lượt sau đó, 25 người phương Tây có mặt tại thời điểm mở ngôi mộ đều được xác nhận là đã chết vì những nguyên nhân thần bí, có liên quan đến lời nguyền.

Vô hiệu hóa lời nguyền

Tiến sĩ Nelson đã tìm hiểu cuộc sống của tất cả những người này để xem liệu họ có thực là chết trẻ như lời nguyền nói. Ông liệt kê ngày chết của tất cả những người có mặt và 11 người khác không có mặt lúc mở hầm mộ nhưng ở Ai Cập vào thời điểm đó. Nelson phát hiện thấy, tuổi thọ trung bình của 25 người đã đụng phải “lời nguyền” là 70, trong khi tuổi thọ của nhóm kia là 75. Trung bình, 25 người này vẫn sống thêm từ 3 đến 10 năm nữa sau khi đã lĩnh “bản án tử thần” của Tutankhamen. Phát hiện chứng tỏ rằng, “lời nguyền” không có bất cứ ảnh hưởng nào tới tuổi thọ của những người đã chạm đến căn phòng chứa xác ướp của vị hoàng đế danh tiếng.

“Tôi không tìm thấy bằng chứng nào về sự tồn tại của lời nguyền. Có lẽ sau cùng, giống như với vị hoàng đế trẻ tuổi đáng thương Tutankhamen, người ta nên để cho lời nguyền đó được nằm yên trong dĩ vãng”, tiến sĩ Nelson kết luận

B.H. (theo AP, BBC)

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Câu Chuyện Báo Oán


Khi ông chánh án vừa dứt lời tuyên án xong, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi mặt mũi xanh xao tiều tụy từ hàng ghế thứ nhất bước nhanh lên vành móng ngựa, đứng sát vào bên can phạm nói lớn, tiếng nói ướt đẫm nước mắt: ”Không, không phải nó! Thưa quý tòa không phải nó, chính tôi mới là thủ phạm! Vâng, chính tôi mới là thủ phạm giết cha nó!”.

Cả tòa từ người xử án tới người tham dự đều ồ lên kinh ngạc. Người ta đổ dồn mắt vào người đàn bà vừa nói và xì xào bàn tán. Trước sự ồn ào, ông chánh án phải nện mạnh chiếc búa gỗ xuống mặt bàn: “Tất cả im lặng trật tự!” Và quay về phía người đàn bà, lúc ấy đang cầm chiếc khăn lau nước mắt, ông chánh án dằn giọng nói tiếp: ”Chị kia! Đây là chốn pháp đình nghiêm minh, không phải muốn nói gì làm gì cũng được! Chị có biết hậu quả những lời chị vừa nói không?”.

Người đàn bà vuốt sơ lại mái tóc, mắt nhìn thẳng lên ông chánh án: ”Vâng thưa ông chánh án, tôi biết và tôi chịu trách nhiệm về những lời nói này, vì chính tôi mới là người giết chồng tôi chứ không phải con trai tôi như tòa vừa kết án. Vâng thưa quý tòa, tôi xin được phép kể lại đầu đuôi câu chuyện như thế này…”

Vợ chồng tôi sống chung với nhau vào cái năm cả nước bị đói khổ nhất. Tôi 20, chồng tôi hơn tôi hai tuổi. Ngày ngày anh ra ngã tư đường hành nghề sửa vá lốp xe đạp, còn tôi làm những công việc lặt vặt trong làng, ai thuê gì làm đó. Cả hai tuy vất vả nhưng cũng kiếm đủ ngày hai bữa ăn. Nhưng rồi cuộc sống ngày một khó khăn, chồng tôi bị thiên hạ cạnh tranh ráo riết. Vì sửa vá lốp xe đạp dễ dàng lại ít vốn nên đám trai tráng trong làng thất nghiệp thi nhau làm công việc này.

Mật ít ruồi nhiều do đó chồng tôi có ngày ngồi từ sáng tới tối không kiếm được một đồng. Anh chán nản mệt mỏi về nhà và sinh cáu gắt rất khó chịu. Ngày nào vợ chồng cũng có chuyện to tiếng cãi cọ. Nhất là những ngày mưa gió không có việc làm, hai vợ chồng không một đồng dính túi nên sau khi gấu ó, nói năng chửi thề tục tĩu sinh ẩu đả. Chồng tôi chẳng chút nương tay trong việc hành hạ đánh đập tôi. Nhiều lần quá đau khổ sinh chán đời tôi muốn tự tử. Cuộc sống gia đình chúng tôi hoàn toàn không có hạnh phúc. Vừa khi đó một người đàn ông từ xa tình cờ tới và anh đã dễ dàng bước vào cuộc đời tôi. Thảm kịch bắt đầu xẩy ra từ đây”.

Anh làm nghề mổ heo lậu cho thiên hạ. Hàng ngày anh di chuyển từ xóm này tới làng kia. Ngoài tiền công anh còn được gia chủ cho thêm một phần bộ lòng heo, chút huyết đánh tiết canh và khoảng ký thịt. Hôm hàng xóm tôi có việc cưới xin thuê anh mổ heo, tôi được gọi sang làm công việc phụ bếp nước. Chúng tôi quen nhau từ đấy. Và thế là mỗi lần giết heo, anh mang những thứ được cho về nhà tôi để tôi nấu nướng rồi cùng chồng tôi nhậu nhẹt. Có những đêm hai người uống say nằm lăn ra đất ngủ như chết. Sự thân mật lâu dần khiến anh trở thành như người trong nhà.

Một thời gian sau cuộc tình vụng trộm của tôi và anh diễn ra. Trong lúc chồng tôi ra ngã tư đường làm công việc hàng ngày thì ở nhà tôi cùng người tình mặc sức hú hí. Do sự mách lẻo của những người hàng xóm lắm chuyện, việc vụng trộm của chúng tôi đến tai chồng tôi. Chồng tôi đợi khi uống rượu ngà say mới lên tiếng “hạch tội” người bạn là “quân xấu chơi, quân đểu giả!”. Hai bên lời qua tiếng lại rồi tiến tới mắng nhiếc chửi bới nhau. Lời nói trong lúc nóng nẩy không giải quyết được gì chỉ tạo thêm sự tức giận.

Sau khi bị chồng tôi mắng là đồ con heo đốn mạt, người tình của tôi cũng chửi lại với những lời lẽ thô tục. Và anh dọa: ”Nếu mày không câm mồm cố tình bêu riếu tao, tao sẽ giết chết mày!”. Chồng tôi đứng lên sừng sộ: ”Tao thách mày đấy, quân chó má!”. “Tao sẽ cắt cổ mày như cắt cổ con heo!”.

Cuộc khẩu chiến kéo dài. Tôi chỉ còn biết ngồi trong góc nhà ôm mặt khóc. Thật xấu hổ, thật nhục nhã cho tôi. Tôi muốn chết cho rồi! Bỗng tôi thấy chồng tôi và người tình như hai con cọp dữ xông vào nhau vật lộn trên sàn đất. Tiếng người tình rít lên: ”Mày phải chết! Tao sẽ đâm sâu mũi dao này vào cổ họng mày. Mày sẽ chết không kịp ngáp”. Hai người giằng giật con dao nhọn mổ heo. Kết cục, chồng tôi bị gục ngã trước mũi dao nhọn của người tình.

Ảnh đã có quá nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng con dao đâm giết. Trước khi chết chồng tôi còn rít lên ai oán như một lời nguyền rủa: “Mày sẽ phải chết như mày đã giết tao! Thằng đồ tể khốn kiếp!” Sau khi lén lút chôn cất chồng tôi phía sau nhà xong, hai chúng tôi vội vã khăn gói bỏ nhà ra đi trong đêm tối. Chúng tôi rời miền Bắc đến một vùng xa xôi hẻo lánh trong miền Nam, thay tên đổi họ làm lại cuộc đời. Chồng 2 của tôi tiếp tục làm nghề giết heo mướn, còn tôi thì vẫn làm thuê những công việc lặt vặt.

Hai năm sau chúng tôi sinh được một thằng con trai. Càng lớn mặt mũi nó trông càng dữ dằn, chẳng giống tôi cũng chẳng giống bố nó. Đôi lúc bất chợt tôi thấy mặt nó giông giống mặt con heo. Nhất là đôi mắt ti hí trắng nhợt của nó. Không sao, vì dù mặt mũi nó có thế nào chăng nữa vẫn là con tôi, vẫn là đứa con tôi đứt ruột đẻ ra. Nhưng có một điều khiến vợ chồng tôi buồn và khổ tâm hết sức là hơn hai tuổi mà nó vẫn chưa biết đi, suốt ngày cứ bò lê bò lết bằng hai tay hai chân như con heo vậy! Và tệ hại hơn nữa là nó như thằng câm, chúng tôi chịu khó dạy bảo mãi nó vẫn chẳng nói được một tiếng nào.

Tôi đưa nó tới trường xin học nhưng bị từ chối. Đã mấy lần chồng tôi tỏ ý định cho nó vào nhà trẻ mồ côi, nhưng tôi phản đối. Tôi đi xem bói. Thầy bói bảo con tôi bị oan hồn ám, phải năng cúng kiếng và làm việc thiện. Vợ chồng tôi đã làm theo lời thầy bói nhưng mọi sự vẫn không có gì thay đổi. Bất ngờ năm lên năm tuổi thằng nhỏ tự đứng lên và sau đó đi lại như người bình thường làm vợ chồng tôi giật mình thảng thốt nhưng rất vui mừng sung sướng.

Số là sau khi cơm nước buổi tối xong, chồng tôi thường hay chơi đùa với con làm ngựa để thằng nhỏ cưỡi lên lưng phi long nhong khắp nhà. Thằng nhỏ lúc nào cũng đắc ý thích chí cười nắc nẻ. Nó ngồi trên lưng bố, hai chân thúc vào hai mạng sườn, hai tay cầm hai vành tai bố giật giật như người ta cầm dây cương. Nhưng hôm nay đang cưỡi ngựa và cười đùa khoái chí nó bỗng ngưng bặt và tự đứng hẳn lên, tất nhiên lúc đầu có hơi chệnh choạng gượng gạo khó khăn một chút.

Tạ ơn Trời Phật đã khoan dung độ lượng giũ lòng thương ban phép lành cho con trai tôi. Tuy vậy, mặc dầu chúng tôi mừng con đã đi đứng được nhưng vẫn lo lắng canh cánh bên lòng về việc nó không nói được. Chẳng lẽ hồn ma chồng tôi vẫn ám vào thằng nhỏ như lời lão thầy bói nói? Thời gian trôi qua đã lâu nhưng cái đêm khủng khiếp chồng cũ tôi bị giết vẫn ám ảnh chúng tôi mãi, mặc dầu chúng tôi cố xua đuổi, quên lãng. Nghe lời thiên hạ, vợ chồng tôi lập trai đàn giải oan, mời sư sãi về nhà cúng kiếng tụng kinh mấy ngày đêm liền.

Từ đó thằng con trai tôi lớn như thổi và đi đứng bình thường nhưng vẫn không nói được, mặc dầu nó nghe và hiểu lời người khác. Có thể nói trong những ngày tháng này tuy vất vả cuộc mưu sinh nhưng gia đình tôi rất hạnh phúc. Sau vụ lập trai đàn cúng tế giải oan, chúng tôi cảm thấy như xóa sạch quá khứ yên tâm lo cho cuộc sống tương lai.

Chồng tôi rất thương yêu vợ con. Có lẽ anh hối hận về việc năm xưa trong lúc nóng giận đã quá tay gây ra án mạng nên bây giờ dồn tất cả thương yêu cho vợ con, nhất là cho thằng con trai độc nhất của chúng tôi. Tuy thằng nhỏ vóc dáng kềnh càng có vẻ lớn hơn so với cái tuổi 12,13 nhưng bố nó vẫn xử sự, chơi đùa với nó như lúc còn nhỏ. Nghĩa là vẫn bò dài trên sàn nhà làm ngựa cho nó cưỡi trên lưng và khi nghe con la hét những tiếng ú ớ vô nghĩa, vợ chồng tôi lại cười ầm lên vui vẻ, coi như một sự bông phèng lý thú.

Nhưng rồi một sự không bông phèng lý thú đã xẩy ra. Trong một lần, thay vì đùa rỡn cưỡi ngựa như thường lệ, con trai tôi đã cầm con dao nhọn, (mà bố nó thường dùng để giết heo) bất thần đâm mạnh vào cổ bố nó sau khi hét lên tiếng hét rùng rợn:“Mày sẽ phải chết như mày đã giết tao! Thằng đồ tể khốn kiếp!”. Mười mấy năm trời câm lặng – từ khi sinh ra đời – đây là lần đầu tiên con trai tôi cất tiếng nói ai ngờ lại là lời nguyền rủa kết tội cha nó, sau khi cầm dao thọc vào cổ cha nó! Máu đỏ tươi từ nơi cổ chồng tôi vọt ra tung tóe trên sàn nhà. Anh tắt thở mà đôi mắt vẫn mở trừng trừng nhìn thằng con.

Hình như anh muốn nói điều gì… Trong khi thằng con tôi cất tiếng cười sặc sụa, tôi nghe rợn người như tiếng cười của người chồng cũ của tôi.

Trên chiếc xe hơi chở năm người đi ăn bữa trưa hôm đó có ông bác sĩ tâm lý, vợ chồng ông bà cựu nhà giáo, ông nhà báo già tự nhận hết thời và bà bạn. Bà cựu nhà giáo là người kể lại câu chuyện này. Bà mới về Việt Nam thăm ông già bị bệnh nặng. Nghe xong câu chuyện ông nhà báo già tự nhận hết thời hỏi: ”Chính chị chứng kiến phiên tòa này hay nghe kể lại?”. “Tôi đọc báo tường thuật”. Bà cựu nhà giáo đáp.

Bà bạn ông nhà báo già tự nhận hết thời bác bỏ: ”Ồ, hơi đâu mà tin mấy ông nhà báo. Có ít thì xít ra nhiều. Các bạn chẳng nghe câu người ta thường nói nhà báo nói láo ăn tiền sao!”. Bà cựu nhà giáo cãi: ”Tôi tin đây là chuyện thật. Vì những lời nói của bà mẹ đã làm ông tòa và bồi thẩm đoàn bất ngờ và lúng túng. Tòa cho bà ấy nói lại.

Bà ấy đã khóc nức nở nói: ”Thưa quý tòa, chính tôi là nguyên nhân đưa đến cái chết của người chồng trước và lần này cũng do quả báo đưa đến cái chết của người chồng sau. Con trai tôi cũng chỉ là nạn nhân như cha nó. Tôi, chính tôi mới là nguyên nhân và thủ phạm giết chết cha nó. Xin tòa hãy trị tội tôi, tôi sẵn sàng nhận lãnh tất cả hình phạt. Chỉ xin tòa rộng xét cho con tôi. Nó hoàn toàn vô tội, vì nó thật sự vô tội. Nó cầm dao giết cha mình mà nó không hề biết”.

Ông nhà báo già tự nhận hết thời hỏi ông bác sĩ: ”Thế nào bác sĩ? Ông nghĩ sao về chuyện này? Ông bác sĩ tủm tỉm cười nói năng nhẹ nhàng như khi ông đang chẩn đoán bệnh nhân: ”Thú thật tôi xin chịu! Đây thuộc loại chuyện huyền bí mà khoa học ngày nay chưa chứng nghiệm được nên chưa giải thích được.”

Ông cựu nhà giáo bây giờ mới lên tiếng: ”Tôi cho đây là căn bệnh thuộc về tâm thức, tới bây giờ khoa học vẫn phải bó tay. Thằng nhỏ từ khi thành hình trong bụng mẹ đã mang nặng ám ảnh giết người rồi. Nói theo kiểu dân gian thì đây là một sự báo oán. Chắc các vị còn nhớ câu chuyện tới ngày nay vẫn còn truyền tụng trong dân gian về việc rắn báo oán giết hại cả gia đình tướng công Nguyễn Trãi?”. Ông cựu nhà giáo ngưng chút nói tiếp:

” Tôi xin kể hầu quý bạn câu chuyện lúc nhỏ bà mẹ tôi kể cho nghe. Chuyện như thế này: cuối xóm tôi có một gia đình nghèo lắm, hàng ngày hai vợ chồng phải đi bắt những con nhái bén để bán cho những người câu cá lóc. Mỗi khi bắt được một con nhái bén họ bẻ hai chân sau của nó trước khi bỏ vào giỏ vì sợ nó nhẩy đi mất. Năm sau bà vợ đẻ sinh đôi hai thằng con trai, mặt mũi đứa nào cũng sáng sủa đẹp đẽ chỉ mỗi tội hai cái chân của chúng ốm tong teo què quặt (như bị bẻ từ trong bụng mẹ) không đi đứng nổi, cứ thế bò lê bò lết tới lớn.

Như vậy không biết có phải tại những con nhái bén bị bẻ chân báo oán không?” Ông nhà báo già tự nhận hết thời nói: “Nếu có chuyện báo oán xẩy ra thực thì tôi nghĩ trên trái đất này ít nhất cũng có một phần trăm loài người bị kẻ chết báo oán trả thù. Từ chuyện cá nhân như giết bạn cướp vợ, giết anh em chiếm đoạt tài sản đất đai tiền bạc, đến chuyện thế giới đại sự như cái lão ác ôn độc tài khát máu Stalin chẳng hạn, giết chết hàng triệu người dân lành oan ức mà lão vẫn cứ sống huy hoàng trong lâu đài điện ngọc Cẩm Linh tới đầu bạc răng long rồi chết yên lành vì bệnh già, có thấy hồn ma nào báo oán?

Như cái lão Mao Trạch Đông giết người như giết ruồi, thây chất thành núi máu chẩy thành sông oán khí bốc mù mịt đất trờiTrung quốc mà có thấy kẻ nào đầu thai báo thù, đến giờ xác ướp của lão vẫn nằm phơi rốn nơi chốn cung đình Bắc Kinh để bàn dân thiên hạ ngày ngày tới cúi đầu chiêm ngưỡng tri ân về tội giết người của lão.

Rồi đến những “đại nhân” thuộc loại tay tổ như Lưu Thiếu Kỳ chẳng hạn, đường đường một “đấng” con trời, chủ tịch nước hét ra lửa mửa ra khói, sống oai hùng hiển hách như thế thì khi chết phải thành thần linh thiêng lắm chứ! Thế mà bị lão Mao bắt tù đầy hành hạ và giết chết một cách thê thảm oan khuất có thấy lão Lưu thay hình đổi xác , nhập vào kẻ khác hay đầu thai kiếp khác giết chết lão Mao đâu! Và nói đâu xa, chỉ cách đây mấy năm thôi cái tên đồ tể Bin Laden cho đệ tử lao phi cơ vào tháp đôi ở New York giết chết mấy ngàn người vô tội mà tới giờ này lão ta vẫn cứ sống phây phây giữa cõi trần gian có thấy oan hồn nào báo oán bóp cổ cho lão chết tươi?

Và còn biết bao nhiêu sự đời oan khiên đau đớn đang hàng ngày diễn ra trên đất nước Việt Nam chúng ta và trên thế giới mà bọn gây tội ác vẫn sống nhởn nhơ phè phỡn, nào có thấy bọn chúng và con cái chúng đui mù sứt mẻ hoặc mang hình dạng quái vật gì đâu! Tôi cho đó chỉ là những câu chuyện xếp vào loại cổ tích mà người xưa và cả người nay đặt ra để răn đe con người làm điều thiện tránh điều ác.

Mọi người im lặng như theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Lát sau bà bạn ông nhà báo già tự nhận hết thời lên tiếng: “Theo tôi, đây chẳng qua vì bà mẹ quá yêu con nên mới đứng ra nhận tất cả tội lỗi cũng như tội ác về cho mình. Vì đằng nào thì người chồng cũng đã chết vậy phải cứu người con bằng mọi giá, chứ chẳng có chuyện đầu thai báo ân báo oán gì hết”.

Ngưng chút bà nói tiếp: ”Các bạn không làm mẹ nên không biết tâm trạng người mẹ đâu. Chúng tôi có thể hy sinh tất cả các thứ trên đời này cho con, kể cả sự sống”. Lời phát biểu của bà bạn ông nhà báo già tự nhận hết thời khiến mọi người trong xe bỗng cảm thấy nặng nề rồi im lặng bao trùm. Trong xe mới chỉ có năm người, qua câu chuyện báo oán nhỏ mà đã chia thành “ba phe”. Ông bác sĩ tâm lý giữ vai trò trung lập tức “phe” đứng giữa: không tin cũng không chống, hãy trông và chờ khoa học chứng nghiệm.

Ông bà cựu nhà giáo thuộc ”phe hữu”: tin có sự báo oán. Còn ông nhà báo già tự nhận hết thời và bà bạn thuộc “phe tả”: không tin có chuyện báo oán. Sau cùng, chắc là để “hòa hợp hòa giải”, mang lại không khí vui vẻ tránh một cuộc tranh luận gay gắt có thể xẩy ra, ông bác sĩ tâm lý nói như để kết thúc câu chuyện trước khi mọi người rời xe bước vào nhà hàng ăn: “Vậy thì theo tôi tốt hơn hết là để ông nhà báo già viết lại câu chuyện này đăng lên báo cho độc giả đọc. Sau đó mọi người cho ý kiến là “gút” nhất. Ông nhà báo già tuy tự nhận hết thời nhưng tôi tin ông thừa sức kể lại một cách trung thực câu chuyện này”.

THANH THƯƠNG HOÀNG

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Chụp Được "Bóng Ma Thiên Thần" ở Tòa Thánh Vatican



Thiên thần “hiện hình” – bức ảnh chưa có lời giải thích. (Ảnh Daily Mail).

Lơ lửng trên đầu đám du khách đang chăm chú nghe Giáo Hoàng thuyết giảng là cái bóng trắng mờ nhạt của một thiên thần hộ mệnh trôi giữa luồng sáng – tấm hình rõ mồn một do viên cảnh sát về hưu Andy Key ở Cambridgeshire ghi lại trong lần viếng thăm Vatican khiến các chuyên gia nhiếp ảnh hàng đầu nước Anh cũng phải bối rối.

Khoảnh khắc kỳ diệu được ghi lại trong lúc ông Key, 48 tuổi đến từ thị trấn March, Cambridgeshire (Anh) cùng vợ là Susan 44 tuổi lững thững ngắm cảnh tòa thánh Vatican trong chuyến viếng thăm Rome đầu tiên, kể từ sau khi ông giã từ lực lượng cảnh sát.

“Vào lúc đó, phần lớn mọi người đang chăm chú lắng nghe Giáo hoàng diễn thuyết trên bục lớn. Chúng tôi vốn không phải là những người sùng đạo nên vẫn tiếp tục thăm thú và chụp ảnh ở xung quanh” – ông Key nhớ lại.

“Bất chợt nhìn thấy khung cửa sổ lớn có chùm sáng xuyên rọi qua, tôi nhanh tay ghi lại cảnh tượng tuyệt đẹp và hoàn toàn không để ý điều gì khác thường. Cho đến khi về nhà, “đổ” ảnh ra máy tính, hai vợ chồng tôi mới sững sờ khi thấy hiển hiện “bóng ma” quá rõ và thật”.

Các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã nghiên cứu kỹ tấm hình của ông Key, nhưng rốt cuộc tất cả đều không lý giải nổi vì đâu lại có bóng sáng kỳ quái ấy. “Trên đầu đám du khách lúc đó hoàn toàn không có vật gì để tạo hình phản chiếu”.

Ông Andy Key, hiện đang làm giáo viên hướng dẫn tại trường Cao đẳng cộng đồng Neale-Wade tại March cho hay: “Hai vợ chồng tôi đến Rome hoàn toàn chỉ để thăm thú và thư giãn chứ không vì bất cứ mục đích tôn giáo nào.

Trước nay tôi cũng chẳng tin và tôn sùng những thứ đại loại như thiên thần, ma quỷ, nhưng không thể phủ nhận cái bóng trắng in rõ dáng hình của một thiên thần hộ mệnh. Ngay cả chuyên gia nhiếp ảnh cũng đồng tình với việc này”.

Đây không phải lần đầu tiên những hình ảnh thần thánh tình cờ lọt vào tầm ngắm của người trần mắt thịt.

Cách đây 2 năm, một nhạc sĩ đánh đàn ống có tên Rita Clayson đã phát hiện hình ảnh Chúa Jesu trên một thân cây cổ thụ ở ngôi làng Northamptonshire hẻo lánh. Đầu tháng 3 năm nay, thai phụ Amanda Skelding 23 tuổi ở Glasgow cho biết hình hài Chúa đóng đinh cũng xuất hiện trên… tấm phim siêu âm đen trắng của mình.

Hải Minh
(Theo Daily Mail)

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Mười Một 2018
H B T N S B C
« Th7    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Posts by Month

Posts by Category