Posts filed under ‘Phiếm luận




Nhà Nước "Lo Cho Dân"

“Vợ chồng người bạn Việt kiều tốt bụng của chúng ta đã trở lại nơi định cư là đất nước Mỹ, không lưu lại đất nước mình, ăn Tết ở quê hương à?”

Một người bạn cà phê vỉa hè hỏi vậy, khi thấy cả tuần lễ rồi, vắng mặt vợ chồng người bạn Việt Kiều. Vợ chồng anh Ch. đều là bạn học cũ của chúng tôi, từ gần bốn mươi năm trước, ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Người thì gật đầu thay câu trả lời, người thì nói:

“Ðất nước mình bị ‘người nước mình’ chiếm mất từ trên ba mươi năm rồi, còn đâu nữa để mà ăn Tết ở quê hương?!

Anh Ch. từng “học tập cải tạo tập trung”, quá thấu hiểu, đầy trải nghiệm ở các miệt rừng-rú-học-đường của “thiên đường cộng sản”. Ấy tuy nhiên anh Ch. không can dự vào ý tưởng của “bà xã”, còn nguyên vẹn trong lành về quê hương đất nước. Nên “bà xã” anh Ch. hồn nhiên bực bội khi biết mấy ông Mỹ leo lên nóc nhà bảo tàng ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn để bảo vệ an ninh cho tổng thống Mỹ tới đây, dịp hội nghị cấp cao APEC. Và chị còn nói: “Bây giờ chống cộng là lỗi thời rồi. Ở bên Mỹ, chả ai còn chú ý, để tâm vào cái việc chống cộng gì nữa. Nhà nước nào, phương Tây, đất Mỹ hay cộng sản cũng đều phải lo cho dân là chính.”

Anh em chúng tôi, kể cả anh Ch., đều phải chào thua nhận định của phụ nữ. Và chỉ còn biết bàn luận bên bàn cà phê với nhau, cho đỡ tức:

“Nói cái chuyện lo cho dân, phải nói hệt như vô số các ông Việt cộng, tức là những ông cộng-sản-thứ-thiệt, nguồn gốc xuất thân từ nông thôn miền Bắc xã hội chủ nghĩa (tràn ngập Hà Nội ngàn năm văn hiến đã mất): “Bà con chớ ‘no’, để nhà nước ‘no’.” Ðúng vậy, nhà nước no rồi (không cần nói ngọng), nên con cháu đích tôn của bác-và-đảng không cần ăn cái món ăn tinh thần là tư tưởng ‘Bác Hồ’. Vô số ‘con cháu đích tôn’ ấy du học bên Mỹ, để lại trọn vẹn món ăn tinh thần ấy cho người dân trong xứ sở được no. Chả biết những con cháu chúng ta, học các ngành chuyên môn ở trường lớp, ”được” nhà nước bắt học cái môn lịch sử đảng cộng sản và chính trị các thứ (có ”tính cộng sản” 100%) , tính vào điểm thi cuối năm và ra trường, thì nó sẽ tốt hay nó sẽ chỉ tệ hại cho việc học hành, kết quả chuyên môn của sinh viên?

Ở các nơi trên thế giới, nơi nào cũng hiểu được rằng, học giỏi là giỏi cái môn chính mà mình theo học, chứ không phải là giỏi cả những môn phụ. Các ông cộng sản, dù thôi nhai lại như con vẹt chỉ nói một câu ‘vừa hồng vừa chuyên’, nhưng thực tế, bây giờ (và đến bao giờ?), vẫn y như vậy. Sinh viên có đạt điểm cao về ngành học chuyên môn, mà không đạt điểm về môn chính trị lịch sử “bác và đảng” thì ‘tiêu’. Ðấy là no (ứ hơi) về tinh thần. Còn về thực phẩm để nuôi dưỡng thân thể, thì cứ dân cứ tha hồ mà no với vô số thứ thực phẩm chứa chất đầy hiểm họa: Thịt heo từ con heo có chích thuốc tăng trọng, rau quả có phun thuốc trừ sâu, thuốc cho trái to đẹp và được mùa thu hoạch…

Mới đây, ngành chức năng kiểm nghiệm chất độc hại của rau quả có phun thuốc trong khi trồng trọt, đưa ra thị trường tiêu thụ, lắc đầu: không thể rửa hết dư lượng thuốc phun ở rau xanh. Và chỉ còn kêu gọi nông dân hạn chế tối đa một số thuốc phun cho rau quả! Thế thì cũng phải chào thua, bởi người nông dân cũng phải có đồng tiền nuôi thân. Không có những thuốc phun (độc hại) ấy, rau quả nào đạt tiêu chuẩn để người tiêu dùng tiêu thụ, người nông dân lấy đâu đủ tiền để sống? Thôi thì chúng ta chấp nhận nói ngọng vậy: chúng ta vẫn luôn luôn ‘no’!”

Liêu Tú

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

‘Vô Ra Thằng Cha khi Nãy’

“Vô ra thằng cha khi nãy” là một thành ngữ người Việt thường nói để mô tả một sự kiện, một nhân vật cứ xuất hiện nhiều lần, dưới những hình thức khác nhau, khiến người ta tưởng lầm rằng đó là nhiều người, nhưng thực chất chỉ là một người, một “thằng cha ấy” mà thôi.

Ví dụ như trên sân khấu, nay thì khán giả thấy nhân vật nầy xuất hiện, chốc nữa lại thấy nhân vật khác nhưng thực chất cũng chỉ là một diễn viên mà thôi; khi anh ta đóng ông quan, khi đóng vai anh lính, còn thực chất cũng chỉ “một anh chàng”, chỉ là “thằng cha khi nãy”.

Cũng có thể đó là lời chê của khán giả khi họ bình phẩm một vở tuồng, một diễn viên khi vào khi ra sân khấu, cũng chỉ là “thằng cha” ấy mà thôi.

Đó là chuyện sân khấu cải lương hay kịch. Còn một thứ sân khấu khác nữa, cũng không kém nhàm chán. Đó là sân khấu chính trị. Trên sân khấu chính trị cũng có nhiều vở tuồng, nhiều nhân vật, coi cũng rất hấp dẫn. Tuy nhiên, trên những sân khấu chính trị của những chế độ độc tài, xem ra cũng có nhiều tuồng tích hấp dẫn, cũng có hiến pháp, cũng có phân quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cũng có họp hành phê bình, cãi cọ, thậm chí đánh lộn nhau u đầu chảy máu, cũng có hoan hô và biểu quyết, nhưng tựu chung, cũng chỉ có một thằng: Đạo Diễn. Cho nên dù có nhiều tấn tuồng coi vui lắm, tưởng như dân chủ lắm, tự do lắm nhưng thực chất cũng chỉ là “Vô ra thằng cha khi nãy”.

Trước đây nước ta có hai sân khấu chính trị. Một sân khấu ở trong Nam và một ở ngoài Bắc. Sân khấu nào coi cũng vui và cũng “hấp dẫn” đối với những người dân nhẹ dạ, dễ tin, ngu ngơ về những thủ đoạn chính trị.

Sân khấu trong Nam thì đã dẹp tiệm từ 30 tháng Tư rồi, đã “Nằm xuống trong lòng đất lạnh”. Vì bài nầy nói chuyện phiếm nên tôi chẳng nhắc lại làm chi. Nói như Nhất Linh thì “Đời tôi để lịch sử xử”. Lịch sử cũng sẽ xử cái sân khấu chính trị miền Nam đó. Bây giờ xin nói đôi điều “Thằng cha khi nãy” của sân khấu chính trị miền Bắc.

Sau khi nắm chính quyền nhờ cái gọi là “Cách Mạng Tháng Tám”, Hồ Chí Minh xây dựng chế độ dân chủ cho nước Việt Nam hồi ấy. Bề gì thì cũng đã hô hào “Độc Lập – Tự Do”. Nói là tự do mà một nước dân chủ không cho bầu quốc hội thì cũng kỳ cục nên mới có cuộc bầu cử quốc hội ngày 6 tháng 1 năm 1946. Bầu xong rồi mà đắc cử thì chỉ có cán bộ Cộng Sản với những người “ủng hộ Việt Minh”. Nên nhớ cho rằng Việt Minh là một phong trào của Cộng Sản Việt Nam hay nói trắng ra là cái áo ngoài của họ. Trong quốc hội không có ai là người đối lập. Các đảng phái khác không tham gia hoặc tham gia nhưng không thể đắc cử được vì “Bầu cử không ngay thẳng” như lời cha tôi nói hồi ấy. Vì là đầu mùa dân chủ, vì là “người xưa”, ăn nói còn dè dặt nên cha tôi không dùng những tiếng như người ta nói sau nầy như “bầu cử gian lận”, “ăn gian phiếu”, “tráo trở đổi thùng phiếu, đổi kết quả”, v.v.

Do áp lực của “Quân Tàu Tưởng”, tức là áp lực của mấy ông tướng Tàu phù thuộc phe Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh bèn nhường cho các “Đảng phái Quốc Gia” (Cộng Sản gọi là “Đảng phái phản động”) 70 ghế trong quốc hội. Trò nầy chỉ là “hoãn binh chi kế” của Hồ già. Sau đó thì 70 ông đại biểu quốc hội trong cái trò nhường ghế đó, ai nhanh chân thì toàn mạng, ai chậm chân thì bị cho mò tôm dưới đáy sông. Mò tôm là một cách giết người bí mật và không còn dấu tích. Không cần bắn giết hay đâm chém gì cả, cứ cột một hòn đá cho thật nặng vào cổ nạn nhân rồi thả xuống giữa dòng sông. Hòn đá sẽ “keo sơn” giữ chặt nạn nhân cho đến khi xương thịt nạn nhân rã ra từng miếng nhỏ. “Ai biết mô mà tìm”. Nhà văn Khái Hưng cũng bị Cộng Sản Việt Nam cho đi mò tôm theo cách như vậy đấy.

Năm 1955, sau khi Tây cuốn gói khỏi miền Bắc, quốc hội của chế độ Cộng Sản Việt Nam lại họp, lại bầu đi bầu lại mấy lần, bao giờ trong quốc hội của chế độ Cộng Sản Việt Nam cũng có đại biểu ba đảng “đàng hoàng”. Một là đại biểu đảng Cộng Sản, hai là đại biểu đảng Xã Hội, ba là đại biểu đảng Dân Chủ. Nói tới đại biểu tức là nói tới đảng. Vậy thì miền Bắc hồi ấy có ba đảng: Đảng Cộng Sản, đúng đầu là “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” của Nông Thị Xuân, hai là ông Nghiêm Xuân Yên đảng trưởng (hay chủ tịch gì đó cũng được) của đảng Dân Chủ, ba là ông Nguyễn Xiển của đảng Xã Hội. Hễ một khi đại biểu đảng Cộng Sản Hà Nội đưa ra một cái gì đó, chẳng hạn là một nghị quyết, một tuyên cáo (lên án đế quốc Mỹ thả bom miền Bắc chẳng hạn), một đạo luật để “giữ gìn kỹ cương phép nước” đại biểu hai đảng kia “triệt để ủng hộ” hay “nhất trí hoan hô”. Ông Nguyễn Xiển là một người hay nhìn trời nhìn đất và nhìn trăng sao vì ông nguyên là cán sự khí tượng; còn ông Nghiêm Xuân Yêm tuy là “dòng dõi”, tuy là “sinh viên” nhưng theo nhận xét của nhiều người ông có cái tật hay ngủ, nhất là khi vào ngồi trong nghị trường. Nhờ bệnh hay ngủ mà ông được một đời an nhàn sung sướng.

Đến khi “giải phóng miền Nam” xong rồi, ông Nguyễn Xiển cho đăng trên nhật báo Nhân Dân nhiều bài viết, ca ngợi “Thiên tài của Đảng Ta”. Sao lại “đảng ta” nhỉ? Ông ta là thủ lĩnh đảng Xã Hội, tại sao gọi đảng Cộng Sản là “đảng ta”. Có gì khó hiểu đâu mà thắc mắc. “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy” cả đấy. Dù là đảng Xã Hội của ông thầy bói thời tiết Nguyễn Xiển hay là đảng Dân Chủ của ông sinh viên hay ngủ gật Nghiêm Xuân Yêm, cũng chỉ do một mẹ sinh ra, người mẹ đó là đảng Cộng Sản Việt Nam. Bà Âu Cơ còn đẻ ra được một trăm cái trứng thì đảng Cộng Sản Việt Nam có đẻ ra đảng Xã Hội, đảng Dân Chủ, rồi đặt hai cái nôi trong tòa nhà quốc hội mà ru con thì cũng chỉ là “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy”.

Sau đại hội Cộng Sản Việt Nam lần thứ tư (tháng 12/1976), Cộng Sản Việt Nam thấy cần phải đổi tuồng mới trên sân khấu chính trị, đảng Lao Động lột áo trở ra sân khấu trong vai chính đảng Cộng Sản Việt Nam, và hai tài tử phụ Dân Chủ và Xã Hội được nghỉ hưu non, cho về vườn. Bấy giờ thì không còn “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy” nữa mà độc chỉ có “Một mình Thằng Chả” mà thôi.

Lê Duẩn là người tự cao, tự đại. Duẩn làm cái việc mà Hồ Chí Minh không làm được: “Thống nhất đất nước”, rửa mặt cho Hồ Chí Minh cái tội cắt đôi đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, và “Mở ra một thời kỳ phồn vinh nhất trong lịch sử đất nước”. Qua hai cái đó, y thấy y công lớn hơn hết những nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam, mắng luôn Hồ Chí Minh “Bác biết gì!” Trên đời nầy, tự cổ chí kim, không ai bằng “Tổng bí thư sơ học yếu lược” nên y bèn cho hai anh tép riu Nguyễn Xiển và Nghiêm Xuân Yêm về vườn để nghiên cứu về “đảng ta” của chính ta và tiếp tục ngủ giấc ngàn thu, xuống âm phủ nhìn trăng sao mây gió để đoán thời tiết cho Diêm Vương.

Một thời mấy ông “Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam” thấy mình to lắm. Nhiều ông thì được chức chủ tịch. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thì được chức chủ tịch mặt trận lớn (Cả miền Nam), luật sư Trịnh Đình Thảo thì được chức chủ tịch nhỏ (Mặt trận Dân tộc dân chủ hòa bình gì gì đó), Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thì được chức thủ tướng, tướng Trần Văn Trà thì được chức tư lệnh, và “tướng” Nguyễn Thị Định thì được chức Phó tư lệnh, nhưng sau 30 tháng Tư, “Thống nhất đất nước” thì được “Ngồi chơi xơi nước”. Nguyễn Hữu Thọ tuy là Phó chủ tịch Quốc Hội nhưng khi nhân được đơn khiếu nại của chồng Nguyễn Thị Vàng thì vội vàng “ém” đơn. Nếu lương tâm một ông luật sư như Nguyễn Hữu Thọ, một ông miền Nam thẳng tính “Dẫu thấy bất bằng mà tha”, “lương tâm cắn rứt” thì tới nha sĩ bẻ mẹ nó cái răng của lương tâm đi để nó lkhỏi “cắn rứt”. Ông Phó thủ tướng Huỳnh Tấn Phát thì vê quê cũ ở Gò Công đắp mền nằm ngủ, “tướng không quân” Trần Văn Trà về Hà Nội làm thứ trưởng “Không bộ” Quốc Phòng.

Trên sân khấu, “nhờ đã thống nhất đất nước” nên bây giờ rộng hơn, thoáng hơn, nhưng nhìn đi nhìn lại cũng chỉ “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy” hay nói cách khác là chỉ có Cộng Sản “Một mình một chợ” mà thôi.

Sở dĩ Cộng Sản sắm những tấn tuồng “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy” hay “Một mình Một Chợ” là vì họ là đảng của giai cấp công nhân”, “phục vụ đất nước”, vì “chống lại tư sản, địa chủ bóc lột”, v.v.

Nếu bọn tư bản là người ngoài đảng, nếu bọn địa chủ là người ngoài đảng, chúng sẽ bóc lột tàn tệ và trắng trọn công nhân, nông dân, chúng sẽ đàn áp nhân dân lao động.

Vậy để tránh cho nhân dân lao động khỏi bị bóc lột và đàn áp, đảng Cộng Sản Việt Nam cho đảng viên nám giữ lấy vai trò của bọn chủ tư bản, vai trò bọn địa chủ bóc lột. Nói như thế có nghĩa là đảng viên, nếu ai có tiền bạc, có vốn liếng từ nay có thể đứng ra làm “nhiệm vụ kinh tế”, có thể lập nhà máy, hãng xưởng, mua cổ phiếu để làm ông chủ, mua đất đai để làm địa chủ.

Khi đảng viên làm ông chủ tư bản, khi đảng viên làm địa chủ, thì “vì lý tưởng Cộng Sản”, “vì lợi ích của nhân dân lao động”, “vì tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, người dân việt Nam sẽ được “đảng ta” “phục vụ” kỹ hơn nữa, nhiều hơn nữa, “tích cực” hơn nữa, “triệt để” hơn nữa, chắc chắn chẳng mấy chốc nước ta sẽ thành đạt một “thời kỳ vẻ vang nhất trong lịch sử dân tộc” như “Đồng Chí Tổng Bí Thư Lê Duẫn kính mến” đã hứa cuội (hứa hẹn).

Từ là “Đảng của giai cấp công nhân” nay trở thành “Chủ của giai cấp công nhân”, như thế cũng chỉ là “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy”.

Từ là “người đầy tớ trung thành của nhân dân” nay bỗng trở thành ông chủ tư bản là “người bóc lột nhân dân”. Thế cũng chỉ là “Vô Ra Thằng Cha Khi Nãy”.

Bọn phản động và “Những thế lực thù địch” thấy rõ nguy cơ của chúng đang bị mất phần ăn ở trong nước. Chúng sẽ “ra sức chống lại đường lối chính sách của đảng ta”. Chúng nói rằng “đảng ta” cho đảng viên làm nhiệm vụ kinh tế là để “rửa tiền” là một sự “vu cáo trắng trợn”, chúng nói rằng khi đảng viên làm nhiệm vụ kinh tế, tự biến thành những ông chủ, địa chủ bỏ rơi chủ nghĩa Mác là một sự xuyên tạc và ngụy biện nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của đảng.

Chắc chắn “bác” Hồ ở dưới âm phủ sẽ rất vui mừng khi thấy đảng viên giàu có. May ra khi giàu có, chúng sẽ mua vàng mả cùng cho “bác” một cái mền vì hiện “bác” đang bị Diêm Vương trị tội, đêm đêm lạnh lẽo vô cùng.

“Bác” Hồ ơi! “Bác” có khôn thiêng thì hãy về đây mà xem con cháu của “bác” đang “vận dụng chủ nghĩa Mác một cách trí tuệ” để lột cho tới cái quần lót của nhân dân lao động Việt Nam.

Tuệ Chương hoànglonghải

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Chân Và Giả

“… Cái gì giả nghĩa là đã từng có thật nhưng bây giờ không còn nữa thì người ta mới làm giả để tưởng nhớ – theo nghĩa tinh thần như tượng thuyền nhân vượt biển, theo nghĩa tiện dụng như cái chân-gỉa của người thương binh. Khi người ta làm gỉa như hai thí dụ trên là vì cái thật qúy gía không còn. Nhưng cái thật vẫn còn mà người ta cứ làm gỉa là gỉa dối như hột xoàng gỉa (không đeo hột xoàng đâu có chết). Còn làm gỉa để gạt người gạt mình là gỉa nhân gỉa nghĩa như thức ăn chay (trai) được trình bày qua hình thức mặn (mạng). Không ăn đùi gà, heo quay bằng bột cũng đâu có chết.”

“Thưa tiên sinh! Hôm nay tiên sinh, ốm?!”

“Tôi chẳng ốm đau gì sất.”

“Tiên sinh hiểu lầm rồi! Ý tôi muốn nói là tiên sinh liệu hồn! không khéo thì tiên sinh ốm đòn.”

(Cả bàn cười ha hả).

“Tôi biết! Cánh đàn ông ngoài garage này không nỡ đánh tôi vì nhìn đi nhìn lại thì tôi to xác nhất, các bà trong nhà thì còn lo ăn chay cho no bụng để có sức mà bàn về việc đai-ẹt (diet). Sau đó lo… lo qua lo lại hai cái lọ, chẳng ai rỗi hơi mà tẩm quất cho tôi. Các ông còn nhớ người xưa có câu: ‘điếc hay ngóng, ngọng hay nói’ với câu: ‘xấu ưa làm tốt, dốt ưa nói chữ’ là thói đời nó thế! Người nông dân nắng mưa dãi dầu nên ưa nằm mơ thấy mình là quân vương, sống trong nhung lụa. Hoàng thượng sống trong nhung lụa thì lại thường nằm mơ thấy mình ra đồng với cái cày, con trâu cho đời thanh thản. Tương tự như thế! Những người học thật thường ẩn dật, nên ngoài lề đường mới nhiều học gỉa, tiên sinh… chữ nghĩa bây giờ rẻ nên người ta xài hoang!”

“Vậy! Xin hỏi: Tiên sinh đây là học gỉa hay học thật, ạ!”

“Tôi bảo ông dốt thì ông không tin vì ông tin tôi dốt hơn ông. Nhưng tôi nói ngược lại, nói cho đúng ý ông thì ông hoang mang vì ông cũng đâu tin ông giỏi đến thế! Sau đó, ông đổ thừa cho tôi là kẻ nịnh để ông không chịu trách nhiệm về việc tôi khen ông giỏi – khi có ai chất vấn ông. Nhưng thâm tâm ông hài lòng với ý nghĩ mình giỏi một cách trí trá hơn cả câu nịnh bợ – cũng gỉa trá nốt – nếu tôi có nói. Cái chân và gỉa trệu trạo muôn đời để cùng tồn tại cho mọi thành phần, mọi hoàn cảnh… có thể lý giải được những việc không nên làm trở thành chấp nhận được và những việc đương nhiên trở thành vô lý – khi cần. Nếu tôi là học thật thì tôi đã ngồi nhà gãi đầu gối chứ đâu cất công đến đây để hầu chuyện các ông dốt thâm căn cố đế mà trường hợp cá nhân tôi đã chứng thực được câu: ‘ở bầu thì tròn ở ống thì dài’; ‘gần mực thì đen gần đèn thì sáng’ có tự ngàn đời.”

“Chắc tiên sinh đã thấy sao hộ mạng của tiên sinh tắt hôm nay?”

“Thì sang năm, các ông được đi ăn giỗ kẻ hèn này!”

“Lão này hôm nay phải gió thì phải!”

“ Đùa với các ông cho vui. Đừng ai đánh tôi nhé. Tôi mà biết vợ chồng gia chủ nhà này cho ăn chay thì tôi đã ở nhà làm homework, (xe cần thay nhớt, cần rửa, cỏ chưa cắt, tóc chưa hớt…) Nhưng cái tật ham vui và nhất là… ham ăn. Đúng là tham thực cực thân mà mò đến đây”.

“Thế tiên sinh đã nghe: ‘miếng ăn qúa khẩu thì tàn’?”

“Tôi biết cả: ‘không ăn một miếng lộn gan lên đầu’ Nhưng thật tình mà nói thì tôi không thích mấy – khi nhìn món ăn chay mà làm cho giống cái đùi gà (một cọng xả giống giống như cái xương đùi của con gà, chung quanh bọc mì căn, nhân bên trong là đậu hũ, nấm mèo với cà rốt xắt sợi, bún tàu…) Công nhận là ngoài những người phụ nữ chỉ biết đi mua thì người phụ nữ Việt Nam khéo tay mà theo tôi là nhất thế giới, nhìn y như cái đùi gà chiên ngoài tiệm ông gìa mắt kính (Kentucky). Không biết khi cúng, người được cúng có nổi giận?! Khi ăn, người mời ăn và người được mời ăn có lừa được mình là ‘real chicken’ hay không?!

Tôi thì chịu, ban nãy đến đây, tôi thấy dĩa heo quay đỏ tươi trên bàn. Ỉ chỗ thân tình nên tôi rón ngay một miếng – khai vị. Ai dè, hoàn toàn là bột. Lớp đỏ tươi bên ngoài nhìn hấp dẫn như da heo quay, kế đến lớp trắng trong như mỡ, đến lớp đục màu thịt heo chín. Lớp bột trong cùng còn quét màu nâu-nâu-đen, nướng cháy cháy y như heo quay chánh hiệu ông Tàu. Bỏ vô miệng rồi mới biết là hiệu ông… Phật.

Thời buổi này lường gạt lấn sân vô tới cửa thiền môn rồi sao trời? Đến khi vỡ lẽ ra là ngày tẩy trần nên các bà cho ăn chay. Thế là tôi thất vọng! Ra đây uống bia với các ông, không biết các ông có cảm giác (cảm nhận) như tôi: Cữ hễ ăn chay thì thèm mặn, ăn cơm thì thèm phở, (đừng nghĩ lung tung đấy nhá!) Nhân danh sự ấm ức cá nhân, tôi kể về thịt chó bảy món cho các ông nghe vì đêm qua tôi khó ngủ, cứ trằn trọc mãi mới nghĩ ra là mình nhớ thịt chó! Coi như chuyện ăn mặn nói ngay ăn chay nói dóc”.

“Chúng tôi thấy tiên sinh chỉ còn có ăn đòn là biết thân…”

“ Trong đám không dám đánh mình vì sợ thì có ngày, có kẻ bỗng hết sợ! Và trong đám không nỡ đánh mình vì thương thì cũng có ngày, có kẻ hết thương! Nên tôi biết dừng lại ở cái chừng mực… sắp ăn đòn! Yên chí đi.

… các ông biết không? Thịt chó ăn theo miền nên đừng nói là ở đâu có con chó ngon nhất; ở đâu nấu ngon nhất, cũng trật hết. Thần dân cẩu xực (là ăn thịt chó chứ đừng nghĩ là ăn như chó, tiếng Tàu nói ngược, nó thế!) cùng đồng ý với nhau là: nhất mực nhì vàng tam khoang tứ đốm. Nhưng không có bốn thứ cao cấp ấy thì con vằn, con vện cũng ngon như thường bởi người hiểu biết đâu có mấy: ‘đông mè hè khuyển’ là kinh điển. Mùa đông lạnh nên hỏa nhiệt tâm thân không bốc ra ngoài được, các cụ ta ăn cá mè là loại thực phẩm hàn – mát để giải bớt thân nhiệt. Mùa hè nóng làm cho thân nhiệt bốc qúa, tâm thân bị hàn nên ăn thịt chó là thực phẩm hỏa – nóng để sưởi lòng. Ý nghĩa của câu ‘đông mè hè khuyển’ được giải thích theo thuyết âm dương trong y học cổ truyền và tư tưởng phương Đông là thế.

Như người Đại Hàn, nội cái tên quốc gia của họ, nghe đã đóng băng nhưng họ chén thịt chó vào loại nhất hành tinh là vì con người và con chó có thể ăn chung mọi loại thực phẩm – trừ phế phẩm từ con người thì con chó không phải giành với con người. Nhưng con gì sống chung với con người thì cũng đồng nghĩa với trên đà tuyệt chủng! Con người ăn con chó để bảo toàn thực phẩm cho mình ở miền gía băng. Nghèo đói thì ai dư hơi mà nghĩ đến thuyết âm dương. Nam Hàn mới khá lên đây thôi, cứ vào Nhà hàng của một dân tộc, nếm qua các món ăn đặc sản của họ thì đoán được dân tộc đó giàu hay nghèo. Ẩm thực, ngoài việc nói lên Văn hóa dân tộc, nó còn nói lên sự giàu nghèo thâm căn cố đế của dân tộc ấy. Có ai tìm được cái đầu cá hay ruột cá trong Nhà hàng Mỹ? Con tôm lớn đã đành, con tôm bé teo, họ cũng bóc vỏ chứ không ăn cho có chất vôi (can-xi) như lý giải ở những nước nghèo.

Còn ở quê ta, miền Bắc thuộc xứ lạnh nhưng đâu phải nhà ai cũng có ao cá mè để ăn. Các cụ ta ăn thịt chó bốn mùa vì đói nghèo cũng như Đại Hàn vậy. Trong miền Nam nóng bỏ bu, đúng là nên ăn thịt chó theo câu: ‘đông mè hè khuyển’ nhưng chẳng ai ăn trước khi có người Bắc di cư vào Nam mà đúng nhất là trước khi Hòa bình lập lại. Sau ’75 không ăn thịt chó thì ăn thịt nhau à? Có thịt gì đâu mà ăn! Ơn cách mạng là ở chỗ đó. Trước ’75, người miền Nam không ăn thịt chó, người Bắc có ăn bởi nhớ quê xưa chứ không phải đói cá, đói thịt đến phải ăn thịt chó trong đất miền Nam. Nói tóm lại: Thuyết âm dương bát ngát nên chỉ giành cho giới học gỉa khi trà dư tửu hậu; giới học thật – tay làm hàm nhai tay quai miệng trễ thì có cái bỏ vào miệng đã là may trên một đất nước điêu linh. Trên tinh thần ấy, tôi kể các ông nghe:

Gia đình tôi thuộc diện di cư (Bắc ’54), tôi đi tàu há mồm vào Nam từ khi còn rất bé nên chẳng nhớ gì nhiều về quê hương Bắc bộ. Người trong Nam hát nhạo người Bắc di cư là: ”từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi dây để trói con cầy…” không sai, không sai vì chính tôi được ăn thịt chó ngay trên tàu há mồm. Mẹ tôi dấu cách nào thì tôi không biết, cứ thỉnh thoảng bỏ vào miệng tôi một miếng thịt luộc đã khô săn, cho có chất thịt… chó, làm như không ăn thì mất gốc Bắc không bằng! Trên tàu, họ có cho ăn tử tế! Tôi còn nhớ thế. Nhưng tôi nhớ cái mùi thịt chó luộc đã mươi ngày ấy đến đêm qua, đến hết đời tôi cũng có thể lắm! Tôi nhớ song song với hình ảnh đoàn người di cư xuống tàu như đàn gia súc, có những ông Tây cao to xịt thuốc trừ chấy rận. Không có họa cộng sản thì con người đâu bị chà đạp nhân phẩm, khinh khi đến đụng chạm vào lòng tự ái ngay trên quê hương mình để đời đời ấn tượng trong tuổi thơ.

Theo ông cụ tôi thì thịt chó luộc xong ăn ngay sẽ bị khai khai mùi nước tiểu trẻ con, nên người sành điệu là luộc xong cái đùi trước của con chó (đùi trước ăn thịt luộc, đùi sau ăn rựa mận là sành điệu) thịt luộc treo lên gác bếp giăm hôm, chẳng thiu thối gì đâu, (thịt chó có cái đặc biệt là ăn bị giắt răng đến hôm sau cũng không hôi, treo đến khô không hư) khi hạ xuống thái lát vừa ăn thì thịt rất săn chắc vì đã róc hết nước, bay hết mùi khai, chấm miếng mắm tôm, ăn kèm với cái lá mơ, lát riềng non thái mỏng thì linh hồn bay đến thiên đàng. Chắc thế nên mới có truyện: “Trẻ con không được ăn thịt chó” của đại văn hào Ngô Tất Tố, đã lột mặt nạ để phô ra bộ mặt thật của con người và cuộc sống trên một miền đất nước lầm than.

Nhưng khi miếng thịt chó di cư, khi vào miền Nam rồi thì chỉ có nhịn thèm vì không thấy người trong Nam ăn thịt chó nên các cụ di cư ưa nhắc nhau như chúng ta giờ đây ưa nói về những món ăn bình dân ở quê nhà – tùy miền của người nói (kể). Sau ’75 thì Nam Bắc một nhà – đói rách như nhau nên ăn thịt chó có tính thống nhất từ Bắc vô Nam. (Món chó xào lăn, hầm nước dừa bắt đầu xuất hiện ở những xóm làng miền Nam. Đạo đời xào xáo là chó nấu chao, ướp chao nướng vỉ).

Riêng tôi, nhiều đêm nằm nhớ thịt chó như nhớ người yêu. Tôi nói bà xã thì bà ấy hỏi ngược lại mình: “Bây giờ về Việt Nam, liệu anh còn dám ăn không?” Tôi thật không trả lời được vì chính mình đã thay đổi rồi thì phải?! Bởi cứ nhìn những đứa trẻ trong nhà mình, chúng nó ôm ấp, hôn hít con chó như người bạn thân thì mình có nỡ ăn thịt bạn của con mình không? Nói ra thì sợ người đời mắng nhiếc: trưởng gỉa học làm sang. Tôi nín thinh như lúa trong bồ tới hôm nhà tôi xin đâu miếng mẻ, bà ấy đi chợ mua cá trê, riềng, thì là… đủ gia vị để thực hiện món cá trê om mẻ. Đến lúc hỏi tôi: “Anh còn nhớ ngày xưa mẹ nấu món này ra sao không?”

Tôi trổ tài liền! Ôi thôi. Tôi bày la liệt cái nhà bếp. Vợ tôi dọn dẹp thấy tội luôn. Tội nhất là bà ấy phải lồng đến mấy lượt bao ny-lon để trút nồi cá trê om mẻ của tôi vào và đi bỏ thùng rác”.

“Nam mô a di đà Phật! Bạch tiên sinh, hôm nay bọn hèn không ăn chay thì đã khiêng tiên sinh ném xuống bể bơi. Chuyện bá vơ thế cũng kể.”

“Nhưng tôi thành công món khác, các ông ạ! Để tôi kể cho các ông nghe trước, nếu được chấp nhận thì lần sau họp mặt, tôi làm cho các ông thưởng thức.”

“Được. Tiên sinh mà bá vơ thêm một lần nữa thì chúng tôi xử trảm tiên sinh đấy!”

“…thế này, tôi cho là thất bại cái món cá trê om mẻ bởi hai nguyên do: Cá trê đông lạnh nên thịt con cá bị ứ máu trong đó mà phát tanh (tanh khiếp). Thứ hai, mẻ ở đây vàng vàng chứ không trắng như hũ mẻ ngày xưa ở nhà tôi. Tôi vào Sở làm hỏi một chị bạn – Bắc rặt. Chị cho biết: Con mẻ ở đây yếu lắm, không khỏe như con mẹ! Mẻ Mỹ không ăn cơm thiu, cơm thừa như bên nhà được. Chị phải nấu cháo đặc, để nguội cho mẻ ăn và giữ vệ sinh cẩn thận cho hũ mẻ trong tủ bếp, nghĩa là nơi không nóng cũng không lạnh, không sáng cũng không tối, thì mẻ mới trắng được. Mẻ bị vàng nghĩa là có qúa nhiều con mẻ chết trong đó nên khi nấu lên ăn có hậu đăng đắng. Té ra mẻ vàng thì đắng mẻ trắng thì chua, mẻ chùa thì… tôi không biết! (Các ông cười cái gì? Đừng có mà ăn chay nghĩ mặn!)”

“Đúng là đồ con mẻ…”

“Nhưng không có con mẻ thì cũng phiền lắm cơ! Tôi tự gầy cho mình một hũ mẻ, trắng phau nhá! (Đừng có cười. Để tôi nói) J Tôi nhớ da diết cái mùi rựa mận ăn với bún tươi – khi mà ngày nào cũng xoay quanh mấy món chán chết được. Tôi lại ra tay cho vợ được dọn dẹp nhà bếp, nhưng lần này thành công mỹ mãn. Tôi đi chợ mua giò heo nhưng chỉ mua móng thôi, không mua phần trên đầu gối, lắm thịt thì ngon gì? Phải gân gân sần sật… mới đã! Vợ tôi dặn với theo: ‘mua giò Việt Nam ít mỡ, không lông anh nhá!’ Tôi thì không hảo ngoại nhưng nghĩ mua giò bên chợ Hồng-Kông ngon hơn, tôi thấy hệ thống tủ lạnh ở chợ ấy có uy tín! Phần các bà sợ bên chợ Hồng-Kông bán mắc hơn bên chợ Việt Nam chút đỉnh. Ai dè, giò Việt Nam không mỡ không lông thật các ông ạ! Giò Hồng-Kông lông không với mỡ, phát ớn. May là tôi không ghé chợ Mỹ! Chẳng biết còn kinh đến đâu?

Đem về, tôi cho lên lò nướng, mở lửa đùng đùng mà chẳng thấm vào đâu, chờ đến bao giờ nó mới cháy vàng như thui đây chớ! Tôi lấy cái đèn khò hàn máng xối, tôi khò lũ móng heo cháy vàng ươm, thơm nức mũi. Vợ tôi đem rửa nước, bà ấy lấy cục chùi soong, chùi nồi, chùi sạch đến trắng ra như chưa thui. (Vợ tôi mà không phá tôi thì bà ấy chịu không được! Hay cốt ý trả thù lần trước thì còn trong nghi án.) Tôi giận run vì tất tần tật đã công giã tràng. Tôi đành khò lần nữa, lần này tôi khò cho cháy đen luôn, khi rửa lại nó vàng sỉn ngả sang màu hơi nâu là vừa, các ông ạ! Thơm lắm.

Tôi ướp tí muối, đường, bột ngọt, tiêu trắng, cooking wine rồi để đấy. Đi xem hũ mẻ thì trắng có trắng, tôi khều một tí đưa lên kính hiển vi, cộng quân ngo ngoe thấy ớn! Bọn nằm vùng cỡ nào cũng lọt vô được bí mật quốc gia. Tôi phân vân vì lâu qúa không ăn mẻ, chả biết có sao không đây? Tôi cho chúng vào máy xay sinh tố, bấm nút năm phút trả thù! Chúng nó chóng mặt cả lũ khi tôi đưa lên kính hiển vi lần thứ hai hay chết tan xác hết bọn phỉ rồi thì phải! Tôi biết chúng đã chết tan xác trong ấy nhưng nhìn đỡ sợ. Tôi lược lại, bỏ xác nhưng xác cũng chẳng còn vì cái máy xay sinh tố nhà tôi nhìn vào đến bốn lưỡi dao-thấy ớn. Tôi bắc nồi giò ướp sẵn lên bếp, đổ nước mẻ vào nấu. Vợ tôi giã riềng bằng cối đá, tôi nhớ khi xưa ăn rựa mận ưa bị lảm xảm trong miệng bởi xác riềng giã trong cái nón sắt của lính, thế là tôi cho riềng vào máy xay, xay và lọc vài tua thì loại được xác riềng ra khỏi món tổng hợp. Khi đổ nước riềng vào nồi giò đang sôi với mẻ, hơi rựa mận bốc lên ngay, các ông ạ! Tôi chỉ còn việc ngồi canh cho giò chín tới (cứng qúa ăn không được mà mềm qúa thì ngán).

Trong nhà, vợ tôi luộc bún. Tôi ngồi đọc báo ngoài sau hè cũng là ngồi canh lửa, vớt bọt. Hình ảnh xa xưa lại thoáng hiện những gương mặt trong gia đình. Những anh em tôi khi còn nhỏ cứ tò tò sau lưng ông cụ nhà tôi chờ từ chó chết đến chó chín! Bố tôi chỉ ra tay khi nấu thịt chó chứ thức ăn ngày thường thì mẹ tôi nấu. Bố tôi có thói quen khi mời bạn bè về nhà thì vợ con trở thành những người phục vụ, nhưng hôm nào ông cụ nấu cho vợ con ăn thì dứt khoát không tiếp bạn bè. (Dù họ có vô tình đến, cũng chỉ mời ly nước trà rồi tiễn khách chứ không mời ở lại ăn như người trong Nam thường dùng câu: “gặp bữa…” Bố tôi không đi đâu trong ngày phục vụ vợ con dù bất kỳ ai rủ rê, mời mọc).

Tôi nhớ mãi hình ảnh anh em tôi được ngồi bàn ăn bảnh chọe như người lớn, bố mẹ tôi thành hai người phục vụ chứ không phải con nít thì múc cho một tô là xong! Bố mẹ tôi tôn trọng con nít ngang với người lớn là một tiến bộ bị lên tiếng nhất so với những gia đình chú bác của tôi. Ở nhà chú bác, con nít chỉ được ăn sau khi dọn bàn của người lớn ở nhà trên xuống-còn gì ăn nấy! Ký ức không đẹp ấy đeo đẳng cả đời cô em họ tôi. Bây giờ cô ấy dọn bàn cho con nít ăn trước, còn gì người lớn ăn sau để trả thù tiền kiếp, cũng là một cách trả thù ngạo mạn đấy chứ! Tôi rất thích được cô em họ gọi mời ăn uống vì nó làm sống lại hình ảnh gia đình tôi thuở xưa.

Tôi vẫn thấy mùi hương chưa phải lắm! Chưa đúng mùi rựa mận nên bàn với vợ. Nhà tôi lần này không phá tôi như lần trước, bà ấy lấy hũ mắm tôm cho vào một muỗng (muỗng cà phê), mùi bốc lên ngay! Y chang. “Mươi phút nữa là giò vừa ăn đấy anh ạ!” Chẳng biết mùi rựa mận có làm cho hương sắc thêm đậm đà mà ăn nói ngọt ngào đến lạ! Bà ấy đi dọn bàn ăn tử tế, trông xom tụ lắm! Tôi nghĩ gì không biết? Bảo nhà tôi dọn cúng bố mẹ trước đi rồi mình ăn.

Khi mùi gỉa cầy quyện với mùi hương (nhang) trên bàn thờ, tôi thấy hãnh diện hơn thành qủa đạt được trên nước Mỹ! Tấm lòng đối với tiền nhân mới đích thực là cái cần – hơn cái có. Đầu óc khoa học kỹ thuật trong tôi thì bảo là các cụ đã là cát bụi vô tri nhưng lòng thành thì thấy hai cụ đang chén gỉa cầy hể hả. Tôi tự hỏi lại mình: Đâu là chân? Đâu là gỉa? Đi tìm sự rạch ròi giữa chân và gỉa để làm gì khi đời sống vốn dĩ hư-thực. Các ông thấy sao?”

“Vấn đề là cuối cùng thì chị nhà phải lồng mấy cái bịt ny-lon?”

“Không. Lần này ngon lành. Nhà tôi không nể mặt ông bác sĩ cảnh báo cholesteron gì nữa! bà ấy làm tới thấy thương luôn. Tôi dấm dẳng được vài miếng thấy ngon, no cơn thèm hơn là no bụng. Tôi hiểu ra một điều là ký ức cũng biết đói chứ chả riêng gì cái bao tử. Nếu các ông muốn thử thì tôi cũng không tiếc công đâu. Tuần sau nhé?”

“Để chúng tôi xem lại phần bảo hiểm nhân thọ cho kỹ, chắc ăn rồi ăn gỉa cầy tiên sinh nấu sau vậy!”

“Ngon thật đấy! Nhưng tôi trình bày với các ông để nghị sự xem mình có nên gọi món ấy là “Giò heo nấu mẻ” cho nó chính xác với nó! Tại sao phải gọi là gỉa cầy trong khi nó là giò heo. Giò heo có cái ngon khác với thịt chó. Người Việt thì dù ở đâu cũng cứ tự hào mình là người Việt, sao phải mang tên Mỹ để nghe lủng củng cái lỗ tai người khác? Bộ tên Mỹ thì con người có gía trị hơn sao? Các ông tưởng tượng ngài Bob họ Vũ thì ra cái thể thống gì? Còn gì là học gỉa!”

Tiên sinh diễn thuyết tới lên đèn mới ra về, vài tuần sau tiên sinh triệu tập khách thưởng ngoạn toàn học gỉa với tiên sinh, chẳng có học thật nào góp mặt nhưng món giò heo nấu gỉa cầy của tiên sinh thì ngon thật. Nên mọi người đồng ý cho tiên sinh chính thức gọi món ấy là: “giò heo nấu mẻ” chứ không gọi là gỉa cầy để mất uy-tín-con-heo.

Phan

Thêm bình luận Tháng Bảy 6, 2007

Tháng sáu nhớ…bài ca không quên

Tháng sáu. Đơn giản là sáu tháng đầu năm đã qua mà vẫn chưa làm được gì. Sáu tháng cuối năm sẽ làm được gì đây? Hay rồi cũng như sáu tháng đầu năm! Thời gian cứ lặng lẽ đánh cắp tuổi đời của chúng ta đi, có phiền trách thì nó trả cho mớ tóc bạc để ngồi bàn trưởng thượng trong những cuộc họp mặt thân quyến. Mới ngày nào, trong nhà đám giỗ, tôi thuộc loại coi xe hay chạy đi mua nước đá cho người lớn uống bia. Bây gìơ đã có cháu gọi bằng ông Út. Bọn nhỏ lăng xăng như tôi ngày xưa, bao gìơ chúng nó gọi nhau về ăn giỗ ông Út?!

Sáng nay thức dậy, ngồi với ly cà phê thường ngày. Sáng tháng sáu chưa gì đã hâm hấp nóng. Hệ thống tưới cỏ tự động, làm công việc của nó đúng gìơ như một người công nhân gương mẫu. Nhờ hơi nước bay bay mà nghe mát mẻ, tinh thần sảng khoái. Tháng sáu với tôi nhiều kỷ niệm vì tôi có nhiều người bạn cùng sinh tháng sáu. Nếu trừ tôi ra thì những người sinh tháng sáu đều trai tài; gái sắc. Tháng sáu có ngày Father’s Day. Tôi ngồi nghe những âm xưa trong tiếng lá xào xạc với chút gío đầu hè sáng sớm. Chợt nhớ hai câu: Tâm dụ phụ thân sinh bất lão/ bất ly phụ tử khả vô sầu. Muốn viết hai câu nữa cho thành bài tứ tuyệt, nhưng tới đó bí… và đã hơn hai mươi năm. Phải chăng khi cảm xúc qua rồi thì cảm tác cũng khó! Ngồi đọc lại đoản văn cũ mà tôi đã viết năm ’82 về người cha không còn nữa trong cảm nhận về ơn nghĩa sinh thành.

Đêm. Tôi vô bệnh viện với cha tôi đã nằm trong đó cả tháng nay. Làm vệ sinh cho cha tôi xong. Cho ăn, uống thuốc… báo cáo tình hình gia đình, đài BBC nói gì?… Cha tôi yên giấc trong tấm đắp phập phồng làn hơi yếu ớt. Nhìn mấy ông gìa tỉnh lẻ chung quanh thiếu người chăm sóc, còn thảm thương hơn, khó ai cầm lòng cho đặng. Tôi giúp ngưới này, lại không bỏ được người kia. Hỏi han người nọ… cuối cùng mệt phờ mới hiểu sao y tá ở bệnh viện Việt Nam ít cười! Tôi đi tìm không khí để thở.

Ngoài trời đã tối đen như mực, mặt trời lặn tự bao gìơ? Màn đêm buông xuống phố phường một màu đen ảm đạm, những bóng cây me cổ thụ rộng tàn đu đưa tí gío đêm trên tầng cao. Không gian ngộp thở của đường phố đã trở lại yên ắng phần nào cho những sinh hoạt về đêm của lề đường không đèn. Những cô gái ăn sương đã tề tựu dưới hàng me đêm. Nói cười, chửi rủa nhau ơi ơí… Vài chiếc xích lô đạp tạt qua – chóng vánh rồi đi. Tôi ngồi trên lan can lầu một của bệnh viện vì trong phòng mùi ê-te nồng nặc, mùi bệnh nhân nằm lâu – ít tắm, mùi toilet thiếu nước dội và người lau chùi, mùi nước tiểu nồng nặc hơi thuốc tây… thật khó phân biệt sinh khí và tử khí nơi đây.

Nhưng cũng không bằng tiếng rên rỉ của những người gìa bệnh hoạn nghe qúa thê lương so với tuổi đời qúa trẻ của tôi. Thần Chết cứ lởn vởn đâu đây để cắp đi những sinh linh thừa thãi trong cuộc sống bon chen từ miếng ăn, giấc ngủ… từng ngày.

Tôi nghĩ dại. Chết như mấy người lính trong phim Thế chiến thứ hai: băng ngang giao thông hào, trúng viên đạn rồi lăn ra chết vậy mà khỏe hơn chết gìa, chết bệnh… chết trong cô đơn như ông Tư đêm qua. Con gái ông tên Lựa (chả biết ông Tư lựa kiểu gì mà cô con gái đen nhẻm như Miên). Lựa nhờ tôi coi chừng ông Tư cho cô ấy về quê ở Rạch Sỏi, lấy thêm tiền lên mua thuốc, tiền ăn ở, tiền viện phí… Chắc nhà không có tiền sẵn nên cô ấy phải chờ gia đình xoay xở. Ở đây ông Tư đi lặng lẽ không người thân. Tội nghiệp hết sức. Tôi lại nhớ Sư cô ngoài Chùa sư nữ mà mẹ tôi ưa đi, Sư cô nói: “Sự chết thanh thản hay vật vã là bằng chứng của sự sống lương thiện hay gian ác!” Sư cô nói lúc tôi còn nhỏ nhưng nhớ lắm vì lần đó ông Hai Dữ trong xóm làm nghề thọt tiết heo. Ông rống lên như heo bị thọt tiết mấy ngày mà không chết được. Người ta phải lấy con dao hai lưỡi mà ông đã thọt tiết heo cả đời, gỉa bộ thọt sát bên cổ ông, lưỡi dao cắm xuống giường. Hứng cái xô đựng tiết dưới giường y như ông đã giết những con heo trong suốt đời ông. Ông Hai Dữ mới chết được. Gia đình ông thôi làm nghề ấy nữa.

Tôi suy ra ông Tư là một người hiền. Chiều qua tôi xả khăn ướt lau mình cho ông, xin thay tấm trải giường, nhưng người ta nói chưa tới ngày thay. Hình như nơi đây. Khi bệnh nhân chết rồi, người ta mới thay tấm trải giường luôn thể, cho người mới bớt sơ! Tôi thay đồ sạch cho ông Tư, cho uống thuốc… Ông không ăn bữa chiều của bệnh viện, tôi linh cảm được ông khó qua đêm. Tôi khuấy cho ông ly sữa, là tôi ăn cắp của một bệnh nhân khác – vào đây đã dăm hôm nhưng chưa chào hỏi ai một câu – gần đất xa trời rồi. Gia đình ông ta người Tàu, chắc có tiền nhưng người thân sợ lây nhiễm nên không ai vào chăm nom. Cứ bỏ cho y tá với ít tiền ‘bồi dưỡng’ như mướn con ở. Họ lấy tiền tươi rói – xỉa xói ai hay? Người nhà quay lưng với người thân thì họ cũng quay lưng với bệnh nhân. Sống chết mặc bay. Lương y như từ mẫu. Mà “từ” là “bỏ”.

Nói đến sữa thời ấy là một thứ xa xỉ, đắt đỏ. Không phải ai cũng có tiền mua. Trộm cắp như rươi trong bệnh viện. Gặp hoài hình ảnh một người gìa đi không vững trên đôi chân, vịn thành giường lần từng bước vào toilet nhưng nách không rời hộp sữa đặc có đường. Chẳng phải đem vào pha chế gì trong đó. Chỉ vì để ngoài thì hộp sữa không cánh mà bay. Trộm cắp nơi nơi… ngời ngời toàn trộm cắp. Cả nước là ăn trộm. Tôi cũng là một thằng ăn trộm làm nhơ danh Lương Sơn Bạc. Dù không trộm cho mình, trộm của người giàu dư gỉa chia cho người nghèo thiếu thốn – theo luật 108. May là cha tôi ở tù về, quan cha tự khẳng định mình: “Tau thuộc thành phần không thể cải tạo… nên chỉ uống cà phê đen. Đời đen như mõm chó rồi con ạ! Uống sữa chỉ thêm trắng lòng.”

Ông Tư uống ly sữa tôi ăn cắp được và pha cho ông như Phan Thanh Giản uống thuốc độc, thều thào dặn tôi nói lại với con cháu ông: “Ráng đưa ông về quê chôn cất”. Ông đi theo Phật lúc nửa đêm lặng lẽ đến tội nghiệp cho một đời người nông dân hiền lành. Lúc nhắm mắt cô quạnh không thân nhân, một thằng bá vơ – tôi, nhỏ giọt nước mắt cho phận người hơn là tình thân tôi có với ông.

Đêm nay về khuya lành lạnh, lại một người ra đi. Mấy người y công đẩy một bệnh nhân vừa chết xuống nhà xác. Tôi đứng nghiêm, cúi đầu, tiễn biệt người qúa cố. (Một thói quen từ bài Công dân giáo dục lớp ba.) Người trung niên ngoài ba mươi đi sau lặng lẽ, nấc lên tiếng lòng thê thiết: “Má ơi…” nghe não lòng. Không biết là vợ hay em gái anh ta đi sau, chị cúi đầu chào lại và cám ơn tôi đã trang nghiêm và thành kính chào tiễn biệt má của chị. Tiếng chị văng vẳng theo hành lang xa dần: “Thôi anh! (đừng khóc nữa) Bình tĩnh đi để lo đưa má về chôn cất”. Cũng ngộ – hai người này: Nữ bình tĩnh hơn nam. Tôi gỉa tưởng nếu là cha tôi… Tôi đang ở đây một mình. Rồi trách mình nghĩ dại. Nhưng nếu là mẹ tôi… Tôi cũng như anh kia thôi. Con gái thương mẹ kiểu chia sẻ, con trai thương mẹ thầm lặng hơn. Tiếng lòng con trai đã ứa ra là hết rồi.

Hành lang bệnh viện về khuya, sương đêm rờn rợn da người. Khơi khơi tôi nghĩ về bà gìa mới chết. Một mẹ cùng hai con. lê la trên đường mòn… Bây gìơ chỉ còn hai con. Mồ côi liếm lá đầu đường. Nghĩ về người mẹ di cư của tôi – canh cánh bên lòng quê cha đất tổ – mù khơi. Nghĩ về người-mẹ-Việt-Namï. Tôi chẳng thấy người mẹ nào sung sướng. Toàn những người mẹ âm thầm theo cách riêng của mình để nuôi dạy đàn con. Khi con lớn thì mẹ đã gìa. Sống như cái bóng không còn che mát được cho ai nên ưa bị bỏ quên theo năm tháng. Chợt một ngày biếng ăn, lười nói… Mẹ thầm lặng ra đồng coi như xong một kiếp người không may – trời sinh ra làm Mẹ. Đời người phụ nữ quê tôi. Không nghĩ thì thôi. Nghĩ đến là muốn ứa nước mắt.

*

Ngoài bờ tường bệnh viện nhộn nhịp sự sống về đêm. Những câu thô lỗ giọng nam, giọng nữ cứ réo rắc như bản tình ca hè phố rồi theo màn sương đêm lắng dịu. Tiếng con nít khóc khàn do đói và vòi mẹ làm tôi chú ý. Ở gốc me, người mẹ trẻ đang ngã gía với khách hàng là tên ma cô đầu đường xó chợ nào đó. Sự thỏa thuận miễn cưỡng diễn ra chóng vánh, họ tự nhiên hành lạc như thú hoang lạc đàn. Đứa bé cứ khóc, bò quanh chân họ. Tên ma cô đá nó, nó khóc ré lên. Mẹ nó xô tên ma cô ra, cãi vã… Hai bên lại xáp vô bản hợp đồng theo luật cung cầu của Tạo hóa trừng phạt con người. Đứa bé cứ khóc, bò quanh như người giám thị tinh tường. Một chứng nhân lịch sử của nước mất nhà tan. Thời kỳ qúa độ của Sàigòn đổi chủ. Phất phơ lá cờ máu trong sương đêm bên ngôi nhà ai vừa bị đánh tư sản hay đã vượt biên gì đó. U hoài.

Tôi ngồi nhìn sinh hoạt nửa đêm dưới lề đường Xã hội chủ nghĩa và viết đúng lý thuyết đã học: “Văn học phải phản ánh trung thực đời sống. Văn học phải phục vụ đời sống của nhân dân lao động…” Tôi viết: … người mẹ đĩ da xanh tóc rối. xỏa xuống đời bóng tối mây mưa. lấm thân còn bị lọc lừa. nhân danh thời cuộc có chừa ai cho. mẹ ngồi đón khách co ro. đêm về ong bướm tò mò tìm hoa. thượng vàng hạ cám trẻ gìa. cung cầu theo luật được là trao tay. bằng lòng kẻ được người may. phải đứa mặt dày ăn quỵt còn la. nhân gian một cõi ta bà. mẹ ngồi câu độ canh tà hiện sinh. lẳng lơ cúc áo vô tình. hay là cố ý khoe bình sữa tươi? thương người mẹ đĩ đôi mươi. bỏ con không nỡ nên người bán thân. con bò con khóc quẩn chân. ma cô tức giận bớt phần tiền chơi. chửi nhau rân một góc trời. đù má đù mẹ đã đời thằng coi. tính không ra kẻ thiệt thòi! mai đứa bé lớn có đòi được không? vì ai mẹ đĩ chổng mông. thiên hạ là chồng con cái không cha. màn trời chiếu đất không nhà. bán trôn nuôi miệng nghĩa là vinh quang. phất phơ cờ đỏ sao vàng. dật dờ váy đĩ cởi nàng bán trôn. gío lên thốc mộ oan hồn. âm binh các đảng thả hồn nỉ non. người coi con mắt mỏi mòn. kẻ mua chung cuộc thấm đòn giang mai. Chúa Trời, Đức Phật là ai? bỏ người mẹ đĩ bên ngoài vọng môn. lời ru đêm vắng mỏi mòn. à ơi! con ngủ cho tròn tuổi thơ. mẹ ngồi thân xác vật vờ. bên đời hiu quạnh bóng mờ ôm con. lòng đêm ôm ấp Sàigòn. bút bi bơm mực mất còn giấy thô. đường về âm phủ mơ hồ. chữ nghiêng chữ ngả cơ đồ Việt Nam.

Hiện thực hiện lên trang giấy của tôi. Tôi đang suy nghĩ về tính hiện thực Xã hội chủ nghĩa trong văn thơ cách mạng, trong ký sự của mình. Tiếng ồn bát nháo đánh thức không gian yên ắng về sáng. Chiếc xe vận tải cũ kỹ mang hàng chữ: “Xí nghiệp quốc doanh vận tải số 5”, chạy ì ạch trên đường như chuyến xe đời từ từ thắng lại. Công an từ trên thùng xe nhảy xuống. Tiếng la hét khủng bố hòa vào tiếng hét la bị khủng bố. Người người chạy toán loạn. Mẹ đĩ bật dây từ gốc me bên đường, bị kẹt đứa con nên không nhanh chân được. Bị tóm cổ, tống lên thùng xe. Công an Cộng sản không bắt con nít theo Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay vì chút tiền bán trôn nuôi miệng đang ở trong lưng quần mẹ đĩ. Con nít không có và giữ tiền, bắt nó làm chi. Tiếng gào khóc thất thanh của mẹ đĩ từ van nài đến khóc lóc “con tôi”. Cuối cùng là chửi rủa khi người ta bị ức hiếp đến đường cùng. Chửi rủa làm cản trở nhân viên công lực đang thi hành nhiệm vụ là phản độngï. Mẹ đĩ bị đánh một cái bá súng AK vào lưng. Mẹ oằn người như con chó trúng cây đòn gánh của bà bán rong, rên ử ử… rồi im bặt trong thùng xe khi bị tống vào như người công nhân vệ sinh ném con mèo chết bởi xe cán vào chiếc xe ba gác be ván ép cao đến Thiên đình – cuối thế kỷ 20 – chỉ có ở Việt Nam. Chiếc xe chạy đi như xe bắt chó mới tóm được vài con, phải ra Ông Tạ gấp cho kịp chợ. Đứa bé khóc thất thanh khi bị dứt ra khỏi hơi ấm của mẹ. Nó bò lên Niết bàn hay bò về Âm phủ?! Nó bò tìm hơi ấm và lời ru của mẹ với giấc mơ làm người không thành. Gốc me gìa không ôm ấp nó nữa vì thần me đã vượt biên nên nó khóc. Bơ vơ. Lạc loài. Còn từ ngữ nào tàn độc hơn để nói hết thú tính của những người cộng sản vô lương! Đánh đập phụ nữ, bạc đãi trẻ em. Họ ăn lông ở lỗ trong rừng nhiều năm nên tính người thoái hóa. Họ chỉ còn thú tính bản năng trong xã hội con người. Họ đột ngột ra thành phố sau chiến thắng, hành xử như bầy sói hoang với dân đen như bầy cừu đã bị người chăn cừu bỏ lại trong cái nông trại nát bét mà ông không còn thiết tha hai từ: “ông chủ”.

Chiếc loa phóng thanh trên cột đèn trong bệnh viện báo sáng bằng giọng hát Cẩm Vân: “…Có một bài ca không bao gìơ quên, là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên… có một bài ca không bao gìơ quên, là lời mẹ ru con đêm đêm… bài ca tôi không quên tôi không quên… tháng ngày vất vả…”

Loa phát thanh chuyển sang phần tin tức buổi sáng – chả có gì đáng quan tâm. Những đồng nghiệp của mẹ đĩ sau một hồi chạy toán loạn đã trở về chốn cũ. Người đàn bà nào đó ẵm đứa bé tội tình trong muôn lời rủa xả bọn công an. Nó biết điều và thân phận nên rúc vào ngực người đàn bà tìm hơi ấm. Nó ngủ ngoan trên tay người đàn bà ấy – chờ sáng. Nhưng mặt trời không bao gìơ mọc cho tương lai của nó dù sáng mai mẹ nó sẽ được thả ra sau khi người ta đã lấy hết những đồng tiền bán trôn nuôi miệng, nuôi con của mẹ đĩ. Những đồng tiền dơ bẩn mà linh thiêng, lẽ ra để mua gì ăn cho nó và mẹ nó. Những người công an béo tốt được nuôi sống bằng vốn trời cho của mẹ đĩ, là Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Từ “vĩ đại” đi kèm với tên lãnh tụ, lẽ ra phải nhường cho mẹ đĩ. Người mẹ vĩ đại nhất trong tư duy hai mươi tuổi của tôi.

Xét về mặt xã hội thì không ai coi trọng mẹ đĩ, nhưng có mắt thấy tai nghe thì mới thấy sự vĩ đại của tình mẫu tử. Mẹ đĩ có thể không biết cha của đứa bé. Nhưng nó. Đứa con thơ là nhúm ruột của mình nên yêu thương bằng tình mẫu tử thiêng liêng. Hơn những người giàu có, trí-thức-thời… tư bản đỏ mới lên ngôi ở Sàigòn – thời ấy. Cho con đi du học Đông Aâu để lấy cái tiếng có con du học nước ngoài để lòe thiên hạ, khẳng định mình thuộc giới thượng lưu đỏ Sàigòn, hơn là thật sự chăm lo cho tương lai con cái. Sự thành đạt của con cái ở nước ngoài phản cảm với cái tôi bịp bợm của người mẹ thành khoảng cách mẹ-con, không còn dung hợp. Giải thích ngụy biện bằng lời tên thầy bói chết bầm, trôi sông lạc chợ, ăn nói vô lương: “Mẹ con chị không hạp tuổi ở gần”. Tình nghĩa mẹ-con có thế thôi. Nên thời buổi sinh ra những đứa con mồ côi khi cha mẹ còn sống! Sự giàu sang bất chính có cái gía của nó.

Cha tôi rọ rậy trong phòng. Tôi vô giúp ông đi tiểu, uống nước. Trở ra với những giòng chữ rất thật của tôi trên tờ giấy mềm vì ướt hơi sương. Trời hừng đông như không có gì đêm qua. Tôi cất mảnh giấy vào túi áo và đến trường. Những nụ cười trên môi của mấy cô bạn học – lạt nhách. Sau khi điểm danh theo thông lệ. Tôi trốn lên thư viện. Ngủ không được, viết không được. Viết thật như tờ giấy trong túi áo tôi thì không được chấp nhận thậm chí còn bị đi tù. Nhưng viết láo toét thì lương tâm để đâu? Sống trong thời buổi lương tâm không bằng lương thực. Nhiều thầy cô đáng kính trước đây đã phải vứt lương tâm vô thùng rác vì miếng cơm manh áo. “Người dạy học phải có cái tâm nhân ái, dạy văn là dạy làm người – học văn là học làm người.” Nguyên tắc giáo dục là như thế! Nhưng người dạy Văn nay đâu? Người học văn mai đây không thoát vượt biên thì tương lai vô định. Nghĩ đến hai chữ “tương lai” mà ngán ngẩm.

*

Nhiều năm qua rồi. “Dòng đời” là từ ngữ vừa hay vừa đúng trong tiếng Việt. Dòng đời trôi chảy mãi với tháng năm. Tôi vẫn cất giữ những năm tháng dại khờ, trong đó có Mẹ đĩ như một kỷ niệm không quên. Cất giữ tiếng hát Cẩm Vân với “bài ca không quên”. Người ca sĩ có gương mặt buồn như thời đại và đất nước Việt Nam sau “giải phóng”.

Nơi này, người ta nghĩ ra ngày Mother’s day để vinh danh, tưởng niệm… người Mẹ – một hành vi nhân bản của loài người tiến bộ. Từ ngữ Cộng sản mà lại đúng trong xã hội Tư bản. Tôi không quên được người mẹ vĩ đại mà ít nhất một lần tôi đã gọi người là Mẹ đĩ.

Mỗi năm trên quê hương của sự tôn trọng phụ nữ và con nít, ngày Mother’s day lại nhắc nhở tôi chốn quê nhà: Không biết người Mẹ đĩ năm xưa có còn trên cõi đời vì hành nghề ấy thì làm sao tránh khỏi những căn bệnh xã hội – chết người. Đứa bé năm xưa đã bò được tới đâu trong xã hội ‘bottom line’ của nó? Lịch sử rồi qua đi, con người, thời đại cũng qua đi. Tôi lỡ mang ký ức một ‘chứng nhân lịch sử’. Hy vọng tôi là chứng nhân cuối cùng của lịch sử tối đen nơi quê nhà.

Mỗi năm. Nhìn, nghe các con tôi rù rì rủ rỉ trong phòng – khóa cửa, để bất ngờ đem ra cho mẹ một món qùa. Tôi thầm cảm ơn Thượng Đế đã ban phát ân sủng xuống gia đình tôi. Trong hạnh phúc nhỏ nhoi của một gia đình tha phương cầu thực. Người chủ gia đình vẫn còn âm ỉ trong sâu xa một ký ức không quên. Ký ức của một chứng nhân lịch sử. Tháng sáu cho cha tôi chỉ là đọc lại một thời đã qua. Tôi có người cha: “Đời đen như mõm chó rồi con ạ! Uống sữa chỉ thêm trắng lòng.”

Phan

Thêm bình luận Tháng Bảy 1, 2007

Lẩm cẩm

Móc họng, móc hàng, móc túi

Mở đầu chuyện lẩm cẩm kỳ này là một chuyện vô cùng lẩm cẩm nhỏ xíu, ở một thành phố không lớn không nhỏ. Tuy là chuyện nhỏ, nhưng từ đó bạn có thể suy luận ra những chuyện lẩm cẩm tương tự như vậy ở những thôn xóm, thậm chí ngay ở những thành phố khác. Có những chuyện “ấm ớ hội tề”, vừa tức, vừa cười ra nước mắt. Xin vào đề ngay chuyện vặt này trước rồi chuyện “ấm ớ hội tề” bàn sau.

Chửi thề bâng quơ cũng bị phạt tiền

Số là vào ngày 18-6 vừa qua, ông Nguyễn Quốc Hưng, sinh năm 1962, ở ấp Bào Sơn, xã Lý Văn Lâm, TP Cà Mau đi qua con đường thuộc khu đô thị mới Hoàng Tâm, xã Lý Văn Lâm. Thấy đường sình lầy, ông Hưng bực mình chửi đổng, không ngờ sáng hôm sau ông bị mời lên trụ sở Công an xã viết bản kiểm điểm.

Người dân ai cũng biết, khi bị gọi lên xã “làm kiểm điểm”, nếu làm “không đạt yêu cầu”- tức là không đúng ý các quan xã- thì cứ ngồi đó mà viết bằng thích. Viết cho đến bao giờ “đạt yêu cầu” mới thôi. Vì thế nên hầu hết người dân, nhất là những người dân ở nông thôn và những thành phố nhỏ, muốn cho xong chuyện đời, viết đại cho được việc, còn về, lo làm ăn. Kinh nghiệm dạy rằng có những người ngồi viết cả ngày chưa xong, mai lên viết tiếp. Viết cho lòi ra một cái tội mới yên. Dù người dân có tội hay không thì “ủy ban xã” cũng nắm đằng chuôi. Rõ ràng anh “tự khai” là anh có tội rồi đây nhé. Cái kiểu “tự khai”… theo kiểu bắt buộc như thế này là chuyện hàng ngày ở rất nhiều cơ quan quyền lực. Và sự đối phó của người dân là “khai cho xong” mà không ý thức được rằng “bút sa gà chết”.

Vì thế, ông Hưng đã khai bừa rằng “chửi tục như vậy là sai”. Tưởng vậy là xong, ông yên tâm ra về.

Bất ngờ, đến ngày 19-6, ông Hưng lại được mời lên để nhận quyết định phạt 100 ngàn đồng vì cái tội chửi thề. Ông Hưng ngẩn người, không thể ngờ lại bị khép vào cái tội chửi thề giữa trời như vậy. Ông đến các cơ quan kêu oan vì… “tôi chửi đường xấu chứ đâu có chửi ai đâu”.

Giải thích về điều này, một nhân viên công an xã Lý Văn Lâm lập luận: “Đường chưa hoàn thành; vả lại đường dơ hay không dơ thì là chuyện… của người ta” và xác định ông Hưng chửi như vậy là chửi con người, mà không ai khác là “nhà đầu tư” khu đô thị mới Hoàng Tâm!

Chẳng hiểu nhà đầu tư khu độ thị này có họ hàng hang hốc gì với anh công an này hoặc có là bà con anh em gì với các quan chức xã này mà anh công an xã Lý Văn Lâm bảo vệ kỹ thế? Và cũng chẳng hiểu anh công an xử phạt theo luật lệ nào, quyết định nào? Nếu ai chửi thề cũng bị phạt thì cứ về ngay TP. Sài Gòn hoặc giữa thủ đô Hà Nội mà phạt, chắc mỗi ngày thu được cả tỉ đồng và cũng nên mừng cho nền văn hóa Việt Nam.

Đọc chuyện này, một ông già ngồi ở quán cóc đầu xã thở dài mà phán rằng: “không ngờ thời bây giờ mà còn… hội tề”. Nghe ông nói, nhiều người không hiểu “hội tề” là có nghĩa gì.

Ôn cố tri tân về cái “hội tề”

Thời chiến tranh Việt Pháp, vào khoảng những năm 45-54, có khá nhiều địa phương làng mạc ở miền Bắc sống trong vùng nhá nhem giữa hai nền cai trị. Có thể nói rõ hơn là ban ngày thì binh sĩ Pháp vào làng cai trị nên đặt ra một ủy ban như “ủy ban hành chánh” để dễ dàng điều khiển. Bắt dân nộp tre, sửa đường , đôi khi phải đóng cả thuế. Cái “hội đồng nhân dân” đó được gọi là “hội tề”.

Thế nhưng buổi tối thì Việt Minh lại mò về làng, lúc đó quyền cai trị lại thuộc về họ. Hồi đó thường là mấy anh du kích trong làng. Ban ngày lặn mất tăm, tối mò về. Dân mới làm đường xong, du kích bắt phá đường. Ngày mai lính Pháp lại bắt làm lại. Cái trò chơi ú tim này cứ tiếp diễn và người dân dưới quyền anh “hội tề” cứ nghe theo cả hai bên. Và muốn giữ mạng sống cho cả làng, hội đồng này chủ trương “triệt để trung lập”. Tây hỏi ai phá đường? Ai là du kích? Ai theo Việt Minh (hồi đó còn gọi là Vẹm)? Bèn trả lời ú ớ: “không biết, nghe đâu như nó chạy sang làng bên cạnh rồi”. Việt Minh hỏi ai đã chỉ điểm cho Tây? Ai chống phá cách mạng? Ai còn tiền còn vàng, còn giấu thóc gạo? Bèn thưa “Ai có thì họ giấu kín lắm, dưới ao, ngoài ruộng, ai mà biết”. Bất cứ chuyện gì, bên nào hỏi cũng ú ớ không có, không biết… Mỗi bên ra một luật lệ riêng, “hội tề” làm theo tuốt, nhưng cái gì cũng làm nửa vời, cho nên hồi đó người ta nói là “ấm ớ như hội tề”.

Móc họng nhau đấy

Ngày nay có những ủy ban cũng áp dụng những thứ luật lệ linh tinh như thế. Không biết có nên gọi là “hội tề” không? Chửi thề mà bị phạt đã là một chuyện lạ, phạt tới 100 ngàn đồng thì quả là quá nặng đối với một người dân Cà Mau. Mỗi ngày đi làm mướn, đầu tắt mặt tối, được vài chục ngàn, trừ tiền ăn, tiền nuôi vợ con, còn được vài ngàn dành dụm phòng khi đau ốm, trái gió trở trời đã là may. Phạt như thế là cướp mất cả tháng tiền mồ hôi nước mắt của dân lao động đấy. Và chửi thề một con đường xấu, có động đến ai đâu. Nếu phạt được ông Hưng, điều đó nghiễm nhiên trở thành tiền lệ. Vô phúc mà chửi thề đúng con ông chủ tịch xã chắc… nát xương!

Phạt cái kiểu này không khác gì “móc họng” nhau!

Bạn thử suy nghĩ xem, liệu còn bao nhiêu kiểu phạt lẩm cẩm như thế nữa ở những nơi khác? Cho nên về VN, có đi Cà Mau chơi, bạn nên khuyên con cái đừng bao giờ nên chửi thề, mặc cho con đường xấu hay con người xấu. Dù chửi bằng tiếng Mỹ, có thể họ cũng biết đấy. Cái gì thì họ không biết chứ chửi thề là họ biết liền. Cẩn tắc vô áy náy.

Nước tương bày đầy rẫy trong các cửa hàng, siêu thị, hàng thật hàng giả, chẳng ai biết. Ai được lợi?

Một chuyện lẩm cẩm nhưng… cần thiết

Mới tuần trước tôi tường trình với bạn đọc về vụ an toàn thực phẩm tại Việt Nam, chỉ toàn là chuyện “quá tầm tay”, “không đủ khả năng” và “thiếu thiết bị kỹ thuật” nên có cái cơ quan này có cũng như không.

Điều đó đã làm dấy lên một sự phẫn nộ trong lòng người dân. Họ bị đánh lừa, mạng sống của người dân bị coi thường, bị các quan chức có trách nhiệm che tai bịt mắt, làm giàu cho các nhà sản xuất, làm hại cho người dân.

Một vị nóng máu, vừa đứng ra kiện các nhà sản xuất nước tương. Xin vắn tắt, đó là ông Hà Hữu Tường – viên chức cơ quan thi hành án Q.8, TP Sài Gòn, đại diện cho hàng triệu người tiêu dùng – đã làm đơn khởi kiện nhà sản xuất và nhà quản lý ra Tòa án TP Sài Gòn, yêu cầu bồi thường 30 tỉ đồng… Đây là người đầu tiên làm đơn khởi kiện ra tòa án về nước tương chứa 3-MCPD.

Đồng thời ông Tường yêu cầu nhà nước truy thu khoản thu nhập bất hợp pháp từ nước tương đen của các đơn vị sản xuất, và xử phạt cụ thể cho những hành vi vi phạm. Đơn khởi kiện được gửi cho tòa án từ 1-6.

Thoạt nghe tin này có rất nhiều người thú vị, nhưng quả thật trong lòng đều có ý nghĩ “bố này kiện củ khoai đây”.

Ông Tường cũng đã gửi khiếu nại đến Văn phòng bảo vệ người tiêu dùng phía Nam với nội dung tương tự. Theo ông, việc làm này xuất phát từ cái chung là không thể chấp nhận tình trạng doanh nghiệp làm sai, dù có xin lỗi nhưng lờ đi trách nhiệm bồi thường với người tiêu dùng. Chưa kể, nhà sản xuất xì dầu chứa chất gây ung thư cao nhưng vẫn lưu thông hàng trên thị trường không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm… là vi phạm điều 162 và 244 Bộ Luật hình sự.

Ông Tường dự tính trong trường hợp thắng kiện, ông sẽ dùng toàn bộ số tiền được bồi thường cho mục đích nhân đạo, bằng việc lập Quỹ từ thiện giúp đỡ bệnh nhân ung thư.

17 doanh nghiệp nước tương bị khởi kiện là Trường Thành, Song Mã, Đông Phương, Hương Nam Phương, Lam Thuận, Thái Chân Thành, Lợi Ký, Nam Dương, Nosafood, Thái Đại Lợi, Hậu Sanh, MêKong, Miwon, Vĩnh Phước, Tâm Ký, Khương Phát, Bách Thảo.

Ông là “con nhà luật” nên biết rõ quy định của luật pháp, nhưng tiếc rằng ông không được làm ở cơ quan xử án mà chỉ làm ở cơ quan thi hành án, chuyên làm những việc mà các quan tòa đã xử xong rồi. Đúng hay sai, nặng hay nhẹ, ông vẫn cứ phải thi hành. Có lẽ chính vì vậy mà ông còn hăng tiết vịt hơn.

Phuy nước tương nổi váng. Nhìn vào cách “chế biến” nước tương hết dám ăn

Vụ kiện sẽ đi đến đâu?

Đó là một câu hỏi không khó trả lời. Xét theo luật pháp thì vụ kiện có quá nhiều trở ngại từ căn bản của vấn đề. Theo ý kiến của giới luật sư thì đây là một vụ kiện dân sự, chứ không phải hình sự.

Khi khởi kiện dân sự, có thụ lý chăng nữa thì ra tòa, nguyên đơn phải đưa ra được bằng chứng thiệt hại cụ thể. Chẳng hạn ai bệnh, chết do ung thư mà nguyên nhân từ nước tương chứa 3-MCPD? Giải phẫu bệnh lý, kết luận ngành y tế? Tang chứng vật chứng cụ thể, mua của cơ sở nào, hóa đơn chứng từ, ai làm chứng v.v…? Mặt khác, nếu nguyên đơn xin đại diện cho hàng triệu người tiêu dùng thì giấy ủy quyền đâu? Và nếu có thụ lý, không đủ chứng cứ, nguyên đơn thưa kiện còn phải mất khoản án phí không nhỏ trên giá trị yêu cầu bồi thường (ở vụ này khoảng 5% của 30 tỉ đồng, tức là vài chục triệu đồng), liệu ông có “chịu” nổi?

Vì vậy nên dù ông được dư luận ủng hộ, nhưng nhiều người lại cho rằng “hơi lẩm cẩm”. Một vụ kiện gần như nắm chắc phần thua.

Và cũng có người hỏi sao ông không kiện luôn cái cơ quan được giao trách nhiệm bảo vệ an toàn thực phẩm cho nhân dân. 17 nhà sản xuất chỉ “kiếm ăn” được khi không bị kiểm soát hoặc có bị kiểm soát nhưng lờ đi, vậy thì không khác gì anh cảnh sát thấy trộm mà để nó tự do lộng hành, có bắt được cũng tha. Cả hai anh đều có tội, cái tội dung túng khuyến khích cho tội phạm còn nặng hơn vì nó góp phần đầu độc xã hội nhiều hơn là một anh gian lận. Chính vì sự bưng bít đó mà phát sinh ra nhiều anh gian lận theo. Và một anh kiếm lời trên 17 anh hay còn hơn nữa, tất nhiên có lời hơn một nhà sản xuất. Có lẽ ông cho rằng đó là việc nhà nước? Vậy thì việc xét xử những nhà kinh doanh gian lận cũng là việc của nhà nước, của pháp luật. Ông vẫn có quyền kiện cả hai anh.

Các can đựng nước tương cáu bẩn như thùng rác

Tòa án không thụ lý

Ông Hà Hữu Tường, đã nhận được câu trả lời chính thức từ tòa án TP. Sài Gòn vào chiều 22-6. Tòa án không thụ lý vụ kiện này.

Ông Tường cho biết không nhận lại hồ sơ đã gửi tại tòa, mà sẽ xúc tiến việc thu thập chữ ký từ người tiêu dùng, chứng cứ chứng minh thiệt hại… để tiếp tục khởi kiện trong thời gian tới.

Ngay buổi chiều 22-6, ông đã nhận được thỏa thuận hợp tác với 2 văn phòng luật sư và một bệnh viện chuyên về ung thư tại Hà Nội, trong việc chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cho việc khởi kiện lần nữa. Một trong các luật sư đồng ý tham gia vụ kiện đã xác nhận sự hợp tác này. Ông Tường tuyên bố: “Tôi sẽ tiến hành khởi kiện lần nữa trong một ngày gần đây với khả năng đại diện cho vài trường hợp người tiêu dùng bị bệnh cụ thể”. Nhưng điều quan trọng là người bị bệnh ung thư hay một thứ căn bệnh nào đó phải chứng minh được rằng vì ăn phải chất độc của nhà sản xuất nào, cụ thể sự thiệt hại ra sao.

Về ngân khoản tài trợ cho vụ kiện này, không phải là điều khó khăn, chắc chắn ông sẽ được khá nhiều người ủng hộ giúp sức, không phải họ chỉ “hoan hô cái miệng”.

Mít cũng bị tẩm hóa chất Ethephon cho chín nhanh

Nhưng dù thắng dù thua, đây cũng là một vụ kiện đầu tiên về an toàn thực phẩm, ở Việt Nam chưa hề có tiền lệ này. Nhà sản xuất cứ việc sản xuất sản phẩm kém chất lượng, người tiêu dùng cứ bị thiệt hại, xã hội cứ lên án nhưng các doanh nghiệp này vẫn không chịu trách nhiệm pháp lý cũng như trách nhiệm kinh tế đối với người tiêu dùng cũng như xã hội. Và cơ quan có trách nhiệm vẫn cứ ung dung, thọc tay vài túi quần dong chơi, chẳng có trách nhiệm gì hết. Nó làm lộ diện hàng loạt những cơ quan “ăn không ngồi rồi”, từ anh quản lý thị trường đến anh kiểm tra, kiểm soát, quát tháo thì hay, hù dân thì giỏi nhưng chẳng làm nên cơm cháo gì.

Chuyện tuy hơi lẩm cẩm nhưng cần thiết và tác dụng của nó không nhỏ. Một lời cảnh báo cho cả quan tham vô trách nhiệm và… dân tham.

Tuy nhiên, hy vọng đây không phải là một vụ kiện theo tính “phong trào”, nó bùng lên một thời gian rồi… đâu lại vào đấy. Doanh nghiệp bự vẫn an toàn, nộp phạt một tí cho có lệ rồi vẫn cứ phát đạt như xưa. Các quan vẫn cứ yên vị và dân vẫn cứ thoải mái “sống cùng chất độc, ngủ cùng chất độc”. Ông Tường liệu có đủ kiên trì để theo đuổi vụ này đến cùng hay không. Chúng ta hãy chờ xem.

Hơn 150 hành khách trên chuyến bay BL 5599 của hãng Pacific Airlines, sáng ngày 6-6, nằm ngồi nghiêng ngửa ngay trên đường bay của sân bay quốc tế Đà Nẵng chờ đợi chuyến bay, nhưng đành thất vọng

Móc hàng và móc túi

Trên đây là kiểu móc họng, còn vài kiểu móc nữa, móc hàng và móc túi.

Chuyện đi máy bay bị thất lạc hành lý đã là chuyện thường xảy ra ở khắp các hãng máy bay trên thế giới. Có khi hành lý thất lạc đến vài tháng mới kiếm lại được. Tuy nhiên, nó cũng chứng tỏ là hầu hết các hãng máy bay trên thế giới đều có thiện chí và tích cực truy tìm đến nơi đến chốn.

Nhưng ở Việt Nam, những ngày gần đây có một hiện tượng lạ là “mất cắp vặt” trong hành lý của khách gửi theo máy bay. Trong khi khóa va ly vẫn còn nguyên si, không có dấu hiệu bị cạy mở. Cứ như có phép thần thông biến ảo khôn lường. Điều này có thể chứng minh một nhận định khá rõ ràng, đây là một tổ chức trộm cắp hẳn hoi, làm việc có tính toán, có phân công, có canh gác, có đủ “đồ nghề” để móc hành lý một cách “an toàn”. Rất có thể, do nhiều kinh nghiệm trong khâu chuyển hành lý của khách hàng tứ xứ nên bọn chúng đã thử hàng loạt chìa khóa, hoặc chỉ cần vài ba chiếc “chìa khóa vạn năng” như kiểu của mấy chú đạo chích xe gắn máy là có thể “khám xét hành lý” của tất cả các khách hàng một cách nhanh chóng. Từ đó cứ “tự do” cuỗm bất cứ thứ gì mà chúng đã kén chọn. Không một hành khách nào mất quần áo lót cả, chỉ mất toàn đồ đắt tiền như laptop, máy hình, máy quay phim kỹ thuật số… Chứng tỏ chúng đã “hành nghề” trong một môi trường rất ung dung, được thoải mái chọn hàng như vào siêu thị. Có thể chúng hành động ngay trên chuyến bay, mà điều này thì gần như chắc chắn. Vì gửi từ Hà Nội vào đến TP. Sài Gòn là đã mất. Không hành nghề trên máy bay thì còn chỗ nào, thời gian nào, thuận tiện hơn. Như vậy thì xét ra một thành phần trộm cắp đã có thể xác định được. Một thuận lợi cho các nhà điều tra, nếu thật sự muốn điều tra.

Những chuyện mất cắp điển hình

Chuyện kể rằng ngay ông phó tổng giám đốc của Hãng hàng không VN Airlines (VNA) Phạm Ngọc Minh khi đi từ Hà Nội vào TP Sài Gòn cũng vài lần bị mất đồ đạc và máy ảnh khi để trong hành lý ký gửi. Chẳng biết chuyện này có thật không, nhưng có lẽ là mấy tay trộm cắp là những nhân viên tép riu, không biết đến tên ông nằm chềnh ềnh trên va ly nên cứ “khoắng”.

Còn rất nhiều trường hợp hành khách để vật dụng có giá trị lớn trong hành lý ký gửi, có khóa hoặc khóa số nhưng vẫn bị mất đành ngậm đắng nuốt cay vì không biết kiện ai.

– Ngày 11-6-2007 vừa qua, phòng dịch vụ và khai thác mặt đất của PA nhận được đơn của hành khách Trần Ánh Sáng (Q.Tân Bình, TP Sài Gòn) trình bày về việc mất máy tính xách tay hiệu Compaq, bộ sạc pin, dây USB, dây tai nghe điện thoại Nokia N72 trong hành lý gửi của chuyến bay BL 805 ngày 8-6 từ Hà Nội về TP Sài Gòn. Theo bà Sáng, tất cả đồ đạc đều để trong vali có khóa số và gửi theo chuyến bay, khi nhận lại hành lý tại sân bay Tân Sơn Nhất, nhìn thấy các chốt khóa không bị bật ra nhưng khi về nhà mở ra mới phát hiện đồ đạc bên trong đã bị mất. Vì thật sự khi hành khách đợi để lấy hành lý ký gửi đã mất thì giờ rồi, thấy khóa còn nguyên vẹn, chẳng ai mở ra kiểm lại làm gì.

– Bà Phan Thị Nguyên Thảo bay từ Hà Nội vào TP Sài Gòn cũng trình báo tình trạng hành lý ký gửi của mình bị bới móc, khóa vali bị phá hỏng, mất một máy tính xách tay hiệu HP NC6000 màu đen.

– Vị khách người Mỹ tên Douglass Reese trên chuyến bay BL 805 (ngày 23-10-2006) của PA còn đau hơn. Ông mang theo tám máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron và đã bị mất bốn máy. Theo tường trình của ông Reese, do mang nhiều hành lý nên ông trả phí cho hành lý quá trọng lượng. Khi đã vào bên trong, ông Reese được yêu cầu đến máy kiểm tra an ninh mở hành lý.

Trong mỗi vali của ông có bốn hộp cac-tông bọc hai máy tính, nhân viên an ninh đã yêu cầu ông mở một hộp và khởi động máy tính để kiểm tra. Sau đó nhân viên an ninh mở sổ ghi toàn bộ sự việc và yêu cầu ông Reese ký xác nhận. Khi nhận hành lý ở sân bay Tân Sơn Nhất ông Reese thấy một vali quá nhẹ, mở ra thì phát hiện bốn máy tính ở hành lý này đã… bốc hơi.

Không phải là chuyện nhỏ

Cả ba sự việc trên đều xuất phát từ việc gửi hành lý tại Hà Nội và đến TP. Sài Gòn thì bị mất. Như vậy lại có thêm một đầu mối nữa để nhận định “tổ chức căn cắp” đó ở đâu, thực hiện “phi vụ” vào thời gian nào. Có lẽ công việc điều tra không khó khăn lắm nếu sự việc chưa bị làm tùm lum như mấy tuần vừa qua. Cứ lặng lẽ theo dõi, chắc có thể tóm được tội phạm. Tuy nhiên, dù cho cái tổ chức ăn cắp đó có khôn ngoan đến đâu thì chúng cũng vẫn phải có chỗ tiêu thụ và còn có những manh mối khác qua những nhân viên ở các khâu làm việc bên cạnh. Việc điều tra bao giờ có kết quả thì chưa biết.

Đây là một hành động làm nhục tới danh dự của cả một nước, một dân tộc. Chắc không một người VN nào không cảm thấy bị xúc phạm khi hành khách quốc tế “báo động” cho nhau: “Hãy cẩn thận khi gửi hành lý ở Hà Nội và Sài Gòn, trộm cắp như ranh”. Và hành khách sẽ lo ngay ngáy khi buộc phải đi trên những chuyến máy bay đó. Có lẽ họ sẽ phải tự phòng thân bằng cách có bao nhiêu hàng hóa có giá trị ôm trên tay hết cho chắc ăn. Và nếu buộc phải gửi thì khi nhận lại, dù giữa phi trường cũng phải bày ra kiểm lại. Như thế thì uy tín của Hàng không VN còn là gì nữa? Nếu không nhanh chóng điều tra ra cái tổ chức trộm cắp này, chắc chắn khách du lịch sẽ né tránh xa VN vì không muốn bị mất cắp.

Đền bù như thế nào?

Trên thực tế, dù có được đền bù thì người chịu thiệt vẫn là hành khách vì khi bị mất đồ trong hành lý, các hãng hàng không căn cứ vào các qui định giữa nhà vận chuyển và hành khách để tính mức độ đền bù cho tài sản mất mát. Đền bù thiệt hại này chỉ căn cứ theo trọng lượng hao hụt và tính theo ký. Cứ mỗi Kg bị mất chỉ được đền bù 200.000 đồng VN (13 USD) chứ không tính theo giá trị hàng hóa đã mất.

Khi máy ảnh, máy vi tính và những tài sản có giá trị khác được đền bù theo trọng lượng thì hành khách coi như… mất trắng. Như trường hợp ông Reese, do thiệt hại về vật chất quá lớn (mất bốn máy tính xách tay) nên hãng Hàng không PA “thông cảm”, không đền bù theo quy định tính theo ký:13Kg =2, 6 triệu đồng VN (khoảng 165 USD). Mà đền bù cho ông hai vé khứ hồi chặng TP Sài Gòn – Hà Nội. Thôi thì đành chấp nhận cho… đỡ đau.

Có thật là an ninh tuyết đối?

Trong văn bản gửi các hãng hàng không, giám đốc Trung tâm an ninh hàng không Cụm Cảng hàng không miền Bắc Vũ Đức Huân cho biết không có dấu hiệu khả nghi nào xác định việc mất tài sản trong hành lý gửi, vì trung tâm đã bố trí nhân viên an ninh chốt chặn ở hai vị trí: khu vực đầu băng chuyền (sau khi hành lý ký gửi hoàn tất thủ tục hàng không) và khu vực cuối băng chuyền (phân loại hành lý ký gửi). Toàn bộ khu vực băng chuyền hoàn toàn khép kín, cửa cuốn luôn khóa, chỉ mở khi có hoạt động bay. Mọi đối tượng, đồ vật mang lên, xuống đều được kiểm tra giám sát chặt chẽ bằng hệ thống camera 24/24 giờ, nhân viên an ninh theo dõi và ghi vào sổ trực. Nhưng thực tế nhiều hành khách vẫn báo cáo với các hãng hàng không về trường hợp mất đồ đạc để trong hành lý ký gửi theo chuyến bay.

Như thế có nghĩa là Trung tâm an ninh hàng không cụm cảng miền Bắc VN coi như đã làm hết bổn phận, an tuyệt đối cho khách hàng? Cứ theo văn bản của ông Giám đốc Vũ Đức Huân, hành lý phải có cánh mới bay ra ngoài không trung được hoặc ít ra thì nó cũng phải biết nhảy dù. Nếu thế thì chẳng còn gì để nói. Đành phải tin rằng cứ lên đến máy bay là hành lý biết nhảy dù. Nhưng chắc là nó “nhảy dù” cùng với người đến một nơi nào đó an toàn.

Đây là lời cảnh báo cho khách hàng trên những chuyến bay ở VN. Đã không bảo đảm được giờ giấc lại không bảo đảm được hành lý thì đi máy bay là một sự hồi hộp không kém gì đi… cầu khỉ. Vị nào muốn có cảm giác mạnh thì cứ đi.

Đến chuyện đi taxi bị móc túi

Đây là chuyện không lạ, hầu hết những vị khách đi taxi ở Sài Gòn bây giờ đều có chung một tâm trạng là “mỏi mắt” vì luôn luôn phải để ý canh chừng cái đồng hồ tính tiền nhảy theo kiểu nào. Cùng một đoạn đường, nhưng taxi nhảy theo nhiều điệu khác nhau. Cứ y như các ca sĩ dự thi ở các cuộc “hội thi lên sao” vậy.

Taxi điên đâm luôn cả cảnh sát

Khi được UBND thành phố đề nghị Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 phải công bố kết quả kiểm định taximet của các doanh nghiệp. Lúc đó các cơ quan chức năng mới cho nhân dân biết. Kết quả thật đáng sợ: Trong thời gian từ 22-3 đến 25-5 cơ quan này đã kiểm định 2.130 taximet của hơn 18 doanh nghiệp (hoặc hợp tác xã) kinh doanh vận tải taxi tại TP Sài Gòn, cho thấy có khoảng 98,2% taximet không có hoặc bị đứt niêm chì kiểm định. Nó thẳng ra là có dấu hiệu của sự gian lận. Mà sự gian lận đó không phải chỉ do một anh tài, nó có sự đồng lõa của cả một hãng, một tổ chức. Nhưng nếu Cảnh sát Giao thông được giao nhiệm vụ kiểm soát thì việc khám phá ra một chiếc taxi đứt niêm chì chẳng khó khăn gì.

Ngay cả những hãng taxi lớn, không có niêm chì hoặc bị đứt niêm chì khi đưa đi kiểm định như : Mai Linh Taxi có 413/416 taximet đưa đi kiểm định; VinaSun Taxi có 394/424 taximet; Taxi VN có 124/124 taximet; HTX Vận tải dịch vụ lữ hành số 2 có 117/147 taximet…

Nhưng dù có để ý thì “thượng đế” không thể nào xác định được có bị ăn gian hay không. Dù có bị ăn gian thì cũng… đau lòng móc tiền ra trả chứ chẳng lẽ cãi lộn với anh tài xế giữa đường sao? Mà có cãi cũng thua, đôi khi còn bị “chửi”, bị đe dọa hành hung nữa là khác. Tôi cam đoan với bạn, nếu đi cùng một đoạn đường, số tiền bạn phải trả sẽ hoàn toàn khác nhau. Có khi sự khác biệt lên tới 30-40%. Nhưng cũng chẳng biết thưa kiện ở đâu, cứ đành chấp nhận bị móc túi.

Nói tóm lại đi kiểu nào cũng bị móc túi, móc hàng, móc họng. Những chuyện này tuy nhỏ nhưng nó làm xấu đi hình ảnh VN trong lòng mọi người và làm người dân VN cảm thấy xấu hổ. Chẳng biết những người có trách nhiệm có cảm thấy điều này không, hay lâu quá thành quen đi rồi, cứ coi như chuyện tất nhiên ở VN là như thế?

Văn Quang

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Ba hạt minh châu

Ông bạn tôi yêu hoa phượng tới độ lên hẳn một kế hoạch qua mặt luật pháp Mỹ. Ông về Việt Nam thăm gia đình nhưng chọn đúng dịp hè chỉ để nhặt vài hạt phượng rơi ở sân trường cũ như nhặt lại mối tình học trò ấp ủ bao năm. Sau đó, gỉa bộ vô tình quên chung với mớ bạc cắc trong cái túi phụ của cái xách tay, thế mà ông qua được sự kiểm soát tinh vi ở phi trường Los Angeles lúc ông trở lại Mỹ.

Về tới nhà ở Dallas, ông trân qúy ba hạt phượng như bảo vật. Ông bỏ vào hũ miểng, bỏ thêm mấy túi chống ẩm lấy lại từ những hũ thuốc tây đã hết. Từ đó, ông ngắm nhìn ba hạt minh châu (cụm từ của vợ ông) trong hũ miểng như ngắm lại một thời đã qua.

Bao nhiêu tâm tình với dĩ vãng đã xa thì chắc chỉ ông với Trịnh Nam Sơn biết! “Người ơi! dĩ vãng đã xa…” Ông khoe bạn bè khi có ai nhắc lại thời đi học. Ông nói về hoa phượng, mùa hè và tuổi nhỏ thao thao bất tuyệt như cố chứng minh rằng: Tôi ít nói vì chưa đúng chủ đề đó thôi! Nhưng khi mọi người không còn muốn nghe về chủ đề cũ rích thì chả ai để ý đến sự thẫn thờ, đôi mắt buồn vời vợi của ông. Tôi cũng vô tình nhận biết ra điều đó thôi chứ nào giờ tôi đâu phải người tinh tế gì đâu. Tôi khuyên ông nên gieo xuống đất để một ngày nào đó những người yêu hoa phượng nơi đây, bất ngờ thú vị thấy đỏ tươi trước sân nhà một người đồng hương. Báo chí địa phương thể nào chẳng đến chụp vài tấm ảnh, thơ phú tràn lan trên báo chí cho mà xem. Chuyến này tha hồ đọc văn thơ nữ giới vì hoa phượng gắn chặt với những kỷ niệm đầu đời, tuổi thần tiên của họ. Mấy ông mãnh đã gìa không mặn với hoa phượng lắm đâu vì ngày xưa mấy ông hái hoa phượng chỉ để mưu đồ người nhận, đàn ông chỉ yêu hoa biết nói, ít ai yêu hoa kỷ niệm như ông đây…

Ông nghe bùi tai nên quyết định hạ thổ ba hạt minh châu.

Ông đợi sang xuân là gieo hạt xuống chậu đất phân đã chuẩn bị sẵn sàng. Chậu đất đặc biệt tới một anh bạn trẻ gọi là Hoàng Châu Cát Cát bởi loại đất gì vàng vàng, chiếu chiếu cát mịn trong đó để cho tơi, cho xốp. Tôi có thể viết thành sách nếu gom hết những chuyện kể của ông từ khi đặt ba hạt minh châu vào hoàng-sa-thổ. Đại khái là từng ngày đi làm về, ông cầm ly rượu đỏ hay chai bia, đến ngồi bên người tình học trò còn chưa nứt mắt. Ông tưới, ông trông, ông nom… sợ từ cái kiến tới con sâu. Ông nhớ nhiều về thời niên thiếu, thuở quần xanh áo trắng lê la khắp thị thành. Nhớ từng đôi mắt đã hớp hồn ông để thương hoài ngàn năm, nhớ người ơi! dĩ vãng đã xa nào đó bằng thơ như tất cả những người Việt Nam (mỗi người Việt Nam là một nhà thơ). Ông biết tánh tôi ưa cả nể nên ông cho xem chứ đưa cho mấy ông bạn khác thì sợ họ cười. Tôi thích bốn câu trong bài tứ tuyệt, lê thê: “có lần tôi với hơi qúa tay/ bởi người tôi thích thích hoa bay/ qúa đà tôi té trong đôi mắt/ tay cầm hoa phượng tới hôm nay…” đọc rồi tôi tưởng tượng ra thời niên thiếu của ông: ngổ nghịch, phá phách… chắc cũng thuộc loại “làm học trò không sách vở cầm tay/ có tâm sự đi nói cùng cây cỏ*” mỗi năm đến hè nghe được lên lớp thì mừng húm vì những tên linh tinh cỡ đó thì thường ba năm hai lớp. (Kinh nghiệm bản thân tôi như vậy!)

Tôi lại nghĩ lan man: Khi tuổi tác cảm nhận được chỉ có sự yên lặng là tử tế thì người ta trôi về miền qúa khứ nhiều hơn vươn tới tương lai. Ông hên là gặp được bà nhà cũng thuộc tuýp người hiền lành, cam chịu, có lãng mạn hay không thì hạ màn phân giải. Nhưng bởi cuộc sống, công ăn việc làm, gia đình, chồng con, họ hàng bên đây bên kia biển đã đánh cắp từng ngày hết những mộng mơ. Nhìn bà cơ cực trên xác thân, mệt mỏi trong ánh mắt… đâu ai biết được gì ẩn khuất bên trong. Lòng dạ đàn bà bí hiểm như biển Thái bình hiền hoà, bao dung nhưng nổi sóng thì nhận chìm tất cả!

Trong từng đời người không ít thì nhiều những bâng khuâng một thuở khi trao ai cành hoa phượng với tha thiết mong cầu; không ít thì nhiều những bâng khuâng khi nhận hay không nhận một cành hoa để nhiều lần tự trách sao mình không độ lượng. “Rồi ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã ra đi khi ta còn ngồi mãi nơi đây…*” Khi tất cả chỉ còn là kỷ niệm thì kẻ chôn chặt trong lòng, người mượm thơ văn nói ra những thương mong. Khi đời sống (cơm áo gạo tiền) không còn làm khó được người ta thì người ta làm khó nhau! Hai người đồng hành đi qua gian lao cuộc sống để cùng hưởng an nhàn, thành qủa sau năm tháng cực nhọc chứ đâu phải để hết trách nhiệm với nhau. Tình cảm không thăng hoa thì đừng để nguội lạnh theo đà cấm khẩu của nguyên lý: chỉ có sự im lặng là tử tế.

Ông tâm sự với tôi như một người hiểu biết nhưng hành động như một người ích kỷ. Từ ngày hạ thổ ba hạt minh châu, ông trút bầu tâm sự với người tình học trò chỉ còn là dư ảo thì nhà ông không còn tiếng cãi nhau loạn xị. Ví như trước đây, về đến nhà là ông la toáng lên chuyện giày dép vợ con để không đúng quy cách như ông quy định, ai uống ly nước đá mà không có miếng napkin hay cái dĩa con phía dưới, làm hơi lạnh in dấu lên bàn kiếng, hay nước tươm ra làm hư mặt bàn gỗ bóng loáng mà ông lau chùi mỗi cuối tuần. (Những linh tinh, lẩm cẩm khác nữa… nhưng chớ có ai dại bảo ông gìa sinh tật khó khăn là khốn đấy!) Ông rầy la không để cho ai sợ, ông cũng không theo đạo thờ vật chất mà chỉ cốt ý giáo dục ý thức trách nhiệm trong đời sống cộng sinh, nề nếp vệ sinh trong cuộc sống chung với hy vọng con cái ông sau này đi đâu, sống ở đâu cũng được người khác không coi thường chứ cũng chả cần kính trọng. Nhưng thường là ông bị bà cự nự khó khăn, khắt khe qúa đáng! Thế là ỏm tỏi trong nhà.

Nhưng từ hôm ông gieo ba hạt minh châu vô chậu đất thì về đến nhà, ông không quát nữa! Có gì chướng mắt ông, ông tự tay dọn dẹp để khỏi la, khỏi cãi thì mới còn thời giờ tâm sự với ba hạt minh châu. Ông ngồi sắp lại những đôi giày dép lung tung, bà gọi con gái ra nói nhỏ. Con gái ông lặng lẽ đến sau lưng bố: “Con xin lỗi bố. Bố để đó con.” Hôm sau ông về, giày dép ngăn nắp đúng như ông muốn. Thế ra la lối om xòm bao nhiêu năm là vô ích?!

Ông hài lòng về cô con gái còn ở nhà với cha mẹ chứ anh chị nó thì đi không muốn về, đã rõ. Ông chợt nhớ ngoài những đứa con, ông hình như có vợ nữa?! Bà vẫn hiện diện qua từng bữa ăn, món ăn mà ông ưa thích. Ông tính công sơ sơ để trả công bà nhưng tiền nào trả nổi mấy mươi năm, từ ngày da trắng tóc xanh đã da nhăn mắt xếp. Ông hối hận nhiều đêm nên tự dọn bàn sau khi ăn, xắn tay áo rửa chén thì bà không cho. Thế là bà rửa ông úp, tình ơi là mùi nhưng mùi chuột chết. Bởi xong chuyện, ông đi đọc báo, xem tivi thì bà xắp lại cái máy rửa chén vì ly ông úp với nồi, dao kéo cứ nghểng lưỡi lên trời như chờ tay ai sọc vô máy rửa chén là đổ máu. Ông gài bẫy bà đấy chăng? Chén ông úp lên cái phin pha cà phê, rồi sáng mai ông lại la lối om xòm: “Cái phin pha cà phê của tôi đâu rồi?” ông không bao gìơ tìm được vật gì ngay trong nhà ông nên ông giải quyết bằng cách la toáng lên thì bà sẽ tìm cho ông. Ông kết luận nhẹ hều: “Thì ra cả đời. Tôi chỉ tìm được mỗi món qùa thượng đế giành cho tôi là tìm được vợ tôi.”

Ông nói ra câu nào nghe cũng phải nhưng đừng nghe những gì đàn ông nói mà hãy nhìn kỹ những gì đàn ông làm! Toàn ngược. Đàn ông thương vợ khi đã để trong hòm chứ lúc còn sống thì thương bồ cũ nhiều hơn (lại kinh nghiệm bản thân…). Lúc này thơ phú nhặng cả lên vì ngày nào cũng đi mây về gió với ba hạt minh châu. Chẳng nghe ông nói tới những than phiền, càm ràm của bà nữa và cũng không nghe ông kể công bà giáo dục con cái. Dạy con là chuyện của mẹ, con hư tại mẹ cháu hư tại bà nhưng con ngoan là đức của bố. Khoe con mình là việc của đàn ông, đàn bà biết gì mà khoe, không khéo lại thiếu điểm của con ông.

Đứa con còn lại trong nhà lúc này cũng ít ở miết trong phòng hơn. Nó lượn tới lượn lui nói cười rôm rả làm ông vui theo. Hóa ra đàn bà con gái thích nói! Bà cũng bớt im ỉm như người tù khổ sai chung thân. Từ những lời lẽ đã nói ban đầu về ba hạt minh châu của ông: “… tào lao”; “… làm chuyện không đâu”; “… dư tiền thì cứu đói nạn nhân bão lụt mà để đức cho con cháu, tiền đâu dư mà tốn hai ba chục bạc đi mua đất tốt nhất để ươm trồng phượng vĩ ngày xưa”; “Gìa rửng mỡ…”; “…gìa sinh tật”… Nếu bà nhà còn nhớ những gì mình đã nói thì bà không tự tay bưng chậu phượng ươm ra phơi nắng cho có nắng để ông hú hồn hú vía! Đi làm về không thấy chậu phượng ươm của ông đâu. Ông lo rồi điên tiết quát ầm lên như vỡ chợ. Sau đó hối hận, lại lo bệnh la tái phát rồi hứa với mình đừng la lối om xòm nữa nha, ta.

Tôi không tài nào kể hết chuyện gia đình ông bạn vì chuyện dài như Chương trình gia đình bác Tám trên đài truyền hình Sàigòn trước ’75. Chỉ biết từ đó. Sân sau nhà họ có đôi ghế tình nhân với cái đôn dã chiến là khúc cây nhà kia cưa cây, đốn cây. Ông khệ nệ nhặt về để cho chậu phượng ươm của ông ngự tọa. Ông ngồi một mình không hề chán chỉ thấy cô đơn trong những buổi chiều tàn. Giữa ngổn ngang những ký ức đã xa đến rò rỉ dư lệ thì người chia sẻ duy nhất với tâm tư ông cũng chỉ có bà. Ông không nhớ tự bao giờ đã không ngồi bên nhau một cách ôn hòa như hiện tại. Ông bị cô con gái nháy lén tấm ảnh ông đưa tay vuốt mấy cọng tóc mai đã bạc của bà. Mặt mày ông trơ trẽn, chẳng xứng với nụ cười trong héo ngoài tươi chút xíu nào. Ông nói rồi không biết phải mình nói hay không? “Em vào rót cho anh ly rượu”. Bà không quang quác như con qụa gìa, như mọi khi mà đi đỏng đảnh như hồi con gái, bưng ra nửa ly hồng hồng: “… đủ rồi đó nha! Chiều nay ly rưỡi rồi đấy!” ông không nổi khùng với kỳ phùng địch thủ như hôm qua mà ông lại nhớ đã bao lâu ông không hề hỏi… nên ông hỏi: “em uống gì không?” rồi ông đi lấy.

Mặt trời mọc rồi lặn để lại mọc, nhưng đây là lần đầu ông thấy chói qua con tim mình chân lý phượng yêu. Phượng ươm chưa hé mầm nảy đọt mà hoa đã nở trên môi cười. Những bông hoa biết nói trong nhà ông lúc này ưa tủm tỉm. Cô con gái ù lì dù chưa từng bệnh hoạn nan y nhưng không khéo: con này á khẩu vì chẳng nghe nó nói bao giờ! Biếng cười như biếng ăn, biếng ngủ. Bây giờ nó ưa luyên thuyên, kể lể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Bao lâu rồi nó mới đứng sau lưng bố, quàng tay ra trước ngực ông mà hôn lên gò má nắng mưa chai xạm của người cha lạnh nhạt. Ông mừng, con ông đã biết nói dù hơi muộn. Tới tuổi đi Đại học nó mới biết nói câu: “mời bố mẹ vô xơi cơm, con đợi.” Ông ăn bữa cơm ngon nhất trong đời từ khi sinh ra con bé èo uột này.

***

Ba hạt phượng buồn trong chậu đất tốt nhất trên nước Mỹ mà vẫn không sao hé mầm nảy đọt. “Qúa khứ đã xa không trở lại bao giờ! Qúa khứ chỉ còn là kỷ niệm cho lòng trân qúy nếu mình trân qúy. Không thể nào bắt qúa khứ sống lại như hiện tại dù tốt hay xấu hơn cũng là hiện tại hiện hữu một lần thôi như hạnh phúc đang có là tiếng cười, nước mắt của hôm nay. Một lần té trong mắt người để tay cầm hoa phượng tới hôm nay chỉ nên giữ gìn như kỷ niệm. Đừng tìm kiếm trong vô vọng mà quên những hiện tại đang từng ngày hóa thành kỷ niệm. Hãy làm cho hiện tại vui lên để sau này kỷ niệm vui”. Tôi đã trả lời cho ông câu hỏi: “Ba hạt minh châu của tôi có bị trụng nước sôi hay không mà không hé mầm?” Tôi biết đó là câu hỏi của lòng người từng trải! Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho gia đạo ông bình an!

Rồi bỗng dưng tôi được mời đến nhà họ uống ly rượu ba mươi năm “nắng vàng bị nhốt trong mây”. Hai đứa con lớn tự về tổ chức tiệc mừng Anniversary cho cha mẹ, chuẩn bị cho cô em út đi Đại học trong năm học tới. Một không khí gia đình bừng tỉnh sau tháng năm dài âm u. Bà giải thích cho tôi hiểu câu thơ mà ông đã giết chết tim bà. Ông để trong lòng đã mấy mươi năm hình bóng người chị họ của bà. Người ta học hơn ông hai lớp, lại học hành đàng hoàng nên ngày người ta gĩa biệt sân trường trung học để đi Đại học, ông thất-tình-câm nghiêm trọng mà viết ra: “có lần tôi với hơi qúa tay”, tức là yêu người lớn hơn mình chứ chẳng phải tự ái đỉa đeo chân hạc gì ráo. Chàng lớp 10 nhìn theo bóng liền chị khuất dạng sân trường mà mình thì đã té trong đôi mắt ấy nên tay cầm hoa phượng tới hôm nay – sống một đời ngáp ngáp.

Còn bà, cũng năm lớp 10 lại đi xin hoa phượng của chàng 12, đâu biết người ta hái hoa phượng rồi ngồi dưới gốc cây là tưởng nhớ hai cái ao thu lạnh lẽo nước trong veo đã dông mất biệt, hai cái hồ thu mà chàng thi sĩ đã té ngập hồn trong đó. Bà tội nghiệp người hái hoa mà không có ai để tặng nên bà xin-làm phước. Bà đâu biết chung huyết thống nên bà cũng có hai cái ao thu lạnh lẽo nước trong veo như liền chị. Vậy là hắn té thêm lần nữa, lần này chết chìm luôn trong đôi mắt.

Ba mươi năm dài lặn hụp miễn phí trong bể oan cừu mà tay cứ khư khư cầm cành hoa phượng cũ. Bà không ghen, thậm chí thương cảm ông ở tính thủy chung nhưng giận ông đã làm cho bà chị họ chẳng dám bén mảng đến nhà bà từ khi biết ra mối tình câm của ông em rể họ.

Tôi hỏi ông: “Sao ông lì qúa vậy?” ông trả lời thật hết ruột gan thì phải: Ông không ngờ có người giống người đến vậy! Thoạt đầu, ông mượn hình nhớ bóng. Rồi thân thằng chỏng chết trôi trong bể oan cừu thì cho gì lấy nấy! Bóng trong hình, hình trong bóng, bóng hình trù quến đến thánh cũng không phân biệt được, đến ngày thành hôn mới biết hình là em đôi con dì với bóng, té ra tình chị duyên em. Ông nói đến đây thì tôi cắt lời: “Bia 33 với bia Sàigòn chung hãng sản xuất. Ông được uống bia Việt Nam là phước lắm rồi còn phân biệt gì nữa đây?” ông trả lời có lẽ vừa lòng bà và các con sau cuộc hành trình đăng đẳng: “Tôi xin lỗi về câu hỏi mà tôi đã hỏi anh. Thật không ngờ mình cứ tưởng mình đại trượng phu nhưng rốt ráo thì tiểu nhân hơn mình nghĩ về mình nhiều lắm!

… Lòng dạ hẹp hòi nên nghĩ ai cũng gian manh, nhà tôi ra tay chăm bón cho ba hạt minh châu của tôi hoàn toàn bằng lòng thương mà tôi đâu biết! Bà ấy muốn chứng minh với tôi hoa có nở thì cũng không phải là hoa của ngày tháng cũ. Tôi ngộ ra rồi anh ạ! Ba hạt minh châu không nở ra hoa trông thấy được nhưng hoa lòng đã nở. Con cái tìm về là một hạt đã nở, từ nay không nghi kỵ người phối ngẫu là hạt thứ hai đã nở. Hạt thứ ba là nụ cười trong héo ngoài tươi của nhà tôi đã trong tươi ngoài héo do thời gian và ích kỷ của tôi. Tôi cám ơn vợ con, gia đình và bạn bè”. Ông xúc động.

Tôi ra về, hít gió tháng 5 vào hạ. Bông cỏ bay ngập trời chiều làm men bia trong tôi cũng ngất ngây với màu hoa phượng nhớ. Qúa khứ trong mỗi chàng thư sinh thể nào không có màu hoa phượng đi kèm với một hình bóng mờ nhạt nhưng quyền uy tối thượng, bắt nhớ là nhớ, bắt thương là thương mà thường là bắt hồn thư sinh khi tháng 5 về. Dù thơ lai láng trong tôi nhưng không dám viết ra từ khi ông cụ Tầm Xuân ở quê tôi (Dallas) đã hạ chiếu: “thời bây giờ có qúa nhiều người làm thơ nhưng lại qúa ít nhà thơ.” Tôi đành viết lại mớ văn xuôi cho màu phượng vĩ trong trái tim khô của thế hệ sinh ra trên quê hương điêu linh nhưng sống lình bình như… trôi sông trên khắp qủa địc cầu. Tháng 5 vào hạ với phượng hồng dĩ vãng đã xa.

Phan

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Cái mặt

Tiểu Tử

Con người có cái mặt là quan trọng nhứt. Thật vậy, nếu lấy cái mặt bỏ đi, tất cả những gì còn lại trên thân thể sẽ không dùng vào đâu được hết và cũng không còn tồn tại được nữa. Không có mũi để thở, không có miệng để ăn… con người không có cái mặt là kể như “tiêu tùng”!

Trước khi “đào sâu” cái mặt, xin mở dấu ngoặc ở đây để “vinh danh” tiếng Việt: phần lớn những gì nằm trên cái mặt đều bắt đầu bằng chữ “m”, trên thế giới chưa có thứ tiếng nào như vậy hết!

Đây, nhìn coi: trên mặt có mắt, mũi, miệng (mồm) , má. Ở “mắt” có mày, có mi, có mí mắt, rồi mắt mụp, mắt mọng nước, mắt mơ màng, mắt mơ mộng, mắt mờ, mắt mù…

Qua tới “mũi”, ngoài “mùi” ra không thấy chữ “m” nào khác dính vào. Có lẽ tại vì cái mũi nó… cứng khư, không… linh hoạt. Ấy vậy mà nó – cái mũi – và “chân mày” (cũng kém linh hoạt như cái mũi!) lại được đi kèm với cái mặt để… hỗ trợ cho tiếng “mặt”, trong từ ngữ thông thường: “mặt mũi , “mặt mày”, làm như nếu nói “mặt” không, phát âm nghe… trơn lùi, nhẹ hểu không lọt lỗ tai! Cho nên người ta nói “mặt mũi bơ phờ”, “mặt mày hốc hác”, chớ ít nghe “mặt bơ phờ, mặt hốc hác”.

Bây giờ tới “miệng”, thì có môi, có mép, rồi mồm mép, môi miếng, miệng méo, miệng móm, mím môi, mếu máo, mấp máy, mớm, mút mấp….

Đến “má” thì ngoài “mụt mụn” chỉ có “mi một cái ” là còn thấy chữ “m” nhè nhẹ phất phơ…

Tiếng Việt hay quá!

Trở về với cái mặt. Ông Trời, khi tạo ra con người, ban cho cái mặt là một ân huệ lớn. Nhờ có cái mặt mà con người nhận ra nhau, chồng nhận ra vợ, con nhận ra cha, biết ai là bạn ai là thù… v v.

Thử tưởng tượng một ngày nào đó bỗng nhiên không ai còn cái mặt nữa. Nếu có sống được nhờ một sự nhiệm mầu nào đó, thử hỏi con người lấy gì để nhận diện nhau? Chồng vợ, cha con, bạn thù gì đều… xà ngầu. Vậy là loạn đứt!

Cho nên xưa nay, người ta coi trọng cái mặt lắm. Có người còn nói: “Thà chịu mất mạng chớ không bao giờ để cho mất mặt”! Vì vậy, rủi có ai lỡ lời chạm tự ái một người nào thì người đó thấy bị… mất mặt, liền đưa một nắm tay lên hăm he: “Thằng đó, bộ nó giỡn mặt tao hả? Tao phải dằn mặt nó một lần cho nó biết mặt tao”. Rồi, bởi vì cái mặt nó… nặng ký như vậy cho nên khi nói về một người nào, người ta chỉ nhắm ngay vào cái mặt của người đó để mà nói.

Nếu ghét thì gọi “cái bản mặt”. [Cái mặt mà như tấm bản(g) thì thiệt tình thấy chán quá! Thường nghe nói: “Cái bản(g) mặt thằng đó tao coi hổng vô!” ]. Nếu hơi khinh miệt thì gọi “cái bộ mặt”. (“Thằng này có bộ mặt ăn cướp!”). Còn khi thương thì cái mặt trở thành “cái gương mặt”. (“Em có gương mặt đẹp như trăng rằm!”). Chưa hết! Khi nổi giận muốn… hộc máu, người ta cũng chỉ nhắm vào cái mặt của đối thủ chớ không chỗ nào khác để “dộng một đạp” hay “cho một dao” hay “phơ một phát” hay… “tạt một lon a-xít”!

Con người, khi nhìn người khác, lúc nào cũng bắt đầu ở cái mặt. (Chỉ có người không… bình thường mới nhìn người khác bắt đầu ở cái chân hay cái bụng hay cái lưng!). Ở đó – ở cái mặt – ngoài cái đẹp cái xấu ra, còn hiện lên “cái mặt bên trong” của con người. Các nhà văn gọi là “ nét mặt ”, nghe… trừu tượng nhưng suy cho kỹ nó rất đúng. Bởi vì chỉ có cái mặt là… vẽ được cái nội tâm của con người thật đầy đủ. Cho nên mới có câu “Xem mặt mà bắt hình dong”. Hình dong ở đây là cái hình dong giấu kín bên trong con người, cho nên, trên sòng bài, các con bạc thường “bắt gân mặt” nhau để đoán nước bài của đối thủ, cho nên mấy “giáo sư chiêm tinh gia” lúc nào cũng liếc sơ cái mặt của thân chủ trước khi nâng bàn tay lên xem chỉ tay, để… định mức coi “thằng cha này nó sẽ tin mấy phần trăm những gì mình nói”!

Cũng bởi vì cái mặt nó lôi thôi, phức tạp và… “phản động” như vậy cho nên các “đỉnh cao trí tuệ” của đảng cộng sản Việt Nam đã nâng cao cảnh giác, ẩn mặt suốt giai đoạn đấu tranh “chìm” và chỉ “xuất đầu lộ diện” khi toàn dân đã vùng lên nổi dậy. Và các “đồng chí vĩ đại” của ta lúc nào cũng ôm khư khư cái mặt để… quản lý nó từng giây từng phút, riết rồi nó cứng đơ như mặt bằng đất. Đến nỗi vào bàn hội nghị quốc tế, các đối tượng không làm sao “bắt gân mặt” để “đi” một nước bài cho ngoạn mục! Ở đây, phải nói thêm cho rõ là cho dù trong nội bộ với nhau – nghĩa là giữa “ ta” và “ta” – cái mặt vẫn bị quản lý y chang như vậy, bởi vì hành động đó đã biến thành “bản năng” từ khuya! Cho nên đừng ngạc nhiên khi thấy, sau hội nghị mới ôm nhau “hôn nhau thắm thiết tình đồng chí” mà trên đường về lại khu bộ có cán bộ đã bị “ bùm” hay bị “cho xuống hố” một cách rất… bài bản, để lại niềm “vô cùng thương tiếc” trên vòng hoa phúng điếu của người đã ra lịnh hạ thủ!

Bởi cái mặt nó phản ảnh con người nên hát bội mới “dặm mặt” sao cho đúng với cái “vai”. Để khi bước ra sân khấu, khán giả nhận ra ngay “thằng trung, thằng nịnh, thằng hiền, thằng dữ ”… v. v. Ngoài đời, không có ai dặm mặt, nhưng vẫn được người khác “nhận diện” là : thằng mặt gà mái, thằng mặt có cô hồn, thằng mặt… mẹt, mặt mâm, mặt thớt, mặt hãm tài, mặt đưa đám, mặt trù cha hại mẹ, mặt… mo… v. v.

Trên sân khấu chánh trị Việt Nam, trong cũng như ngoài nườc, “đào kép” tuy không dặm mặt như nghệ sĩ hát bội nhưng mỗi người đều có “lận lưng” vài cái mặt nạ, để tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà đeo lên cho người ta “thấy mình là ai” (dĩ nhiên không phải là cái mặt thật của mình). Rồi cũng “phùng mang trợn mắt hát hò inh ỏi” một cách rất… tròn vai, làm “bà con đồng bào, đồng chí, đồng hương” cứ thấy như thiệt! Điểm đặc biệt là ông nào bà nào cũng muốn thiên hạ chỉ nhìn thấy có “cái mặt của mình” trong đám bộ mặt đang múa may quay cuồng trên sân khấu. Vì vậy, họ phải ráng bơm cho cái mặt của mình to bằng… cái nia, để thấy họ mới đúng là… “đại diện”! Chẳng qua là họ muốn tạo thời cơ để kiếm cho cái… đít của họ một cái… ghế! Đến đây thì vở tuồng trên sân khấu đang chuyển sang lớp “gà nhà bôi mặt đá nhau”… Cái mặt đã trở thành “một vấn đề”!

Để chấm dứt bài này, và để được yên thân, xin phép độc giả cho tôi “vác cái mặt” của tôi đi chỗ khác!

Bobigny, France, 6/2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Cái miệng

Tiểu Tử

Cái miệng có hai chức năng chánh: ăn và nói. Xưa nay ít có ai để ý đến những chức năng phụ của cái miệng – tiếng là phụ nhưng cũng không kém phần quan trọng – như: ngáp, ợ, ho, khạc, thở khi nào bị nghẹt mũi v.v…

Có lẽ tại vì nó… hạ cấp quá nên bị coi thường! Và cũng tại vì có sự coi thường đó mà người ta chỉ chú trọng dạy trẻ con học ăn học nói thôi. Thành ra, lớn lên, phần đông ngáp ơi ới không che miệng, ợ ồng ộc nghe chỏi lỗ tai, ho thẳng vào mặt người đối diện, còn khạc nhổ thì tùm lum bất cứ chỗ nào…Trong chuyện phiếm này, tôi cũng theo “truyền thống” để chỉ viết về hai chức năng “ăn và nói” của cái miệng.

Ăn…

Từ hồi còn nằm trong bụng mẹ, con người đã biết ăn. (Ông Trời sanh ra như vậy!). Mới lọt lòng, không ai dạy, kề vú vào miệng là đã biết… đớp. (Về sau, khi đã thành nhơn, có đòi đớp như hồi bêbê là một…cái gì khác chớ không phải là ăn!). Thành ra “ăn” là một bản năng. Hễ đói là tự nhiên phải kiếm cái gì ăn, chưa biết rằng không ăn lần hồi rồi sẽ chết ! Ăn… hối lộ không nằm trong “diện” tự nhiên trời sanh này!

Khái niệm “chết vì không có gì ăn hay có mà ăn không được” chỉ đến với con người khi con người có đủ trí khôn. Khỗ nỗi, khi có đủ trí khôn, con người lại đòi “ăn ngon”, biết chê biết khen, biết chế biến món này món nọ để ăn cho “khoái khẩu”. Cái “ăn”, vì vậy, đã chiếm… đỉnh cao của trí tuệ loài người, đến nỗi có câu “dĩ thực vi tiên” (ăn trước đã!) và ở Việt Nam miền nào cũng quảng cáo rầm rộ “món ăn đặc sản” để làm… chảy nước miếng du khách. (Ở Hà Nội bây giờ “chảy nước miếng hay chảy nước dãi” được gọi là “toát mồ hôi lưỡi”! Từ ngữ cách mạng vốn… trừu tượng mà!).

Trên thế giới, ngành du lịch xứ nào cũng giới thiệu thật nhiều về “cái ăn” ngay sau khi cho xem phong cảnh hùng vĩ hữu tình. Để thấy cái miệng tuy nhỏ xíu như vậy mà đã… đẻ ra chữ “ăn” thật to tổ chảng!

Trong từ ngữ thông thường, chữ “ăn” lúc nào cũng thấy như người lãnh đạo, nghĩa là đứng trên đứng trước nhiều chữ diễn tả một hành động một sự kiện – không biết để làm gì nhưng vẫn phải… đứng trên đứng trước! – Ví dụ như “ăn quịt, ăn gian, ăn trộm, ăn cướp” v.v…

Tiếng “ăn”… chẳng ăn nhậu gì với những chuyện “quịt, gian, trộm, cướp”, vậy mà phải có lãnh đạo “ăn” vào đó nghe nó mới… xuôi lỗ tai! Rồi thì… ăn tùm lum, lúc nào ở đâu cũng thấy ăn: ăn giỗ, ăn cưới (hồi xưa còn nói “ăn đám ma ” nữa kìa!), ăn khánh thành, ăn lên lon, ăn Tết, ăn đầy tháng, ăn thôi nôi, ăn… hối lộ v.v… Chỉ có “ăn” thôi, vậy mà cái miệng sao mà “lắm chuyện”!

Bây giờ, xin nói đến “nói”.

Con người nếu sống một mình chắc không cần phải biết nói! Thật vậy, biết nói để nói với ai? Rồi, bởi vì con người cần sống với con người nên mới phải “nói ” để hiểu nhau. Mới đầu nói bằng…tay chân (bây giờ gọi là “ra dấu”). Lần hồi, chắc ra dấu… mỏi tay nên mới bày đặt tiếng nói (dầu sao, mỏi miệng vẫn… dễ chịu hơn mỏi tay; cái trí khôn của con người bắt đầu… ló dạng!). Cái miệng, ngoài chức năng “ăn” của Trời cho, bây giờ có thêm chức năng “nói” do con người đẻ ra vì muốn người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì.

Con người mới sanh ra chưa biết nói, chỉ biết khóc! Các nhà văn gọi đó là “tiếng khóc chào đời”. Hay quá! Thật vậy, nếu không có tiếng khóc thì làm gì có tiếng nói? Rồi từ chỗ “oa oa” đó ọ ẹ riết rồi cũng ra chữ ra câu. Người ta dạy trẻ con học nói cho đúng cách, học nói cho có lễ độ, học nói cho thanh tao. Có một điều lạ là những tiếng… chửi thề chẳng thấy ai dạy mà sao ai ai cũng biết và biết sử dụng đúng nơi đúng lúc một cách “tài tình”! Ngoài những từ ngữ thông dụng – không kể chửi thề, dĩ nhiên – Nhà Nước Việt Nam còn dạy trẻ con hô khẩu hiệu, nói những lời “dao to búa lớn” theo… « phong cách xã hội chủ nghĩa », nghĩa là nói để cho có nói chớ không phải nói để cho người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì. Cái “nói” – một chức năng của cái miệng – cũng bị làm… cách mạng! Than ôi!

Nói về “nói”, con người nói thôi… đủ thứ. Nào là “nói thánh nói tướng”, “nói láo nói phét”, “nói hành nói tỏi”, “nói trăng nói cuội”… Rồi “nói phang ngang bửa củi”, “nói dộng trong họng người ta”, “nói trên trời dưới đất”, “nói mà cái miệng không kịp kéo da non”, “nói như con két”… v.v.

Cái miệng nói nhiều hơn ăn, bởi vì ăn no rồi là không ăn được nữa chớ còn nói thì có bao giờ bị… no nói đâu để mà phải ngừng?

Tóm lại, cái miệng là để ăn và để nói. Vậy mà chính cái miệng nó “hành” con người. Ông bà mình hay nói: “Bịnh từ miệng mà vào, vạ từ miệng mà ra”. Đúng quá! Tại vì mình ăn mới đem mầm bịnh vào người và tại vì mình nói mới đụng chạm sanh chuyện. Biết như vậy nhưng làm sao con người sống mà không ăn không nói ?

Ở Việt Nam, Nhà Nước cộng sản đã thấu triệt cái “chân lý” vừa kể cho nên… phân loại cái miệng: miệng của nhân dân và miệng của Nhà Nước.

Cái miệng của nhân dân là cái miệng “ăn” còn cái miệng của Nhà Nước là cái miệng “nói”.

Nhà Nước “quản lý” cái miệng ăn nên chỉ cho ăn vừa phải, đúng tiêu chuẩn, để nhân dân đừng… bị bịnh! ( Bệnh từ mồm mà vào, đúng thế đấy…Ta đã học tập và triển khai cái chân lý ấy từ thời… không có gì để ăn cơ!). Còn “nói” thì nhân dân không nên nói, bởi vì “nói” là mang vạ vào thân đấy thôi. Để Nhà Nước nói, bởi vì Nhà Nước, đã là “đỉnh cao trí tuệ” của loài người, biết nói thế nào để không bao giờ phải… mang vạ vào thân. Và bởi vì cái miệng của Nhà Nước là loại miệng nói không sợ… mòn, không phải tốn tiền mua và dự trữ đồ phụ tùng thay thế. Cho nên đừng ngạc nhiên sao ở Việt Nam hiện nay chỉ nghe có Nhà Nước nói và nói không bao giờ… ngừng, nói phét lác, xạo hết chỗ nói (XHCN) luôn thì cũng không hề hấn gì, một hai lần, rồi một trăm lần là đám dân đen sẽ cho là đúng!

Nếu “ăn” là để sống thì “nói” là để cảm nhận rằng mình đang sống. Vậy mà rất đông người dân Việt Nam chỉ được phép và cam chịu chỉ dùng cái miệng để ăn thôi…

Thế mới biết tại sao nhân gian có câu “ngậm miệng ăn tiền”!

Thêm bình luận Tháng Sáu 23, 2007

Kẻ đi cửa hậu

Caubay

Vừa rồi Cậu Bảy đi dự “đám cưới lại’ của thằng bạn thân. Nó cũng đà trộng tuổi mà chưa có vợ vì cái tuổi thanh xuân bầm dập trong tù, trong trại tỵ nạn, rồi qua Mỹ đi cày ngày hai buổi. Vài năm trước nó về thăm nhà sau gần hai thập niên xa cách, gặp nàng và nó bỗng hồi xuân rất nhanh. Tụi nó, cô trinh nữ trẻ trung xinh xắn và chàng Việt kiều sồn sồn, thương nhau rất mau và chân tình thắm thiết lắm. Thế rồi cưới và mang nàng về dinh. Qua Mỹ nó làm đám cưới lại để khoe với anh em. Nhậu một bữa đã đời trong đêm “tân hôn” của nó. Bạn bè thằng nào có ý tế nhị muốn về sớm thì nó nạt ngang: “Động phòng động phiếc gì mà tụi bay lo, bữa nay tao dzui với tụi bay. Dzô!” Cũng nên nói thêm thì trong buổi tiệc đó, thực khách bàn đủ chuyện trên đời, nhưng đề tài hấp dẫn nhất vẫn là tình hình chính trị tại Việt Nam. Gì chớ nói dóc chuyện chính trị thì Cậu Bảy hăng lắm. Từ chuyện WTO, PNTR, ông Triết, ông Dũng, ông Mạnh, cá tra, cá dồ, tôm xuất khẩu, dâu Đài loan, đĩ Đại hàn, lật đò, đấu tố, bắt cóc, đánh người, bịt miệng, vu khống, …hầm bà lằng cậu đều có mặt. Thế giới như trong lòng bàn tay của cậu. Kiến thức thông thái như thế cũng nhờ học lóm bà con trên diễn đàn. Vì thế mà khi lết tới nhà thì Cậu Bảy say mèm, quần áo để nguyên, chỉ nới cái cà vạt, nằm dài trên sofa và bắt đầu ngáy. Đó chỉ là bắt đầu câu chuyện.

– Ủa , nửa đêm rồi mà ai còn gõ cửa nhà mình vậy em? Mà gõ cửa sau nữa mới lạ chứ?

– Để em ra coi thử. Mà sao con vện nhà mình nó cũng không sủa vậy cà!

Mợ Bảy nói xong đứng dậy lấy cây chổi lông gà cắp sau đít rón rén bước ra cửa sau, bộ dạng thận trọng thủ thế lắm. Cây chổi trên tay hình như làm mợ thêm phần tự tin, như thể lăm lăm cây AK47. Bên ngoài khung cửa, dưới ngọn đèn mờ, bóng một người nhỏ thó, đội mũ tai bèo, mang dép râu, tay trái xách bị có in hình cờ đỏ sao vàng, tay phải chống gậy, lom khom dòm nhìn dáo dát như lén lút ai. Mợ Bảy mới đầu tưởng thằng ăn trộm nên định nhấn 911, sau lại tưởng ăn mày, nhưng khi nhìn kỹ lại cái lối đứng chàng hảng, hai hàng thì lập tức nhận ra ngay người quen đã lâu lắm.

– Mèn đét ơi! Anh Sáu, anh đi đâu mà đêm hôm khuya khoắt dậy anh? Dzô, dzô anh, dzô nhà có lạnh, coi chừng chó cắn nghen.

– Trời! Cô Bảy đó hả. Thiệt là may quá tui tìm đúng nhà! Cô đừng lo, tui quen đi đêm, chơi với chó quen rồi…

– Chớ anh đi đâu mà một mình lạc vô đây dậy anh Sáu?

– Tui qua Mỹ có việc, nhân thể tranh thủ ghé thăm cô dượng và cầu mong cho cô dượng mần ăn phát tài. Mới đó mà đã trên 20 năm rồi không gặp cô dượng. Coi, cô Bảy lóng rày coi bộ có da có thịt hơn hồi ở kinh tế mới nhiều đó nghen.

Mợ Bảy vốn tối kỵ những ai khen mình mập, thường ngày mà nghe cái ngữ ấy thì chắc chắn mợ sẽ nguýt một cái rõ dài, mắng đồ vô duyên, nhưng phen này biết anh Sáu thực bụng, vì anh là dân nhà quê, hồi trước theo cách mạng đói gần chết nên rất quí người mập. Vì thế mợ Bảy không những không giận mà cảm thấy rất vui, bèn hỉ hả nói:

– Anh chọc quê tui chi tội nghiệp anh Sáu. Trên đời có ai ốm hơn dân kinh tế mới đâu anh!

– Thế có dượng bảy ở nhà hông dậy cô?

Cậu Bảy nghe nói ồn ào chạy ra phía sau thì thấy anh Sáu Phong, người quen hồi xưa ở Bến Cát, Bình Dương, đang nghiêng mình lách qua khe cửa.

– Úi trời! Anh Sáu. Tui nghe anh đi Mỹ mà hổm rày ác nhơn ác nghiệt, công việc bận quá chưa kịp đi đón đó chớ.

– Chào dượng Bảy. Vô tư đi duợng, khách sáo làm chi. Tui biết dượng công việc bề bộn, thì giờ bên Mỹ quí lắm đâu có hưỡn như bên mình, hơn nữa đồng bào đi đón tui cũng đông, lại giăng biểu ngữ đầy đường nên tui cũng không thấy lẻ loi lắm.

Cậu mợ Bảy kẻ nắm tay, người nâng túi xách ân cần mời anh Sáu vào phòng khách. Tha hương ngộ cố tri, mừng mừng tủi tủi. Vào bên trong anh sáu Phong mở túi luồn tay lấy ra một chai nước tương để trên bàn rồi nói:

– Tui qua thăm cô dượng mà không biết đem món gì, thôi đem biếu cô dượng chai nước tương thựơng hạng, đây là thành quả của quê hương.

Cậu Bảy vừa nhác thấy món quà của anh Sáu đã rụng rời tay chân, đó là loại nước tương có hàm lượng 3-MCPD vượt mức cho phép khoảng 6000 lần, nhưng nể mích lòng nên cũng cười xả lả:

– Cám ơn anh. Tụi tui mà được dùng thứ này thì chắc là mau về quê thăm ông bà lắm.

Khi Mợ Bảy vào trong pha trà, Cậu Bảy nhích lại gần anh Sáu hỏi nhỏ:

– Vậy chớ có chuyện gì quan trọng hay sao mà đêm hôm ghé thăm vợ chồng tui đó?

– Đâu có chuyện gì, tui qua đây nhớ đến cô dượng nên ghé thăm, kẹt là đi ban ngày không tiện. Nói nghe mắc cỡ chứ chắc dượng đọc báo cũng thấy, tui tới xứ Mỹ này lén lén lút lút như thằng đi ăn trộm.

Cậu Bảy nghe xong lấy làm cảm kích. Hóa ra anh sáu là người có tình, dù nay đã nên người có danh phận mà vẫn không quên tình cố cựu. Cậu Bảy bùi ngùi nhớ về những ngày bo bo độn củ mì trên vùng kinh tế mới Bến Tượng, tỉnh Bình Dương. Ngày đó anh Sáu là nhân viên quèn bên tỉnh ủy, vẫn thường giúp gia đình Cậu Bảy vài cái giấy tờ như giấy đi đường, hộ khẩu… và bù lại Mợ Bảy cũng thường biếu anh khi lạng cà phê, khi vài điếu ba số. Ba con năm vừa nằm vừa ký. Hồi tưởng mông lung một hồi rồi Cậu Bảy chợt hỏi:

– Anh Sáu nói đi thăm tụi tui ban ngày không tiện là vì sao?

– Thì chắc dượng cũng biết đồng bào bên này họ hiểu lầm tui. Đi đến đâu thiên hạ xua đuổi chửi bới như đuổi chó dại. Nói nào ngay, lỗi đó cũng tại đồng bào mình ít về thăm quê, thiếu thông tin nên không thông cảm cho tui. Tui vì cảm mến cô dượng mà lén đến thăm, nhưng cứ nơm nớp sợ phiền cho cô dượng.

– Không sao đâu anh Sáu, tui thẳng như ruột ngựa, đâu phải tránh né ai. Nè anh Sáu, tui nghe báo chí bên nhà nói đại đa số kiều bào hải ngoại đều hướng về quê nhà và ủng hộ đảng của anh Sáu mà?

– Thôi dượng Bảy ôi, nói riêng cô dượng nghe chứ mấy thằng ký giả bên nhà cũng như bầy chó ghẻ của tui, biểu sủa là sủa, biếu nín là nín, chớ có gì liêm sỉ, đáng tin mà dượng để ý. Nói đa số kiều bào, máu thịt, ruột non, ruột già cho xôm tụ vậy thôi chớ thiệt ra đâu có mấy mống. Hồi trước thì tụi tôi cũng thả mấy thằng nằm vùng qua đây mà lần lần tui nó cũng ăn bả đế quốc mà dang ra hết, đâu còn nhiêu thằng. Lâu lâu mới dụ được một vài thằng bất đắc chí, hết thời, thất nghiệp, vợ bỏ mò về Việt Nam kiếm chác thôi.

Cậu Bảy nghe nói cũng thương hại nên hạ giọng an ủi:

– Thôi anh sáu cũng đừng buồn, chung qui cũng tại mình ăn ở hổng phải người ta mới giận dai như vậy. Nhưng tui hỏi thiệt anh Sáu nè, đồng bào người ta khinh miệt đã đành, mà nghe nói thái độ mấy thằng Mỹ cũng nóng mũi lắm, thế thì hà cớ gì anh Sáu qua đây cho mất mặt?

– Mặt tui có cái gì đáng mà sợ mất. Bụng đói thì đầu gối phải bò, dượng không biết hay sao? Mấy anh bên Bộ chính trị xúi tui đi chuyến này nhằm cải thiện chút đỉnh…

– Cải thiện quan hệ ngoại giao hả anh Sáu?

– Thiệt là chán cho dượng! Mới đi Mỹ có mấy năm mà quên bén tiếng Việt trong sáng hết ráo rồi. Cải thiện là đi kiếm chút đỉnh cho đỡ đói đó mà, như đi đào củ mài trên rừng hồi xưa đó.

– Chữ với nghĩa! Thì ra anh Sáu đi năn nỉ sự thương xót của mấy thằng nhà giàu Mỹ, với lại bọn phản động lưu vong, nôm na là đi ăn mày đó chớ gì?

– Dượng Bảy ôi, biết là như vậy nhưng dượng nặng lời với tui làm chi tội nghiệp. Nhục nhã gì bên này thì tui cũng ráng, miễn là mình đạt đủ chỉ tiêu Đảng giao là coi như thắng lợi rồi. Dzìa lại bển thì lại vinh quang mấy hồi.

Câu chuyện còn đang dang dỡ thì Mobay bưng trà ra và tham gia chất vấn:

– Hồi chiều tui ra chợ nghe người ta nói anh Sáu đã có buổi gặp gỡ đồng bào bên New York phải hôn?

– Tui có gặp nhóm Việt kiều yêu đảng, tui gọi họ là máu của máu Việt Nam đó.

– Đám đó chắc là Việt kiều có… dính máu nhân dân Việt Nam. Nhưng mà anh nói gì với họ anh Sáu?

– Thì trước hết tui đem thông tin cho họ biết sự thật trong nước.

– Ủa, bây giờ là thời đại internet mà thiếu thông tin như vậy sao?

– Thiếu gì cô Bảy, nhưng có nhiều điều không trung thực, thậm chí bôi nhọ đường lối của Đảng. Thông tin trung thực phải từ mồm của lãnh đạo mới chính xác.

– Thì ra thế. Anh ra ngoài này mà nói như vậy thì người ta chửi là độc tài hủ lậu cũng phải.

– Tội nghiệp tui cô Bảy, chung qui cũng vì cái ghế với mấy đồng đô thôi cô ơi.

– Rồi sao nữa anh Sáu?

– Lúc trước tui lỡ dại nói ở Việt Nam không có bất đồng chính kiến, bị mắng là láo nên kỳ này tui khôn lắm, tui sửa lại. Tui cũng cho bà con bên New York biết là trong nước mình dân chủ lắm, có bất đồng chính kiến nhiều lắm. Trong nội bộ Đảng cũng có nhiều bất đồng… chính kiến đó, như có đồng chí thì ưa món dồi, đồng chí khác thì ưa rựa mận… Ngay trong nhà tui cũng có bất đồng chính kiến. Thí dụ mụ Sáu nhà tui thì thích chính kiến nấu ăn, còn tui thì có chính kiến đá banh, nhiều lúc nửa đêm tui la lên khi thấy đội nhà đá lọt, bả rất bất đồng chính kiến với tui về điểm này. Còn vụ cha Lý, cô Công Nhân… đòi đa nguyên đa đảng thì hai năm rõ mười là họ bất phục tùng độc đảng, cái đó là vi phạm luật hình sự, không phải là chính kiến.

– Thì ra thế. Anh nói như vậy người ta mắng anh dốt cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

– Tui cũng nói là mình cần hòa bình để xây dựng đất nước. Cuộc chiến Việt Nam vừa qua chính là để xây dựng hòa bình cho Liên xô, Trung quốc và các nước XHCN anh em để tiến lên chủ nghĩa đại đồng… đô. Bộ cô dượng không biết ông Cút Xếp bên Nga đã từng nói “dân Việt Nam đã đổ máu và hiến mạng sống mình vì lợi ích của phong trào Cộng Sản thế giới” hay sao? Bà con không biết cứ cho cộng sản tụi tui hiếu chiến, xâm lăng miền Nam. Đặt mìn pháo kích thì là vũ khí của Nga của Tàu chứ mình đâu có vũ khí gì mà Mỹ Ngụy nó cũng bắt bớ tra tấn. Ngoài ra hòa bình thì phải dài lâu chứ mới 32 năm thì nhằm nhò gì. Thành quả bước đầu là đội ngũ ô sin, làm đĩ toàn cầu cũng rất đáng khích lệ.

– Thì ra thế! Anh Sáu nói như vậy người ta chê là đồ ngụy biện, cõng rắn cắn gà nhà cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

– Tui cũng nói cho họ biết là tui cũng quí trọng nhân quyền lắm. Ngày xưa bác đảng tui gây chiến cũng là để dành lại nhân quyền, có điều họ không hiểu là tui chỉ đòi nhân quyền cho người theo cộng sản mà thôi. Ai không theo cộng sản tui coi như súc vật, đâu phải con người thì quan tâm đến nhân quyền làm gì. Người dân trong nước dân trí còn thấp, họ không hiểu nên cứ đi đòi cái mà mình không có.

– À ra thế!. Anh Sáu nói vậy người ta chửi là bất lương cũng phải. Rồi sao nữa anh Sáu?

– Về chuyện chống tham nhũng thì tui cũng nói cho họ biết công lao của Đảng. Như vụ PMU18 hay Năm Cam là bằng chứng cụ thể rằng không phải tất cả toàn đảng đều dính líu trong đó. Có đồng chí có ăn, có đồng chí trơ mỏ, thành ra ta mới lôi ra ánh sáng được. Như vậy rõ ràng là trong đảng cũng có nhiều phe khác nhau, tui cho đó là chính kiến khác nhau. Đó là dân chủ của ta, theo hoàn cảnh cụ thể của ta. Vì vậy không nên nghĩ rằng cán bộ mình, dân mình tham nhũng nhất thế giới.

– À ra thế! Anh Sáu nhập nhằng dân với cán bộ có mòi hơi lộ liễu đó. Tham nhũng thì cán bộ đảng viên chứ dân lấy gì để tham nhũng mà anh Sáu đổ oan cho người ta như vậy. Còn cán bộ của anh Sáu có tham nhũng nhất thế giới không thì để cho thế giới người ta mần thống kê. Anh Sáu nói càn như vậy người ta mắng là láu cá cũng phải! Rồi sao nữa anh Sáu?

– Tui cũng dẫn chứng cho họ thấy Mỹ cũng độc tài lưỡng đảng; nước Anh, nước Nhựt có vua tức là còn trong thời kỳ phong kiến, kém xa dân chủ của ta. Ta lại hơn các nước ở chỗ có Mặt trận Tổ quốc, có Đoàn Thanh niên, có Hội Phụ nữ đều ủng hộ Đảng ta cả.

– À ra thế! Chuyện thể chế chính trị của các nước phương tây thì dài dòng lắm. Nói một tháng không xong, mà trình độ anh Sáu lại hạn hẹp, cần học thêm nhiều lắm. Còn lối lý luận của anh Sáu thì cũng y chang như hồi xưa ở rừng sâu, địa đạo mà bàn chuyện chính trị thế giới với chị Út Tịch. Ra ngoài nói như thế người ta chê anh ngu mà khoát lác như vẹm cũng là đáng đời.

Cậu Bảy vốn nể vợ, thấy vợ nói thì nín khe, nhưng thấy tình hình mỗi lúc mỗi căng, sợ không khéo làm anh Sáu buồn, nên nói chen ngang vào:

– Thôi em, anh Sáu ít đi ra ngoài thành ra chưa “nắm bắt thời đại”, mình cũng nên thông cảm cho ảnh. Phần anh Sáu thì vợ chồng tui cảm ơn anh đã tới thăm. Nói nhỏ anh nghe, tui nghe anh đến Mỹ tui mừng lắm, dù cũng nực vụ trước khi đi anh qua xin phép thằng Tàu. Ráng chơi với Mỹ nghen anh, dang thằng ba Tàu ra. Tui dốt nát không dám lý luận chủ nghĩa chủ nghiết gì nhiều, chỉ thấy việc nhãn tiền mà khuyên anh như vầy. Trên thế giới này hầu hết ai chơi với Mỹ cũng khá, không có ai thân tàn ma dại như chơi với Tàu. Coi cái gương Tây Đức, Nam Hàn, Nhựt, Đài Loan rồi so sánh với Cu Ba, Bắc Hàn và bản thân anh thì rõ. Chơi với thằng Mỹ là chơi với thằng có đạo đức, vì nó có tam quyền phân lập rõ ràng. Hành pháp nó làm sai, anh kêu cứu với quốc hội, tòa án của nó. Vụ kiện chất độc màu da cam của anh là một ví dụ. Ai thắng ai thua tui không nói ở đây, nhưng anh cũng thấy tụi Mỹ nó công bằng, mã thượng lắm, không có ai đứng trên pháp luật. Thử ngẫm lại mấy thằng “đại háng” lưu manh vĩ đại liền sông liền núi phương Bắc của anh coi sao. Xưa nay nó cướp đẩt, chiếm đảo, lấn biển, giết ngư dân của anh mà anh có kiện cáo gì được đâu. Vậy thì từ nay dẹp cha mấy cái chủ nghĩa, tư tưởng tào lao đi, ráng làm người lương thiện nghe anh Sáu.

Anh Sáu Phong nghe Cậu Bảy nói lời ân tình trong lòng dạt dào cảm động, rươm rướm nước mắt nói:

– Cô dượng à, tui nghe nói tha hương mà ngộ cố tri thì quá xá đã, chỉ đứng sau việc thầy chùa động phòng; thế mà mấy hôm nay tui đi đâu cũng bị xua đuổi thiệt là rầu, nay may gặp lại cô dượng tốt bụng khuyên răn, tui an ủi nhiều lắm. Tui nguyện ghi xương khắc cốt lời giáo huấn của cô dượng. Thôi đêm đã khuya, tui xin kiếu để cô dượng nghỉ ngơi.

Vợ chồng Cậu Bảy ra sức mời mọc ở lại mà anh Sáu nhứt định từ chối, viện lẽ trời sáng khó đi, lại cũng xin ra về bằng cổng sau. Dù vậy khi đứng dậy từ giả, anh Sáu lại có vẻ chần chừ, hình như có gì muốn nói, tay vân vê cái bị. Cậu Bảy hiểu ý bén móc túi lấy tấm check ký tặng cho anh Sáu 2 triệu đô. Anh Sáu lòng mừng khấp khởi, kẹp cái bị với cây gậy trong nách, hai bàn tay chấp lại, xun xoe cám ơn vợ chồng Cậu Bảy không ngớt lời.

Ra đến đầu hè, Cậu Bảy chia tay và dặn anh Sáu: “Lần sau có đến thăm chúng tôi, xin anh đi bằng cổng trước nhé”. Anh Sáu dạ dạ rồi bước nhanh vào bóng đêm.

Khi trở vào nhà, Mợ Bảy nhìn chồng hỏi:

– Tiền đâu mà ông ký cho anh Sáu đến hai triệu đô?

– Tui trên răng dưới dái, làm gì có bạc triệu, nhưng thấy đêm hôm anh ta đến thì biết là đi xin tiền. Bởi vậy tui ký check lủng cho anh ta mừng hụt chơi.

– Ông làm vậy là đồ tiểu nhân, thất đức, có tội lừa gạt người ta đó.

– Vẫn biết như vậy, nhưng lần này tui muốn cho anh ta bài học, nếm mùi cay đắng của các nạn nhân bị đảng của ảnh bịp xưa nay.

– Ông rõ thấp trí, thiếu sư phạm. Ở đời không ai lấy lừa dối để giáo hoá kẻ lừa dối. Nhưng lỡ rồi, hy vọng sau này nhờ vậy mà ảnh khá hơn lên, bỏ tật nói láo, biết nghe điều phải.

– Tui xin lỗi bà. Vậy chờ khi nào ảnh hoàn lương, ăn ở thật thà, biết lo cho dân thì tui gởi tiền thiệt về giúp cũng không muộn.

Nói xong Cậu Bảy ngó đồng hồ thấy đã hơn 3 giờ sáng, bèn giả bộ ngáp để khất nợ và nói với Mợ Bảy lời tạ từ trong đêm: “Anh chàng đi cửa hậu này làm hư hết… kế hoạch của tui đêm nay”.

Mợ Bảy nghe nói nổi xung, giơ chân đạp cho Cậu Bảy một đạp làm Cậu Bảy giựt mình tỉnh dậy và thấy mình vẫn còn nằm trên sofa, hơi thở vẫn còn nồng mùi rượu.

Thì ra là một giấc mộng, không lành, không dữ và cũng chẳng bình thường.

San Diego, June 20, 2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 22, 2007

Gậy ông đập lưng ông


Chuyện cà phê vỉa hè kể rằng:

Một sáng nọ tại bãi biển Đồ Sơn, người ta thấy hai ông già vừa tắm biển với mấy em chân dài, xinh như… tiên nữ “Pờ lay boi”, vừa chơi trò nắm tay “Oản tù tì”, ai thua thì phải cõng.

Hai ông cứ thay phiên nhau (giả vờ) thua để cõng nhau làm trò mua vui cho mấy em.

Mấy tiên nữ nhìn cảnh hai anh già râu tóc bạc phết, de dẻ nhăn nheo, bụng phệ, cõng nhau đi lụm khụm thì bưng miệng cười nắc nẻ, rung cả đào, cả lê.

Anh già tóc bạc đang nằm trên lưng anh chàng có hàng râu mép thấy mấy em cười toe toét, thân hình gợi cảm quá cỡ thợ mộc, bèn hứng … tình lên, đố các em:

– Tớ đố mấy … cháu, các … anh đang chơi trò gì đây. Em nào nói đúng tớ thưởng cho một đĩa nhạc có tên là “Thiên duyên tình mộng”. Mách nước một chút cho các cháu nhá! Ca dao, tục ngữ ta có nói đấy!

Mấy em gái nghe nói “đố chơi có thưởng” lại thưởng cho một “Thiên duyên tình mộng” thì mê tít thò lò, bởi đã nghe em Bảo Yến rú bài này lên môt cách “quằn quại đê mê” trên giường, y như “thú đau thương của loài ngựa hoang” nên đua nhau tìm câu trả lời. Tiếc thay mấy em đâu có học biết ca dao tục ngữ bao giờ đâu mà mò. Mấy em vừa nghĩ, vừa lầm bầm trong miệng:

– Bố khỉ cái lão già này! Phải chi lão đố về Lê văn Tám, Anh hùng Núp, Nguyễn văn Trỗi … thì hay biết mấy.

– Chúng em chả biết ca dao, ca búa gì đâu. Ông anh đố “hắc” quá!

– Trò gì nhẩy? Chúng em chịu thôi! Các anh đố cứ như mấy ông cụ!

– Thua à! Lười thế! Động não lên chứ! Lần này thì…anh giải. Lần sau thì phải cố lên đấy! Anh còn khối trò!

Các em bu quanh hai “cụ anh” vừa kéo, vừa níu, vừa ỏng ẹo nũng nịu:

– Ừ! Anh cứ giải cho chúng em đi! Lần sau chúng em cố để bù!

– Nhé! Đấy nhé! Phải bù đấy nhé! Đấy là trò: “Gậy ông đập lưng ông”.

– Thế là thế nào! Sao lại là trò “gậy ông đập lưng ông”?

– Thế mấy em không thấy “cái gậy” của anh đang đập lên lưng của thằng cha này là gì!

Mấy cô tiên nữ hiểu ra, cười rú lên, đấm thùm thụp liên hồi lên lưng hai anh già. Một cô rất “thơ ngây” hỏi ngớ ngẫn:

– Nhưng… nhưng em đâu có thấy cây gậy nào đâu?

Các cô lại phá lên cười sằng sặc. Môt cô có đôi mắt dài, cái lưng thon, cái eo nhỏ, (trường mi, tiểu yêu) tướng “trường xà quyển địa” xác nhận:

– Tối qua tớ có nắm thử cây gậy của anh ấy rồi. Còn cứng tốt lắm. Tớ có hỏi bí quyết, anh ấy nói là ở hải ngoại, anh ấy thường xuyên chống gậy chớ không có chống cộng nên vẫn còn “gin”.

Cả bọn lại rú lên cười. Anh râu mép thấy anh đầu bạc được điểm với mấy em quá cũng chẳng chịu thua, máu bốc đồng sôi lên, ra câu đố:

– Bây giờ anh đố các em. Hai anh đang ngồi mí các em trên bãi biển này, tục ngữ có câu gì để diễn tả. Em nào giải được anh cho đi một suất sang đảo Phú Quí tham quan sân “Gôn”.

Các em nhao nhao lên:

– Thèm vào! Đây chả thèm “Gôn” với Gậy”. Bảo lãnh đi Mỹ chơi một chuyến thì mới là tay ngon cơ!

– Ừ ! Thì Mỹ Tho hay Mỹ Thuận gì cũng được! Cứ giải đi! Nếu đúng thì “Trăm điều hãy cứ trông vào tay ta”!

Đa số các kiều nữ chân càng dài thì óc càng ngắn, cứ nghĩ mãi vẫn không ra, để hy vọng xuất ngoại một chuyến. Trong khi các em vờ vịt suy nghĩ thì anh râu mép với anh tóc bạc cứ tha hồ mà ngắm núi, ngắm đồi, ngắm khe, ngắm suối. Hồi lâu các em vẫn tịt, cuối cùng chịu thua.

Anh râu mép đắc ý, cười híp mắt, vừa chỉ tay xuống giữa hai ngón cẳng cái vừa giải đáp:

– Cái thế ngồi trên cát của hai anh đây tục ngữ nó gọi là “Đất lành chim đậu”.

Lần này thì các cô đã khôn ra, biết là đố mẹo, bèn “liên hệ” nhanh giữa “cái gậy” của anh đầu bạc và “con chim” của anh râu mép nên hiểu ngay. Cả bọn lại ôm bụng cười bò ra. Thừa dịp, mấy em cười tít mắt “không thấy tổ cuốc, tổ cò”, hai anh cụ quơ tay phát vào mông, vào đùi các em loạn xạ làm cho các em vừa la oai oái, vừa thích chí cười toáng lên.

Mặt trời lên cao dần, người đi tắm biển mỗi lúc thêm đông, thấy đám tiên nữ và hai cụ ông đang diễn trò “Tiên Dung và Chữ Đồng Tử”, nói cười vang rân nên lò dò đến xem để biết là tài tử xi la ma nào.

Hóa ra không phải tài tử đóng phim mà là hai anh “Việt Kiều yêu nước” từ Mỹ về xây dựng quê hương.

Một anh là đại nhạc sĩ họ Phạm. Một anh là tướng quân họ Nguyễn.

Hai anh này bây giờ giống như hai hồn ma đang vật vờ, vất vưởng không nơi nương tựa, tình cờ gặp nhau bèn rủ nhau kiếm nơi du hí và tâm sự lòng thòng.

Anh nhạc sĩ họ Phạm lắm tài mà cũng lắm tật. Nhất là cái tật anh ta thích “yêu”. Yêu bất kể “quân thần phụ tử”. Yêu tất tần tật. Từ hoa bướm tới thơ nhạc, nhất là người đẹp, đều yêu hết. Đôi khi anh “yêu” ghê quá, mãnh liệt quá, cái dục tính nó nhổm dậy bò ra khỏi lằn ranh của luân thường đạo lý. Nghệ sĩ mà! Nhưng đến người đẹp “Vô Thượng sư” thì anh yêu cả người lẫn tiền.

Năm nay anh cũng đã hơn tám bó rồi mà sức chơi vẫn còn khỏe lắm. Tình yêu trong tim anh vẫn còn rực lửa. Anh chống gậy (giả vờ) về lại quê nhà để tiếp tục yêu và giúp đỡ các em bé tuổi đôi mươi khỏi phải bị đưa sang Hàn quốc, Sin Ga Po làm nô lệ tình dục.

Mấy mươi năm ở Mỹ, coi bộ yêu khó quá. Mó vào các em nhí thì bị vác chiếu ra tòa. Còn mấy em đượi đứng đường thì hãi quá.

Mới đây, nhìn tấm hình một anh chàng họa sĩ đầu hói chuyên ké bóng anh nhạc sĩ TCS, ngồi trong quán bar, đang ôm một em nhí có bầu ba tháng với mình, đăng trên báo VC, anh nhạc sĩ thấy phê quá, nên quyết định giả từ “Thị trấn giữa đường” về quê để được “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”.

Ta về ta tắm ao ta. Vừa rẻ vừa ngon.

Ba chục năm sống lưu vong ở Mỹ, nhạc anh được hát thả giàn. In ấn, xuất bản, thu băng, thu dĩa…thả giàn. Anh đến đâu cũng được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt. Tưởng đâu, đời anh, tên tuổi anh theo thời gian mà đậm thêm nét son trong lịch sử, chí ít ra là trong bộ môn âm nhạc.

Ngờ đâu vào một ngày không đẹp trời lắm, anh bỏ hết tất cả những gì đang có, anh chống gậy về quê để an hưởng tuổi già, để vớt vát những ngày trống bỏi còn lại.

Thôi thì cũng chúc phúc cho anh. Còn lại bao nhiêu cái răng thì ráng mà gặm bấy nhiêu cỏ non.

Ai có dè, về đến nhà, anh lại dở chứng (cái chứng này lát nữa có người sẽ nói sau) Nếu anh cứ tà tà gặm cỏ non, gặm từ sáng tới chiều, gặm cho tới tàn canh gió lạnh đi chăng nữa thì chẳng ai lý tới làm gì cho mất thì giờ, tốn hao giấy mực. Đàng này, anh lại muốn lấy điểm với Đảng và Nhà nước ta, sưng sưng tuyên bố một câu rất thối:

“Tôi chống gậy chớ không chống cộng”.

Tuyên bố xong, còn phụ đề Việt ngữ thêm bên cạnh là “cái bọn hải ngoại lâu nay chống cộng hung hăng con bọ xít rất ư là bát nháo, ấm ớ hội tề”. Cái sự lấy điểm rất “máu” này chỉ làm cho VC cười mũi vì họ biết tỏng cái “thằng sớm đánh tối đầu”, nhưng họ cũng biết dùng cái câu tuyên bố đó như “giáo Tàu đâm Chệt” để âu yếm gửi tặng lại “đồng bào hải ngoại khúc ruột ngàn dậm” như một tô canh gân gà khó nuốt.

Ngoài ra, anh còn hăm he: – Từ nay cấm có đứa nào hát chùa nhạc cuả ông. Nếu không nghe “nhời, ông kiện cho bỏ bú! Sau khi bán được mươi bài cho Công ty Văn Hóa Phương Nam.

Nghe nói bà con bên Cali rất nhiều kẻ ngậm đắng, không ít người nuốt cay. Người thì khóc rống lên thương xót cho thần tượng khôn ba năm dại một giờ. Kẻ thì giơ tay đấm ngực, chửi rủa vì đã tiếc công, tiếc của nuôi “hắn ta” mập thây bao nhiêu năm nay, bi giờ “hắn ta” phản bội.

Mặc, trò đời như phù vân trên trời, như ba đào dưới biển. Đường ta, ta cứ đi. Ruộng ta, ta cứ cầy. Nhạc sĩ họ Phạm cứ dung giăng dung dẻ lên sân khấu trong những đêm “Ngày trở về” cười hề hề cầu tài.

Nhưng chuyện đời đâu có phải bằng phẳng dễ ăn cả. Mặc dù Phạm nhạc sĩ đã đi một đường trình diễn lã lướt làm đẹp Nghị quyết 36 của Đảng, nhưng (lại nhưng) vẫn có những thằng ghen ăn, tức ở, ở trong nước, gai mắt trước cảnh khán thính giả vỗ tay bôm bốp chào đón “cái thằng chạy lại”, còn mình đứng một đống lù lù ở trước mặt mà chẳng ma nào rớ tới, bèn xử dụng “văn hóa bốc ném” tấn công ào ạt nhạc sĩ họ Phạm ta.

Quả thối nặng ký nhất có tên “Không thể tung hô” được ném ra ngày 13/3/2006, bởi một “đồng chí nhạc sĩ” Nguyễn Lưu nào đó, đăng trên báo Đầu Tư, quyết ăn thua đủ với “đồng chí Phạm”.

Ý chừng thấy chưa đủ sức công phá, nhạc sĩ Lưu lôi thêm anh chàng “nhà văn Chu Lai” vào cuộc, cho nổ trước một quả dọn đường.

Nhà văn Chu Lai tâm đắc khoe:

“ Tạp chí Thế giới Mới số mới nhất có đăng một bài viết, với nội dung gói gọn: “Một người từng bỏ kháng chiến đi theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lui theo Ngô đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Vả tại đó đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống cộng, với giọng điệu “sặc mùi” hiếu chiến. Nay thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng như thế!”

Tiếp theo tiền pháo, đồng chí Nguyễn Lưu hậu xung bằng súng cối, tên lửa, A.K, lựu đạn chày, dao găm, mã tấu… trong một bài viết rất dài và rất dại. Xin trích vài câu ngắn:

“ – “Không thể tung hô” – Có thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam là triết lý “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Tuy nhiên không đánh “kẻ chạy lại” cần được hiểu thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và “không đánh” có nhất thiết đúng nghĩa với việc xem người ấy là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể…? Tôi muốn nói đến trường hợp nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đên nhạc “Ngày trở về. (diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, T.P HCM)(Rất đúng bài bản! Chính sách Đảng trước sau như một, không bao giờ thay đổi. Chỉ có bổ sung!. NV)

Quả bom sau khi văng miểng tanh bành, anh chàng họ Lưu này phùng mang trợn mắt hô to khẩu hiệu:

“Ai muốn coi Phạm Duy là thần tượng, tùy ý, còn tôi, trước sau xin nói không!

Tiếc thay, trong bài viết rất dài và dại đó, họ Lưu không đánh trúng được yếu huyệt của lão họ Phạm mà lại để hở sườn lộ ra nhiều sơ hở, được tóm trong hai điểm chính::

– Làm lộ bí mật quốc gia, lộ ý đồ bên trong của Nghị quyết 36, kêu gọi hoà hợp hòa giải dân tộc. (Không phải ai cũng được hòa. Còn phải xét lại từng người)

– Hung hăng con bọ xít chống Phạm Duy, bị mất trí khôn, lòi ra cái ngu dốt mãn tính chuyên chụp mũ. (Lấy bài “Mùa thu chết” làm trọng điểm để xoáy sâu, đánh phá bị ép phê ngược)

Vì hai cái ngu này, nhạc sĩ ghen ăn tức ở Nguyễn Lưu bị bà Giám Đốc Công Ty Văn Hóa Phương Nam, người bảo kê cho Phạm Duy, ăn miếng trả đòn bằng quả bom nặng ký hơn, vạch ra rất nhiều điều ngu dốt, bậy bạ của hắn ta, làm hắn ta và anh nhà văn Chu Lai tịt ngòi, im thin thít.

Buồn cười và thú vị nhất là cái Bà Văn Hóa Phương Nam biết xài cái chiêu “Gậy ông đập lưng ông” như hai anh đầu bạc và râu kẽm chơi ở bãi biển Đồ Sơn. Nghĩa là bà cứ dùng cái chiêu “Hòa hợp hòa giải dân tộc” của Đảng và Nhà nước ta đang hô hào ra đánh lại, khiến cho đối phương không dám ho he, nhúc nhích.

Cãi lại cái Nghị quyết của Đảng e mà có tù mọt gông à?

Xin trích vài hàng:

“Đường lối đổi mới của Đảng trong hai thập niên qua đã mang lại những thành tựu to lớn đầy sức thuyết phục. Chủ trương đại đoàn kết theo tinh thần Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đang thổi môt luồng sinh khí mới, động viên tinh thần yêu nước của tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, chính kiến trong cũng như ngoài nước để cùng hướng tới mục tiêu”dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

(…) Nhiều người bỏ nước ra đi, nay lần lượt trở về góp phần xây dựng đất nước dưới hình thức này, hình thức khác. Ông Nguyễn cao Kỳ, Phó tổng thống Chính quyền Sài Gòn cũ đã trở về. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của chủ trương đại đoàn kết.

Đối với những kẻ thù xâm lược, chúng ta cũng đang xếp lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai, nhưng đọc bài báo của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, nhiều người hẵn băn khoăn tự hỏi tại sao việc “xếp lại quá khứ” đối với một bộ phận người Việt lại khó khăn đến thế? Khép lại quá khứ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc “bỏ quên tất cả” như ông Nguyễn Lưu nói. Và cũng không thể xếp lại quá khứ theo kiểu lôi hết “ngọn nguồn” của một người để phơi bày trên mặt báo như ông Nguyễn Lưu đã làm! Dù nhắm tới một đối tượng cụ thể là nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng khi ông Nguyễn Lưu (dẫn lời nhà văn Chu Lai) nói rằng “ Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về” chắc chắn sẽ làm những người đã hoặc đang có ý định trở về chạnh lòng và cảm thấy bị xúc phạm. Đó là lời nói kiêu ngạo, vô trách nhiệm, gây mất lòng tin vào đường lối chủ trương của Đảng.”…

(Chuyện ông Lưu với bà Phương Nam choảng nhau trên báo chí y như chuyện thường ngày ở chợ. Ai muốn biết rõ thì đọc thêm ở báo Thế giới Mới và Đầu Tư VN)

Chuyện ì xèo trên cứ râm ran kéo dài trên báo trong nước vì nhiều ý kiến của độc giả và khán giả, kẻ khen, người chê cũng lắm, làm buồn lòng nhạc sĩ nhà ta không ít.

Nhạc sĩ nhà ta không “ke” với bọn hải ngoại, bởi nhạc sĩ đã “vẫy tay chào nhau” rồi. Những tưởng về quê xênh sang, ai ai cũng “hoan hỉ” chào đón, đi đâu cũng có lọng vàng che như thiền sư Nhất Hạnh.

Ai ngờ! Thiệt chán mớ đời cho thế thái nhân tình!

Nhạc sĩ nhà ta buồn lắm. Bèn đi hoang, ca bài “Trầu Cau”: Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu! Và tình cờ lại gặp tướng quân râu kẽm cũng đang đi vật vờ.

Cả hai bèn rủ nhau ra Đồ Sơn kiếm mấy em chân dài tâm sự.

Đây nói về tướng quân họ Nguyễn.

Tướng quân họ Nguyễn từ lúc hô hào chiến hữu ở lại chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, rồi lẻn trốn thoát thân một mình, nên khi qua Mỹ, nghĩ lại, rất ân hận và xấu hổ về hành động “không can đảm” của mình. Vì vậy, tướng quân muốn làm một điều gì đó để lương tâm và danh dự đêm đêm không còn nhe răng ra cắn rứt nữa.

May quá! Đúng lúc Nhà nước ta đang “phát động chiến dịch hòa hợp hòa giải dân tộc” cần người làm cu mồi. Tướng quân thấy cơ hội và giờ phút “lịch sử” đã điểm, bèn xông ra nắm lấy.

Cộng đồng người Việt và các anh em chiến hữu, nhất là binh chủng Không Quân, ngăn cản và phản đối kịch liệt.

Nhưng tướng quân cố đấm ăn xôi, kệ thây đám hải ngoại “hiểu lầm” khổ nhục kế của mình, để xả thân về nước, hy vọng đem miệng lưỡi Tô Tần thuyết phục Hoàng Đế, Tể Tướng và bầy tôi ở Bắc Bộ phủ nên rũ lòng nhân, xét lại chính sách nhất quán mà thương tình cho đám lưu vong, hơn ba triệu người, đang sống khổ, sống sở rất thảm thương, lang thang khắp nơi trên địa cầu. Nên mở lượng hải hà, mở rộng lòng nhân đạo y như sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, dang rộng vòng tay thân ái đón những “khúc ruột ngàn dặm” trở về với quê hương, chùm khế ngọt.

Suốt mấy năm liền, Nguyễn tướng quân, bôn ba hết Nam đến Bắc, đi mòn dép, nói mỏi miệng mà quan lớn, quan nhỏ chẳng ai nghe. Áo hồ cừu khi đi còn mới cắt chỉ bây giờ rách te tua như cái tổ đỉa. Lúc ra đi bằng xe tứ mã, giờ về lếch thếch lội bộ thật không giống con giáp nào.

Nghĩ giận mình học nghề du thuyết chưa thông bèn trở về Mỹ, đóng cửa, ngó mặt vào tường, đọc sách “Làm thế nào xóa bỏ một chế độ” của nhóm đồng tác giả Sịa. Sách dày ngàn trang. Nghiền ngẫm liền trong sáu tháng, không ăn, chỉ uống. Mất hết hơn trăm chai X.O Remy Martin mới “ngộ” ra được một chữ TIỀN.

Từ đó, tướng quân thông hiểu hết mọi lẽ trên đời. Bí kíp dấu kín trong bụng, mong một ngày công thành danh toại. Một hôm ngứa miệng chịu không nổi, tướng quân đem khoe với bà vợ (mới cuỗm được), về cái triết lý “tiền”. Bà vợ nghe xong, hứ một tiếng rồi bỉu môi:

– Tưởng dài lưng đọc sách nửa năm, uống hết cả tiệm rượu, ngẫm ra được cái gì hay ho, mới mẻ, chớ “tiền” thì tôi đây là mụ nhà quê cũng biết thừa đi rồi. Há chẳng nghe ông bà mình vẫn nói: “Vai mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá thiên hạ vẫn nghe ào ào” là gì!

Tướng quân khoái chí, xoè tay năm ngón, đánh đét vào mông vợ một cái rõ kêu, rồi cười hì hì:

– Ấy! Rõ là mụ đàn bà nhà quê đái không qua ngọn cỏ! Chỉ biết một mà không biết hai! Cái bí quyết là ở chổ “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Đồng tiền đi sau là đồng tiền dại”. Biết chửa?

Sau đó, Nguyễn tướng quân đi chiêu dụ một số nhà tài phiệt Mỹ bằng cách đưa ra một kế hoạch ít vốn mà nhiều lời trong tương lai, nếu đổ tiền đầu tư ở Việt nam một nước có rất nhiều khế ngọt, để làm mồi nhữ.

Đám tài phiệt Mỹ hể nghe ở đâu có hơi đồng thì mê. Chúng họp nhau lại, đem máy “vi tính” ra nghiên kíu. Máy cho ra kết quả: Tâm lý cái bọn giàu “nẫy” (tức giàu thình lình nhờ cướp và tham những) hay có thói học làm sang kiểu trưởng giả, rất thích đua đòi kiểu ông kẹ là đánh Gôn cho bằng dân Mỹ.

Thế là, Nguyễn tướng quân dẫn bầy đoàn doanh nhân Mỹ mang kè kè túi đôla xanh bên hông về nước ký kết xây dựng sân Gôn.

Vừa được “đông bạc”, vừa được có nơi chơi khỏi phải sang Hồng Kông, Sing Ga Po xa xôi tốn kém, dĩ nhiên Nhà nước ta ô kê cái rụp.

Lần này, Nguyễn tướng quân đạt được kết quả mỹ mãn. Phải dùng tới khẩu hiệu của “Bác” mới diễn tả hết cái sự “vĩ mô” của kết quả thu về: “Thành công, thành công, đại thành công”. “Thắng lợi, thắng lợi, đại thắng lợi”. Khắp toàn cõi giang sơn gấm vóc Việt Nam, từ đất liền ra tới hải đảo, đâu đâu cũng có những sân “Gôn” mọc lên rất “hoành tráng”.

Từ nay tướng quân không thèm ngồi xe tứ mã nữa. Tướng quân ngự trên chiếc xe do ba ngàn con trâu. Thật là hách.

Ngoài sự thắng lợi về tiền bạc rủng rỉnh trong túi, lên xe xuống ngựa, yến tiệc linh đình, ba ngày tiểu yến, bảy ngày đại yến với các quan trong Triều Bắc Bộ phủ ra, Nguyễn tướng quân thừa lúc, đem miệng lưỡi Tô Tần ra thuyết, đem cái lợi vô cùng to lớn của sự “hòa hợp hòa giải dân tộc” ra giải bày cùng đám quan chức lớn nhỏ trong Triều. Đang lúc ngà ngà hơi men, các quan nghe Nguyễn tướng quân thuyết rất hấp dẫn vì có mùi (tiền):

– Các quan anh thử nghĩ xem! Mỗi năm, chúng nó (NVHN) gửi sơ sơ về cho thân nhân mà ta đã có một số ngoại tệ 4 tỷ đô la, bằng 1/3 tổng số lợi tức cả nước thu nhập. Các quan anh chả làm gì sất mà được ngồi mát ăn bát vàng. Nếu các quan anh chịu khó một chút, một chút thôi, chìa tay ra bắt tay chúng nó rồi nói vài lời an ủi “rằng thì là”…lập tức chúng nó mũi lòng (dám có đứa cảm động quá, khóc sụt sịt nữa đấy) mà quên hết quá khứ ngay. Lúc ấy, cứ tưởng tượng ra cái cảnh ba triệu rưỡi người của cái đám tị nạn, lưu vong xô đẩy, chen lấn, đạp lên nhau, xéo lên nhau mà trở về để được hái khế. E rằng thế giới không cung cấp đủ “tàu há mồm” để chở chúng về nữa đấy.

Các quan lớn Bắc Bộ phủ nghe đến đó, ngồi đực ra, há hốc mồm, mắt cứ tròn xoe nhìn chòng chọc vào bộ râu kẽm của Nguyễn tướng quân, trong đầu hiện ra hình ảnh đô la xanh chảy về thành dòng như nước sông Hồng mùa lũ lụt. Hồi lâu mới có anh lên tiếng:

– Đồng chí nói nghe thì dễ ăn đấy! Nhưng Đảng ta đã ra Nghị quyết 36 cả mấy năm nay chẳng chiêu dụ được ma nào cả, thì làm sao bi giờ?

– Cái Nghị quyết 36 của các quan anh nó ấm ớ hội tề lắm, chả có tác dụng gì! Tại sao? Các quan anh cứ làm như cha cố người ta không bằng. Các anh phải vạch rõ cái gốc vấn đề là tại làm sao người ta bỏ nước ra đi. Từ cái gốc ấy, các quan anh mới khều được cái tâm lý yêu nước, thương nòi trong lòng người ta. Lúc ấy mới kêu gọi được chứ. Trong lúc người ta đang ở trên đất nước tự do, nhân quyền, nhân phẩm, quyền lợi người ta được hiến pháp, luật pháp nước sở tại bảo đảm chắc chắn thì các quan anh lại ra Nghị quyết này nọ, nhảy chồm chồm vào đòi quyền bảo vệ khúc ruột ngàn dặm. Thế là thế nào? Người ta đâu cần các quan anh bảo vệ? Trong khi cái đám người các quan anh xuất khẩu đi lao nô khắp nơi bị bọn chủ chà đạp ức hiếp, kêu cứu lên tận trời xanh, thì các quan anh lại làm ngơ.

– Nhưng nhỡ bọn “đĩ điếm, phản quốc” ấy kéo về đông quá lợi dụng chính sách khoan hồng, hòa hợp của ta rồi tổ chức “diễn tiến hòa bình” đòi tự do dân chủ thì sao?

– Ấy! Lúc đó thì lũ chúng như cá nằm trong chậu, chim nằm trong lồng rồi! Các quan anh cứ tha hồ muốn chém, muốn chặt lúc nào mà chả được. Đấy, như cái đám tranh đấu đòi tự do với mấy ông sư, ông cha trong nước, các quan anh hàng ngày hết bắt giam người này, bỏ tù người nọ, có ai dám hó hé không nào? Nước ta là nước độc lập có chủ quyền, được thế giới công nhận, thì còn sợ gì ai?

– Rất là chí lý! Nhưng ta phải làm gì chúng mới chịu tin là ta có thành tâm thiện chí ?

– Muốn chúng tin thì trước tiên ta phải hòa giải với người chết đã, bằng cách trả lại Nghĩa trang Quân đội ở Biên Hòa cho thân nhân họ và nhất là Ta bỏ ra chút ít tiền tượng trưng để trùng tu lại một số mồ mã lâu nay bị ta đập phá lấy đá về xây chuồng heo. Ta làm được việc này thì sau đó mà tha hồ hốt đô la.

– Được! Thế là “quyết” nhé! Cứ thế mà làm!

Sau bữa nhậu rất “hồ hởi phấn khởi” đầy “ấn tượng” và “bức xúc” đó, mấy trăm tờ báo, mấy chục đài phát thanh, phát hình Nhà nước đua nhau đưa tin về cái “quyết” rất “nhân bản” rất “đậm đà bản sắc dân tộc” đó.

Các đài phát thanh ngoại quốc đua nhau phỏng vấn Nguyễn tướng quân về cái vụ Nghĩa trang Quân đội. Thính giả nghe đài cũng “phấn khởi” theo những câu trả lời rất “hồ hởi” của Nguyễn tướng quân.

Nguyễn tướng quân đã lập công lớn trong việc “xin được” Nhà nước ta chịu xìa bàn tay từ trên cao xuống, để bắt tay với đám lưu vong trong “chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc”.

Bấy giờ nhiều người mới hiểu ra, mới thầm khen tướng quân đã chịu nhiều khổ nhục, dấn thân vào hang cọp để thuần hóa cọp.

Cạnh đó, người xem truyền hình cũng nhận ra được những cái nhếch mép cười khinh mạn của tướng quân để ngầm trả lời cho cái đám se sẻ không hiểu được chí lớn của chim bằng, khi xử dụng khổ nhục kế.

Chẳng bao lâu, chừng nửa năm sau cái “quyết” lịch sử trong bửa nhậu tràn trề rượu X.O đó, ngày 27 tháng 11 năm 2006, một Quyết định do Tể tướng Dũng ký, ban hành nói về cái nghĩa trang đó.

Nội dung: Đồng ý chuyển mục đích xử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lý sang xử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế, xã hội tỉnh Bình Dương. Giao Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ đạo việc quản lý khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo qui định của pháp luật.

– Ối giời ơi! Bố mẹ ơi! Cái Quyết định như thế có giết tôi không chứ!

Thôi rồi! Bao nhiêu công lao du thuyết của Nguyễn tướng quân trôi theo dòng nước bạc. Hôm ấy, chúng hứa với mình là sẽ trả lại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cho thân nhân tử sĩ QLVNCH. Bây giờ chúng lại lươn lẹo nói chuyển sang mục đích dân sự để cho tỉnh Bình Dương sử dụng phát triễn kinh tế. Ăn làm sao, nói làm sao với cái đám chim se sẻ hôm trước ta nhếch mép cười khinh bạc. Các quan anh thâm quá, đã đá giò lái ta cú này quá đau.

Thế mới thấm cái câu “Việt cộng nói dzậy mà không phải dzậy”.

Tướng quân buồn tình cho cái sự đời “như cái lá đa”, đi cà lơ thất thơ, miệng lẩm nhẩm hát mấy câu huê tình cho với nổi u uất trong lòng thì gặp anh đầu bạc. Hai anh rũ nhau tìm nơi để giải tỏa nỗi niềm.

Bây giờ thì trời nắng gắt lắm rồi, hai anh với bầy tiên nữ tìm bóng mát nơi mấy tảng đá để ngồi uống nước giải khát. Mấy em bu vào bá vai, bá cổ, cạ ngực, cạ mông xin tiền “bo”.

Ngẫm nghĩ cái cảnh lỡ làng hiện tại, đi chẳng nở, ở không xong, tưởng đâu “đất (sẽ) lành chim đậu” nào dè lại bị cảnh “gậy ông đập lưng ông” hai anh rầu thúi ruột, chợt biết ra rằng mình chỉ là tài hèn, sức mọn, con én không làm nổi mùa xuân, dù mùa xuân ảo, mà không biết phải làm sao.

Tức cảnh sinh tình, hai anh lại đố:

– Câu đố cuối cùng, em nào giải cũng được, thưởng hết. Mỗi em một vé. – Như hai anh đang ngồi với mấy em đây, tục ngữ nói thế nào?

Cả đám tiên nữ chân dài lần này thông minh hẵn, tranh nhau nói:

– Ngó cái mặt bí xị của hai anh, chúng em biết ngay là hai anh đang ở trong cảnh “trứng chọi đá”! Đúng không nào?

Nguyễn Thanh Ty

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Chín 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Posts by Month

Posts by Category