Posts filed under ‘Sức khoẻ




Khiêu vũ vừa vui vừa khỏe

Bs Nguyễn Ý-Ðức

Nhẩy múa là một phần của nền văn hóa mỗi quốc gia, xuất hiện từ khi con người có mặt trên trái đất. Người ta nhẩy múa trong lễ nghi tôn giáo, trong liên hoan kỷ niệm, giao tế nhân sự, trong giải trí cá nhân, trước khi lâm trận chiến tranh, săn bắn vả cả trong liên hoan gây quỹ từ thiện, bác ái. Nhiều dân tộc có tục lệ nhẩy múa trong ma chay tử biệt, vừa để biểu lộ niềm tiếc thương đối với người quá cố vừa chúc mừng giải thoát về cõi bình an.

Nhẩy múa gợi ra ít nhất một số yếu tố của nền văn hóa qua quần áo mặc khi biểu diễn, nhạc cụ, điệu nhẩy và thể điệu âm nhạc riêng của từng dân tộc.

Nhẩy múa hoặc khiêu vũ là di chuyển các bước chân theo điệu nhạc một mình, cùng bạn nhảy hoặc trong một nhóm tại nhà, câu lạc bộ, hội quán hoặc vũ trường, nhà hàng…

Các từ “múa đôi”, “nhẩy đầm”, “nhảy nhót”, đi “bum” “đi bal”, khiêu vũ thể thao (DanceSport), khiêu vũ trường sinh… cũng thường được dùng.

Nhẩy múa đã được tạo hóa gắn vào mỗi tế bào của con người kể từ thuở mới mở mắt chào đời, giơ tay, đạp chân, oe oe tiếng khóc. Cho nên tục ngữ châu Phi có nhận xét “Ai biết nói thì cũng hát được. Ai biết đi thì cũng biết nhẩy múa”.

Thánh Kinh có ghi: “Mọi sự ở đời đều có từng mùa và một thời gian cho mỗi mục đích. Có thời gian để sinh, thời gian để chết, thời gian để thu lượm hoa trái. Có thời gian để chém giết lẫn nhau, thời gian để lành bệnh, thời gian để tan vỡ, để hàn gắn, để khóc, để cười, để thương tiếc và thời gian để nhẩy múa”.

Aristotle xếp nhẩy múa ngang hàng với thi ca và cho rằng một số vũ công có thể diễn tả các ứng xử xã hội, tình cảm và hành động qua nhiều điệu bộ nhịp nhàng.

Vũ công danh tiếng Mata Hari (1876-1917) triết lý “nhẩy múa là một bài thơ mà mỗi cử động là một lời nói”.

Theo Albert Einstein, “Vũ công là các lực sĩ của Thượng Ðế”.

Voltaire khuyên “Hãy đọc sách và khiêu vũ vì đó là hai thú vui không bao giờ làm hại ai”.

Vì, theo Shirly Maclaine: “Khi nhẩy, tôi không thể phán xét, ghen ghét, tự tách xa đời sống. Tôi chỉ có thể hoàn toàn vui vẻ. Ðó là lý do tại sao tôi khiêu vũ”.

Nữ văn sĩ Vicki Baum (1888-1960) lại nói “Có nhiều đường tắt để đi tới hạnh phúc và khiêu vũ là một trong những con đường đó”.

Còn thi sĩ người Pháp Paul Valery (1871-1945) thì coi nhẩy múa như “một hành động biến đổi hình dáng hoặc bản chất”.

Các nhà chuyên môn y khoa học ngày nay đã chứng minh nhẩy múa, khiêu vũ còn có nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

Ích lợi tim mạch

Bác sĩ Rita Beckford, Giám đốc Trung tâm Cấp Cứu Twinsburg tại tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ cho biết khiêu vũ với nhạc điệu tiện lợi hơn là tới vận động tại câu lạc bộ thể dục vì nó giản dị và vui thú. Theo vị thầy thuốc này: “Vận động chỉ hữu ích khi thực hiện đều đặn và chỉ đều đặn khi ta cảm thấy thích thú. Do đó, dù với bất cứ thể điệu nào, khiêu vũ giúp con người thu lượm được nhiều ích lợi như sự dẻo dai, cưòng tráng, tiêu hao mỡ”

Theo bác sĩ chuyên môn tim mạch Hermes Ilarraza của Viện Tim Quốc gia, New Mexico, “Ích lợi của sự vận động với bệnh nhân tim mạch đã được xác định. Tuy nhiên, gắn bó với thể dục thường không kéo dài vì người bệnh cảm thấy nhàm chán. Nhưng, bản tính con người là thích nhẩy múa, vì thế khiêu vũ có thể là sinh hoạt hấp dẫn”.

Bộ Canh Nông Hoa Kỳ cho khiêu vũ là một hoạt động vừa phải, tương tự như đi bộ nhanh, vừa đi vừa đánh golf hoặc đạp xe đạp muời dặm một giờ. Cơ quan này cũng khuyên nên khiêu vũ khoảng 30 phút mỗi ngày.

Viện National Heart, Lung and Blood Hoa Kỳ xác định khiêu vũ giảm rủi ro bệnh động mạch vành, giảm huyết áp, giữ sức nặng cơ thể trung bình và tăng sức mạnh của xương chân, xương hông.

Kết quả nghiên cứu của Mayo Clinic cho hay khiêu vũ xã giao giúp nâng cao sức khỏe, giảm căng thẳng, tăng sự phối hợp và sức chịu đựng của cơ thể.

Trong hội thảo khoa học của Hội Tim Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 2006 tại Anaheim, tiểu bang California, Giáo sư Romualdo Belardinelli, Ðại học Y Politecnica delle Marche, Italy, đã tường trình kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của khiêu vũ đối với bệnh tim. Theo ông, “khiêu vũ là một lựa chọn mới về vận động cơ thể đối với bệnh nhân bị suy tim”.

Trong một nghiên cứu trước đây, bác sĩ Belardinelli và đồng nghiệp nhận thấy rằng khiêu vũ, đặc biệt là vũ điệu valse chậm và nhanh, đều an toàn và nâng cao khả năng cũng như phẩm chất đời sống của người đang có bệnh tim hoặc đã có cơn suy tim.

Nhóm khoa học gia này tái thực hiện nghiên cứu ở những người đang bị bệnh tim mãn tính và thấy có cùng kết quả. Theo ông, sự làm việc của cơ thể trong khi khiêu vũ tương tự như sau khi tập luyện thể hình (aerobic exercise).

Suy tim xẩy ra khi sức bơm máu của cơ quan này yếu giảm, đưa đến tích tụ chất lỏng ờ phổi và các tế bào. Người bị suy tim có thể đi bộ chậm rãi, nhưng đi nhanh hơn một chút hoặc bước lên mấy bực cầu thang là họ hụt hơi, khó thở. Họ cũng không vận động được như người bình thường.

Nhóm nghiên cứu của bác sĩ Belardinelli theo dõi 110 bệnh nhân tuổi trung bình là 59 (89 người nam, 11 nữ) đang có bệnh suy tim mãn tính nhưng ổn định.

Một nhóm 44 bệnh nhân được tình cờ lựa chọn để tập đi xe đạp và đi bộ, ba lần một tuần, trong tám tuần lễ dưới sự hướng dẫn.

Nhóm thứ hai, 44 người, tham dự khiêu vũ theo điệu valse thay đổi với nhịp điệu chậm 5 phút và nhanh 3 phút trong 21 phút tại phòng thể thao của bệnh viện.
Nhóm thứ ba 22 người không vận động.

Trong thời gian vận động và khiêu vũ, tham dự viên được theo dõi nhịp tim, thử nghiệm chức năng trao đổi không khí hô hấp và tình trạng mạch máu.

Họ cũng trả lời bản trắc nghiệm về phẩm chất đời sống, coi xem suy tim ảnh hưởng như thế nào tới giấc ngủ, khi tham dự các giải trí, làm công việc vặt trong nhà, đời sống tình dục, tình trạng tâm thần như lo âu, trầm cảm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy khiêu vũ tăng khả năng và phẩm chất của đời sống, đặc biệt về cảm xúc. Ở nhóm không tập luyện không có gì thay đổi.

So sánh với nhóm tập luyện cơ thể, nhóm khiêu vũ có khả năng tiêu thụ oxygen cao hơn (18/ 16), ngưỡng chịu đựng của cơ bắp khi bị mệt cao hơn (21/ 20). Ðộng mạch của bệnh nhân nhóm khiêu vũ đàn hồi tốt hơn so với nhóm không vận động, do đó họ tránh được vữa xơ động mạch.

Nói chung, đời sống của nhóm khiêu vũ tốt hơn so với nhóm tập luyện cơ thể.

Bệnh nhân cho hay sau các lần khiêu vũ, họ có giấc ngủ ngon, tâm trạng yêu đời, thích thú tham gia các sinh hoạt giải trí, làm việc nhẹ trong nhà cũng như quan hệ tình dục tốt. Ngoài ra, khi khiêu vũ, họ cảm thấy vui vẻ với bạn nhẩy hơn là buồn tẻ đi bộ trên máy móc cơ khí một mình.

Ðiểm đáng lưu ý là mọi người đều tham dự nghiên cứu tới cùng, không ai bỏ cuộc.

Giáo sư Belardinell kết luận: “Ở người bị suy tim mãn tính, khiêu vũ có khả năng tạo ra những ích lợi sinh lý giống như với vận động thể hình”.

Và các nhà nghiên cứu này đề nghị là nên có những nghiên cứu khác để tìm hiểu thêm vế ảnh hưởng tốt của khiêu vũ đối với số đông quần chúng.

Vận động cơ thể rất cần thiết sau khi bị bệnh tim. Họ sẽ sống lâu hơn và đời sống có nhiều bình an hơn. Nhưng làm sao để bệnh nhân gắn bó với vận động là chuyện khó khăn. Thường thường, 70% bệnh bỏ dở chương trình vận động vì nhiều lý do khác nhau. Cho nên, thay thế khiêu vũ với tập luyện có thể là sáng kiến hay.

Theo bác sĩ Belardinelli, sở dĩ nhóm nghiên cứu lựa điệu valse vì đây là điệu nhẩy rất phổ thông và tác động nhịp nhẩy lướt qua lướt lại cũng tương tự như thể dục thể hình. Các điệu nhẩy khác cũng có ích lợi như vậy.

Kết quả nghiên cứu này đã được nhiều chuyên gia bệnh tim mạch đón nhận một cách nồng nhiệt.

Bác sĩ trưởng bộ môn tim Robert Bonow tại Ðại học Y Northwestern Memorial, Chicago, có nhận xét về kết quả nghiên cứu này như sau: “Ðây có thể là phương thức hữu hiệu hơn để lôi cuốn mọi người vào việc tập luyện cơ thể và có lẽ có nhiều hứng thú hơn là đi trên máy tự động”. Bác sĩ Bonow cho hay sẽ áp dụng ở bệnh viện nơi ông ta làm việc.

Theo bác sĩ chuyên khoa tim Elliot M. Antman tại Ðại học Y Harvard, một lực sĩ có huấn luyện đầy đủ sẽ biết cách tiêu thụ dưỡng khí một cách có hiệu quả cho nên cơ bắp của họ không đòi hỏi nhiều dưỡng khí. Vì thế họ có thể vận động mạnh mẽ và lâu hơn người thường.

Khiêu vũ và tập luyện cơ thể đều giúp bệnh nhân suy tim sử dụng oxy một cách hữu hiệu, nhờ đó họ có thể vận động lâu hơn mà không bị hụt hơi. Và nhà phát ngôn viên này của Hội Tim Hoa Kỳ nói thêm ông ta rất khuyến khích vì khiêu vũ dường như hấp dẫn, thích thú hơn với người bị suy tim khiến cho họ dễ dàng vận động.

Bác sĩ Robert Myerburg, Giáo sư Y khoa và Sinh học Ðại học Y Miami: “Với bệnh nhân tim, đây có thể là một phương thức tốt để vận động tới mức chịu đựng của mình và chắc là họ sẽ thích thú. Người bệnh có thể thay đổi hình thức nhẩy sao cho thích hợp với tình trạng sức khỏe của mình”

Theo bác sĩ Louis E. Teichholz, Ðại học Y khoa Hackensach, New Jersy: “Đây là loại thể dục thể hình tốt vì khi nhẩy valse, người ta luôn luôn chuyển động”.

Tốt cho xương khớp

Khiêu vũ cũng tốt cho viêm xương khớp.

Chuyên gia khiêu vũ trị liệu Jane Wilson Cathcart có ý kiến: “Phương thức trị liệu tốt nhất cho viêm xương khớp là cử động vì cử động nuôi dưỡng khớp. Khiêu vũ dìu ta vào những cử động mà ta nghĩ rằng không bao giờ thực hiện được”.

Khớp có một đĩa sụn ở giữa để chịu đựng sức va chạm khi khớp cử động. Sụn không có mạch máu và được nuôi dưỡng bằng thực phẩm trong các mạch máu ở gần chuyển qua khi khớp co duỗi. Trong nhẩy múa, xương khớp luôn luôn được vận dụng, nhờ đó sụn được nuôi dưỡng tốt hơn.

Lợi ích đối với tâm trí

Khiêu vũ không những có ích cho thể chất mà còn tốt cho tâm trí.

Nghiên cứu công bố trên New England Journal of Medicine vào năm 2003 cho hay, người cao tuổi tham gia vào các sinh hoạt như khiêu vũ đều giảm nguy cơ bị sa sút trí tuệ. Nghiên cứu cũng cho hay, bệnh nhân Alzheimer có thể nhớ lại nhiều điều khi họ nhẩy với những điệu nhạc, bài hát quen thuộc. Người khiêu vũ cũng phải động não tập trung với điệu nhạc, bước đi, cho nên trí óc luôn luôn làm việc và là điều rất tốt.

Bác sĩ Joe Verghese, giáo sư Thần kinh tại Đại học Y Albert Einstein ở New York đã theo dõi các sinh hoạt trong đó có khiêu vũ của 469 lão gia trên 75 tuổi không có vấn đề về trí nhớ. Sau 5 năm, 124 vị có dấu hiệu sa sút trí tuệ mà đa số ở nhóm người không bao giờ khiêu vũ.

Theo ông, khiêu vũ là một hoạt động đa hiệu chứ không chỉ thuần túy thể xác. Khiêu vũ tăng lượng máu lưu thông lên não bộ, giảm căng thẳng, cô đơn và luôn luôn động viên trí não nhớ điệu nhạc, bước đi để hòa nhịp với bạn vũ.

Bên Anh quốc, Bộ Văn Hóa và Bộ Sức Khỏe Công Cộng đã khuyến khích việc tổ chức các lớp hướng dẫn khiêu vũ và các trung tâm khiêu vũ để thăng tiến sức khỏe người dân.

Ðôi khi không cần phải ra sàn nhẩy mới thu lượm được lợi ích. Ta có thể đứng hoặc ngồi tại chỗ, thả hồn theo âm thanh, cổ quay qua lại, tay nhúc nhích lên xuống, bàn chân ngón chân chuyển động nhịp nhàng, nhún nhẩy theo điệu nhạc cũng tạm thời coi như là vận động một chút rồi.

Ích lợi chung

Nói chung thì nhẩy múa đều mang lại một số lợi ích cho cơ thể, nếu ta thực hành với mục đích trong sáng là giải trí lành mạnh và vận động cơ thể.

Các ích lợi đó là:

-Trong khi nhẩy múa, các cơ bắp cũng tiêu dùng một số calori, giúp cơ thể khỏi quá ký, mập phì.

Một giờ khiêu vũ chậm nhẹ có thể giảm 250 calori, nhẩy hip hop thì những 400 calo tương đương với một giờ đi bộ nhanh, nhẩy swing là 235 calo; ballroom là 265 calo; nhẩy bốn đôi square dancing là 280 calo; vũ ballet là 300 calo; múa bụng belly là 380 calo, vận động thể hình aerobic là 540 calo.

Một nghệ nhân biểu diễn tranh tài trong một điệu nhạc nào đó có vận động tương đương với một người bơi 800 feet.

-Tốt cho xương khớp, tăng độ đặc của xương, giảm rủi ro xốp xương.
-Tăng chất dinh dưỡng cho sụn khớp, giảm thiểu viêm xương khớp
-Giúp cơ bắp mạnh mẽ, bền bỉ hơn
-Thân thể uyển chuyển, phối hợp nhịp nhàng
-Tăng sự đi đứng vững vàng cho cơ thể
-Tăng sự tự tin nhẩy hay, múa đẹp
-Tăng trí nhớ vì phải nhẩy theo nhịp nhạc và phải nhớ từng bước đi
-Tốt cho trí tuệ, tăng trí nhớ người cao tuổi: phải nhớ nhạc nhớ điệu nhảy, phải ăn nhịp với bạn nhẩy, chứ đâu có ì người ra để người ta đẩy như xe bò…
-Tạo thêm bạn mới, quan hệ mới, giảm thiểu sống cô đơn
Về việc tạo thêm nhiều bạn hữu, tăng sự tin tưởng, hòa khí giữa con người với con người, Ông Trùm nhạc soul James Brown có ý kiến: “Bất cứ mọi xích mích nào cũng dễ dàng được hóa giải bằng khiêu vũ, nhẩy múa. Vì chẳng lẽ lại mặt sưng mày sỉa, hầm hầm ôm nhau mà nhẩy”.
-Nâng cao tinh thần, cảm thấy phấn chấn cả về thể xác lẫn tâm hồn, làm ta như sinh động hơn, không còn ưu tư phiền muộn, hận thù ghen ghét, đố kỵ hơn thua.
-Giảm rủi ro mập phì, cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, ung thư ruột già
-Nhẩy múa làm ta ăn ngon hơn vì vui và vì đói bụng
-Làm trẻ con người, trì hoãn sự lão hóa. Tục ngữ Nhật Bản có nói “mọi người nữ nhẩy múa đều trẻ như con gái 19 tuổi”

Tham khảo ý kiến bác sĩ

Trước khi áp dụng khiêu vũ như một hình thức vận động cơ thể, nên tham khảo ý kiến bác sĩ coi xem mình có cần giới hạn gì không.

-Có bao giờ bác sĩ nói mình có vấn đề với trái tim và chỉ nên vận động theo hướng dẫn của bác sĩ
-Có bao giờ thấy đau ở ngực khi vận động hoặc khi không làm công việc gì.
-Có bao giờ đi đứng mà mất thăng bằng, không vững hoặc chóng mặt, muốn té xỉu?

Nên bắt đầu với các điệu nhạc nhẹ nhàng. Cao tuổi thì chậm rãi dìu nhau «đi chợ» tại chỗ với slow, tango, boston, rumba. Trẻ trung thì sôi động bao sàn nhẩy với bebop, twist, cha cha, pasodoble.
Và nên luôn luôn coi khiêu vũ như một giải trí lành mạnh, một loại vận động cơ thể hữu ích, chứ đừng điên cuồng thâu đêm suốt sáng dưới ảnh hưởng của thuốc lắc, rượu mạnh.

Kết luận

Nhẩy múa là một sinh hoạt có nhiều phúc lợi. Nó làm người buồn hóa vui. Nó tăng óc sáng tạo, tăng tình bạn, tạo ra tình yêu, phục hồi trí nhớ. Nó duy trì tốt sức khỏe tinh thần và thể chất từ trẻ tới già, nam cũng như nữ.

Ngoài ích lợi sức khỏe cho cá nhân, khiêu vũ cũng có những ích lợi xã hội.

Nhẩy múa không chỉ là những bước đi theo điệu nhạc, mà là một phối hợp độc đáo của hoạt động thể chất, giao tế xã hội và kích thích tinh thần.

Nếu muốn gặp nhiều bạn bè: Hãy tới sàn nhẩy. Nếu muốn có sức khỏe tốt: Hãy khiêu vũ. Muốn quên mọi âu lo: Hãy quay cuồng luân vũ, xua đuổi ưu tư ra ngoài trí óc.

Ngày xưa người ta nhẩy múa theo nghi lễ tôn giáo, nhẩy múa để giao tế nhân sự. Vua Chúa thăm viếng nhau đều có dạ hội, khiêu vũ để tỏ tình thân thiện. Quốc trưởng các quốc gia ngày nay thăm viếng nhau cũng có dạ hội khiêu vũ liên hoan ký kết tương trợ, thương mại, bảo vệ…

Cho nên có ý kiến rằng nếu mỗi buổi sáng trước khi tới sở, đi làm, bà con lối xóm dìu nhau nhẩy một điệu nhạc vui rồi chiều về cũng nắm tay vũ cùng nhau thì cộng đồng hòa hợp, bình an.

Trắng đen, tà nghịch đều cùng nhau hòa mình khiêu vũ thì đâu còn ngăn cách chính kiến, hận thù bom đạn…

Làm được như vậy thì cũng vui đấy nhỉ.

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 14, 2007

Hiệp Hội Tiêu Thụ Canada: 43% Cá Nhập từ Việt Nam Nhiễm Độc

“Người dân đang mua cá nhiễm độc nhập cảng từ Việt và Trung Cộng,” một tổ chức mang tên “Hiệp Hội Tiêu Thụ lên tiếng cáo buộcnhư thế hồi cuối tuần qua.

Với lý do rằngcác loại cá xuất xứ từ hai nước kể trên được nuôi với thuốc trừ bệnh nấm độc hại, Hiệp Hội yêu cầu chính phủ liên bang cấm nhập cảng một số loại cá, sản phẩm cá từ hai nước này. “Một loại thuốc trừ bệnh nấm đã bị cấm sử dụng, Malachite Green, mà mọi người biết là nguồn gốc gây bệnh ung thư, được nông dân nuôi cá ở một số nước Á Châu sử dụng, đặc biệt là Việt và Trung cộng.” Bruce Cran, chủ tịch Hiệp Hội Tiêu Thụ nói như vậy. “Các thí nghiệm tại các phòng thử nghiệm độc lập đã lấy mẫu cá mua ở các siêu thị cho thấy giới tiêu thụ đã phải mua các con cá, sản phẩm cá nhiễm độc.”

Trong một bản thông cáo phổ biến đến báo chí hôm thứ Sáu tuần qua, ông Cran nói rằng các thử nghiệm thực hiện trong năm nay của Cơ quan Kiểm Soát Thực Phẩm Canada (CFIA) đã có đến 43% cá nuôi của Việt Nam nhiễm độc với loại thuốc gây bệnh ung thư. Theo lời ông, hiện nay, Cơ Quan Kiểm Soát Thực Phẩm Canada chỉ thử nghiệm 5 con trong số hàng ngàn con cá ở trong cùng một lô cá nhập cảng.

“Nếu may mắn 5 con cá đem xét nghiệm đều không nhiễm độc trong khi tất cả các con cá khác đều độc hại thì tất cả được chấp thuận cho bán ra ngoài công chúng.” Ông nói.

“Ðấy là điều xảy ra gần đây khi các con cá bán tại một siêu thị ở British Columbia đều nhiễm độc. Chúng đã được cơ quan (CFIA) kiểm soát và được chấp thuận cho bán.”

Cran còn nói rằng cho đến nay không thấy cơ quan này khuyến cáo dân chúng về tình trạng bất thường này.

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

3 Ngộ Nhận Khi Chữa Chứng Liệt Dương


Bạch truật.

Nhiều người cho rằng khi bị bất lực thì không nên sinh hoạt tình dục. Thực ra, việc yêu đương với mức độ vừa phải có tác dụng “kích hoạt” khả năng tình dục của bạn. Nếu “nhịn hẳn”, khả năng đó sẽ “lịm” luôn.

Khi cơ thể suy yếu thì việc tiết dục là hết sức cần thiết để bảo tồn tinh khí và giữ gìn sức khỏe. Tuy vậy, ngoại trừ những trường hợp bị bất lực ở mức độ nặng, nghĩa là không thể “hành sự” được, còn với mức độ nhẹ và vừa thì vẫn nên duy trì sinh hoạt tình dục với tần số thích hợp. Điều này không chỉ có tác dụng giải tỏa về mặt tâm lý mà còn tạo ra những kích thích có tính hưng phấn, rất cần cho sự phục hồi dương sự.

Theo y học cổ truyền, việc ái ân có thể khơi thông ngũ tình, làm cho can khí thông suốt, tâm huyết điều hòa. Nếu tuyệt dục lâu ngày thì can khí không điều hòa, khí huyết ứ trệ, từ đó mà không đạt được mục đích dưỡng sinh. Ngay cả với những trường hợp bất lực ở mức độ nặng, nếu như không có sự gần gũi với người khác giới, không có sự động viên, khích lệ, ve vuốt của người bạn đời thì dẫu cho thuốc có hay đến mấy thì kết quả trị liệu cũng rất hạn chế.

Bất lực nghĩa là thận hư?

Từ quan niệm sai lầm này mà nhiều quý ông khi có trục trặc về dương sự là lập tức đi cắt thuốc bổ thận, có khi bệnh càng nặng thêm. Thực ra, theo y học cổ truyền, chứng bất lực có nhiều nguyên nhân như: tình chí uất kết (yếu tố tâm lý, tình cảm), ẩm thực bất điều (ăn uống không hợp lý), lục dâm xâm nhập (các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài như hàn, thấp…), phòng sự quá độ (sinh hoạt tình dục bừa bãi), niên cao thể nhược (tuổi cao sức yếu), cửu bệnh sở luỵ (bị bệnh lâu ngày), bẩm thụ tiên thiên bất túc (di truyền, tật bệnh từ nhỏ)…

Do đó, biện pháp trị liệu cũng không giống nhau. Phần lớn nguyên nhân gây nên bất lực là do yếu tố tâm lý tình cảm (tình chí uất kết), tác động trước hết đến các tạng như can, tâm và tỳ, tạo nên những thể bệnh như can khí uất kết, tâm tỳ lưỡng hư…

Chỉ cần dùng thuốc bổ thận tráng dương
là chữa khỏi chứng bất lực?

Sự ngộ nhận này là hệ quả tất yếu của quan niệm sai lầm vừa kể trên; nó khiến cho những người đàn ông “yếu” sùng bái thuốc tráng dương, cường dương, vô tình trở thành “con mồi” của các lang băm. Nhiều ông lang vô tình hoặc cố ý khuếch đại về công dụng của thuốc bổ thận tráng dương khiến cho “con bệnh” vì quá tin mà lạm dụng. Hậu quả là, bệnh trạng của người bệnh không những không được cải thiện mà có khi còn trở nên tồi tệ hơn, thậm chí dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn như căng thẳng thần kinh, mất ngủ, lở loét miệng, chảy máu chân răng, mụn nhọt, khô miệng, tăng huyết áp…

Đối với những người bị bất lực do dùng tân dược chữa tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, đái đường… thì việc dùng nhầm hoặc lạm dụng các thuốc cường dương.

4 Bài Thuốc Chữa Liệt Dương

Theo Đông y, có 3 nhóm nguyên nhân gây liệt dương: cơ thể suy nhược (tâm tỳ hư), rối loạn thần kinh chức năng (thận hư) và viêm nhiễm hệ tiết niệu sinh dục kéo dài (thấp nhiệt tích trệ). Đơn thuốc được kê tùy theo các nguyên nhân này.

Liệt dương do suy nhược cơ thể

Thể này hay gặp ở người mắc bệnh mạn tính về tiêu hóa hoặc hệ thống tuần hoàn. Ngoài triệu chứng liệt dương, bệnh nhân còn có biểu hiện da xanh, mặt vàng, ăn kém, ngủ ít, thảng thốt, tinh thần bất an, đoản hơi, đoản khí.

Bài thuốc: Nhân sâm, long nhãn, bạch truật, phục thần mỗi thứ 12 g, hoàng kỳ, đương quy, toan táo nhân mỗi thứ 16 g, mộc hương 6 g, viễn chí 6 g, cam thảo 4 g. Mỗi ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày thì nghỉ 10 ngày, liên tiếp trong 3 tháng.

Liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng

Thể này do hoạt động tình dục quá độ, thủ dâm gây ra.

Nếu do thận âm hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương, di tinh, hoạt tinh, người gầy, da khô, đau lưng, mỏi gối, ù tai, ngủ ít. Dùng bài thuốc: thục địa 16 g, sơn thù, trạch tả, đan bì mỗi thứ 8 g, hoài sơn, phục linh, kỷ tử, nhục thung dung, ngũ vị tử, trâu cổ, long nhãn mỗi thứ 12 g. Ngày sắc uống 1 thang, uống trong 20 ngày, sau đó nghỉ 10 ngày, trong 3 tháng liên tiếp.

Nếu do thận dương hư, người bệnh có triệu chứng: liệt dương (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn), di tinh, hưng phấn giảm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, mệt mỏi, sợ lạnh, tay chân lạnh. Dùng bài thuốc: thục địa, thỏ ty tử, phá cố chỉ, bá tử nhân, phục linh, lộc giác giao mỗi thứ 120 g, làm viên hoàn, ngày uống 30 g.

Liệt dương do viêm nhiễm

Hay gặp trong sỏi tiết niệu, sỏi bàng quang, viêm bàng quang mạn tính. Người bệnh có triệu chứng: liệt dương, khát nước, tiểu tiện đỏ.

Bài thuốc: hoàng bá nam 20 g, ý dĩ, trâu cổ mỗi thứ 16 g, mạch môn, kỷ tử, thục địa, ích trí nhân, ô dược, ngưu tất mỗi thứ 12 g, tỳ giải 24 g, sắc uống ngày 1 thang, uống 20 thang trong 1 tháng.

Chú ý: Trong thời gian uống thuốc, cần tránh quan hệ tình dục.

BS Khang Ninh
Sức Khỏe & Đời Sống

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Giải Phẫu Thẩm Mỹ và Văn Hóa


BS. HỒ ĐẮC DUY

Trong xã hội ngày nay (và có thể cả trong thời tiền sử), hầu như mỗi chúng ta, ít nhiều đều không hài lòng với hình thức của mình. Người thì thấy tai mình vểnh quá, người lại lo lắng đến cái mũi quá dài hay quá thấp…

Lịch sử của thân thể là cả một quá trình phấn đấu để vượt qua chính mình. Ngay từ xa xưa, con người đã không ngừng nỗ lực đấu tranh để xóa bỏ những hạn chế của thân thể thông qua chính trị, nghệ thuật, tôn giáo,… Giải phẫu thẩm mỹ có thể xem là một món quà huyền diệu của khoa học. Nhưng cần phải đặt nó trong lý tưởng thẩm mỹ và bối cảnh văn hóa cụ thể của một dân tộc, hơn là sản phẩm lai căng thể hiện sự đầu hàng trước một nền văn hóa ngoại lai.

Giải phẫu thẩm mỹ, một dịch vụ “liên tục phát triển”

Theo những số liệu thống kê vài năm gần đây cho thấy, chỉ riêng tại Mỹ, vào năm 1981 đã có 296.000 trường hợp giải phẫu thẩm mỹ; Năm 1984, con số này tăng lên 477.700; 10 năm sau (1994) là 1,3 triệu. Năm 1995, có hơn 825.000 ca giải phẫu sửa mặt. Năm 1996, cứ trung bình 150 người thì có một người tìm đến giải phẫu thẩm mỹ. Những khách hàng giải phẫu cũng ngày càng trẻ hơn. Phụ nữ châu Á ở Mỹ thường sửa mắt từ một mí thành hai mí. Ở Brazil, nhiều gia đình giàu có thường khuyến khích con gái giải phẫu ngực (làm cho nhỏ hơn) để phân biệt với những thiếu nữ thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội.

Tuy nhiên, các nhà tâm lý nhìn nhận hiện tượng này khác hơn. Qua nhiều nghiên cứu và dẫn chứng về việc áp dụng phẫu thuật thẩm mỹ để thay đổi những đặc tính liên quan đến chủng tộc, các nhà tâm lý học giải thích giải phẫu thẩm mỹ sở dĩ phát triển là do lòng khát khao chinh phục các nhược điểm về hình thể của con người, bắt nguồn từ sự thống trị của một lý tưởng thẩm mỹ đang thịnh hành trong một sắc dân, thành phần kinh tế hoặc quyền lực nào đó. Điều này giải thích tại sao nhiều phụ nữ Á đông sống trong xã hội phương Tây có khuynh hướng nhuộm tóc vàng, để tự đồng hóa với lý tưởng về cái đẹp của phụ nữ bản xứ.

Vài nét về lịch sử phát triển của ngành giải phẫu thẩm mỹ

Qua nghiên cứu các sách giáo khoa về giải phẫu, tiểu thuyết, tác phẩm điêu khắc và các trang web trên mạng internet hiện thời, chúng ta có thể khái quát lịch sử của ngành giải phẫu thẩm mỹ. Ngay từ thế kỷ thứ 16, một số nhà giải phẫu đã cố gắng hồi phục lại mũi của những bệnh nhân bị biến dạng do bệnh giang mai. Thời đó chưa có thuốc khử trùng và gây mê, nên phẫu thuật này rất nguy hiểm và cực kỳ đau đớn. Nhưng với xã hội lúc này, một người có khuôn mặt với mũi bị đục khoét do bệnh giang mai là thuộc thành phần xấu (cho dù nạn nhân chỉ bị bệnh vì di truyền), nên nhiều người không ngần ngại chịu đau và đối đầu với hiểm nguy để được giải phẫu. Những cuộc giải phẫu đầu tiên này đã đặt ra vấn đề phân biệt giữa giải phẫu thẩm mỹ (aesthetic surgery) và giải phẫu tái thiết (reconstructive surgery).

Nhưng giải phẫu thẩm mỹ chỉ thực sự bắt đầu phát triển từ thế kỷ 19, với sự ra đời của thuốc khử trùng và kỹ thuật gây mê, và quan trọng hơn hết là sự ra đời của lý thuyết khoa học về chủng tộc. Trong một thời gian dài, các nhà cơ thể học châu Âu từng bị mê hoặc với thân thể của những phụ nữ da đen ở châu Phi. Theo đà bành trướng của thực dân châu Âu, các nhà cơ thể học Pháp và Anh bắt đầu so sánh cơ thể của phụ nữ da đen với cơ thể của những phụ nữ mà họ xem là “bình thường” (tức phụ nữ châu Âu).

Tình trạng chủng tộc hóa của khoa học trong thế kỷ 19 qui định giá trị văn hóa cho mỗi bộ phận của cơ thể – mông, tai, ngực – nhưng đặc biệt là mũi. Chẳng hạn người Ái Nhĩ Lan có mũi quá nhỏ, mũi người Do Thái quá to, mũi người châu Phi quá thấp nên không nằm trong tiêu chuẩn “cái mũi lý tưởng” của người châu Âu. Quan điểm nhân chủng học này đã kéo dài mãi cho đến thế kỷ 20.

Nếu giả thuyết về sự vượt lên và hòa nhập vào một nền văn hóa thống trị là đúng, thì có thể đoán được phần lớn những khách hàng giải phẩu thẩm mỹ phải là người châu Á hay châu Phi. Nhưng trong thực tế, chính những người da trắng thuộc giai cấp trung hay thượng lưu lại là những khách hàng chủ yếu thúc đẩy ngành giải phẫu thẩm mỹ phát triển.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler và Mussolini từng ra lệnh giải phẫu thẩm mỹ cho binh lính để nâng cao sức khỏe, kể cả sửa mí mắt.

Sự kết hợp du lịch với giải phẫu cũng dần dần trở thành một kỹ nghệ. Ngày nay, người ta đã có thể du lịch sang Ba Lan để sửa mặt, hay sang Li-băng để giải phẫu thay đổi giới tính!..

Giải phẫu thẩm mỹ luôn luôn đi kèm với nguy cơ rủi ro, ngay cả trong thời đại y học tiên tiến hiện nay, đồng thời làm tốn rất nhiều thời gian cho cả bệnh nhân và bác sĩ.

Một nghệ sĩ nổi tiếng người Pháp, Orlan, đã từng giải phẫu ít nhất 10 lần kể từ năm 1987. Bà còn làm phim để mô tả những ca giải phẫu của chính mình, để theo đuổi cái lý tưởng mà bà gọi là “Sự tái sinh của Thánh Orlan”. Orlan có quan điểm hết sức cực đoan và luôn ao ước có được một cơ thể hoàn hảo theo lý tưởng của cái đẹp Tây phương, với cái cằm của thần vệ nữ Venus, đôi mắt của Fountainbleu Diana, môi của Europa, mũi của Psyche và lông mày của Mona Lisa.

Với xu hướng khách hàng giải phẫu ngày càng trẻ, chắc chắn giải phẫu thẩm mỹ sẽ còn kéo dài và phát triển mạnh hơn trong tương lai. Và với cái giá khá đắt của giải phẫu thẩm mỹ, cơ thể con người dần dần không còn là một món quà huyền nhiệm của tạo hóa, mà trở thành “một công trình, một dự án” đầy thử thách.

Những dấu vết, những biểu hiện về hình dáng bên ngoài cơ thể có thể là một yếu tố làm người ta không hạnh phúc, và nhiều khi trở thành rào cản trong những mối quan hệ xã hội hàng ngày. Do đó, giải phẫu thẩm mỹ được xem như một cách thức chăm sóc nhu cầu cơ thể con người. Và thực tế hiện nay, đường ranh phân biệt giữa giải phẫu thẩm mỹ và giải phẫu tái thiết ngày càng khó nhận ra, đặc biệt là khi các nhà giải phẫu đã mô tả công việc của họ như là việc “chữa trị” tâm thần cho bệnh nhân thông qua sự điều chỉnh cơ thể.

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Chỉ Với Một Cây Kim, Ta Có Thể Cứu Được Mạng Người


Irene Liu (Lang Vườn trích dịch)

Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.

Chỉ cần một ống tiêm thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke).

Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng, nhưng có thể mang đến những kết quả cũng không kém lạ lùng và hữu hiệu. Chúng ta chỉ cần một phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.

Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó, quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.

Cô Irene Liu kể chuyện: “Cha tôi bị tê liệt và chết sau đó vì ông là nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não. Ước chi tôi biết được thủ thuật này từ trước. Khi tai biến mạch máu não xảy ra, tất cả những tia huyết quản nhỏ trong não bộ sẽ từ từ vỡ ra sau đó.”

Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não,
chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít.

Điều quan trọng nhất là ĐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra.

Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu”.

Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gút, cũng có thể giúp chúng ta được.

1- Trước hết, chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa (bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.

2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly (milimetre).

3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.

4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.

5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.

6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lỗ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.

7- Châm vào dái tai (ear lobe) hai mũi mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.

Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bị vỡ ra. Nếu sau khi đó mà họ còn có thể đi đứng được, thì đúng là do phúc đức của Tổ Tiên họ.

Cô Liu nói tiếp: “Tôi học cách cứu chữa qua cách làm xuất huyết này từ một Đông y tên Hà Bảo Định (Ha Bu-Ting). Ngoài ra, tôi còn có cơ hội áp dụng phương pháp này nữa. Vì thế nên tôi khẳng định là phương pháp hữu hiệu 100%. Năm 1979, tôi đang dạy tại Đai học Fung-Gaap tại Đài Trung. Một buổi trưa nọ, tôi đang giảng bài trong lớp, thì một giáo sư khác chạy sổ vào lớp học của tôi, vừa thở vừa nói “Cô Liu, đến gấp dùm, ông Giám sự của chúng ta đang bị tai biến mạch máu não”.

Tôi chạy lên lầu 3 ngay tức thì và thấy ông Giám sự của chúng tôi là Trần Phúc Tiên, mặt mày nhợt nhạt, tiếng nói ngọng nghịu, và mồm thì méo xệch qua một bên, ông hội đủ tất cả những triệu chứng của một người đang bị tai biến mạch máu não. Tôi bảo một người sinh viên đang thực tập tại Đại học, đến Dược phòng bên ngoài mua cho tôi một ống tiêm, và dùng kim tiêm để châm đầu mười ngón tay của ông Trần, cho đến khi mỗi đầu ngón tay có một giọt máu cỡ hạt đậu. Sau vài phút, mặt ông Trần đã nhuận sắc trở lại, và mắt ông cũng đã bắt đầu có thần. Nhưng mồm ông thì vẫn méo, nên tôi kéo hai tai ông cho đến khi hai tai đều đỏ vì máu đọng, rồi châm vào mỗi bên dái tai hai mũi để hai giọt máu tươm ra.

Khi hai giọt máu hai bên dái tai được rỉ ra, một phép lạ đã xảy ra. Chỉ nội trong vòng từ 3 đến 5 phút, mồm ông ta đã từ từ trở lại hình dạng nguyên thủy, và tiếng nói của ông cũng trở lại bình thường.

Chúng tôi để ông nghỉ ngơi một lúc, rồi rót cho ông một tách nước trà nóng rồi đưa ông đi đến bệnh viện Ngụy Hoa gần đó. Ông nghỉ ngơi tại bệnh viện một đêm, rồi hôm sau lại trở về nhiệm sở làm việc.

Sau đó, mọi việc đều bình thường. Ông không có triệu chứng nào nguy hại sau đó. Trái lại, các nạn nhân của bệnh tai biến mạch máu não thường khó trở lại bình thường, vì các tia máu trong não bộ bị vỡ trong khi xe cứu thương di chuyển họ đến bệnh viện. Kết quả là không thể làm cho họ vãn hồi lại trạng thái cũ.”

Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Đó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.

Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.

Thêm bình luận Tháng Sáu 24, 2007

Cấp Cứu


TRÚNG NẮNG:

Hoà 1 nắm bột mì với nước giếng cho uống. (Thiên kim phương)

Phương 2: Nhỏ nước giếng vào lỗ mũi, lấy quạt quạt. Nặng thì đổ cho uống nước mới xáo (địa tương) thì tỉnh. Nếu cho uống nước lạnh thì chết. (Cổ kim y thống)

Phương 3: Sắc vỏ đậu xanh thật đặc cho uống.

Phương 4: Mau giã tỏi lấy nước đổ vào lỗ mũi, nghe giọng phát ra tiếng là tỉnh lại. Lại hoà nước lạnh với nước tỏi cho uống là khỏi hẳn.

Phương 5: Lấy 1 đồng cân phèn chua hoà nước cho uống là tỉnh.

TRÚNG PHONG BẤT TỈNH:

Chợt xây xẩm, ngã lăn quay bất tỉnh nhân sự. Trước phải làm thuận khí, sau mới trị phong. Nhai nát gừng tươi bất kể nhiều ít chà xát lên Thiên đình (chỗ trán giữa gần chân tóc) nạn nhân. Lại nhỏ nước gừng vào khoé mắt nạn nhân (nam tả nữ hữu) là tỉnh lại. (Y môn pháp luật)

Phương 2: Nấu hoa cúc khô với nước mà uống, hoặc ngâm rượu, hoặc ủ rượu uống đều tốt. (Thiên kim phương)

TRÚNG PHONG CẤM KHẨU:

Tán kinh giới ra bột, uống 2 đồng cân với rượu. Dùng trước và sau cơn bệnh rất hiệu nghiệm.

Phương 2: Cho uống 1 thăng Trúc lịch (nước tre non), uống liền liền rất hay. (Bản thảo cương mục)

Phương 3: Thổi bột bồ kết vào lỗ mũi nạn nhân.

TRÚNG PHONG KHÔNG NÓI ÐƯỢC:

Làm sạch 1 con gà mái, nấu được 5 thăng rượu, còn lại 2 thăng, bỏ bã (gà), chia uống 3 lần. Uống liên tục và ăn cháo nấu với hành, gừng. Ðắp chăn cho rịn mồ hôi là khỏi. (Ẩm thiện chính yếu)

Phương 2: Rượu 5 chén hoà với 1 chung rưỡi sữa người, chia uống 2 lần là nói được. (Thực liệu bản thảo)

TRÚNG PHONG MÉO MIỆNG:

Giã Kinh giới, vắt lấy nước uống. (Bản thảo cương mục)

Phương 2: Bắt con lươn lớn, chích đầu lươn lấy máu. Méo bên trái bôi bên phải, méo bên phải bôi bên trái. Miệng ngay rồi, rửa liền.

Phương 3: Bồ kết bỏ vỏ, tán nhỏ, trộn dấm. Lệch bên trái bôi bên phải, lệch bên phải bôi bên trái.

Phương 4: Một cân lá thông giã nát vắt lấy nước, hoà với 2 thăng rượu, ngâm 2 ngày, để gần lửa 1 ngày. Ban đầu uống nửa thăng, dần dần uống hết 1 thăng. Ðầu, mặt tươm mồ hôi là khỏi. (Thiên kim phương)

TRÚNG PHONG, LƯỠI CỨNG ÐỎ:

Nấu 1 con gà ác (gà trống) với 1 nắm hành, xắt ra lấy nước trấp uống lúc bụng trống. (Phụng thân dưỡng lão thư)

CỨU NGƯỜI CHẾT VÌ KINH PHONG:

Mau lấy 1-2 ly rượu cồn hâm nóng, đổ cho uống sẽ sống lại. (Tiền thị khớp trung phương)

ÐỨT LƯỠI:

Máu ra xối xả không ngừng, lấy lông cánh gà nhúng dấm phết lên luôn ngay chỗ đứt là máu ngừng chảy. Sau đó dùng Bồ hoàng, Hạnh nhân 1 chút Bằng sa (tán ra bột) trộn mật, nhào thành cao, ngậm cho tan là khỏi. (Y học nhập môn)

LƯỜI CHỢT RÚT VÀO:

Giã lá ngãi tươi đắp lên. Nếu có lá ngãi khô thì tẩm nước đắp cũng được. (Thánh tế tổng lục)

Phương 2: Tán hột cải ra bột, trộn dấm đắp quanh cổ họng, lưỡi lập tức như cũ, lại nói năng được.

VÔI VĂNG VÀO MẮT:

Sắc đặc quả dành dành (Chi tử) tươi, rửa mắt luôn. (Phổ tế phương)

TẠP VẬT VÀO MẮT:

Bất kỳ vật gì vào mắt, lấy móng ta gãi gầu trên đầu tóc, điểm vào trong mắt là vật sẽ ra. (Vật loại tương cảm chí)

Phương 2: Nếu là bụi bay vào mắt, nhìn xuống phía dưới, nhổ 1 cái là khỏi hoặc gọt móng tay bàn tay trái lấy bột, lấy cỏ bấc chấm bột ấy điểm vào mắt là bụi trào ra. (Trực chỉ phương)

VẬT LẠ VÀO TAI:

– Nước vào tai, nhỏ nước bạc hà vào khỏi ngay.

– Thằn lằn vào tai, lấy máu mào gà rỏ vào, ra ngay.

– Rết vào tai, chiên thịt để bên tai, rết ngửi thấy mùi là bò ra, chiên thịt gà thì càng hay.

– Ðỉa vào tai: lấy ngón tay day động vành tay là đỉa ra ngay hoặc đốt Xuyên sơn giáp tán nhỏ trộn nước đổ vào, hoặc lấy 1 thau bùn ruộng để kề bên tai. Ðỉa ngửi thấy mùi sẽ chui ra.

– Thủy ngân lọt vào tai: nằm gối tai trên vàng hoặc đồ trang sức bằng vàng, thủy ngân sẽ ra.

ĂN NHẰM ÐỈA:

Hòa mật ong với nước, uống. Ðỉa sẽ tan ra nước, vô hại. (Ngục chúc bảo điển)

MẮC XƯƠNG:

Hóc xương cá lấy tỏi nhét vào lỗ mũi là xương sẽ ra. (Ứng nghiệm lương phương)

Hóc xương gà: sắc Uy linh tiên với đường cát và rượu mà uống (Dị vật chí)

CẦM MÁU:

Bị vết đao chém hoặc té ngã vỡ đầu chảy máu ròng ròng, xối xả, tán 1 đồng Bạch phàn, 1 đồng Ngũ bội tử đắp vào vết thương, máu cầm ngay.

Phương 2: Gọt, cạo Bạch lạp ra bột đắp dịt vết thương, chẳng những cầm máu mà còn hết đau.

Phương 3: Thái thịt heo nạc thành lát mỏng dán lên vết thương, thay đổi 2 lần thì cầm máu.

TRỊ TRẬT ÐẢ TỔN THƯƠNG:

Trật đả tổn thương, bất kể nặng nhẹ, uống nước đường cát trắng thì miễn được máu ứ công vào tim, rất an toàn, rất linh nghiệm. Hoà 2-3 lạng đường cát trắng với rượu uống nóng, không uống rượu được thì hoà với nước chín uống. Nếu răng nghiến chặt, trước hày lấy Bán hạ xát vào 2 quai hàm là miệng há ra ngay.

CẤP CỨU THOÁT DƯƠNG:

Nam nữ giao hợp, nam bị tinh chảy không ngừng. Nữ mau cắn vào nhân trung (nơi hõm nối liền mũi và môi) nam thật đau là tinh ngừng chảy.

CẤP CỨU PHẠM PHÒNG:

Vợ chồng giao hợp, trúng lạnh đau bụng. Khoét bụng con chim bồ câu 1 lỗ nhỏ, nhét 1 phân Xạ hương vào, buộc chặt vào rốn. Nằm ngủ vài khắc thì hàn khí sẽ rút hết vào bụng chim câu.

HẠ MÃ PHONG hay THƯỢNG MÃ PHONG:

Củ hành chữa chứng thoát dương nguy kịch. Sau khi thổ tả nhiều, chân tay lạnh, bất tỉnh nhân sự, hoặc vừa ăn uống no say, vội vàng giao hoan, sanh chứng bụng nhỏ đau, lưng đau, dái co lại, ra mồ hồi, lạnh cả người.

Lấy ngay 1 mới hành giã nát, xào thiệt nóng, đắp vào rún (rốn). Sau đó, lấy năm bẩy cọng hành giã nát, nấu với rượu, độ 1 chập, sôi đều, nhắc xuống, rót ra ly, cậy miệng bịnh nhơn, đổ cho uống, tức khắc Dương Khí trở lại. (Phương của Hoa Ðà đời Hán. Tuyệt hảo!)

BÁN THÂN BẤT TOẠI (Liệt nửa người):

Chưng chín Tàm sa (kén tằm) bỏ vào 3 cái túi vải sao nóng 1 túi ấp vào chỗ đau, nguội thì thay đổi luân lưu.

MỘNG DU:

Dưới mặt đất ngay bên giường đóng 1 tấm Bạch thiếc (nhôm thiếc) thì khi người bệnh đứng xuống chân vừa đạp vào tấm thiếc này thấy lạnh liền tỉnh lại. (Vật loại tương cảm chí)

CẤP CỨU TRÚNG ÐỘC NHA PHIẾN:

Trúng độc nha phiến ắt hôn mê, ngực tim nóng nẩy bứt rứt. Mau lấy 5 đồng cân hàn the bỏ vao nước sôi để nguội, đổ cho uống sẽ mửa ra sạch rồi khỏi.

CỨU NGƯỜI UỐNG THUỐC ÐỘC:

Trước hãy lấy 2 muỗng muối (muỗng canh) hoà với 1 tô nước cho uống khiến nôn mửa ra thì chất độc cũng ói ra già nửa, rồi lại cho uống lòng trắng 4-5 quả trứng gà thì chất độc còn lại sẽ hoá hợp thành chất không thể tiêu hoá trong ruột và bao tử, rồi sẽ đi cầu ra ngoài. (Ðông quan bí ký)

Phương 2: Nghiền đậu ván trắng tươi vắt lấy nước cốt cho uống. (Vĩnh loại căn phương)

Phương 3: Trúng độc toàn thân bầm tím, mau làm địa tương (chọn chỗ đất sạch, đào 1 lỗ sâu cỡ 50 phân, đổ nước xuống, dùng gậy khuấy đục ngầu lên, nước ấy gọi là địa tương, có công dụng giải độc như thần, đổ cho uống luôn. Ðợi khi vết bầm tan hết, mửa ra là khỏi. Mùa đông cũng nên làm cách này.

Phương 4: Phơi khô Hồ la bặc (Cà rốt) để trên nóc nhà trải qua sương nắng. Khi dùng, nấu với nước sôi lên mà uống, càng nhiều càng tốt, sẽ khỏi.

CỨU CÁC LOẠI NHỌT:

– Nhọt chảy nước vàng: Chảy nước vàng mãi không khỏi, nấu dây bí đao mà rửa sẽ khỏi. (Cục phương)

– Nhọt có lỗ: Hấp cơm 1 quả trứng gà, lấy lòng đỏ nấu cháy đen, lau khô bột rồi nhét bột thuốc (tán tròng đỏ trứng ra bột) vào lỗ nhọt, 3 lần là khỏi. (Thiên kim phương)

– Nhọt mọc trong nách: Ðốt tồn tính cuống quả bầu dài tán nhỏ bôi lên đến khi nhọt xẹp mới thôi, hoặc trộn bột ấy với dầu mè, bôi càng hay. (Tập giản phương)

– Nhọt mặt người: Gọi là Nhân diện sang, loại này mọc ở 2 đầu gối, cũng có khi mọc ở hai cùi chỏ. Dùng 3 tiền lôi hoàn, Khinh phấn, Chân bạch phục linh (mỗi vị 1 đồng) cùng tán nhuyễn bôi lên là khỏi. (Kỳ bá phương)

Hoặc lấy bột Bối mẫu đắp lên cũng khỏi. (Bản thảo cương mục)

CHÓ ÐIÊN

Chó điên cắn lên cơn. Ðây là môn bí truyền độc nhất (Thân phương gia truyền), xin ghi nhớ để cứu nhân, độ thế: Người thợ lò rèn thường nung sắt đỏ rồi nhúng vào chậu nước. Hãy lấy một chén nước đó, cho bệnh nhân uống. Uống một lần là khỏi.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Kỳ Bệnh

ÐỈNH ÐẦU SƯNG NHỌT NGŨ SẮC:

Ðỉnh đầu sinh nhọt ngũ sắc như trái anh đào. Khi nhọt vỡ loét, da lột dần tới chân. Người bị chứng này gọi là nhục nhân, đây là quái chứng. Uống nhiều sữa bò, nhọt sẽ tiêu.

LÔNG MÀY RẦN RẬT, MẮT KHÔNG NHÁY:

Lông mày chợt máy động, mắt trợn trừng, gọi không thưa nhưng vẫn ăn uống được như thường. Ðó là kỳ chứng. Giã 3 củ tỏi vắt lấy nước, hoà rượu uống là khỏi.

TRÒNG MẮT LÒI RA, CHẢY XUỐNG ÐAU NHỨC:

Tròng mắt tự nhiên lòi ra chảy xệ xuống đến mũi, đen xịt như sừng, đau nhức không thể chịu nổi hoặc đi cầu ra máu luôn. Ðó là can trướng, sắc Khương hoạt uống vài tách là khỏi.

THỊT TRONG MẮT LÒI RA NGOÀI:

Thịt trong mắt lòi ra sợi dài gần 3 phân, thô như nén nhang. Ðó là do hoả ở can đởm ngưng kết mà nên. Dùng Băng phiến (1 phân), Hoàng liên (1 phân), Bằng sa (nửa phân), Cam thảo (1 phân). Tán nhuyễn tất cả đến khi không còn nghe thấy tiếng rồi trộn 1 chút sữa người với thuốc, điểm vào sợi thịt ấy. Liền thấy hơi nóng trong mắt hừng hực phát ra, thịt rút vào là khỏi. Lại dùng Bạch thượt (5 đồng), Sài hồ (1 đồng), Chi tử (2 đồng – sao), Cam thảo (1 đồng), Bạch giới tử (3 đồng), Phục linh (3 đồng), Trần bì (1 đồng), Bạch truật (3 đồng), sắc với nước uống. Phương này hay ở chỗ làm thư khí ở can đởm lại thanh hoả, hoá đờm.

MŨI CHỢT THỤT VÀO:

Mũi chợt thụt vào, dùng Minh hùng hoàng, Châu sa (mỗi vị 3 đồng), sắc Thương truật hoà với 2 vị trên uống, đồng thời giã nát Thương truật đắp lên mũi, qua đêm là khỏi.

MŨI TO NHƯ NẮM TAY, ÐAU NHỨC MUỐN CHẾT:

Dùng Hoàng cầm, Sinh cam thảo, Mạch đông, Hoa phấn (mỗi vị 3 đồng), Cát cánh, Thiên đông (mỗi vị 5 đồng), Tử uyển (3 đồng), Bách bộ, Tử tô (mỗi vị 1 đồng), sắc với nước uống, hết 4 thang là xẹp.

MŨI THÒ RA SỢI ÐỎ, ÐAU NHỨC MUỐN CHẾT:

Mũi thò ra sợi đỏ dài cả 30 phân, đau nhức muốn chết. Ðó là do uống rượu quá nhiều, tích nhiệt mà nên. Dùng Bằng sa, Băng phiến thứ tốt (mỗi vị 1 phân), tán nhuyễn trộn với sữa người, nhè nhẹ điểm vào giữa sợi dây hồng, lập tức đau như trời giáng, nhưng tiêu ngay tức khắc.

LÔNG MŨI MỌC THÒ DÀI RA, THÔ NHỨC KHÔNG CHỊU NỔI:

Lông mũi thò ra trong 1 ngày đêm dài 3-6 phân dần dần to tròn thô nhức không thể tả, hễ nhổ lại mọc ra. Ðó là do ăn quá nhiều tiết heo, tiết dê. Dùng Nhũ hương (trộn sao với Ðăng thảo), Bằng sa (mỗi vị 1 lạng), tán nhỏ nhào cơm, trộn như hạt ngô đồng. Uống lúc bụng trống, khi đi ngủ, mỗi lần 10 viên, uống với nước nấu chín, tự nhiên lông sẽ rụng.

LỖ TAI NGỨA MUỐN LẤY DÙI ÐÂM NẠO NGOÁY:

Ðó là do thận hoả kết thành ráy sắt trong lỗ tai. Dùng Long cốt (1 đồng), Tạo giác thích (2 cái) đốt tồn tính, Băng phiến (3 phân), phân chuột đực – 1 hòn. Trước hết, tán các thuốc trên ra bột, rồi trộn đều với nước mật chuột. Sau hết, hòa sữa người trộn quánh như hồ. Nhét hết thuốc này vào lỗ tai tất ngứa không chịu nổi phải có người giữ chặt lấy hai tay. Hết ngứa là khỏi. Khỏi rồi, lại uống 3 lạng Lục vị hoàn thì sẽ không tái phát.

MIỆNG, MŨI CHẢY NHỚT NHỜN HÔI TANH

Miệng mũi chảy nước tanh hôi, lấy bát hứng đựng, màu như sắt, nhờn như nhớt cá tôm, vớt xúc lên thì lại hoá thành nước, gọi là nhục hoài. Cũng là quái chứng. Ăn nhiều thịt gà là khỏi.

NHỌT MỌC TRÊN MÔI, MỌC RĂNG LÒI RA:

Nhọt mọc trên môi, lâu ngày từ miệng nhọt mọc răng đâm xuyên qua môi. Ðó là do thất tình ưu uất, hoả động nên mới phát chứng lạ lùng như thế. Dùng Sài hồ (3 đồng), Bạch thược (3 đồng), Hoàng liên (1 đồng), Ðương quy (3 đồng), Xuyên khung (1 đồng), Sinh địa (3 đồng), Hoàng linh (1 đồng), Hoa phấn (3 đồng), Bạch quả (10 quả), sắc với nước uống. Ngoài dùng Băng phiến (1 phân), bột Cương tàm (1 đồng), Hoàng bá (3 đồng – sao tán) rắc lên. Răng sẽ tiêu mà vết nhọt khỏi.

LƯỠI LE RA KHÔNG RÚT VÀO ÐƯỢC:

Lưỡi le dài hơn 3 phân không rút vào được (lộng nhiệt) trên kết màng không bong, khó lòng ăn uống. Ðó là do dương hoả quá thịnh, lấy 1 chút Băng phiến điểm vào là lưỡi thụt vào ngay. Sau đó dùng Hoàng liên (3 đồng), Nhân sâm (3 đồng), Xương bồ, sài hồ (mỗi vị 1 đồng), Bạch thược (3 đồng). Sắc với nước uống 2 thang là khỏi.

Phương 2: Bỏ vào miệng con trai 1 phân Băng phiến, lập tức chảy tan ra nước. Lấy lông ngỗng chấm nước nầy phết lên lưỡi, lập tức lưỡi rụt vào, ăn uống lại như thường. Vì lại trai là vật rất ấm, giỏi trục âm tà, huống lại có thêm Băng phiến để tiêu độc ắt phải thành công.

BÀN TAY HIỆN HÌNH RẮN, NHỨC NHỐI:

Bàn tay hiện hình như con rắn, nhức nhối, lấy dao chích chảy máu đen như mực, rồi lấy bột Bạch chỉ rắc vào thì tạm đỡ, sáng hôm sau lại chích máu ra, lại rắc bột Bạch chỉ. Chỉ cần 2 lần là lặn hẳn. Lúc chích nên chích đầu trước đuôi sau, không được chích ngược.

KẼ NGÓN TAY XUẤT HUYẾT, RA TRÙNG BAY:

Kẽ ngón tay xuất huyết không ngừng, có trùng nhỏ như con phù du, một loáng là bay được. Ðó là chứng thấp nhiệt sinh trùng, thêm nhiễm phong tà. Dùng Phục linh (3 đồng), Hoàng kỳ (5 đồng), Ðương qui, Bạch thược, Sinh Cam thảo (mỗi vị 3 đồng), Nhân sâm, Sài hồ, Kinh giới (mỗi vị 1 đồng), Thục địa (5 đồng), Xuyên khung (1 đồng), Bạch truật (3 đồng), Ý dĩ (5 đồng) sắc với nước uống.

Phương này hay ở chỗ vừa sát trùng mà còn bổ khí, khử thấp, khử phong, làm khí huyết điều hoà trong người thì trùng không sinh ra được nữa. Bổ khí huyết khiến trùng không chỗ dung thân. Bởi vậy phương này bình ổn mà hay. Uống 4 tháng tất không chảy máu, không sinh trùng. Uống thêm 4 thang nữa ngón tay lành lặn như cũ.

BÀN TAY, BÀN CHÂN MỌC CỤC THỊT ÐAU NHÓI:

Ðâm vào đau nhói không thể chịu nổi, chỉ ăn nhiều rau mồng tơi là khỏi.

MÓNG TAY RỤNG KHÔNG ÐAU NGỨA:

Bị rụng hết móng tay, không đau, không ngứa là do thận kinh hư hoả và sau khi hành phòng rửa tay bằng nước lạnh nên bị bệnh nầy. Dùng Lục vị thang: Thục địa, Sơn thù du, Phục linh, Trạch tả, Sơn dược, Ðơn bì (mỗi vị 3 đồng), thêm Sài hồ (1 đồng), Bạch thược (3 đồng), Cốt toái bổ (3 đồng), uống vào là khỏi.

NGÓN TAY, NGÓN CHÂN RỤNG:

Người bị rụng hết ngón tay ngón chân mà không chết là do lúc bị thương hàn khát nước, uống quá nhiều nước mát nên bị kết. Hễ khỏi bệnh thương hàn, nếu thấy ngón tay ngón chân chảy nước thì phải mau phòng bị rụng. Mau dùng: Ý dĩ nhân (3 lạng), Phục linh (2 lạng), Nhục quế (1 đồng), Bạch truật (1 lạng), Xa tiền tử (1 đồng) sắc với nước uống liền 10 tháng sẽ đi tiêu, tiểu ra sạch mà ngón chân, ngón tay không chảy nước nữa. Nước ngừng chảy rồi thì không cần uống thêm thuốc nữa.

MƯỜI NGÓN TAY ÐỐT XƯƠNG GÃY RỜI:

Mười ngón tay đốt xương gãy rời, gân hư hỏng, trùng bò ra. Ðó là quái chứng, gọi là Huyết hư. Dùng Xích phục linh, Sài hồ, Hoàng liên sắc với nước uống.

BÀN CHÂN CHỢT MỌC THÊM NGÓN:

Chân chợt mọc thêm ngón, đau không thể tả. Ðó là do khí thấp nhiệt kết thành. Dùng Bằng sa (1 phân), Ngoã thông (1 lạng), Băng phiến (3 phân), Nhân sâm (1 đồng) tán nhỏ. Lấy dao khơi nhẹ cho chảy máu ngay nơi gốc ngón chân mới mọc, tức thì thấy chảy ra nước. Ðắp thuốc vào chỗ máu chảy. Hễ thấy chảy máu thì lại rắc thêm thuốc, đến khi nào hết chảy máu mới thôi. Trong 3 ngày, không chảy nước nữa cơn đau cũng dịu dần rồi hết. Lại dùng Nhân sâm (3 đồng), Bạch truật (5 đồng), Sinh cam thảo, Ngưu tất, Tỳ giải (mỗi thứ 3 đồng), Ý nhân (1 lạng), Bán hạ (1 đồng), Bạch giới tử (3 đồng) sắc với nước uống. Chỉ uống 4 thang là khỏi hẳn, ngón chân ấy cũng tiêu ra nước hết.

Ngoài dùng thuốc cao Sinh cơ tán dán thêm là khỏi.

MU BÀN CHÂN VỌT RA TIA MÁU:

Trên chân chợt có lỗ, máu vọt lên thành tia. Ðó là do tửu sắc tràn lan, dục vọng buông thả vô độ mà nên. Ðể chảy máu không ngừng ắt chết. Dùng: Mễ thố (Dấm – 3 thăng – nấu sôi) ngâm 2 bàn chân vào là ngừng chảy máu. Sau đó dùng Nhân sâm (1 lạng), Ðương quy (3 lạng) sao tán nhỏ rồi sắc nước, trộn với bột Xuyên sơn giáp mà uống sẽ không bị tái phát nữa.

MÌNH MẨY MỌC BỌC NƯỚC:

Khắp mình mọc bọc nước như quả lê, khi vỡ chảy nước, trong có 1 miếng đá như móng tay, bọc nước lại mọc nữa. Chứng này một khi rút hết da thịt thì không sống được. Dùng: Kinh tam lăng, Nga truật (mỗi vị 5 lạng) tán nhỏ, chia uống 3 lần, hoà với rượu uống đều đều là khỏi.

TỨ CHI GẦY GUỘC, KHÔ CỨNG, GÕ KÊU NHƯ CHUÔNG KHÁNH:

Ðó là quái chứng. Dùng: Thù du, Mộc hương (phân lượng bằng nhau) sắc thành thang uống sẽ khỏi.

MÌNH MẨY NGỨA ÐIÊN CUỒNG:

Mới đầu, mình mẩy phát ngứa ngáy, càng lúc càng ngứa như điên cuồng. Ðó là chứng huyết hư sinh phong. Dùng: Nhân sâm (1 lạng), Ðương quy (2 lạng), Kinh giới (3 đồng) sắc với nước uống, 3 tể là hết ngứa ngáy, đau nhức. Nghèo không mua được sâm thì có thể thay bằng 2 đồng cân Hoàng kỳ.

MÌNH MỌC NHỌT MẶT NGƯỜI:

Trên mình chợt mọc nhọt lở tựa mặt người, có đủ mặt mũi miệng. Tán nhuyễn Tượng bối mẫu (5 đồng), Lôi hoàn (3 đồng), thêm 1 đồng Khinh phấn, 1 đồng bột Bạch phục linh. Hoà đều với nước mà bôi sẽ tiêu, hoặc chỉ rắc bột Bối mẫu hay hoà bột nầy với nước bôi, da sẽ dần se mặt, vết thương sẽ liền miệng mà khỏi.

CHỨNG SẮT LỰU (Nhọt rận):

Bị chứng này mình mẩy ngứa thấu xương tủy, cục nhọt vỡ ra, máu thịt đều hỏng, đau ngứa không chịu nổi, suốt ngày gào khóc, đầu lưỡi xuất huyết, mình mẩy và răng bầm đen lại, môi giật, mũi phồng. Chứng nầy là máu rữa (hủ) phong động. Phải nấu dấm với muối, uống liền liền thì khỏi.

DA THỊT PHÁT RA TIẾNG, NGỨA GHÊ GỚM:

Trong da thịt phát ra tiếng như sóng vỗ, ngứa ghê gớm, gãi đến tươm máu. Chứng này gọi là khí bôn. Dùng Khổ đê, Nhân sâm, Thanh diêm (mỗi vị 2 đồng), Tế tân (7 phân) sắc với nước, uống từ từ, uống hêt’ là khỏi.

DƯỚI DA NỔI HÌNH CON CUA DI ÐỘNG, PHÁT RA TIẾNG:

Ðó là bệnh trùng lao do gân thịt hoá ra. Dùng Lôi hoàn, Hùng hoàng (mỗi vị 1 lạng) tán nhỏ, rắc lên thịt heo, nướng chín mà ăn.

TRONG BỤNG SINH RẮN:

Ðó là do khí độc hoá ra. Hoặc bị cảm nhiễm hơi sơn lam thuỷ thấp, hoặc cảm tà khí tứ thời, hoặc nhiễm hơi xác chết, hơi bệnh mà thành. Người bệnh thân hình gây nhom như que củi, da như mọc vẩy, trong bụng động nổi cuộn lên, đó là xà độc vậy. Dùng Hùng hoàng (1 lạng), Bạch chỉ (5 đồng), Sinh cam thảo (2 lạng). Tán nhuyễn các vị trên, vào ngày Ðoan ngọ (mồng 5 tháng 5) viên thành hoàn trộn với cám, cỡ hạt ngô đồng, uống trước bữa ăn. Dùng thuốc xong tất đau bụng, nên gắng chịu, chớ uống nước, uống nước sẽ không công hiệu.

BỤNG CỨNG, RỐN CHẢY NƯỚC, HOÁ THÀNH TRÙNG:

Bụng cứng như đá như thép, rốn chảy nước liền hoá thành trùng, bò quanh khắp mình, ngứa không thể chịu nổi. Sắc Thương truật (bao nhiêu cũng được) thật đặc lấy nước ấy mà tắm. Lại lấy bột Thương truật trộn với 1 chút Xạ hương mà uống.

RỐN CHỢT LỒI RA DÀI NHƯ ÐUÔI RẮN:

Rốn chợt lòi ra như đuôi rắn, không đau, không ngứa. Ấy là do mạch Nhâm mạch Ðới có đàm khí ủng trệ mà ra. Dùng Bằng sa (1 phân), Bạch chỉ (1 đồng), Hùng hoàng (1 đồng), Băng phiến (1 phân), Xạ hương (1 phân), Nhị trà (2 đồng). Mỗi thứ tán nhỏ, chích chảy máu đuôi rốn, tất nhiên đau ngất muốn chết, mau điểm thuốc vào thì lập tức chảy ra nước đen. Lại mau dùng Bạch chỉ (3 đồng) sắc nóng lên uống là khỏi.

GIUN LÃI TỪ RUỘT BÒ RA LIÊN TỤC:

Giun lãi từ hậu môn chui ra không ngừng, hết rồi lại sinh, đi lại, đứng, ngồi đều không được. Ðó là chứng đại trường thấp nhiệt. Dùng: Thiên danh tinh (5 đồng) tán nhỏ, hoà nước uống sẽ khỏi.

CHỨNG ÐẠI TIỂU TIỆN NGHỊCH ÐƯỜNG:

Người đi cầu, phân ra theo đường tiểu. Ði tiểu, nước tiểu ra lối hậu môn. Ðó là chứng thử nhiệt mùa hè. Dùng Ngũ linh tán mà trị. Phương khác: Xa tiền tử (3 lạng) sắc nước lấy 3 bát uống liền 1 hơi là khỏi.

ÐI TIỂU RA ÐÁ NGŨ SẮC (Ðái ra sỏi sạn):

Trước khi đi tiểu nhức buốt vô cùng, tiểu xong cảm thấy khoan khoái. Ðó là chứng Thạch lâm (đái ra sỏi sạn). Dùng Thục điạ (3 lạng), Phục linh, Dĩ nhân, Xa tiền tử (mỗi thứ 5 lạng), Sơn thù du (3 lạng), Thanh diêm (1 lạng), Cốt toái bổ (2 lạng), Trạch tả (3 lạng), Mạch đông (5 lạng), Hoàng thực (8 lạng), Nhục quế (3 đồng), tán nhỏ mỗi vị, hoà mật thành hoàn. Sớm tối uống vơí nước nấu chín, mỗi thứ 1 lạng. Trong vòng 10 ngày tất sẽ không bị khổ vì nạn đái ra sỏi sạn nữa. Chứng ngày rất khổ, muốn đái không được, mà không đái không xong, đường tiểu đau buốt như dao cắt, dùng hết sức bình sinh chỉ đái ra được 1 cục, tiếng kêu vang ròn, rơi vào nước không tan. Ðó là do hoả ở bàng quang uất kết mà nên. Phương này hay ở chỗ không chỉ trị bệnh mà còn bổ chỗ bất túc của Thận thủy. Thủy đủa thì hoả tự tiêu, hoả tiêu thì nước đục tự tan. Nếu chỉ trị bàng quang thì khí không tan, nước làm sao mà tự hoá được.

HAI BÓNG CÙNG NẰM, NGỒI:

Người bệnh cảm thấy lúc nào bên mình cũng có cái bóng, nằm cùng nằm, ngồi cùng ngồi. Ðó là Ly hồn bệnh. Dùng Thần sa, Nhân sâm, Phục linh (mỗi vị phân lượng bằng nhau) sắc đặc uống hằng ngày. Nếu bệnh thật thì sẽ thấy khí sảng khoái, nếu giả thì bóng sẽ tự biến mất.

PHỤ NỮ VÚ RÚT VÀO NGỰC:

Ðó là chứng thậm nguy, cũng hết như đàn ông dương vật thụt vào trong vậy. Phải mau hai tay nắm chặt hai vú kéo lại. Bắt con gà trống khoảng 10 lạng để nguyên lông, mổ bỏ lòng ruột, xát 1 đồng Xạ hương vào bụng gà rồi úp lên rốn.

PHỤ NỮ CÓ KINH NGUYỆT, DỮ DỘI NHƯ THÚ DỮ:

Phụ nữ có kinh nguyệt, dữ dội như thú dữ, luôn muốn đả thương người khác. Trước hết lấy bông gòn nhét kín âm hộ. Xong, tán 1 lạng Một dược cho uống với nước chín là khỏi.

TRỊ CỔ TRƯỚNG:

Bị thuỷ cổ trướng (bụng phù nước to như cái trống). Muốn rút nước mà không phải mổ hoặc không muốn dùng kim chích rút nước thì dùng cách sau: Chân Khinh phấn (2 lạng), Ba đậu sương (4 lạng), Sinh lưu hoàng (1 đồng) (thêm chút Xạ hương thì càng hay), cùng tán nhỏ nhào thành bánh. Trước hết, lấy 1 miếng bông đặt trên rốn rồi ấp bánh thuốc lên trên, ngoài lấy vải buộc một thời gian khoảng người đi bộ 5-6 dặm thì đi cầu chảy ra nước vàng, đi cầu chừng 2-5 lần thì cởi bỏ thuốc cho ăn cháo ấm để bồi bổ. Bị lâu thì cách ngày 1 lần. Một bánh thuốc như thế có thể trị được hai ba chục người. Khi khỏi bệnh, kỵ uống nước lạnh.

Cách khác: Bị thủy thủng, thủng độc, phù trướng, dùng thuốc mà chưa thấy tiêu thì lấy bột Cam toại thoa lên bụng, thoa dầy quanh rốn, rồi sắc Cam thảo với nước cho uống thì chỗ thủng sẽ từ từ xẹp.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Bệnh Phụ Nữ


RONG KINH:

Lấy Nấm mèo mọc trên thân cây dâu tán nhỏ. Mỗi lần uống 2 đồng với rượu, trước bữa ăn, ngày uống 3 lần. Bị lâu uống thuốc nầy cũng khỏi. (Phổ tế phương)

Phương 2: Ðốt Trắc bá diệp, Bạch thược (hai vị phân lượng bằng nhau) mỗi lần sắc 2 đồng với nước và rượu (mỗi thứ phân nữa) mà uống. (Bản thảo cương mục)

Phương 3: Phơi khô bông mồng gà đỏ rồi tán nhỏ, ngày uống 2 đồng hoà rượu uống lúc bụng trống. Kỵ ăn cá tanh và thịt. (Tập hiệu phương)

BẶT KINH LÂU NGÀY:

Ðốt tua dây mướp tán uống 3 đồng với rượu.

Phương 2: Sắc 2 đồng Hồng hoa; Tô mộc, Ðương qui (mỗi vị 5 đồng) với nước và rượu mà uống.

KINH NGƯỢC – ÐẢO KINH:

Giã rau hẹ vắt lấy 1 tách đổ vào nửa tách nước tiểu trẻ, chưng nóng uống. Nếu không có nước tiểu trẻ, công hiệu chậm hơn.

Phương 2: Kinh ra đằng mũi, sắc 2 đồng Xuyên ngưu tất, 1 đồng rưỡi Ðương qui vĩ với nước, uống rất hiệu nghiệm.

THỐNG KINH (Hành kinh đau bụng):

Sắc 3 đồng Chế hương phụ với nước, uống ngày 2 lần.

Phương 2: Ngâm ngãi cứu khô vào nước sôi để thôi ra nước đặt, hoà với đường cát mỡ gà. Ðổ dầu mè vào nồi nấu lên rồi đổ nước ngãi vào, cho thêm đường cát đến khi chảy hoà tan là vừa. Uống vào là hành kinh thông lợi, hết đau bụng.

THÔNG KINH THẤT TIẾU TÁN:

Ngủ linh chi (3 đồng), Bồ hoàng (2 đồng), sao 2 thứ rồi tán nhỏ, nấu với dấm loại tốt, thêm nước. Sau đó uống và ăn cả bả thuốc. Phàm nam, phụ, lão, ấu khi tim, bụng, sườn bị ứ huyết đau, bụng dưới đau tức và phụ nữ sinh xong huyết băng, huyết vựng, cùng tất cả các khí thống, dùng thuốc này đều hiệu nghiệm.

NHŨ NHAM – CANCER VÚ:

Mới đầu, vú nổi 1 hạt nhỏ như hạt đậu, dần lớn thành cục u, không đau không ngứa đến cả năm hoặc 2-3 năm mới dần sưng nhức, lở loét, hôi thôi, ăn lõm vào. Có khi mới phát nổi cục màu trắng, cứng rắn đau nhức dị thường. Lúc mới mọc uống Tô hoàng (3 đồng với rượu), uống 10 lần thì khỏi. Nếu dán lá thuốc cao thì càng sưng lớn, trong phát nhức nhối, lúc ấy chữa thì đã muộn. Nếu da đổi màu thì khó cứu. (Thắng kim phương)

Phương 2: Nhủ nham đã vỡ loét, mau tìm vỏ cua đã luộc chín đốt tồn tính, tán nhuyễn trộn đều dầu mè mà bôi. (Vệ sinh gia bảo phương)

Phương 3: Giã nát Bồ công anh đắp lên chỗ đau. Rất hay. (Tụ trân phương)

Phương 4: Nhủ nham đã vỡ miệng, mau lấy 10 vỏ cua sống bỏ vào nồi đất sấy cháy tán nhỏ. Mỗi lần uống 2 đồng hoà với rượu, uống luôn chớ để gián đoạn. (Danh y biệt lục)

Phương 5: Tất cả các bệnh vú sưng đau nhức, lấy 1 trái quít cả vỏ hột để trên mảnh ngói mà đốt cháy sém rồi tán nhuyễn uống với rượu ngang. Uống vài quả là khỏi. Nếu vú sưng, thối lở có mủ, nặng quá thì cứ uống thật nhiều sẽ kiến hiệu. Mỗi lần có th ể đốt 1 lượt 3-4 quả, nhưng chỉ được tán từng quả một, không được tán chung. Nhớ kỹ điều này.

NHỦ UNG:

Phụ nữ tuyến sữa bế tắc, sữa ngưng cố, khiến vú sưng nhức, có khi vì vậy mà thành mủ vỡ loét. Lúc bắt đầu sưng đau, lấy lá quít sắc nước uống, có thể làm tan vết sưng.

Phương 2: Vú sưng đỏ, đau nhức, giã nát cây Bồ công anh tươi, vắt lấy nước cốt, hoà rượu uống, lấy bả đắp vú rồi đi nằm.

Phương 3: Thạch cao nung đỏ để cho tan hoả độc rồi tán nhuyễn, mỗi lần uống 3 đồng với rượu hâm nóng. Uống hết rồi đi nằm, uống thêm lần nữa là xẹp. (Thiên kim phương)

Phương 4: Sắc tía tô với nước uống luôn luôn, đồng thời giã lá tiá tô đắp lên. (Hải thượng danh phương)

Phương 5: Giã nát cây gai đắp là xẹp. (Mai sư phương)

Phương 6: Sao hành rồi giã nát đắp, bỏ than vào hủ bằng sứ, áp lên rất hay.

Phương 7: Giã nát hành đắp lên, lại vắt nước cốt uống. (Tụ trân phương)

Phương 8: Mè tươi không kể ít nhiều, nhai nát đắp lên. (Mai sư phương)

VÚ SƯNG TRƯỚNG:

Vú trướng lên, trong nổi cục hạch, sắc 1 lạng lá quít xanh tươi với nước mà uống.

ÐẦU VÚ NỨC TOÉT:

Sao lòng trắng trứng rồi tán ra, mỗi lần uống 1 đồng với rượu, uống 3 lần là khỏi. (Nhiếp sinh diệu dụng phương)

Phương2: Ðốt quả cà vàng ra tro đắp lên.

Phương 3: Nhào đều yên chi với Cáp phấn, trộn nước lạnh bôi lên.

BĂNG HUYẾT:

Một bát nước cốt đậu hủ sống, nửa bát nước cốt hẹ, hoà chung, uống lúc bụng trống 1-2 lần. (Bất dược lương phương)

Phương 2: Cây kinh giới, dùng lửa dầu mè sao đen, tán nhỏ. Mỗi lần uống 1-2 đồng, hòa với nước tiểu trẻ mà uống. (Thánh huệ phương)

Phương 3: Sao đen gương sen với kinh giới rồi tán nhỏ uống. (Ngoại đài bí yếu)

Phương 4: Ðốt Ô mai, tán nhỏ, uống 2 đồng với nước cơm.

Phương 5: Hoa đậu ván trắng sấy khô, tán nhỏ. Mỗi lần uống 2 đồng nấu với gạo rang, cho thêm chút muối, uống lúc bụng trống. (Toả toái lục)

Phương 6: Củ năng, cứ mỗi tuổi 1 củ, đốt, tán nhỏ, uống với rượu. (Thanh nang bí yếu)

Phương 7: Ðốt hột đào, tán nhỏ, uống với nước cơm, ngày 3 lần.

Phương 8: Phụ nữ băng huyết nguy cấp, mau lấy 1 chi nhân sâm sắc đặc đổ cho uống. Nếu thảng thốt, gấp quá không kịp đợi sắc thì nhau rồi nuốt.

CỬA MÌNH SƯNG NGỨA:

Giã nát cây Cam cúc sắc với nước, trước xông, sau rửa. (Ứng nghiệm lương phương)

Phương 2: Cửa mình sưng lớn và ngứa ghê gớm, nấu tỏi với nước mà rửa, vừa tiêu vết sưng, vừa hết ngứa.

Phương 3: Cửa mình ngứa, nướng nóng gan gà hoặc gan heo, xắt 1 miếng dài nhét vào cửa mình, để qua đêm, sáng hôm sau lấy ra. Làm vài lần là bớt ngứa. (Thực liệu bản thảo)

Phương 4: Nấu lá tiá tô rửa ngày 3 lần (Ðồ kinh bản thảo)

CỬA MÌNH MỌC NHỌT:

Trong cửa mình mọc nhọt ngứa ngáy, lấy 1 con trai còn sống mở ra, bóc lấy thịt trai nhét vào cửa mình để qua đêm. Hôm sau thay lượt khác. (Dưỡng sinh chủ luận)

Phương 2: Nhọt trong cửa mình vỡ loét đau nhức, đốt Hạnh nhân cháy đen, nghiền thành cao đắp. (Y học cương mục)

Phương 3: Giã nát lá đào, bọc lông nhét vào cửa mình. (Thánh tế tổng cục)

CÓ THAI HÀNH KINH:

Uống 1 muỗng bột đậu đỏ với rượu, ngày 2 lần. (Thiên kim phương)

QUỈ THAI

Phụ nữ bụng lớn như có thai, mặt gầy vỏ, xám đen, hình dung tiều tuỵ, tóc xác xơ, có khi mấy năm không sanh. Dùng: Xuyên hồng hoa (nửa cân), Ðại hoàng (5 đồng), Lôi hoàn (3 đồng) sắc với nước uống có thể ra cả chậu máu hòn như mấy trăm miếng gan gà. Xong rồi khỏi. Lại sắc Lục quân tử mà uống được mấy thang gồm: Nhân sâm, Bạch truật (Thổ sao), Vân phục linh (mỗi vị 3 đồng), Chích cam thảo (1 đồng 5 phân), Pháp bán hạ (1 đồng 5 phân), Quảng trần bì (1 đồng 5 phân) sắc với nước uống.

SANH XONG ÐÁI SÓN:

Lông đuôi gà trống đốt ra tro, uống 1 đồng với rượu, ngày 3 lần.

TĂNG SỮA:

Sắc đậu hủ với đường cát mỡ gà, không nên dùng dầu. Ăn vài lần thì sữa ra rất nhiều.

Phương 2: Sanh xong sữa ít ra, nấu đậu đỏ cho ăn, sữa sẽ ra nhiều.

Phương 3: Sao mè, tán ra, trộn chút muối mà ăn.

TĂNG SỮA:

Nếu sữa quá nhiều, dùng 3 đồng Mạch nha (sao) sắc đặc uống, ngày 1 lần là sữa giảm, chỉ ra vừa đủ. Khi trẻ cai sữa rồi, có thể dùng phương này.

Nên nhớ: Hễ uống nhiều thì hết sữa, phải cẩn thận (Cục phương)

SỮA KHÔNG THÔNG:

Ðốt xơ quả mướp cả hột (đốt tồn tính) rồi tán nhuyễn uống 1-2 đồng với rượu. Ðắp chăn nằm cho ra mồ hôi là sữa thông. (Giản dị đơn phương)

Phương 2: Nấu đậu đỏ lấy nước uống. (Cửu âm sản bảo)

Phương 3: Ðốt đầu 1 con cá chép, tán nhỏ, uống 3 dúm bột với rượu. (Thiên kim phương)

Phương 4: Nấu canh cá chép mà ăn. Rất tốt. (Phổ cứu phương)

Phương 5: Sản phụ sữa quá ít hoặc vì tuyến sữa bế tắt hoặc vì thân thể hư nhược. Giã nhuyễn thịt tôm tươi trộn với rượu ngang mà uống, sữa sẽ chảy ròng ròng.

PHỤ NỮ SUY NHƯỢC KHÔNG CON:

Hoàng kỳ (4 lạng), Ðương quy (2 lạng), Ðại hồng tảo (4 lạng), Long nhãn nhục (4 lạng), Lộc nhung (4 lạng) ngâm trong 6 bát rượu ngon trong 1 tuần lễ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần dùng 1 ly hâm nóng cách thủy, uống lúc ấm lúc bụng trống. Uống liền nửa tháng, nguyệt kinh biến thành sắc đỏ, tinh thần sảng khoái, chân tay linh động. Sau khi sạch kinh có thể có con.

PHỤ NỮ MẬP PHÌ MUỐN CÓ CON:

Phụ nữ quá mập không thụ thai được, dùng thuốc hoàn này là sẽ có thai được: Xuyên khung (1 lạng), Bạch truật (Sao thổ – 1 lạng), Vân phục linh (5 đồng), Chế hương phụ (1 lạng), Bán hạ (1 lạng), Thần khúc (5 đồng), Quất hồng (2 đồng), Cam thảo (2 đồng) cùng tán nhỏ trộn với nước cơm vê thành hoàn bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 4-5 đồng chia uống 2 buổi sớm tối.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Bệnh Thanh Niên


DI TINH:

Thường gọi là tẩu dương, tán nhỏ lá sen uống 3 đồng cân bột ấy với rượu.

Phương 2: Da quả cật gà trống, sắc uống nóng.

Phương 3: Dùi lỗ nhỏ 1 quả trứng gà, bỏ vào 1 chút Hồ tiêu (tiêu sọ) bít lỗ. Bỏ vào nồi cơm hấp chín ăn, mỗi ngày 1 quả. Ăn liền 7 quả là đoạn căn. (Dị giản phương)

Phương 4: Lá dâu sau tiết sương giáng 3-5 đồng, tán nhỏ uống với nước cơm.

Phương 5: Ðốt 3 cái kén tằm đốt từ tính uống hết 1 lần với nước.

Phương 6: Khiếm thực, Liên tử, Dĩ nhân. Nấu cả 3 vị ăn trong 1 tháng.

HOẠT TINH:

Sao 2 đồng cân Phỉ tử, hạch đào nhân (1 quả) sắc với nước pha thêm rượu ngang uống liên tục 3 ngày.

MỘNG TINH:

Sao 1 thăng hạt Tía tô, tán nhỏ, uống 1 đồng với rượu. Ngày uống 2 lần sẽ khỏi. (Ngoại đài bí yếu)

Phương 2: Lấy 3 phân Ðại hoàng (bột) đục lỗ đầu trứng gà nhét bột thuốc vào, bít lỗ, hấp cơm chín mà ăn lúc đói bụng 4-5 lần là khỏi.

MỘNG TINH:

Một cân Xuyên hoàng bá, nửa cân Mẫu lệ, sao trên lửa nhỏ đến khi biến thành sắc đen nhưng đừng để cháy. Dùng rây, rây bỏ Mẫu lệ, chỉ dùng Hoàng bá tán nhỏ, luyện mật làm hoàn cỡ hạt ngô đồng, uống lúc bụng trống với nước sôi pha muối cỡ 3 đồng. Uống xong chà xát ngực, ức. Ði bộ chậm rãi vài trăm bước rồi ăn cơm để dằn thuốc. Khi uống thuốc kỵ việc hành phòng, cần ngừa giận dữ, ít làm việc mệt nhọc, kỵ ăn tiêu tỏi và các thức ăn cay nhiệt. Uống xong, nước tiểu vàng, vài ngày sau sẽ trong. Ấy là thuốc có kết quả. Nếu tâm suy nghĩ, vọng tưởng, bức rức thì dùng Châu sa làm áo.

HẠ CAM:

Ðốt Hạnh nhân cháy đen, nghiền thành cao, đắp luôn. (Vĩnh loại căn phương)

Phương 2: Dùng bột Khinh phấn rắc lên là vết thương khép miệng rồi khỏi. (Tích thiện đường phương)

Phương 3: Nuôi 1 con ngỗng trắng cho ăn gạo trắng trong 3-4 ngày, lấy phân ngỗng để trên miếng ngói sạch, sấy khô, tán nhỏ. Hoà 1 đồng phân ấy với Ðơn sa mà uống.

DƯƠNG MAI ÐỘC:

Ðục lỗ 1 quả trứng gà, rút bỏ lòng đỏ, chỉ dùng lòng trắng. Bỏ 1 đồng Khinh phấn vào khuấy đều, đắp kín lỗ rồi chưng, hấp chín trong nồi cơm mà ăn. (Dương thành kinh nghiệm phương)

Phương 2: Lúc mới trị ngay, dùng sừng dê, vỏ quả Hạnh đào (phân lượng bằng nhau) đốt tồn tính rồi tán nhuyễn. Mỗi lần hoà 1 đồng cân rưỡi bột thuốc với rượu mà uống. Sớm chiều 2 lần, 4 ngày thì độc bị tống ra ngoài theo đường đại tiện như mủ máu. Ðỡ rồi, mỗi ngày chỉ uống 1 lần, nửa tháng sau hết chất độc. Sau đó dùng Thục địa, Bạch thược, Ðương quy, Nhân sâm, Bạch truật, Bạch phục linh, chích cam thảo sắc uống để bỏ. Nếu hư nhược uống vài thang. (Tế sinh bí lãm)

Phương 3: Sao sơ 4 lạng hoè hoa, đổ 2 tách rượu vào, sắc sôi 10 dạo uống nóng. (Y học tập thành)

Phương 4: Tán nhỏ Mộc qua, trộn nước vê thành hoàn. Mỗi ngày uống 3 đồng cân với nước nấu thổ phục linh. (Phổ tế phương)

Phương 5: Dương mai lở loét, tán vỏ ốc với thần sa mà bôi. (Cục phương)

BÌU DÁI LỞ LOÉT (Nang ung):

Còn có tên là nang thoát, bìu dái lở loét, hòn dái lọt ra ngoài. Nấu lá tía tô với nước mà rửa, đồng thời giã nát thân lá cành Tiá tô mà đắp. Lấy lá sen tươi bọc (bao) chắc lại. Trong dùng Hoàng liên (6 phân), Quy vĩ, Liên kiều, Vân linh (mỗi vị 1 đồng rưỡi), Cam thảo, Mộc thông (mỗi vị 1 đồng), sắc uống.

Phương 2: Hột hoa móng tay, Cam thảo (mỗi vị 2 đồng) tán nhỏ trộn dầu mè đắp, liền sinh da non. (Vĩnh loại căn phương)

HÒN DÁI SƯNG:

Hòn dái sưng cứng, tinh chảy không ngừng, nhói đau như kim châm, sờ vào nhức buốc. Sắc cam thảo với đậu đen cho uống luôn luôn.

XUẤT TINH QUÁ SỚM (Tảo tiết):

Hột hẹ trị dương vật mềm rũ, xuất tinh quá sớm, công hiệu vô cùng. Sắc thật đặc 4 – 5 đồng hạt hẹ uống 1 lần, ngày uống 3 lần, uống liền mấy ngày.

DƯƠNG VẬT MỀM RŨ KHÔNG CON:

Dương vật mềm không cương lên được, tinh ít không con, uống thang này bảo dưỡng 1 tháng là công hiệu:

Bong bóng cá sao, hạt hẹ (2 lạng), Liên tu (2 lạng), Thục địa (2 lạng), Ðổ trọng (2 lạng), Xuyên ngưu tất (ngâm rượu), Câu kỷ tử, Ðồng tật lê, Hải cẩu thận, Thố tư tử, Thiên môn đông, Chính quy bản, Chích lộc nhung, Phá cố chỉ (tửu sao), Bạch phục linh, Viễn chí, Tửu đương quy, Nhân sâm (mỗi vị 2 lạng), Thanh diêm (5 đồng). Nhào mật viên như hạt ngô đồng, uống 3 đồng lúc bụng trống, nếu cảm thấy ngang bụng ức bế tắc, uống nước nấu Chỉ xác.

Phương 2: Ngâm 1 cân Dâm dương hoắc vào 3 cân rượu, 3 ngay sau chia uống dần. Phương này trị dương vật mềm rủ.

DƯƠNG THẬN TỬU SINH CON:

Một đôi hòn dái dê, Sa uyển tật lê (4 lạng), Dâm dương hoắc (4 lạng), Tiên mao (4 lạng), Quế nhục (4 lạng), Dĩ nhân (4 lạng), Thiên tửu (20 cân) ngâm 41 ngày. Tuỳ tửu lượng, uống đều đều. Người dương vật mềm rủ, khó có con, uống vào sẽ có.

CAI THUỐC LÁ:

Muốn cai thuốc lá, ngậm quả trám (cà na) muối, hồi lâu cơn ghiền sẽ hết. Nếu nghiện nặng nên nấu nước sôi, ngâm quả trám muối mà uống. Xong nằm nghỉ vài giờ. Sau đó, mỗi khi cơn ghiền nổi lên lại ngậm 1 quả trám muối là giải được.

CAI RƯỢU:

Người ghiền rượu muốn cai, nên lấy Cát hoa (hoa sắn dây) sắc uống. Nếu sợ bất tiện, hàng ngày pha 3 đồng Cát hoa, 3 đồng cân kỷ tử uống thay trà.

Phương 2: Nấu 3 đồng Hợp hoan hoa, 3 đồng Cát hoa với 3 bát nước, còn 1 bát. Lọc bỏ bã, uổng nước thuốc. (Băng ngọc đường nghiệm phương)

CAI THUỐC PHIỆN:

Dây Bí rợ giữa rỗng, có nước. Cắt bỏ 1 đầu cọng cầm dốc xuống sẽ chảy ra 3-4 giọt nước trong. Gặp khi trời mưa thì nhiều nước hơn. Hãy giã cọng dây này lấy nước để dành. Khi cơn ghiền nổi lên, cho nước nầy vào nồi chưng cách thuỷ cho ấm lên, uống 2-3 muỗng. Số lần uống tuỳ theo số lần hút ít hay nhiều, như ngày hút 3 cử thì uống 3 lần. Uống nước cốt này không quá 10 ngày thì dù nghiện nhiều năm cũng khỏi mà lại không khổ sở vật vã chút nào. Cai xong, thân thể càng mập mạnh.

Phương 2: Mỗi khi hút thuốc phiện xong, ăn liền 1-2 quả trứng gà, uống với nước nấu sôi. Phải nhớ lần nào hút xong cũng phải làm như thế. Chỉ nửa tháng sau là chán thuốc phiện.

Phương 3: Mỗi ngày trích máu 1-2 con lươn hoà rượu uống. Bị nhẹ, uống máu 4-5 con, bị nặng phải dùng hơn 100 con. Uống rượu này đại bổ huyết, giải hết được độc thuốc phiện… Thịt lươn dùng để ăn. Cứ uống thế cơn nghiện tự nhiên hết, thấy thuốc phiện tự động tránh xa.

Phương 4: Nấu Cam thảo thành cao, trộn với thuốc phiện mà hút. Chỉ một, hai ngày sau là không muốn hút nữa. Phương này rất dễ mà lại không tốn tiền, lại không thương tổn. Người nghiện nặng trị theo cách này, chỉ 1 tháng là khỏi.

Phương 5: Lá chè xanh (1 lạng), con trai (Ðạm thái) (1 lạng), muối (4 đồng), Yên hôi (4 đồng). Nấu các thứ trên với 3 bát nước, còn 1 bát, bỏ bã cất để dành trong hũ, bịt kín miệng hũ (Trời nóng thuốc dễ hư nên thỉnh thoảng nấu lại). Khi cơn ghiền đến uống 1-2 muỗng là hết bị cơn ghiền hành, và tinh thần gia tăng trăm lần, không khổ sở gì cả. Thật là kỳ phương. Như uống hết 1 liều, đến liều thứ 2, các vị thuốc vẫn như cũ, duy Yên hổi giảm bớt 5 phần còn 3 đồng rưỡi. Ðến liều thứ 3 giảm bớt Yên hôi 5 phân, còn 3 đồng. Cứ thế giảm dần đến hết.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Bệnh Trẻ Em


TRẺ SƠ SINH KHÔNG DA:

Ðó là do người me thường ở luôn trên lâu, thai nhi không được hơi đất hoặc bị di truyền độc Giang mai. Lấy chăn dầy bọc trẻ đặt trên đất sét vàng 1 đêm là khỏi. Một cách nữa là lấy gạo lúa sớm (Tảo đạo mễ) xay ra bột mà thoa cho trẻ, khi nào ra da thì ngừng. Cả 2 cách đều hiệu nghiệm.

(Toàn ấu tâm kính)

Phương 2: Trẻ mới sinh không da, đỏ hỏn, lộ gân đỏ. Ðó là do thụ thai chưa đủ ngày tháng. Ðào hố đặt trẻ xuống hố là sinh da.

(Thánh tế tổng lục)

Phương 3: Trộn Phục Long can (đất lòng bếp) với lòng trắng trứng mà thoa. (Tam nhân phương)

TRẺ SƠ SINH MÌNH MỌC VẨY NHƯ DA RẮN:

Ðó là Xà phong thai. Lấy Bạch cương tàm (con tằm chết gió cấu bỏ đầu) tán nhỏ, sắc với nước, tắm cho trẻ, da trẻ sẽ lột như da rắn rồi khỏi.

(Toàn ấu tâm kinh)

TRẺ HAI CHÂN LỞ LOÉT LỘT DA:

Ðó là chứng thai bác. Không trị mau để lan đến bụng dưới là hết cứu. Ðốt Hoàng bá cháy xém, để cho tan hoả tính rồi tán nhỏ, trộn với nước mật heo, đắp lên.

Phương 2: Lấy Phục long can (đất lòng bếp – bếp đốt than đá có độc chớ dùng) trộn với nước bọt đắp cũng khỏi.

TRẺ BÌU DÁI CHẢY XỆ:

Bìu dái bóng lưỡng mà cứng, sắc 1 lạng thiền thoái (xác ve sầu) với nước, rửa luôn. Lại giã lá tía tô nát nhừ mà bọc là khỏi. Nếu không có tía tô tươi dùng lá khô tán ra bột cũng được. Nếu bìu dái ẩm ướt thì đắp bột khô. Bìu dái khô thì trộn vơí dầu mè mà đắp. Dùng thuốc này dù bìu dái lở rách, hòn dái muốn lọt ra ngoài, cũng chữa được.

Phương 2: Bìu dái sưng mọng như bọc nước, giã nhừ 1 con giun đất lớn trộn với đường cát trắng, bôi lên.

TRẺ BÌU DÁI QUÁ LỚN:

Không chữa ngay em lớn lên sẽ thành sa bìu dái, khó chữa. Trong vòng 1 tuổi, vào giờ Tí, ngày Ðoan dương (mồng 5 tháng 5) lấy thau đựng nước nóng đặt giữa nhà. Cho trẻ ngồi ngâm bìu dái vào nước ấm rồi bồng trẻ đặt ngồi lên ngưỡng cửa. Nước ở bìu dái sẽ in ngấn (vết) trên ngưỡng cửa. Ðốt lửa ngãi 3 lần trên vết nước ấy. Lúc đốt hơ bìu dái trên khói ngãi. Bìu dái liền rút nhỏ lại.

(Diệu phương)

TRẺSAU CƠN BỆNH CÂM KHÔNG NÓI:

Lấy 1 củ Thiên nam tinh, ngâm nước sôi, bỏ vỏ cuống rồi tán nhỏ. Lượng tuổi trẻ lớn nhỏ, chia làm 2,3,4,5,6,7,8 phần; trộn nước mật heo. Nấu nước gừng loãng cùng uống. Chỉ uống vài lần là nói lại được.

TRẺ BỊ QUAI BỊ:

Hai hàm sưng cứng kết hạch là do tiên thiên nhiệt độc. Mau lấy Ðương môn tử (tức Xạ hương – 1 đồng), Châu sa (5 phân), 7 con ốc lớn. Giã nhừ tất cả đắp lên hàm. Khi khô thuốc tự rơi, chớ bóc. Chỉ trong ngày trẻ sẽ khỏi. Nếu bệnh nặng, rửa sạch kim bạc khẽ chích chỗ đau cho chảy máu, mài mục tàu (thứ lâu năm) bôi lên.

TRẺ BỎ BÚ:

Trẻ nhỏ bị bệnh ở lưỡi không bú. Hoà bột Thiên nam tinh với dấm đắp vào gan bàn chân trẻ, rồi dán giấy lên buộc lại cho thuốc khỏi bong là trẻ bú lại, song khi trẻ bú rồi phải mau gỡ bỏ thuốc, chớ chậm trễ.

TRẺ CHẬM MỌC RĂNG:

Trẻ đến tuổi mà chưa mọc răng. Bắt 1 con chuột đực sống mổ bụng, lấy xương sống chuột đốt tồn tính rồi tán nhỏ xát lên nướu là răng mọc.

TRẺ THỰC TÍCH – THỰC TRỆ (Ăn không tiêu):

Trẻ nhỏ sình bụng đau nhức (bụng trên đau mà không quặn) cho uống 1 chút bột Cam thảo là khỏi. Nếu không sẵn Cam thảo, đốt vật trẻ đã ăn ra tro (kỵ đốt bằng than đá hay dầu hoả) hoà với đường cát cho uống.

Phương 2: Một ly nhỏ sữa người và 1 đồng tiền cổ. Ðặt tiên trên lửa nung đỏ rồi bỏ vào sữa, hễ nguội lại vớt ra nung nữa, chừng 4-5 lần rồi cho uống.

TRẺ PHÁT SỐT CAO:

Giã nhừ củ hành, buộc vào mạch cổ tay trẻ, cho ngủ 2-3 giờ sẽ khỏi.

TRẺ BỊ ÐƠN ÐỘC (Mề đay):

Tán nhỏ Phục long can (Ðất lòng bếp) trộn với lòng trắng trứng gà đắp lên. Hễ khô, thay lượt khác. (Thiên kim phương)

Phương 2: Trộn bột gừng khô với mật, đắp lên.

Phương 3: Thái miếng mỡ heo đắp lên. (Bản thảo cương mục)

Phương 4: Nấu 1 cân lá liễu với 1 đấu nước, còn 3 thăng rửa chỗ vết đỏ lúc nước ấm, ngày 7-8 lần. (Quảng lợi phương)

Phương 5: Tán đậu đỏ ra bột rắc lên. Nếu chưa mọc nhọt thì hoà với lòng trắng trứng gà mà đắp. (Chứng trị chuẩn thằng)

NGỪA TRẺ LÊN ÐẬU:

Hoà Hùng Hoàng với dầu mè, đổ lên lỗ mũi và miệng trẻ. (Toàn anh phương)

Phương 2: Giã nát quả trám (cà na) tán nhỏ như bột, trộn lẫn với bột làm bánh, cho trẻ ăn tuỳ thích. Ăn chừng 1 cân thì vĩnh viễn không lên đậu. (Kỳ Thiên sư truyền)

TRẺ LÊN LẸO MẮT:

Lấy lớp da vàng ở phao câu gà chà xát lên, lẹo sẽ rụng. (Tập yếu phương)

TRẺ CHẢY MÁU CAM:

Giã lá Xa tiền lấy nước cho trẻ uống. (Ấu ấu cận biên)

TRẺ CHỢT CHẾT THÌNH LÌNH:

Sắc nước muối thật mặn, cạy miệng đổ cho uống. (Cục phương)

GIUN LÃI:

Người lớn dùng 1 lạng rưỡi hột cau, trẻ 6 tuổi trở lên dùng 1 lạng, trẻ dưới 6 tuổi dùng 8 đồng. Sắc với nước uống vào sáng sớm, lúc bụng trống. Hạt cau có tác dụng làm ỉa chảy, giỏi trị giun lãi, tống ra đường đại tiện. Khi uống xong, kiểm tra thấy phân có trứng giun thì cách tuần sau uống thêm liều nữa.

TRẺ NHỎ BỊ UỐN VÁN RỐN:

Lấy đất vách tường hướng đông đắp lên rốn. (Thiên kim phương)

Phương 2: Ðốt lá ngãi ra tro nhét vào rốn, lấy bông băng chặt. (Bảo anh kim kính)

Phương 3: Trẻ nhỏ uốn ván rốn, sưng lầy lâu không khỏi. Ðốt tổ ong lấy bột mà bôi sẽ khỏi. (Bảo ấu đại toàn)

Phương 4: Tán Ðào nhân (hột đào – bỏ vỏ) đắp lên. (Dục anh gia bí)

Phương 5: Rốn phong loét lở, lấy 5 con Oa ngưu (ốc sên) bỏ vỏ giã ra nước mà bôi. (Vạn bệnh hồi xuân)

TRẺ RỐN LỒI:

Rốn lồi sưng mọng, lấy Ðại hoang, Mẫu lệ (mỗi vị 5 tiền), Phác tiêu (2 tiền) tán nhỏ. Mỗi lần dùng 1-2 tiền. Rửa sạch con ốc, tẩm vào bột 1 ngày cho tan ra, lấy nước mà bôi. (Kinh nghiêm phương)

TRẺ RỐN ƯỚT:

Sao cháy xém Xa tiền tử, tán nhuyễn đắp lên.

Phương 2: Tán nhỏ Phục long can mà đắp. (Cục phương)

TRẺ NHỎ SƯNG RỐN:

Sắc Kinh giới lấy nước mà rửa, lại nướng hành ấp lên rốn. Nên thường lưu ý, chớ để trẻ đái ướt rốn.

TRẺ NHỎ SƯNG THÓP (Mỏ ác):

Bột Hoàng bá nhào với nước đắp dán vào 2 gan bàn chân. (Ðàm thị tiểu nhi phương)

TRẺ ÐẦU NHỌT:

Cơm nấu sắp sôi, nước bọt cơm dâng lên vung nồi. Lấy nước ấy mà xát lên. Rất hay. (Ấu khoa phát huy)

Phương 2: Sao đậu đen tồn tính, n ghiền trong nước rồi trộn đắp lên. (Từ mẫu bí lục)

Phương 3: Ðốt vỏ trứng gà trộn mỡ heo đắp lên. (Thiên kim phương)

TRẺ BỊ NHỌT TAI:

Lấy tròng trắng trứng bôi lên. (Bản thảo cương mục)

TRẺ NHỎ TÓC LƠ THƠ:

Trẻ nhỏ tóc thưa thớt, sắc lá đào, lá liễu với nước, giã gan heo vắt lấy nước, hoà với nước ấy mà bôi lên đầu tóc, tóc sẽ mọc. (Vệ sinh tổng vị)

TRẺ BỊ NHỌT LƯỠI:

Trẻ bú không được. Lấy phèn chua trộn với trứng gà, với dấm, đắp lên gan bàn chân trẻ.

TRẺ SƯNG MÔI:

Giã thân cây dâu tằm lấy nước bôi là xẹp. (Cục phương)

TRẺ MỌC NHỌT MIỆNG:

Ðốt tóc ra tro trộn mỡ heo bôi lên. (Thiên kim phương)

TRẺ Ù TAI:

Lấy 2-3 thăng muối ăn, chưng nóng lên rồi góo lại, nằm áo tai lên làm gối, lạnh thì thay mồi khác. Cách nầy trị cả bệnh tai nghe tiếng o – o. (Vệ sinh tổng vị)

Phương 2: Lùi hành vào tro nóng để cho hành nóng lên thì nhét vào lỗ tai, 1 ngày thay 3 lần. (Vệ sinh tổng vị)

Phương 3: Giã nát hột cải tươi trộn với sữa người, bọc bông nhét vào tai. Mỗi ngày thay 1 lần. (Vệ sinh tổng vị)

TIỂU NHI KIỆN TÌ TÁN:

Phục linh, Liên nhục, Khiếm thức, Dĩ nhân, gạo trắng sao vàng, vùng tán ra bột. Lấy 2 đồng bột nầy pha nước cho thêm chút đường, khuấy đều, bỏ vào nồi cơm hấp chưng chừng 1 – 2 giờ rồi lấy cho uống; hoặc dùng nước nấu chín pha uống cũng được song hiệu lực không bằng cách trên. Chủ trị trẻ nhỏ mặt vàng còm cỏi, tóc vàng xơ xác, biếng ăn, ỉa chảy mà không đau bệnh, đi cầu ra nước nhờn sắc vàng lợt, hôi thối. Unng thuốc nầy sắc mặt tươi hồng, hết đi tả. Uống lâu sẽ mập mạp khoẻ mạnh.

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

THIỀN VÀ KHÍ CÔNG GIÚP GÌ CHO NÃO BỘ (?)


Từ ngàn xưa đạo Phật đã tuyên dương Thiền, Thiền có thể thay đổi Tâm con người, và trong mục đích đó đạo Phật đã phát triển nhiều cách hành Thiền. Thực hành Thiền đều đặn sẽ giúp sự chú ý tinh tế hơn và có thể chuyển hóa cảm xúc. Về Khí Công Tâm Pháp, nhiều người thực hành đều đặn cũng tuyên dương khí công có thể ngăn ngừa và chữa trị nhiều bệnh tật rất thần diệu. Kết quả là ăn ngủ điều hòa, thần sắc tươi tỉnh, thân thể cường dũng, tâm tư thư thới, nhẹ nhàng và tràn đầy an lạc.

Nhưng lấy gì chứng minh sự kết hợp hành Thiền và Khí Công có thể giúp người ta sống khỏe, sống vui? Với tiến bộ khoa học, những cuộc nghiên cứu và điện não đồ ghi nhận được đã chứng minh một cách cụ thể Thiền đưa tới nhiều thay đổi ở những vùng cảm xúc trong não bộ và Khí Công Tâm Pháp giúp phát triển các cơ cấu và vùng nhận thức trong não bộ.

Trước hết nói về Thiền. Thiền đã được thực hành hằng ngàn năm tại nhiều nước Á Đông, nhằm mục đích để đem đến sự an lạc. Thiền trong Phật Giáo thường nhắm đem lại sự an lạc và giác ngộ. Các cuộc nghiên cứu khoa học mới đây ghi nhận được bằng điện não đồ cho thấy Thiền có thể thay đổi hoạt động trong vỏ não (chất xám), vùng cảm xúc. Bộ óc bẩm sinh có thể được thay đổi nếu được kích thích, được hoạt động trong một môi trường phong phú. Ngày nay Thiền được phổ biến rộng rãi ở Tây Phương trong các thiền viện hay trong các trung tâm phát triển sức khỏe .

Nhiều thiền sư tin rằng, năng lực mà chúng ta có được bằng sự yên lặng có thể dùng để khai triển sự tỉnh thức và chánh niệm (ý thức những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại). Sự lặng thinh trong ngôn ngữ sẽ dẫn đến sự lặng thinh trong tâm hồn, cùng với sự lặng thinh không hoạt động, sẽ đưa đến sự thay đổi về tâm lý, vật lý vô cùng rõ rệt trong ta.

Từ lúc chúng ta mở mắt ra buổi sáng đến khi nhắm mắt ngủ buổi tối, lúc nào đầu óc mình cũng suy nghỉ, hoạt động, giống như cái máy làm việc suốt ngày. Nếu chúng ta tắt, máy sẽ nguội bớt. Nếu chúng ta tập Thiền, dừng suy nghæ một thời gian, thì sau đó trí tuệ sáng suốt sẽ phát sinh. Nếu ánh sáng được giữ trong một phạm vi nhỏ của cái chụp đèn thì ánh sáng sẽ mạnh hơn ánh sáng chiếu tỏa khắp căn phòng. Cũng vậy nếu tâm ta, được tập trung sẽ trở nên vô cùng mãnh liệt, như các nhà thôi miên có thể sai khiến người khác làm theo ý mình, hoặc đổi dời một vật từ chỗ này sang chỗ khác. Người bình thường bị cảm xúc dẫn dắt, đôi khi nóng nảy hành động sai lầm, người tu Thiền giỏi có thể điều khiển trí óc họ và trầm tĩnh, nhờ đó có hành động sáng suốt hơn , tránh được nhiều đáng tiếc xảy ra.

Thiền có hai loại: Thiền Tĩnh Lặng và Thiền Hoạt Động.

Thiền Tĩnh Lặng là ngồi yên một chỗ, chú ý vào một chỗ như hơi thở vào, hơi thở ra hay chú ý về cảm giác vui sướng hay đau khổ đang xảy ra trong tâm hay đối tượng gì đang nghe thấy . Ngày nay tại Hoa Kỳ và các nước Tây Phương người ta thực hành thiền giản dị như chú tâm vào hơi thở vào hơi thở ra cùng nhận biết cảm giác xuất hiện, gọi là Thiền quán.

Âm thanh từ nước có thể xua tan mọi ưu phiền, mệt nhọc…

Ngoài Thiền quán còn có Thiền Chỉ không chú tâm vào một đối tượng nào cả mà chỉ để tâm trở về với trạng thái buông xả, mở rộng tự nhiên , thấy biết mọi thứ mà không chú tâm vào thứ gì cả.

Thiền Hoạt Động là chú tâm trong lúc hoạt động, như thiền hành là thiền trong lúc đi bộ, hoặc chú tâm vào những động tác chân tay, phối hợp nhịp nhàng với hơi thở, như trong Thái Cực Quyền hay Khí Công. Nhiều bác sĩ hay nhân viên chăm sóc sức khỏe khuyến khích những bệnh nhân có các vấn đề khó khăn về thể chất hay tâm thần nên thực hành Thiền để chữa trị các chứng bệnh như đau nhức thân thể, tay chân, các chứng lo âu, trầm cảm hay bị căng thẳng tinh thần, bị cao huyết áp ..

Nhiều khoa học gia Tây Phương và nhiều Thiền Sư thượng thặng của Tây Tạng đã gặp nhau mỗi hai năm một lần ở Dharamsala ở Ấn Độ, để nghiên cứu những hoạt động trong não bộ của những Thiền Sư Tây Tạng và những người thực hành Thiền tại Hoa Kỳ. Họ đã đi đến kết luận là Thiền giúp cho các vùng liên hệ đến cảm xúc an vui, cảm thông, tình thương ở vỏ não phía trán bên trái gia tăng và giảm thiểu các cảm xúc tiêu cực như buồn rầu, giận hờn, lo âu ở vỏ não phía trán bên phải .

Thiền cũng giúp hệ thống miễn nhiễm gia tăng hoạt động và kháng thể chống bệnh gia tăng lên đến 50% . Bác sĩ Antonio Damasio thuộc Viện Đại Học Iowa nghiên cứu về não bộ và nhận thức cho biết Thiền cũng như những hoạt động như đánh đàn, tập luyện, vận động thể lực giúp cho bộ não thay đổi cấu trúc và gia tăng khả năng nhận thức.

Giáo sư Richard Davidson thuộc viện Đại Học Wisconsine đã mời các Thiền Sư thuộc Tông phái Tây Tạng đã thiền trên 10,000 giờ để nghiên cứu những gì xảy ra trong não bộ khi những vị này thiền từ bi quán . Qua những những điện não đồ , người ta thấy trong não bộ của những vị Thiền sư Tây Tạng, những làn sóng não bộ GAMMA gia tăng, biểu lộ trạng thái hòa hợp tốt đẹp rất cao khi thiền Từ Bi Quán. Kết quả này rất quan trọng chưa hề được trình bày trong các tài liệu y khoa, điều này có thể đem lại nhiều lợi ích trong sự huấn luyện phát triển về nhận thức.

Năm 2005 các nhà nghiên cứu Viện Đại Học Yale, Harvard, M.I.T. cũng cho biết Thiền làm gia tăng độ dày của vỏ não (chất xám) nơi vùng của cảm giác nhận thức và tiến trình cảm xúc. Đây là điều rất đặc biệt vì người lớn tuổi thì vỏ não sẽ mỏng dần đi, do đó thực hành Thiền có thể làm cho vỏ não không những bớt bị mỏng đi khi lớn tuổi mà còn giúp gia tăng độ dày. Những loại Thiền thuộc các tông phái khác hay Yoga , Tai Chi hay Thái Cực Quyền , vận động thể lực.. đều đưa đến kết quả giúp tăng độ dày của chất xám, vỏ não.

ÂM NHẠC VÀ NÃO BỘ
Bác sĩ Daniel G. Amen là một chuyên gia thần kinh học nổi tiếng tại HK trong cuốn “Làm Cho Bộ Não Tốt Đẹp Hơn” đã nói lên giá trị của âm nhạc, Thiền và đời sống tâm linh. Ông nhấn mạnh, ca hát làm cho bộ não tốt hơn. Một người đang ca hát là một người đang bày tỏ niềm vui, cảm xúc sẽ thay đổi theo tiếng hát, làm tăng sự hạnh phúc và trí nhớ, giúp cho tinh thần thoải mái, gia tăng sức khỏe, đời sống tươi trẻ hơn.

Ông Don Campbell , người sáng lập Viện Âm Nhạc, Sức Khỏe và Giáo Dục cho biết chỉ cần phát ra âm thanh theo điệu nhạc năm phút một ngày sẽ rất tốt cho sức khỏe. Nếu hát với sự chú tâm vào lời hát sẽ làm cho não bộ linh hoạt, sống động hơn, cùng với khả năng an trú trong giờ phút hiện tại. Điều này rất phù hợp với những lời tụng kinh có nhiều âm điệu của Chư Tăng Tây Tạng, đã giúp gia tăng trạng thái buông thư, tạo nguồn an vui sâu thẳm, kỳ diệu nơi Tâm.

Thiền hay yoga hay bất cứ một phương pháp nào mà ngồi yên một chổ nhiều quá thì cũng không tốt vì cơ thể sẽ yếu dần đi, vì vậy cần vận động thể lực để đem nhiều dưỡng khí vào cơ thể là việc cần thiết giúp ta được khỏe mạnh về thể chất, phát triển trí nhớ, quyết định đúng và an vui tinh thần.

Khí công là phương pháp hít thở đúng cách , thở sâu để đem nhiều dưỡng khí vào cơ thể . Phổi cấu tạo bởi nhiều phế nang, bình thường chúng ta thở nhẹ, chỉ dùng một phần nhỏ dung tích của phế nang, ca sĩ hay những lực sĩ tập luyện nhiều, thở sâu, đem vào phổi nhiều không khí, hơi dài và mạnh.

Khí Công Tâm Pháp là phối hợp của Thiền Tĩnh Lặng và Thiền Hoạt Động, tức là chú tâm vào các động tác và hơi thở khi tập luyện , đưa đến kết quả tốt đẹp hơn bội phần, kết hợp giữa Thiền và Khí công đưa tới sự an vui kỳ diệu. Nói đến chữ “ kỳ diệu” là nói đến niềm hạnh phúc sâu thẳm, linh động và tích cực nơi Tâm và não bộ.

Khí Công Thiếu Lâm và các Thế Yoga giúp tăng sức mạnh và sự dẻo dai của các bắp thịt, gân, xương cùng sự kết hợp các chức năng hoạt động trong cơ thể. Dưỡng Sinh Tâm Pháp là các thế giúp vận động chân tay hòa hợp cùng với tiếng nhạc niệm trầm bổng đưa tới sự hòa điệu Thân Tâm Nhất Như, đem tới niềm an vui sâu thẳm và bình lặng.

Tâm và bộ não là hai thứ bất khả phân, muốn có an vui, thương yêu, hạnh phúc thì phải có một bộ não tốt. Bác sĩ Daniel G Amen khuyên, để có một bộ não tốt và sống vui, hạnh phúc chúng ta nên thực hành Thiền và tập Khí Công, vận động thể lực hằng ngày, ngủ đầy đủ, chống lão hóa qua dinh dưỡng, sinh tố, vận động não, nghe hay chơi nhạc và quan tâm đời sống tâm linh ..

Tóm lại muốn phát triển khả năng nhận thức, giải trừ căng thẳng, thoải mái trong hoàn cảnh khó khăn, gia tăng sức khỏe, đi sâu vào hạnh phúc “kỳ diệu” thì nên thực hành Thiền và tập luyện Khí Công.

Tuyết Mai

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Chăm Sóc Đôi Bàn Chân

Có một nhà nghiên cứu đã tò mò, tỉ mẩn ngồi tính ra rằng, trong suốt cuộc đời, con người đã cất bước đi tới trên 1 tỷ lần.

Ðây là lấy con số trung bình.

Chứ người vô công rồi nghề, la cà bát phố suốt ngày, người phải lội bộ kiếm kế sinh nhai thì chắc là phải nhân lên nhiều lần.

Cũng như những ai thường xuyên “lên xe mercedes, xuống ngựa sắt Honda hai bánh” thì những bước chân đi sẽ âm thầm ít ỏi hơn.

Mà bước đi được như vậy là nhờ ở đôi bàn chân. Bàn chân cũng giúp cơ thể đứng vững và bám vào mặt trái đất.

Bàn chân và cổ chân có một cấu trúc khá phức tạp với:

– 26 chiếc xương nhỏ, chiếm 1/4 tổng số xương của cơ thể.

– 33 khớp xương

– 33 sợi gân, cơ, dây chằng

– Trên một cây số mạch máu, dây thần kinh nằm trong da và tế bào mềm.

Phần trước của bàn chân gồm có năm xương bàn chân và năm ngón chân.

Xương bàn chân thứ nhất to và ngắn hơn nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc đẩy bước đi về phía trước.

Gót chân gồm hai xương sên (talus) và xương gót chân (calcaneus). Xương sên nằm trên xương gót chân, giúp cho cổ chân cử động qua lại được.

Ðầu ngón chân có thể chuyển động lên, xuống, ra phía ngoài và vào phía trong.

Tất cả các thành phần này làm việc phối hợp nhịp nhàng với nhau để cung cấp cho cơ thể một thế đứng vững chắc, những bước đi, bước chạy, bước nhẩy cao nhẩy xa, khiêu vũ, múa may nhịp nhàng.

Bàn chân có hai nhiệm vụ chính: chống đỡ sức nặng cơ thể và đẩy cơ thể về phía trước. Ngoài ra, các khớp của bàn chân cũng phải du di uyển chuyển để chân có thể thích ứng với sự không bằng phẳng của mặt đất. Các khớp này tạo ra độ cong của bàn chân

Vậy mà đôi khi bàn chân cũng có bệnh tật bất thường, khiến cho con người không đi đứng được vì đau đớn, vì có sự thay đổi hình dạng, cấu trúc của hai bàn chân.

Sau đây là một số bệnh tật thường thấy của bàn chân.

Ðau gót chân

Với người trưởng thành, đau gót chân là rối loạn thường thấy nhất của bàn chân. Ðau xảy ra khi ta vận động hoặc làm các công việc hàng ngày.

Xương gót chân là xương lớn nhất của bàn chân đồng thời cũng là phần đầu tiên tiếp xúc với mặt đất khi ta bước đi.

Ðau gót chân thường thấy ở lớp người ngoài 40 tuổi mà lại hoạt động nhiều. Ở lớp tuổi này, sức đàn hồi của gân và dây chằng nơi gót chân đều giảm bớt.

Nguyên nhân thông thường nhất là viêm mô liên kết chạy từ gót chân tới ngón chân dọc theo mặt dưới bàn chân. Nguyên do kế tiếp là gẫy xương gót chân và bệnh thấp khớp.

Dấu hiệu chính là cảm giác đau ngầm ngầm đôi khi cách quãng ở dưới bàn chân hoặc chung quanh gót chân.

Nếu không điều trị, cường độ đau tăng dần, nhất là khi mới ngủ dậy hoặc khi ngồi quá lâu. Trong khi ngủ, ít có cảm giác đau.

Đa số các trường hợp đau gót chân đều tự nhiên khỏi.

Ưu tiên điều trị là để bàn chân nghỉ ngơi trong vài ngày để giảm viêm, sưng và đau.

Uống thêm thuốc chống đau như aspirin, ibuprofen trong dăm ba ngày.

Thoa bóp và chườm gót chân với nước đá cũng rất công hiệu.

Có thể mua một miếng lót gót chân đặt trong giầy để giảm cọ sát, gây đau.

Khi cảm giác đau thuyên giảm, từ từ sử dụng lại bàn chân.

Xin cứ kiên nhẫn, vì đôi khi cơn đau kéo dài cả tháng, nhưng đa số trường hơp, bệnh sẽ qua khỏi.

Chẳng may mà cả hai tháng sau, bệnh chưa hết thì nên đi bác sĩ để được khám. Có thể là có vấn đề với xương chân như gẫy xương, viêm xương. mà chụp hình X-quang sẽ làm sáng tỏ.

Trong trường hợp trầm trọng, thuốc cortisone được chích tại chổ để giảm đau.

Vật lý trị liệu cũng là phương thức trị liệu tốt.

Rât ít trường hợp phải giải phẫu vì đau gót chân.

Viêm bao hoạt dịch ngón chân (Bunion)

Ðây là một sự sưng dầy vừa rất khó coi mà lại còn gây đau ở các mô bào chung quanh xương ngón chân cái.

Nguyên nhân có thể là do thừa kế gia đình (giao chỉ) hoặc đi giầy quá chật, gót quá cao.

Ngón chân cái, thay vì hướng thẳng về phía trước, lại vẹo về phía ngón chân thứ hai.Mô bào sẽ mọc phủ lên mấu xương nhô ra để bảo vệ ngón chân lệch chỗ. Qua sự cọ xát với giầy, lớp mô này càng ngày càng dầy lên, gồ ghề, viêm và gây cảm giác đau. Hình dạng bàn chân cũng thay đổi và không vừa với giầy.

Lâu ngày, bệnh gây khó khăn cho sự đi đứng nếu không điều trị.

Ðiều trị không làm giảm sưng, nhưng có thể tránh sưng trở nên trầm trọng, và để giảm đau. Ðó là mang một loại giầy đặc biệt bằng da mềm, phần đầu rộng rãi để ngón chân khỏi ép vào nhau, gót thấp để giảm áp lực lên ngón chân.

Giải phẫu ít khi được dùng trong trường hợp này.

Mục đích của giải phẫu là để giảm đau chứ không phải để làm đẹp bàn chân. Cần thảo luận kỹ càng với bác sĩ chuyên khoa về xương và bàn chân trước khi quyết định phẫu thuật.

U dây thần kinh (Morton neuroma)

Một dây thần ở bàn chân có thể bị kẹp giữa hai ngón chân thứ ba và thứ tư vì mang giầy quá chật, bóp xương các xương vào với nhau. Lâu ngày, dây thần kinh đó phản ứng lại bằng cách tạo ra một cục u, gây ra đau. Cảm giác đau lan cả xuống các ngón chân.

Ðiều trị rất giản dị.

Chỉ cần mang giầy rộng rãi để tránh co ép các xương bàn chân, uống ít viên thuốc chống viêm-đau ở chung quanh dây thần kinh. Mang một miếng lót dưới gót chân cũng giảm đau.

Trong một số trường hợp, thuốc cortisone cũng được bác sĩ chích vào chung quanh u dây thần kinh.

Khi cảm giác đau không giảm với các phương thức vừa kể, giải phẩu cắt bỏ u dây thần kinh có thể được áp dụng. Cần thảo luận cặn kẽ với bác sĩ về công hiệu trước khi quyết định giải phẫu.

Chai cứng da

Chai là một vùng da ở trên hoặc giữa hai ngón chân dầy cứng lên, thường là do đi giầy quá chật, các ngón chân ép với nhau hoặc cọ xát với giầy. Ngón chân cái và ngón thứ năm thường hay bị chai. Chai cũng thấy ở gót chân.

Ngâm chân vào nước ấm cho tới khi chai mềm, rồi dùng hòn đá riêng có bán ở tiệm để mài chai cho mòn xuống. Sau đó mang miếng đệm để giảm sức đè vào da.

Nên cẩn thận với vài loại thuốc bôi tẩy chai, có chất acid salicylic, ví chất này có thể hủy hoại tế bào lành ở chung quanh.

Nếu chai quá dầy và gây đau, khó khăn đi lại, nên tới bác sĩ chuyên khoa để được điều trị.

Ngón chân búa (Hammertoes)

Ngón chân búa là một trong nhiều loại biến dạng của ngón chân.

Ngón chân bất thường cong xuống như hình chữ C hoặc cụp xuống như móng chân chim, vì các sợi gân của ngón chân co lại, kéo đầu ngón chân xuống và khớp lại cong lên. Biến dạng cũng xẩy ra khi mang giầy quá chật, quá ngắn. Vì lẽ đó, nữ giới thường hay bị tật này.

Bệnh tiểu đường ảnh hưởng tới dây thần kinh bàn chân cũng có thể là rủi ro gây ra biến dạng ngón chân.

Bất cứ ngón chân nào cũng có thể bị biến dạng, nhưng ngón chân thứ hai và thứ năm thường bị nhiều hơn. Lớp da trên ngón chân đó dầy cứng thành chai vì liên tục cọ sát với giầy, gây đau khi đi lại.

Nếu ngón chân búa không gây đau và không gây khó khăn cho sự đi đứng, thì cũng không cần chữa trị. Có điều hơi mất thẩm mỹ, khi mình trần tắm biển, hồ bơi.

Nếu chân đau, khó chịu có thể mang miếng đệm bao phủ ngón chân có bán sẵn ở các dược phòng hoặc mang giầy rộng rãi để ngón chân được thoải mái, không ép vào với nhau và cọ xát với da giầy.

Trong trường hợp ngón chân búa gây trở ngại cho sinh hoạt đi đứng hàng ngày, giải phẫu có thể là phương tiện tốt để giải quyết vấn đề.

Nên tham khảo bác sĩ chuyên khoa xương (orthopedic surgeon) hoặc bác sĩ chỉnh hình chân (podiatrist)

Mụn cóc bàn chân (Plantar warts)

Mụn cóc thường thấy ở lòng bàn chân và do một loại virus gây ra. Virus có ở nơi ẩm ướt, như cạnh hồ bơi. Người nhiễm phải khi đi chân đất.

Thường thường mụn cóc trên da ở các nơi khác mọc ra ngoài, nhưng ở bàn chân lại mọc sâu vào trong, vì sức nặng cơ thể đè lên bàn chân. Do đó, cảm giác đau mạnh mẽ hơn khi đi đứng.

Mụn cóc bàn chân hơi khó chữa. Thuốc bôi acid salycilic có thể hủy hoại mụn cóc.

Bác sĩ có thể chích vài loại thuốc vào mụn cóc, làm đông cứng mụn với dung dịch nitrogen, hoặc cắt mụn cóc với tia laser, tiểu giải phẫu.

Bệnh nấm giữa ngón chân.

Tiếng Anh gọi bệnh là athhlete’s foot, có lẽ vì các lực sĩ luôn luôn đi giầy không phải bằng da súc vật, bàn chân đổ mồ hôi, nóng và bí hơi tạo ra môi trường tốt cho những loại nấm gây bệnh. Nấm thông thường tấn công bàn chân thuộc nhóm Trichophyton.

Bàn chân luôn luôn ngứa ngáy khó chịu với các mụn nước, da chóc, nứt nẻ, mùi hôi như mùi chuột chết.

Có thể giải quyết nấm với bột thuốc chống nấm hoặc kem chống nấm có hoạt chất clotrimazole, mua tại tiệm thuốc tây.

Thay tất thường xuyên. Không nên mang một đôi giầy mấy ngày liên tiếp, để giấy khô bớt độ ẩm.

Không nên đi chân đất nơi công cộng, để tránh lan truyền nấm cho người khác, nếu họ cũng đi chân không.

Móng chân mọc vào trong da (Ingrown Toenails)

Như tên gọi, bệnh này là do cạnh móng chân mọc lẹm vào trong da thịt, gây ra đau và có thê nhiễm vi khuẩn. Ngón chân cái thường hay bị bệnh hơn các ngón khác

Nguyên nhân gồm có đi giầy quá bóp vào ngón chân, đi trên đầu ngón chân hoặc đôi khi vì một vài bất thường của xương ở bên dưới.

Trường hợp bệnh nhẹ, ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 15 phút cho da và móng mềm và loại hết mủ dưới móng. Nếu khéo tay và không sợ đau, lấy đầu mũi dao nhọn, nâng cạnh móng lên một chút rồi nhét vài sợi bông gòn khô, để móng khòi lẹm vào da.

Làm như vậy trong vài ngày cho tới khi móng mọc bình thường ra phía trước.

Nếu da bị nhiễm trùng nhẹ, bôi với kem có thuốc kháng sinh và bao che với một miếng band-aid.

Ðôi khi cũng phải giải phẫu cắt một phần móng nếu liên tục mọc vào da.

Và từ nay, nên mang giầy thích hợp, để các ngón chân được thoải mái

Trên đây là một số bệnh thường thấy ở đôi bàn chân. Một số thay đổi khác xuất hiện trên bàn chân cũng có thể là dấu hiệu một số bệnh tổng quát. Chẳng hạn:

– Sưng phù một bàn chân có thể là do huyết cục tĩnh mạch nằm sâu hoặc tắc nghẽn mạch bạch huyết.

– Sưng phù hai bàn chân trong bệnh tim, thận, gan.

– Ngón chân hai bên tái xanh trong bệnh Raynaud vì co thắt hoặc vữa xơ động mạch.

– Ðau bàn chân khi nghỉ hoặc nâng cao, bớt đau khi hạ thấp trong giai đoạn cuối của bệnh động mạch

– Bàn chân đau với cảm giác tê tê do bệnh của dây thần kinh ngoại vi như trong trường hợp tiểu đường.

– Ðầu ngón chân và cổ chân đau, nóng và đỏ trong bệnh thống phong (gout)…

Tiện đây xin nói rõ một chút về hai nhà chuyên môn y học mà ta có thể tới để tham khảo, điều trị khi có khó khăn của bàn chận.

Bác sĩ y khoa chuyên ngành xương (orthopedic surgeon) là bác sĩ y khoa có huấn luyện chuyên môn thêm về các bệnh xương khớp-cơ bắp. Các vị bác sĩ này cũng khám chữa các bệnh về xương ở chân.

Bác sĩ chuyên về chân (podiatrist) được huấn luyện về khám xét định bệnh, điều trị và phòng ngừa các bệnh của bàn chân, có thể làm giải phẫu, làm giầy đặc biệt cho người bệnh.

Kết luận

Hai bàn chân nom tuy bé nhỏ nhưng công dụng cho cơ thể rất nhiều. Chúng cần được chăm sóc chu đáo để luôn luôn trong tình trạng tốt lành.

Bàn chân cần khoảng chống để thở. Chúng không thích bị gò bó, ép sát với nhau trong đôi giầy kiểu cọ hợp thời trang nhưng không thoải mái cho chúng.

Chúng cũng cần được rửa sạch mỗi ngày, được mang đôi tất mềm mềm, khô sạch, để nấm độc không quấy rầy.

Riêng với quý bà quý cô, lâu lâu cũng nên tới mỹ viện để được các chuyên viên trau chuốt, tô điểm đôi bàn chân xinh xinh, có gót hồng hồng.

Ðược chăm sóc chu đáo, chẳng bao giờ bàn chân quên ơn.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức (Texas-Hoa Kỳ)

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Chín 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Posts by Month

Posts by Category