Posts filed under ‘Tạp ghi




Thơ Nhạc Hoài Niệm của Những Người Ly Xứ

Có những địa danh, khi nhắc đến, làm tim óc bồn chồn và hoang mang nhắc lại một thời gian không gian nào đó đã khuất nhưng còn âm hưởng. Hà Nội trong thơ Hoàng Anh Tuấn, trong nhạc Hoàng Dương; Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa, trong nhạc Nguyễn Đình Toàn. Hà Nội trong tùy bút Mai Thảo, hay hồi ức Vũ Bằng; Sài Gòn trong truyện ngắn Tạ Tỵ, hay tùy bút Võ Phiến.

Những người ly xứ tha hương, khi thời tiết thay đổi, nghe như trong hồn âm vang những ngọn sóng, của một ngày động biển. Người Việt Nam, trong cuộc sống đã sẵn những buổi ra đi. Từ năm di cư đến ngày di tản, biết bao nhiêu tâm hồn mang nặng những nỗi niềm của cả một thời thế dông bão. Thơ, văn, nhạc, chuyên chở tâm sự thời đại. Những câu văn, những lời thơ, những ý nhạc phản ảnh những cuộc sống cực kỳ đặc biệt của một dân tộc đã quá quen với chiến tranh, khói lửa và tang tóc…

Sài Gòn, sau năm 1975. Hà Nội, sau năm 1954. Những thành phố của hoài niệm trong thời gian ấy. Năm 1954, hàng triệu người rời bỏ miền Bắc xuôi nam tìm tự do, cuộc di cư vĩ đại của những người ghê sợ Cộng sản. Năm 1975, Cộng sản chiếm toàn bộ đất nước. Hàng trăm ngàn người di tản ra ngoại quốc sau đó đến từng đợt vượt biển của hàng triệu người. Không gian, thời gian, của những biến cố kể trên, đã thành môi trường và động lực thúc đẩy văn nghệ sĩ để tạo thành những tác phẩm văn chương hay âm nhạc phản ảnh tâm tình thời đại. Một dòng nhạc hoài niệm kéo dài suốt nửa thế kỷ đã cho chúng ta những bản nhạc để đời. Những bản nhạc mà tuổi thọ của nó dài hơn tuổi thọ của chính tác giả sáng tạo ra nó. Nhạc sĩ có khi khuất bóng từ lâu, nhưng nhạc phẩm vẫn còn sống, còn được hát và còn được thính giả nghe và hâm mộ. Qua một thời gian, qua sự đãi lọc, bản nhạc có thể tồn tại được phải có sức lôi cuốn từ ngôn từ và điệu nhạc. Và nhất là, phù hợp với tâm tư của từng thời kỳ, của hoàn cảnh mỗi người khi nghe âm điệu ấy.

Với tôi, có những bản nhạc là một phần đời sống tôi. Những bản nhạc, nhắc lại một tháng ngày đã qua. Nghe nó, như sống lại một quá khứ. Thuở đó, là kỷ niệm. Thuở đó, là cái tôi riêng trải dài theo những đoạn đời. Có khi, tưởng quên lãng nhưng lại chợt về trong ký ức. Có người bạn, anh Trần Thăng, một người sản xuất nhiều băng nhạc và video nổi tiếng mang tên trung tâm Asia, Dạ Lan, Mây, đã chê tôi là “ông chỉ thích những bản “ antique” không mà chẳng để ý gì đến những bản nhạc mới sáng tác, mọi người đều như thế thì âm nhạc sao phát triển được “. Tôi chỉ cười nhưng thầm nghĩ, ừ, tôi chỉ thích những gì hợp với tôi bất kể là nhạc thính phòng hay nhạc đại chúng, nhạc cũ hay nhạc mới nhạc trẻ. Tôi có những băng nhạc thật cũ, âm thanh nghe nhiều quá thành rè rè mà tôi vẫn giữ lại. Và, nếu có ai có những bản nhạc cũ mà tôi thích ấy, tôi thu lại để nghe. Tính khí ấy có lẽ cũng không hay lắm, nhưng đã quen nết rồi, biết làm sao. Nhiều khi, tôi nghe nhạc trong vô thức, lúc đọc sách, lúc lái xe hay cả những lúc đang chập chờn giấc ngủ. Cái cung cách nghe nhạc mà như không nghe nhạc ấy có lẽ không phải là của một người thành thạo về âm nhạc. Nhưng đó cũng là một phần đời sống của tôi, dù chỉ là một phút một giây.Tôi sống một phút. Cũng như tôi cảm âm nhạc một giây, mặc dù bằng hai lỗ tai “ điếc nhạc”…

Năm 1954, gia đình tôi di cư vào Nam. Đang học tiểu học, lạ người lạ cảnh, tâm tư như tờ giấy trắng, nhưng tôi vẫn nhớ như in bài hát mà tôi đã gân cổ hát trong giờ sinh hoạt học đường. Lúc ấy, hào hứng tin tưởng xiết bao. Bản nhạc “Về miền Nam“ của Trọng Khương nhắc lại tôi ngày thơ ấu:

“Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền nam thân yêu nắng sáng
Theo vết chân người xưa ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi.
Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu Việt Nam ơi!… “

Bài hát ấy, với tôi, tự nhiên nhắc và nhớ đến những khuôn mặt ấu thơ. Những cô giáo, thầy giáo khai tâm tuổi nhỏ. Cùng với ngôn từ và điệu nhạc, là bước chân trở về. Đó, lãnh địa thiêng liêng của đời người, mà dần dần thời gian đi qua, in sâu trên tiềm thức. Đất nước mới, mở ra những lạc quan, như tuổi xanh ngây thơ nhưng thật nhiều ước vọng… Bài hát như một dây chuyền để bắt đầu cho một chuỗi liên tưởng. Vô tình, bài hát như một contact để mở một mạch điện cho khúc phim đời sống riêng tôi.

Nhưng những bài hát khác, thường là những nỗi buồn, ngâm ngùi hướng vọng về chốn quê xa. Hàng trăm ca khúc có chung dòng nhạc. Không phải chỉ với bài hát ấy, mà còn nhiều bài hát khác, nhiều phim truyện khác, nhắc nhớ lại thời kỳ đặc biệt của đất nước. Một cách khái quát, theo bài thuyết trình “ Love and Longing at the Border : Songs On Both Sides of the 17th Parallel” của Jason Gibbs trong seminar của Popular Culture Association tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas thì có tới 18 ca khúc của những người di cư nhớ về quê hương cũ đã xa. Như: Bắc Một Nhịp cầu“ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương, “Biệt Hải Phòng”, của Phó Quốc Thăng, “Chờ Anh Em Nhé”, của Xuân Tiên, lời Nhật Bằng, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Hận Ly Hương“ của Anh Hoa và Ngọc Lang, “Hướng Về Đất Bắc“ của Phó Quốc Thăng, “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương, “Lá Thư Gửi Mẹ” của Nguyễn Hiền, lời Thái Thảo, “Mộng Ngày Hồi Hương”, của Hoàng Trọng, Hồ Đình Phương, “Sầu Ly Hương” của Lam Phương, “Thu Ly Hương” của Nhật Bằng và Đan Thọ, “Tình Cố Đô” của Lam Phương lời Mạnh Thương, “Về Bến Xưa“ của Nguyễn Hiền, lời Thiện Huấn, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ Nhật Bằng, “Xa Quê Hương” của Đan Tho, Xuân Tiên, “Xuân ly Hương” của Phó Quốc Lân.. Nhưng danh sách ấy chưa đầy đủ lắm, còn thiếu một cách đáng kể: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến,…

Trong những bài hát ấy, Hà Nội như một hình tượng của nhung nhớ. Thành phố ấy, phải rời bỏ đi xa với nỗi đau đớn tận cùng. Hà Nội ơi! Có phải là tiếng kêu thảng thốt của trái tim vỡ vụn. Không phải với tôi mà chung của rất nhiều người, Hà Nội thành thánh địa của hồi tưởng. Lúc học trung học, hai thành phố gợi cho tôi nhiều ấn tượng và mê đắm nhất là Paris và Hà Nội. Lúc đó, tôi chỉ mong có ngày đặt chân đến. Paris của cậu bé Vincent trong sách “ Cours De Langues et de Civilisations “ của giáo sư Mauger mở ra biết bao nhiêu ảnh tượng kỳ thú. Còn Hà Nội, là “Đêm Giã Từ Hà Nội“ của Mai Thảo, là “Ung thư” của Thanh Tâm Tuyền, hay nhạc “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương:

“Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi
Biết người còn nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy em về…“

Không gian xa cách ngàn trùng. Thời gian chia ly vời vợi. Đời sống bỗng lênh đênh chia hai giữa buồn nhớ và hy vọng. Sẽ có một ngày trở về, có phải?. Nhưng cuộc sống như dòng nước trôi đi lạnh lùng. Xa xứ và ly hương, như dòng sông Bến Hải chia đôi đất nước. Phạm Đình Chương phổ nhạc thơ Hoàng Anh Tuấn: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội”, một bài hát mà mỗi khi người di cư nghe lại quặn đau:

“Mưa hoàng hôn trên thành phố heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa
Thương mầu áo ngà
Thương mắt kiêu sa
Hiền ngoan thiết tha…“

Và, rồi còn nhiều nữa. ”Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu…”, “Bắc Một Nhịp Cầu “ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương “Lạnh lùng phương Nam mơ bóng cây xanh ven hồ. Ngậm ngùi phương Bắc trông lúa xa xăm mong chờ. Vì một dòng sông xóa mờ. Tình đời lìa đôi bến bờ…”, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ và Nhật Bằng “Hà Nội ơi! Xa cách muôn trùng dương. Những lúc sương chiều xuống. Tìm đâu bóng Hồ Gươm lòng bao mến thương..”, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến “Chiều mưa thương nhớ đến bao giờ. Đường về nẻo Bắc xa mờ, mơ hồ. Đàn chim gieo thương nhớ. Câu tiếng nước nhà…“ Những bản nhạc ấy, trôi theo dòng sông âm nhạc và liên tiếp nhau để thành một thời đại hoài niệm, mà tiếng kêu tha thiết vẳng lên từ nơi chốn đã vời xa: Hà Nội. Tiếng hát, lời ca, không còn đơn thuần là ca khúc mà đi xa hơn, để thành chia sẻ, kỷ niệm của một phần của đời người. Bao nhiêu năm, với bao nhiêu ban nhạc thính phòng hoặc đại chúng, được trình diễn từ những ca sĩ tuyệt vời, những bản nhạc ấy vẫn sống, từ thời hòa bình tạm thời đến cuộc chiến khốc liệt. Mấy chục năm, vẫn không phai cảm xúc trong lòng khán thính giả…

Năm 1975, cơn hồng thủy lại đến với dân tộc Việt Nam. Đất nước thống nhất, hòa bình nhưng trại tù mở ra khắp nước. Kinh tế lụn bại, chính tình hà khắc, dân chúng đói khổ. Rồi đánh tư sản, rồi vơ vét tiền của người dân khiến hàng triệu người bỏ xứ ra đi tìm đất sống. Những chuyện phim như Chúng Tôi Muốn Sống, Đất Lành,..bỗng thành hiện thực. Và, dòng nhạc hoài niệm lại tiếp nối. Tâm tư, nỗi niềm của thế hệ, của thời đại lại phản ánh rõ nét. Ở hải ngoại, ngóng về quê hương, về Sài Gòn với tấm lòng tan nát. Nốt nhạc lời ca thành tiếng vọng gửi về qua khoảng cách của hai bờ đại dương. Không phải chỉ những nhạc sĩ hải ngoại mới viết nhạc hoài niệm xa xứ mà những người viết nhạc còn ở trong nước cũng sáng tác trong tâm cảm như vậy. Sài Gòn, sao khi nhắc đến toàn là chia ly, vĩnh biệt. Nguyễn Đình Toàn, khi còn ở trong nước đã viết “Nước Mắt Cho Sài Gòn”:

“Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như dòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
Ta hỏi thầm em có nhớ không?

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Nay còn gì đâu…”

Bài hát ấy, bị một nhà văn trong nước mỉa mai rằng “là một bản nhạc cay cú về một thành phố mất tên”. Ông ta quên rằng Sài Gòn đã thành tên của một lãnh tụ công sản đầy tội ác: Hồ Chí Minh. Nhưng ai biết được chuyện dâu biển, những tên như Stalingrad, hay Leningrad ở Nga Xô Viết đã trở lại tên thành phố cũ thuở trước. Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn.

Và, tôi không phải là một người thông hiểu về âm nhạc lắm nhưng cũng đã nghe nhiều bản nhạc với chủ đề hoài nhớ quê hương và khát vọng sẽ trở về khi đất nước tự do dân chủ. Như “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên“ của Nguyễn Đình Toàn, “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt“, “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc, “ Đêm Nhớ Về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, “Thương Nhớ Sài Gòn” của Phạm Duy, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn“, thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương, “Khi Xa Sài Gòn“, thơ Kim Tuấn, nhạc Lê Uyên Phương, “Cho Một Thành Phố Mất Tên”, thơ Hoàng Ngọc Ẩn, nhạc Phạm Đình Chương, “Sài Gòn Cảm Khúc“ của Trần Chí Phúc,…

Tôi yêu những bản nhạc nói giùm tôi những tâm tư và ước vọng. Độ chừng, nhiều người cũng giống tôi. Tôi chỉ yêu và thích chứ không đặt tiêu chuẩn hay dở. Có những khi, nghe những bản nhạc cũ, lại bồi hồi. Xốn xang. Tôi biết chắc một điều có những bản nhạc đã cùng sống và cùng thở với tôi trong chung một cuộc nhân sinh. Đâu có thể nào có ai mang cắt đi một phần tâm linh được…. Như mang xóa bỏ đi những bài hát hoài niệm yêu quê hương của thời đại tôi, dân tộc tôi… Dù, kẻ đó là những người của chế độ ngụy tín Cộng sản hiện hữu. Những bài hát ấy, có phải là bằng chứng cho một quãng thời gian đầy biến cố tang thương đau đớn. Chia ly, hận thù, giết chóc, chuyện quê hương,đất nước tôi…

Nguyễn Mạnh Trinh

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 16, 2007

Oan Ơi Ông Địa!

Nguyễn Mạnh San

Người Việt Nam khi đi ăn nhà hàng thường hay gọi mấy món ăn chơi trước nhưng thực ra là ăn thiệt, rồi mới đến món ăn chính. Hoặc đôi khi người ta còn nói là làm chơi mà có tiền nhưng thực ra làm thiệt. Có khi công việc làm chơi còn vất vả hơn công việc làm thiệt rất nhiều.

Rồi đôi khi người ta chỉ nói chơi cho vui chứ không có ý gì, hoặc đôi khi người ta có hành động nhưng trong đầu óc họ không hề có dụng ý gì xấu xa, đen tối. Thế nhưng ở Hoa Kỳ người Việt Nam ta cần phải nên thận trọng từ lời nói chơi cho đến hành động vô tư của mình.

Trong hai câu chuyện mà tôi sắp kể lại sau đây, do một câu nói chơi cho vui đối với một cậu bé Mỹ lên 10 tuổi: “Hãy đi chỗ khác chơi, tao xẻo chim mày bây giờ” và “Một hành động sờ chim con nít” của một ông già, hoàn toàn không có dụng ý tình dục.

Vậy mà cả 2 người Việt Nam đã bị tống giam và lãnh án tù chỉ vì một câu nói đùa cho vui và cũng chỉ vì một hành động sờ chơi theo thói quen khi còn ở quê nhà mà phải ân hận suốt đời. Bởi vì nếu hiểu theo mặt tình cảm thì hai người này hoàn toàn vô tội, nhưng đứng về mặt pháp lý thì hai ông đều phạm trọng tội vì tình thì ngay nhưng lý lại gian như sau:

Trước hết là câu chuyện một ông già tỵ nạn với cậu bé người bản xứ 10 tuổi. Ông A đang cầm cái kéo to dài để tỉa hàng rào cây bao bọc chung quanh nhà của ông ta với người con trai 14 tuổi cũng đang phụ giúp bố để hốt những lá cây, bỏ vào túi rác. Bất chợt một cậu bé Mỹ ở nhà bên cạnh, chạy đến gần để xem ông tỉa cây. Ông bèn giơ cái kéo lên cao, đưa gần vào mặt cậu và nói chơi với cậu bé: “Mày hãy lui ra chỗ khác chơi cho tao nhờ, nếu không tao sẽ xẻo chim mày bây giờ”. Con trai của ông liền dịch sang tiếng Mỹ cho đứa bé nghe. Sợ qúa, nó hốt hoảng chạy về nhà mách mẹ của nó. Nghe xong, mẹ đứa bé liền nhấc điện thoại gọi 911 và chỉ ít phút sau, cảnh sát đến còng hai tay ông ta, đưa ông ta lên xe, đem về trại tạm giam.

Sáu tháng sau, phiên tòa xử ông A có Bồi Thẩm Đoàn. Luật sư bên Công Tố Viện trình bầy tự sự, kèm theo sự biểu diễn lại các động tác bằng tang vật là cái kéo to dài của ông A, và nhắc lại lời nói chơi đe dọa đứa nhỏ của ông A trước phiên Tòa. Mặc dù có sự biện hộ khá tỉ mỉ của vị luật sư đang cố gắng bênh vực cho ông ta được hoàn toàn vô tội, nhưng Bồi Thẩm Đoàn vẫn đồng nhất bỏ phiếu là ông A thực sự có phạm tội đe dọa trẻ con dưới tuổi vị thành niên bằng vũ khí nguy hiểm. Ông A bị Toà tuyên án 5 năm tù ở về tội mưu toan giết người với vũ khí nguy hiểm. Nếu trong thời gian ở tù ông ta có hạnh kiểm tốt thì ông ta chỉ cần ở trong tù 2 năm rưỡi, thời gian còn lại, ông ta sẽ được tại ngoại trở về nhà để thi hành cho xong bản án 5 năm của ông.

Trước ngày ông phải rời bỏ trại tạm giam để lên đường đến một trại tù khác, ông buồn rầu than thở với tôi rằng hồi ông còn ở Việt Nam, ông vẫn thường nói chơi với tụi trẻ con ở bên hàng xóm hay với con cháu trong nhà, câu nói như vậy. Ðôi khi còn nói nặng hơn nhiều, ổng kể lại có lúc ông vừa nói vừa trợn trừng đôi mắt, giả vờ như rất tức giận, hét lên: “Mày mà không đi ngay cho khuất mắt tao, tao bắn bỏ mạng mày bây giờ, hoặc tao hỏi mày không nói hả, tiện có con dao bén đây, tao sẽ mổ họng mày ra hay tao sẽ cắt lưỡi, bẻ răng mày ra từng cái ngay bây giờ.” Vậy mà có sao đâu.

Giờ đây chạy thoát được Cộng Sản, suýt tí nữa bị toi mạng sống trên biển cả để đến được cái xứ Cờ Hoa nổi tiếng là tự do, dân chủ và văn minh nhất thế giới này. Nhưng chỉ vì một câu nói chơi cho vui mà mang họa. Ông luật sư Công Tố Viện lập lại lời nói đe dọa chơi của tôi và cầm cái kéo tỉa cây to dài của tôi, giơ nó lên cao khỏi đầu, dí nó sát vào mặt con búp bê, tượng trưng cho thằng nhỏ, làm cho Bồi Thẩm Đoàn vừa nghe vừa nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng này như họ đang được coi một phim khủng long, thì bố bảo ai coi mà chả phải hồi hộp, toát mồ hôi lạnh. Có khi họ muốn vãi cả nước trong quần ra là đàng khác, nên họ tin ngay là tôi nói thật và sắp làm thật đối với đứa trẻ nhỏ, để hôm nay tôi phải ngồi tù 5 năm. Nếu biết trước được sự thể như thế này thì thà tôi nói chơi nhưng làm thật cho đáng đồng tiền bát gạo đối với những ngày tôi phải ở tù.

Thầy thấy không, thật là quá oan ức cho tôi, chỉ có Chúa mới biết rõ lòng dạ con người và nhất là người Việt Nam đều hiểu câu nói chơi 100% này của tôi. Xin Thầy làm ơn làm phúc, nhớ cầu nguyện ơn trên ban xuống cho tôi được một lòng giữ vững đức tin vào Chúa để tiếp tục vác Thánh Gía theo chân Chúa trong những ngày còn lại của đời tôi ở trên thế gian này.

Còn nói về trường hợp ông B đã khá lớn tuổi, cháu nội gái của ông tên là Cúc ở chung nhà với ông. Ðối diện trông sang nhà ông có cô con gái người Mỹ tên là Linda, học chung một trường với cháu ông. Mỗi buổi chiều tan học về, Linda đều bế em trai út của Linda sang nhà Cúc chơi cho tới 6 giờ 30 chiều khi mẹ cô ta tan sở làm về thì Linda mới bế em bé về nhà.

Rồi một hôm ông B có người bạn rất thân đến nhà thăm ông B, trong khi ông B có vẻ thích thú, đang ôm ấp trong đôi cánh tay ông đứa bé béo tròn, em trai Linda. Đặc biệt đứa bé này có đôi mắt xanh biếc như hai hòn bi ve và có mái tóc nâu óng ánh như những sợi tơ hồng. Trong lúc ông B đang ngồi nói chuyện với người bạn và đôi cánh tay ông vẫn ôm chặt đứa bé trông kháu khỉnh dễ thương này ở trên đùi của ông, thì bất chợt, ông lấy tay vạch cái tã của đứa bé ra để con chim của nó lòi hẳn ra ngoài và ông khoe với người bạn: “Này, anh hãy nhìn cho kỹ xem, sao mà con chim của nó trông đẹp mũm mĩm, đỏ tròn như trái ớt chín tươi nhỉ?”.

Trong khi ông nói như thế thì tay ông lại nâng niu con chim của đứa bé. Linda, chị của đứa bé tình cờ đi qua, nhìn thấy tận mắt một tay ông B đang ôm chặt trên ngực đứa bé, còn tay kia thì đang nâng niu con chim của đứa bé.

Buổi tối hôm đó về nhà, Linda kể lại rõ hành động kỳ lạ của ông B cho mẹ nghe. Ngay sau đó, mẹ Linda gọi điện thoại trình báo cho cảnh sát biết sự việc xẩy ra theo đúng như lời của con gái bà đã thuật lại cho bà nghe.

Thế là tối khuya hôm đó, cảnh sát đến nhà còng hai tay ông B, dẫn lên xe đưa về trại giam và ông B được cảnh sát cho biết ông phạm tội kích thích tình dục trẻ thơ.

Mặc dù ông có luật sư riêng bênh vực ông trong phiên xử, nhưng Bồi Thẩm Đoàn vẫn đồng nhất bỏ phiếu cho ông là hoàn toàn có tội và Tòa tuyên án ông B 3 năm tù ở về tội sờ mó con nít với dụng ý kích thích tình dục.

Sau ngày ông B lãnh án, tôi có đến gặp ông lần chót và nét mặt ông B tỏ ra vừa buồn rầu lẫn bực tức, cho rằng mình hoàn toàn bị oan ức, ông nói: “Chắc Thầy Sáu còn lạ gì ở Việt Nam, vấn đề sờ chim con nít là chuyện thường, vì bố thương con hay ông thương cháu, vẫn thường lấy tay nâng niu chim của con hay của cháu và đôi khi còn lấy miệng hôn nó nữa”.

Tôi đồng ý với ông B, vì chính tôi đã có lần nhìn thấy cảnh tượng này khi tôi còn nhỏ tuổi ở dưới quê nội. Ông B lại kể tiếp: “Đây không phải là lần đầu tiên tôi có hành động đó mà thật ra đã nhiều lần rồi, vì tôi rất thương mến đứa bé Mỹ này, mặt mũi nó trông khôi ngô, sáng sủa, xinh đẹp như con búp bê và con chim nó thì lại trông tròn trĩnh, hồng hào như trái ớt tươi mới hái ở cây đem vào nhà; quen thói ở Việt Nam, tôi mới nâng niu nó. Chứ thú thật với Thầy, cách đây khoảng 2 năm, tôi về Việt Nam liên tục 6 tháng, có biết bao nhiêu cô gái xinh tươi trẻ đẹp, đáng tuổi con cháu của tôi, muốn quyến rũ tôi đi chơi riêng với họ. Thậm chí có cô còn dám ngỏ lời ong bướm, muốn lấy tôi làm chồng để theo tôi về Hoa Kỳ. Nhưng tôi nhất quyết từ chối, không đi chơi mà cũng không lấy ai hết, mặc dù vợ tôi đã qua đời hơn 8 năm nay rồi và bây giờ tôi đã là ông nội ông ngoại cả rồi. Vậy tôi điên khùng gì mà lại đi làm chuyện kỳ quặc, quái gở như thế đối với một đứa con nít, tâm hồn nó còn trong trắng, hồn nhiên như Thiên Thần. Đúng là ngày giờ tôi gặp phải sao quả tạ và tôi nghĩ lại khi còn trẻ, có lẽ tôi phạm tội nhiều nên giờ này tôi bị Chúa phạt”.

Chờ ông nói xong, tôi liền giải thích cho ông hiểu là Chúa luôn luôn nhân từ, thương hết mọi người, Ngài chẳng hề ghét bỏ hay phạt vạ ai bao giờ, dù người đó hung ác hay xấu xa thế mấy đi chăng nữa, nếu có lòng ăn năn sám hối tội lỗi của mình, Ngài vẫn thương yêu và còn tha thứ hết mọi tội lỗi cho họ. Chỉ có người đời khi bị tù tội hoặc gặp hoạn nạn, thường hay âm thầm tự nghĩ, hoặc nói là tại mình tội lỗi qúa nên bị Chúa phạt. Vô tình người ta đã gán cho Chúa một hành động qúa nghiêm khắc mà thực ra Chúa đâu có làm.

Tôi cũng nhắc nhở ông rằng giờ phút này, ông đâu còn sống ở Việt Nam nữa, ông đang sinh sống ở trên xứ lạ quê người, ông cần phải biết tuân giữ luật lệ và tập tục của người ta như câu: “Nhập gia thì phải tùy tục.” Bởi vì mỗi một quốc gia đều có một nền văn hóa riêng và một số tập tục khác biệt hẳn với những quốc gia khác trên thế giới.

Chẳng hạn như ở Việt Nam, nếu lỡ có đi tè bậy nơi công cộng cũng chẳng sao và nếu có tè bậy ở sau vườn nhà của mình thì lại càng được bảo đảm an ninh hơn nữa, vì sẽ không sợ ai đi thưa kiện mình trước pháp luật. Nhưng ở đây nếu làm như vậy và ngay cả làm như vậy ở trong vườn nhà mình, nếu có người hàng xóm vô tình mà nhìn thấy, gọi điện thoại cho cảnh sát biết thì sẽ bị đưa về bót, đóng tiền thế chân tại ngoại để chờ ngày ra Toà xét xử. Nên biết rằng cho dù người hàng xóm nhìn thấy cảnh tượng đó là một bà lão gần đất xa trời hay là một em bé gái dưới tuổi vị tuổi thành niên còn thơ ấu mà nhìn thấy cảnh tượng đó thì tội phạm lại càng nặng hơn nhiều. Ðôi khi có thể bị buộc tội là cố ý khiêu khích tình dục đối với bà lão hay đối với em bé còn thơ ngây.

Lạm dụng tình dục, nhất là đối với trẻ em là tội lớn đối với luật pháp Hoa Kỳ. Mới đây một tòa án ở tiểu bang Texas đã kết tội một người trung niên bản xứ 365 năm tù vì đã có hành động như vậy với sáu em bé vị thành niên.

Thành ra khi kể lại hai trường hợp tình ngay lý gian trên đây chúng tôi chỉ muốn lưu ý đồng hương cẩn thận trong việc giao tế thân mật với người bản xứ.

(*) Ông Nguyễn Mạnh San là Phó Tế tại Oklahoma City-Oklahoma.

Thêm bình luận Tháng Bảy 14, 2007

Ghét Mỹ

Ghét Mỹ là một hiện tượng thường thấy ở nhiều nước, nhiều người. Ở những quốc gia thiên tả, những lãnh tụ thiên tả, – dĩ nhiên là bao gồm cả những nước cộng sản như Việt Nam ngày nay, và dân tộc trong các nước ấy, vì bị tuyên truyền nên đâm ra ghét Mỹ. “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta là kẻ thù của nhân dân ta” là bài học đầu tiên trong tất cả các trại cải tạo.

Đây không phải là bài học mới dành cho người miền Nam đi tù cải tạo sau 1975 mà là một đề tài giáo dục chính trị căn bản ở miền Bắc đã có từ trước 1975. Tại những quốc gia, những nước tư bản phát triển, những nước đang phát triển hoặc nghèo đói, không phải là không ghét Mỹ. Mỗi nơi, mỗi nước có những lý do khác nhau nhưng lý do thường thấy nhứt là cạnh tranh quyền lợi, là Mỹ hay “chơi cha, chơi ép” người ta, có khi bị Mỹ hăm dọa bằng vũ lực. Người ta ghét Mỹ vì Mỹ là “Tên sen-đầm quốc tế”, nhưng có môt lý do thông thường nhất là Mỹ giàu. Nước nghèo ghét nước giàu tuy vẫn ngữa tay nhận viện trợ. Người nghèo ghét người giàu là tâm lý thông thường. Tuy ghét Mỹ nhưng bị “Mỹ hóa” khá nhanh, khoái mặc quần jean và khoái làm bộ nghênh ngang như mấy chàng Cowboy, nhưng trí óc những người bị Mỹ hóa nấy thì rỗng tuếch. Vì rỗng tuếch nên dễ bị Mỹ hóa.

Điều đáng ghét là người ta ghét Mỹ là vì theo “mốt”. Cái “mốt” thường thấy, rất đáng ghét là người ta phải ghét Mỹ để chứng tỏ ta đây là người “trí thức tiến bộ”.

Ở miền Nam trước đây, tâm lý ghét Mỹ cũng là điều thường thấy, ngay cả trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Không ít người đăng lính, đi sĩ quan từ khi Quân Đội Quốc Gia mới thành lập, nghĩa là trước 1955, khi Tây đang còn, thì không ưa Mỹ. Khi Hùng móm, em út tôi tử trận năm 1972, một đại tá Sư Đoàn Dù đến làm lễ và gắn Bảo Quốc Huân Chương, tôi thấy ông đưa tay lên chào trước bàn thờ, lòng bàn tay ngữa ra phía trước, giống như cách chào của lính Pháp. Lòng bàn tay không úp xuống như của Quân Đội Cộng Hòa, giống cách chào của lính Mỹ. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng sau đó tôi hiểu. Tôi đoán chừng ông nầy xuất thân từ văn hóa Pháp, từ lò của Pháp, không ưa Mỹ cũng là một tâm lý thông thường. Tôi không nói sai, bởi vì ảnh hưởng văn hóa là điều khá quan trọng. Một người bạn của tôi, nguyên là bác sĩ trước 1975 ở Saigon, đã đi du lịch Trung Hoa và Pháp. Khi du lịch Trung Hoa, vì đi theo tour nên không ghé lại Cô Tô để xem Hàn Sơn Tự như anh ta mong muốn. Khi qua Paris, nhìn sông Seine và đi thăm vườn Lục Xâm Bảo, anh thấy có một cái gì đó rất gần gủi, thân quen, không cảm thấy xa lạ. Tôi nghĩ anh ấy không đến xem Cô Tô và Hàn Sơn Tự là hơn, bởi khi thấy ngôi chùa nhỏ, rêu phong, không có gì tráng lệ, hùng vĩ hay có được một khung cảnh đẹp và êm đềm như anh từng tưởng tượng, anh sẽ thất vọng. Đọc “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”, anh tưởng là một cái gì đẹp lắm, hùng vĩ lắm, mênh mông lắm, xa vắng như tiếng chuông chùa vang vọng trong đêm khuya. Khi thấy thực tế, anh sẽ thất vọng. Ngược lại, đến vườn Lục Xâm Bảo, anh sẽ thấy lại hình ảnh chú bé hai tay đút túi, vừa đi vừa nhảy nhót như con chim sẻ như Anatole France đã mô tả, hay anh thấy sông Seine giống như trong “Mùa Thu Không Trở Lại” thì dĩ nhiên anh thấy linh hồn mình trong đó, vì anh học Pháp văn từ Cour Enfantin.

Chịu ảnh hưởng một văn hóa, yêu nó, điều đó không có gì lạ, không có gì xấu. Thế không hơn những người không có một chút văn hóa, văn học nào cả thì sao?! Nhưng cách chào ngữa lòng bàn tay ra phía trước như ông đại tá nói trên thì tôi cho là sai. Chúng ta không trôi theo giòng thì thôi, lên bờ mà đi xe hay đi bộ, còn đã trôi theo giòng thì “nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Cuộc sống nhiều khi khá phức tạp và rất khó xử. Khổng Tử nói: “Đời đục cả, ta trong làm sao được?” Nhưng nhà thơ Hữu Loan thì lại không chịu. Ông ta không thể bẻ cong ngòi bút để phục vụ “Chúng nó” được. Vì vậy cho nên ông phải đi đánh dậm, phải chạy xe đạp ôm. Cũng được đi, ông chấp nhận! Nhưng điều đau khổ với ông là “Chúng nó” không cho con ông đi học. Con cái những tên phản động không được học cao, biết đọc, biết viết là được rồi. Chính sách của “Chúng nó” là vậy! Con ông không có cơ hội đi học, chúng thất học. Đó là điều đau khổ cho ông. Gặp lại bạn bè cũ và những người hâm mộ thơ ông ở Saigon sau 1975, ông than thở: “Khổng Tử đúng mới chết chứ!” Nhìn chung, theo hay không theo hoàn cảnh sống là điều khó xử.

Đọc “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam, đoạn tác giả gặp Robert Lửa, người ta cũng thấy những sĩ quan trẻ hơn, trưởng thành sau khi miền Nam đã có nền Cộng Hòa, cũng ghét Mỹ, ghét cố vấn Mỹ. Khi ghét thì cúp phần ăn của nó, “Cho nó đói”, cúp luôn cả “tà-lọt”. Trong khi cố vấn Mỹ có gì đáng ghét chăng? Hễ khi đụng trận rồi, cấp chỉ huy của ta yêu cầu gì thì cố vấn Mỹ “Yes, Sir” lia lịa. Ngay cả đoạn tác giả “chưởi lộn” với một tên cán bộ Cộng Sản qua máy truyền tin là một đoạn rất hay, khiến cho tên cán bộ Cộng Sản im re, không dám lên máy nữa, ta cũng thấy cái tâm lý ghét Mỹ ở một số người. Tác giả kêu “Đ. M. Đế quốc Mỹ” và thách anh cán bộ Cộng Sản có dám kêu Nga, Tàu ra mà chưởi hay không. Tên cán bộ chịu thua.

Khi còn ở Huế, tôi thấy một số được gọi là “trí thức tiến bộ Huế” ghét Mỹ là vì đó cái “mốt” để chứng tỏ ta đây “hơn người” chứ không có lý do gì chánh đáng gì hết. Họ cho rằng thiên tả là tiến bộ; thiên hữu là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Không ghét Mỹ là chịu làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Việc nầy rất thiên lệch, không vô tư chút nào! Trịnh Công Sơn viết “Đàn bò vào thành phố” là muốn ám chỉ lính Mỹ đến Huế. Còn Việt Cộng vào thành phố (Huế) năm Mậu Thân và chôn sống năm ngàn người thì là gì đây? Hoàng Phủ Ngọc Tường, cũng là một “trí thức tiến bộ Huế”, thì gọi năm ngàn người ấy là “những con rắn độc”.

Ghét, thương, v.v… là tình cảm, nhưng khi ta ghét thương ai thì sự ghét thương đó phải được dẫn dắt bằng lý trí. Nếu chúng ta để cho tâm hồn mình dẫn dắt bằng cảm tính mà không bằng lý tính thì không thể gọi là người hiểu biết được, chưa nói là tự xưng mình là “trí thức tiến bộ” như mấy ông Huế tôi nói ở trên. Cổ nhân dạy: “Nhân bất học bất tri lý” Học là để biết, để suy xét, suy nghĩ về những việc xảy ra quanh ta và ứng xử làm sao cho đúng, không để tình cảm lôi kéo nhiều khi làm cho chúng ta có những hành động thiếu hợp lý, sai trái.

Thật ra, nhiều khi người Mỹ cũng có những thái độ đáng ghét. Đáng ghét cho người nầy và người khác thì thích thú khâm phục, tùy vị trí khác nhau.

Khi tôi ở trại tỵ nạn Sungei Beshi bên Mã Lai, một hôm có “Phái đoàn Mỹ” tới. Thông báo là “Phái đoàn Mỹ” nhưng thật ra chỉ có một mình anh chàng Arlington. Người ta đồn anh nầy nguyên là trung tá Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, nay giải ngủ, làm việc cho INS, đến trại để xét hồ sơ cho đi định cư ở Hoa Kỳ. Có người đốn anh ta là nhân viên CIA. Buồn cười là khi anh ta xuống xe vào trại, thấy một đoàn người ăn mặc chỉnh tề, sắp hàng trước sân Task Force (Chỉ huy trại), mỗi người cầm một tờ giấy. Anh ta hỏi thì được biết rằng những người ấy bị tội “Ăn thịt heo” nên bị phạt phải trình diện Task Force, mỗi ngày ba lần. Arlington thu hết các giấy trình diện, xé rách, vụt xuống đất rồi đuổi mọi người về, khỏi trình diện gì cả. Đám người vui mừng, cười nói ra về. Ai ra vào trại đều ký tên vào một cuốn sổ để sẵn ở cửa chính. Không những không ký tên vào sổ, anh ta còn bước tới lật bìa úp cuốn sổ lại, đi thẳng vào văn phòng Cao Ủy, chỗ anh ta sẽ làm việc. Vào tới nới, anh ngồi “vách đốc củ tỏi”, lấy thuốc ra hút. Bà Cao Ủy Delle, người Thái Lan, đem tới cho anh ta cái gạt tàn thuốc, anh gạt qua một bên, tiếp tục gạt tàn thuốc xuống nền nhà. Dĩ nhiên, theo tâm lý “bị trị”, những người trong trại tỵ nạn thì thích anh ta lắm, còn đám Mã Lai thì coi anh ta như cái gai nhưng không làm gì được. Qua câu chuyện như thế, ghét Mỹ hay thích Mỹ, thương Mỹ cũng tùy mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau, và người ta có những lý do, nhận định chủ quan theo lăng kính của mình.

Cũng chưa hết chuyện anh chàng Arlington nầy. Anh ta phỏng vấn một người đàn bà có chồng ở Mỹ, qua loa vài câu, anh ta cho bà ra khỏi phòng, người con gái vào để anh ra phỏng vấn tiếp. Khi cô gái ra khỏi phòng, bà mẹ lo lắng chờ sẵn ngoài cửa, bà hỏi: “Thằng Mỹ hỏi mày sao? Nó hỏi mầy sao?” Arlington gọi bà ta vào, nói tiếng Việt với bà, không qua thông dịch viên nữa: “Tôi gọi bà bằng bà, gọi con gái bà bằng cô. Tại sao bà gọi tôi bằng nó, bằng thằng?” Bà mẹ hoảng hồn, sụp lạy Arlington: “Tui lạy ông. Tui lạy ông. Tui lỡ lời.” Ai bảo bà mẹ nói trên không có tâm lý ghét Mỹ? Bà ghét Mỹ mà không biết mình ghét Mỹ. Bà nói theo thói quen của người Việt Nam. Người ta nói người Việt hiếu khách, nhưng quả thật họ có tâm lý ghét người ngoại quốc. Sau lưng, họ ít khi gọi tới người ngoại quốc một cách lịch sự. Người Tàu thì gọi là chú Ba. Người Ấn thì gọi là Anh Bảy Chà. Người Pháp, Mỹ mắt xanh mũi lõ thì đều gọi bằng thằng hết. Chú Ba, Anh Bảy hay Thằng Pháp, thằng Mỹ đều là những tiếng bày tỏ sự ghét, hoặc không ghét thì ít ra cũng không mấy ưa. Tâm lý đó do đâu? Vì tổ tiên chú Ba đô hộ ta một ngàn năm? Vì thực dân Pháp cai trị ta một trăm năm? Còn Anh Bảy, Anh Mỹ thì sao? Anh Bảy ở Saigon ngày xưa thì cho vay nặng lãi và kêu police Tây đuổi nhà lấy đất ở mấy xóm lao động. Mỹ thì cũng mắt xanh, mũi lõ, nên khi người ta ghét Tây thì cũng không ưa những kẻ ngoại hình giống Tây.

Có những người ghét Mỹ mà người ta cũng khó hiểu được lý do! Ông bạn tôi kể lại người hàng xóm của anh ghét Mỹ số một. Hễ mở miệng ra là “Tui ghét Mỹ lắm!”, nhưng không biết lý do tại sao anh ta ghét Mỹ dữ vậy. Hỏi quê quán thì quê anh ta ở một trong những cái hòn trong vịnh Rạch Giá: Hòn Lại Sơn, Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Ngang, Hòn Đầm, v.v… Tôi nói với người bạn: “Dân ở hòn thì tôi cũng có biết sơ qua. Hồi chế độ cũ, ít người cầm súng đánh nhau với Việt Cộng. Quân đội, Cảnh Sát có lùng bắt những người trốn quân dịch thì họ leo tuốt lên núi, khó “nắm cổ” chúng nó được. Dĩ nhiên, họ ghét những người đi lùng bắt họ đi lính. Họ ghét quân đội, cảnh sát thì cũng dễ sinh ra ghét chính quyền miền Nam. Cũng từ đó, đâm ra ghét Mỹ. Đến khi vượt biên thì họ ở biển, dễ vượt biên hơn người khác và khi đến trại tỵ nạn thì chỉ xin đi định cư ở… Mỹ. Người hàng xóm của anh bạn tôi, “ăn eo-phe” từ ngày qua Mỹ (Khai là bị cụp xương sống. Kéo lưới từ khi 5, 10 tuổi thì khai cụp xương sống rất dễ… ăn) về công việc thì chỉ làm… “tiền mặt”. Vài năm một lần về quê mua đất xây nhà, v.v… Anh bạn Nam Bộ của tôi dễ nóng tính. Kể xong những “thành tích” của người hàng xóm, thay vì chưởi người hàng xóm thì anh bạn bỗng chưởi Mỹ: “Cái nước Mỹ nầy nó ngu không chịu được. Mấy thằng phản phúc như vậy mà nó đem về nuôi như nuôi ông nội, ông ngoại nó.”

Tôi cười: Thằng nầy chỉ mới có cái tội không chịu làm “lính đánh thuê” cho Mỹ. Còn những thằng trước kia ở Bắc vĩ tuyến 17 bắn rơi cả chục chiếc “Con Ma”, “Thần Sấm” cũng được Mỹ đem về nuôi rất kỹ thì sao?”

Có thể đó là những kẻ ít học. Những người có học khá hơn chăng?

Sau vụ 11 tháng 9, tôi đến thăm một người quen, trước kia ở Việt Nam là bác sĩ, qua Mỹ chuyển nghề dạy học song ngữ (Tôi sợ không dám nhận ông nầy là bạn. Ông nầy vượt biên). Khi tôi tới, ông đang ngồi nói chuyện với một người bạn của ông ta, ông thứ hai nầy là giáo sư đại học, một “trí thức tiến bộ” Huế qua Mỹ theo chương trình H.O. Hai ông nói với tôi rằng vụ 11 tháng 9 là “Đáng đời thằng Mỹ hay hiếp đáp người ta!” Tôi hỏi khắc: “Mấy ông nói vậy thì vụ Mỹ Lai có đáng đời cho người Việt không? Đất Mỹ Lai là đất Chiêm Thành. Tổ tiên người Việt cướp đất người Chiêm. Vậy người Việt chết ở đó có đáng đời họ chớ gì?” Hai người kia biết tôi không phải là “trí thức tiến bộ” nên làm thinh.

Chiến tranh vốn dĩ đã tàn bạo. Thay vì người ta phải làm cho nó bớt tàn bạo đi thì lại giết người dân vô tội nên làm cho chiến tranh tàn bạo hơn. Khi kẻ địch bỏ súng xuống đầu hàng là không được giết họ. Đó không những là luật pháp quốc tế mà còn là lương tâm. Nhân loại sở dĩ tồn tại là nhờ có lương tâm. Không có lương tâm thì ngày nay nhân loại còn sống trong hang động chớ không thể có xe hơi, nhà cửa đầy đủ tiện nghi như “các ông ấy” đang ở. Thú thiệt, từ đó, tôi không muốn gặp các ông “trí thức tiến bộ” đó nữa.

Không ai có thể bắt chúng ta phải ghét người nầy, thương người kia, ngoại trừ… Việt Cộng. Ghét thương là chuyện thường. Ông nào đạt tới “thiền” thì bỏ ra ngoài tâm mình chữ ghét, chữ thương.

Điều nầy không quan trọng bằng “tri lý”. Ghét cũng có cái lý của nó mà thương cũng có cái lý của nó. Lý tính là dùng trí óc suy xét. Còn nếu như để cho cái cảm tính làm chủ, để nó lôi kéo mình mà không dùng trí óc suy nghĩ cho ra lẽ phải, trái, đúng, sai thì kẻ vô học sinh ra và lớn lên ở hòn, trường học có khi không có cả lớp 1, lớp 2 thì kẻ vô học đó và ông bác sĩ cũng như ông giáo sư đại học tôi nói ở trên đều giống nhau.

Tuệ Chương/Hoàng Long Hải

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

Bộ mặt kẻ ác

“Tôi không coi là những kẻ thù nữa khi họ đã khốn khổ” (Victor Hugo)

Những người lớn tuổi ở hải ngoại vẫn nhớ tới câu chuyện ngày xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư khi nói về lòng thù hận: “Một hôm một người hào phú có chuyện lôi thôi với một người thợ. Đang cơn tức giận, người hào phú lấy hòn đá ném người thợ. Người thợ nhặt hòn đá, cất vào một chỗ, nghĩ bụng rằng: “Thế nào cũng có lúc tao lấy hòn đà này ném vào đầu mày”. Cách ít lâu, người hào phú chẳng may cửa nhà sa sút, của sạch không phải đi ăn xin. Một hôm, người thợ trông thấy người ấy đi ngang trước cửa, vội vàng chạy đi nhặt hòn đá ngày xưa, định để ném lại. Nhưng khi tay đã cầm hòn đá, anh ta lại nghĩ rằng: Người ấy lúc còn giàu sang mà ta báo thù là dại, bây giờ người ấy quá khổ sở mà ta báo thù là hèn. Rồi quẳng hòn đá xuống ao”.

Bây giờ anh hào phú là nước Mỹ gặp cơn tai biến, không đủ sức trả thù, lại nói lời mỉa mai cay đắng, thật đúng là đồ hèn. Chúng ta nhớ lại một chuyện cũ: trận bão Katrina vào cuối tháng 9 năm 2005 đã tàn phá bốn tiểu bang nước Mỹ trong vùng Vịnh Mexico, để lại nhiều thảm họa, tổn thất nặng nhất là cho thành phố New Orleans với hơn 1,000 người chết. Trước nỗi đau của đồng loại, không những chỉ riêng nước Mỹ bàng hoàng mà tất cả thế giới đều quan tâm theo dõi và tùy khả năng tìm cách giúp đỡ nhất là chia sẻ mối tình cảm đối với những người bất hạnh trong vùng thiên tai. Nhưng cũng chính trong lúc ấy, vẻ rạng rỡ và thỏa mãn, một giới chức Hồi Giáo đã “phán” rằng: “Tai họa đó là do Thánh Allad trừng phạt”. Cũng trong thời gian đó, tại nước Anh, ông Rupert Murdoch, Chủ Tịch Tổ Hợp truyền thông News Corporation, đã than phiền rằng đài phát thanh BBC đã có ác ý và thành kiến khi nói về trận bão Katrina. Ông đã cho rằng BBC chứa đầy lòng thù ghét nước Mỹ và có vẻ vui thích về những khó khăn mà nước Mỹ đang gặp phải.

Người quân tử, dù là đối với kẻ thù, khi gặp hoạn nạn chúng ta còn đem lòng thương hại và giúp đỡ, không thể cảm thấy lòng hả hê như những người Hồi Giáo vô lương tâm này, huống gì là phát xuất từ một nước bạn bè như nước Anh. Như vậy ngay nước Mỹ đã là nạn nhân của thảm họa 9/11 cũng không thể mang lòng hớn hở khi nếu có tai họa xẩy đến cho những người Hồi Giáo quá khích, đầy lòng thù hận. Ngay trong thiên tai Tsunami năm ngoái xẩy ra ở bốn nước Đông Nam Á phần đông là các nước đông dân Hồi Giáo, giết chết 175,000 người, nhiều kẻ ghét Hồi Giáo đã cho đó là do “Trời phạt”.

Cũng như không phải vì lòng căm thùø đối với chế độ Cộng Sản bạc ác đã xô đẩy hằng triệu người bỏ nước ra đi, làm cho dân đen khốn khổ, mà mỗi lần nghe tin thiên tai hay dịch bệnh đến cho đất nước Việt Nam, chúng ta lại cho đó là “Trời phạt”, mà không phân biệt giữa chế độ, nhà cầm quyền và dân chúng. Nếu có thiên tai đổ xuống thì người dân khốn khổ lầm than chịu đựng, còn những cán bộ chính quyền thì vẫn phè phỡn. Hình như mỗi lần trong nước có thảm hoạ vì thiên tai, thì cán bộ ở mỗi địa phương thay vì xót xa vì nỗi đau chung, lại mừng rỡ vì sắp có tiền đút túi.

Theo thói đời, hễ ai gặp tai ương, bất hạnh đều là những người ít phước, vụng tu, ăn gian, ở ác. Theo quan niệm này, những gia đình toàn vẹn được qua các cuộc chiến, di tản sang ngoại quốc được từ năm 1975 hoặc vượt biên thành công, sang đây con cái học hành đỗ đạt… đều là những người có phước đức, phúc hậu. Trái ngược với những trường hợp trên như gia đình có người tử trận, kẹt lại Việt Nam, mất tích ngoài biển, sang đây con cái không học hành đến nơi đến chốn… khi giao tiếp, tuy không nói ra, nhưng rõ ràng là những người phải được hiểu ngược lại là “vô phước” hay “thất đức”. Sự hãnh diện về những gì mình có, may mắn hơn người khác thay vì để cho mình mở rộng tấm lòng chia sẻ hạnh phúc với những người khốn khó, thì người ta lại cười mỉm khinh khi những kẻ khốn cùng thiếu may mắn hơn mình.

Không khác gì khi nước Mỹ bị tấn công ngày 9/11, cả thế giới bàng hoàng vì đòn thù ghê gớm, tàn ác của bọn khủng bố, thì qua các cuộc phỏng vấn, nhiều người trong nước đã phát biểu những lời lẽ bất thường, vì lòng thù hận đối với nước Mỹ chưa nguôi, và vì vậy họ đã xúc phạm tới những nạn nhân thiếu may mắn trong biến cố này. Trong bài báo “Bài Học Khó Thuộc” ký tên Hà Văn Thuỳ trên báo VietWeekly ngày 24 tháng 5-2007 đã có những dòng chữ cay nghiệt đối với toàn nhân dân Hoa kỳ như sau: “Nói ra người ta cho mình là kẻ ác, sự kiện 11 tháng 9 là cái giá đích đáng mà người Mỹ phải trả vì những gì họ đã gây ra cho thế giới”. Người viết những dòng này không những “là kẻ ác” là gì, và nếu ở một quốc gia khác không có tự do như nước Mỹ, liệu những lời hằn học, thù hận người dân và quốc gia ấy có được cơ hội phổ biến trên mặt báo chí hay không?

Huy Phương

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

TINH SƯƠNG

Trần Mộng Tú

Tôi cúi xuống buộc sợi giây trên đôi giầy vải, khép cánh cửa lại sau lưng, bước xuồng bực thềm còn ướt đẫm sương, rón rén đi vào buổi sáng. Tôi không dám bước mạnh, sợ làm nứt rạn một bình minh chưa đến. Buổi sáng chập choạng ánh sáng mờ mờ, mặt trời còn ở đâu, ai mà biết được, tôi cũng chẳng tò mò. Tôi khe khẽ xuống con dốc ngay trước nhà mình rồi đi về phía hồ, bước từng bước ngắn, để khỏi lao mình theo dốc. Những hàng cây thông trong tinh sương có mầu xám bạc, chụm đầu vào nhau đang bàn tán một điều gì đó, tôi cũng chẳng muốn hỏi cho ra lẽ. Cây có đời cây, gió có đời gió, tôi có đời tôi, mặc dù cây gió luôn quấn quít vào nhau, và tôi vừa yêu cây, vừa yêu gió, nhưng thật sự mỗi lòai có một đời riêng, tò mò làm chi.

Những bụi cây nhỏ và thấp giống như những đứa bé con còn ngủ vùi, không biết cha mẹ đang thầm thì điều gì với nhau, âu yếm hay cằn nhằn? Cả xóm im lặng trong sớm mai, thỉnh thỏang nghe tiếng kêu quặc quặc của hai con vịt đi tìm ăn sáng sớm, lạc gọi nhau. Những ngôi nhà hai bên đường chỉ là những hình khối mờ mờ như những ngôi nhà vẽ trong tranh hay những ngôi nhà dựng sẵn ở phim trường, những cánh cửa đóng im ỉm từ phía trong như đang giấu một trái tim đập ngập ngừng trong ngực; bóng tối loang lõang nhẹ nhàng sau những cánh cửa hắt ra hiền lành như những cô gái chưa yêu, như cây đèn chưa hề thắp còn nguyên một bình dầu lúc nào cũng muốn sánh ra ngoài. Buổi sáng thật tinh khôi!

Tôi đi vòng trong xóm, bước thấp, bước cao, đi lên, đi xuống, những thảm cỏ vẫn đang nằm mơ, những giấc mơ nhuộm mầu xanh biếc, ướt sũng như vừa ngủ vừa khóc trong mơ, nghĩ mình cũng khác gì cỏ nhiều khi như thế. Có vũng nước nhỏ im ắng ngay dưới chân đi, cúi soi mặt vào chưa nhìn rõ bóng mình. Cái khuôn mặt trong vũng nước không mắt, không mũi trông lạ thật, ai đấy? Ngước mắt nhìn trời, một bầu trời mênh mông xa ngái, sao mai chưa mọc, sao hôm đêm qua không một ngôi nào sót lại. Còn gì cô đơn hơn một bầu trời không một cánh sao! Không biết khi trời cô đơn thì Trời làm gì? Chắc Trời khóc, vì bầu trời đầy sao đêm trước là báo hiệu ngày mai nhiều nắng, trời không sao trời sẽ mưa. Nhìn xuống phía hồ, mặt nước như một chiếc chăn len xám rũ tung ra mà không có ai kéo đắp, chiếc chăn phẳng lì không một vết nhăn, những hàng lau bên kia ven hồ xa xa trong tối như những mảng mầu thẫm của một bức tranh sơn dầu, trong khi đó dẫy núi trên cao như một người luống tuổi, run rẩy trong vòng ôm mong manh của một vài vạt tuyết mỏng.

Tôi đi lên dốc, đi xuống dốc, đi dọc, đi ngang, lòng trống trải, chắc tại đi một mình, mà cỏ cây thì chưa muốn chuyện trò. Nhìn xuống đôi giầy, biết trong đó có những ngón chân của mình, đôi giầy cũ, ngón chân cũng cũ, sao vẫn thấy cả hai cùng lạ lẫm. Đi hoài không biết mình đi dâu, nhìn thấy cánh cửa nhà mình rồi vẫn thấy có điều gì khang khác, lại đi. Thì ra buổi sáng chưa bắt đầu, tôi vẫn chưa bắt đầu.

Cuộc đời ở đâu? Tôi tiếp tục đi, vừa đi vừa khe khẽ gọi mình. Trong một hốc đá nào đó một con thỏ hay một con sóc chạy ra, băng vụt trước mặt như báo cho biết chúng cũng dậy rất sớm và chúng đồng hành.

Tôi đã đi như thế trong bao nhiêu buổi sáng của đời mình, không biết bao nhiêu lần, không nhớ rõ rệt những chỗ mình đã đi, ở thành phố nào xa lắc xa lơ. Trong mấy chục năm làm người đã bao lần rời đổi, mỗi nơi một cảnh vật, những dòng sông, những dẫy núi, những ngôi nhà, những hàng rào, những hàng cây cao, những bụi hoa thấp, tất cả khác nhau và chắc chắn đời sống khác nhau. Nhưng hình như cái cảm giác đi trong buổi sáng tinh mơ lại rất giống nhau.Có một cái gì tinh khôi, trong trẻo, lạ lẫm và quyến rũ của đầu ngày. Như khuôn mặt vừa thức dậy, còn lơ mơ giữa tỉnh thức, môi chưa chạm son, tóc chưa chạm lược, như một khúc lụa chưa cắt thành áo, cứ giũ tung ra rồi lại cuộn vào, như một mối tình chưa đi đến hôn nhân, cứ ửng đỏ dần dần. Chao ôi là đẹp! Đi trong một buổi sáng tinh mơ, đi một mình, mình hỏi chuyện mình, mình gọi tên mình, những ý nghĩ đơn sơ, không phải thốt thành lời khôn khéo cho êm tai người nghe; Nói chuyện với buổi sáng, giữa lúc mặt trăng, mặt trời đổi chỗ cho nhau, mầu đậm đặc của đêm pha vào mầu hồng ửng sáng, giữa lúc âm dương nhè nhẹ nhường nhịn lẫn nhau. Một cuộc đối thoại trong thinh lặng giữa một con người nhỏ nhoi và thiên nhiên tràn ngập khí hạo nhiên.

Đi quá chân một chút là ngày sẽ đến, mặt trời, mặt người, và mặt hoa cỏ cùng hiện ra một lượt với những tiếng động khe khẽ bắt đầu. Mấy mảnh núi tuyết không còn là những mảng trắng mơ hồ mềm mại nữa, mặt trời đã làm cho tuyết và núi cùng mang một khuôn mặt mới mẻ khác, Bây giờ núi không còn là một ông già, núi đã trở thành một con rồng với những chiếc vẩy bạc lấp lánh đang nằm soãi dọc theo hồ với tất cả niềm tự hào. Tấm chăn xám trên mặt hồ được cuốn ngay lại, phô ra một vùng nước bạc sóng sánh dưới ánh mặt trời, sẵn sàng đón những cánh buồm căng trong gió, đi vào một nơi không biết trước. Những hàng cây hai bên không còn là những mảng mầu tối của một bức tranh, chúng bắt đầu khoe những đường gân lá, như một thanh niên mới lớn nhìn xuống cánh tay mình. Những bụi hoa nhỏ như những đứa bé vừa ngủ dậy, chúng mở từng cánh, như những con mắt trẻ thơ sau một giấc ngủ ngon. Những cánh cửa cũng lần lượt theo nhau mở ra. Trẻ con, người lớn mỗi người đem một mảnh đời ra khỏi ngôi nhà thả vào con đường trước mặt. Bao nhiêu hy vọng trải đưới ánh mặt trời, tiếng cười, tiếng khóc cùng theo nhau vỡ òa. Trái tim chưa biết yêu, đẩy cánh cửa bước ra, đi tìm tình yêu trong vũng ánh sáng đầu ngày lấp lánh. Ngày bắt đầu rất nồng nàn như cô thiếu nữ vội tô son, chải tóc, mang khúc lụa thời gian ra may cắt, sợ buổi chiều sẽ ập đến xóa mất tuổi xuân.

Bao giờ cũng thế, tôi tìm về nhà trước khi tiếng động cơ của xe cộ bắt đầu.

tmt
Tháng Năm-2007

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Chiếc Bình Trà Sứt Vòi Trên Nhà Thủy Tạ

Thứ sáu tuần trước, lúc mặt trời chưa mọc, tôi có việc phải đi qua thành phố Orange. Hai dãy phố nhỏ nằm dọc theo con đường Glassell có những cây cổ thụ lá bắt đầu ngả vàng. Gần một công viên nhỏ, trên bờ hè, có một quán cà phê che dù, mặc dầu trời lạnh, có những đôi vợ chồng già cổ quàng khăn ấm đang ngồi trước ly cà phê buổi sáng. Trời sương mù làm những ngọn đèn đường càng thêm hư ảo. Những ngôi nhà gỗ, những cây thông mờ nhạt lẫn trong sương.

Giá mà tôi có thể dừng lại, vào quán cà phê, cởi chiếc áo choàng phủ sương, gọi một ly cà phê đậm thật nóng, trên tay một điếu thuốc ” Nhưng nghĩ đến tách cà phê lễnh loãng và chạnh lòng nghĩ đến mình là một khách tha hương, bỗng dưng tôi thấy mất hết hứng thú. Tôi lái xe chậm lại và nghĩ đến một thành phố trong dĩ vãng. Thành phố này và buổi sáng sương mù làm cho tôi nhớ đến Đà Lạt.

Tôi vẫn nhớ đến tháp chuông Nhà Thờ Con Gà nổi lên trong sương mù Đà Lạt. Tôi vẫn nhớ tiếng chuông leng keng của những chiếc xe ngựa quanh bờ hồ Xuân Hương. Tôi vẫn nhớ đến đôi má ửng đỏ của những thiếu nữ Đà Lạt cũng như Đà Lạt với những vườn hoa hồng, hoa mận, hoa đào và những chùm hoa mimosa bên đường. Tôi vẫn nhớ đến Đà Lạt với mùa phấn thông vàng. Đà Lạt tĩnh mịch, êm ả như chốn thiên đường. Đà Lạt đồi cao, đường thấp một tiếng xe qua cũng làm phá vỡ sự yên lặng của một buổi chiều.

Tôi yêu sự náo nhiệt nồng cháy của Sàigòn nhưng mỗi khi bước xuống phi trường Liên Khương, bỗng dưng thấy mình như bước qua một thế giới khác. Sự yên lặng, thoáng khí và một chút hơi lạnh cùng với mùi của cỏ cây khiến cho lòng tôi như dịu lại.

Đà Lạt là một thành phố giàu có. Tiểu tư sản và Đà Lạt quá Đà Lạt như một cô tiểu thư sang trọng sống trong ngôi biệt thự phủ đầy hoa hồng. Phải chăng nếu Đà Lạt nghèo đói, tồi tàn thì Đà Lạt không còn gì là thơ mộng, không còn đẹp đẽ nữa.

Tôi trở lại Đà Lạt vào đầu mùa mưa năm 1988. Đà Lạt giờ này chẳng còn thân quyến, chẳng còn bạn bè. Chủ nhân của những căn biệt thự trên đồi, chủ nhân của những tòa nhà tráng lệ đã đi xa rồi. Những khu vườn hoa hồng chẳng còn ai săn sóc, phải chăng những cánh hoa thắm sắc đã rụng để cây hồng chỉ còn lại lá và gai. Những bãi cỏ đã được cày cuốc thêm để lấy thêm một ít diện tích cho rau cải, tưởng như với một vài khoảnh đất ấy mà người ta có thể làm giàu cho đất nước. Rau cải có thừa, đường sá đi lại đã không bị gài bẫy đắp mô và xăng cũng không có, xe không thừa để vận tải rau cải đi khắp nơi.

Đà Lạt chắc hẳn đã nghèo đi về tài nguyên và đã nghèo đi cả màu sắc. Chợ Hòa Bình ngày nay ít có màu tươi sáng của những tà áo Sàigòn, Nha Trang ghé lại. Những màu áo len cùng với đôi má đỏ hây hây hoa đào ngày trước tưởng chừng như biến mất.

Đà Lạt với những chàng trai Võ Bị, Chiến Tranh Chính trị với những cô gái Đại Học Kinh Doanh. Đà Lạt với những chàng thiếu niên Yersin và những cô gái Couvent des Oiseaux. Đà Lạt với những mối tình sử bên Hồ Than Thở mà đâu nghe tiếng gió thở dài trên đỉnh thông già. Tiếng thác Gu-Ga vẫn ầm ầm đổ nước bất chấp mọi thay đổi dưới giòng suối kia. Cái vô tư của tạo vật làm buồn thêm lòng người trở lại Đà Lạt.

Đứng trên lầu khách sạn Ngọc Lan nhìn về phía Nhà Thờ, mây vẫn trắng trời vẫn xanh, nhìn về Hồ Xuân Hương vẫn bóng nước in mây trời, nhà thủy tạ chói sáng trên mặt hồ. Nhưng nhìn về phía khu Hòa Bình, hình như những màu sắc ngày xưa cùng những bóng người đã thay đổi. Có lẫn lộn nhiều màu xám lục của những bộ đồ trận bộ đội cùng với những chiếc nón cối, những chiếc áo trấn thủ để sống qua nhiều năm trận mạc, giờ đây đã tràn đầy trên thành phố hoa hồng ngày nào. Tôi nghe tiếng nói hình như đã đổi khác. Ngày xưa Đà Lạt là đất cao nguyên của người dân thiểu số, sau đó Đà Lạt tràn ngập giọng Huế theo vua Nguyễn lên Hoàng Triều Cương Thổ tạo lập một khối dân cư chính, phần đông là lính ngự lâm quân của Bảo Long, một số khác phục vụ trong các dinh cơ của Hoàng Đế. Một phần dân cư Đà Lạt pha lẫn Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên “

Quả thật Đà Lạt chẳng còn ai. Ngày xưa bạn bè phần đông phục vụ trong các quân trường, cơ quan quân sự, các đại học, các trường trung học. Lớp lớp bỏ Đà Lạt ra đi đã nhiều. Nhiều gia đình lập nghiệp ở Đà Lạt đã lâu cũng đã bỏ về các miền xuôi miền biển những năm 80 để tìm một con đường sống. Có cố tìm lại cũng chẳng thấy được một người quen.

Giờ đây ở Đà Lạt tôi chỉ còn có hai người quen. Đó là hai người cháu ở lớp tuổi trung học đệ nhất cấp ngày đất nước tan hoang, ngày nay hai anh em đều làm bác sĩ ở bệnh viện tỉnh. Buổi chiều họ đạp xe đạp ở bệnh viện về, qua chợ mua bó rau vội vã về nhà khám bệnh chích thuốc cho một vài bệnh nhân nghèo để có tiền trả tiền nhà và dành dụm về quê thăm bố mẹ. Cô cháu cũng đã gần ba mươi, khi tôi hỏi đến chuyện vợ chồng, cô thành thật nói:

– Chú nghĩ coi, cháu tìm đâu ra một người chồng trong cái đám ở đây, khi cháu là một bác sĩ. Toàn đui què mẻ sứt cả. Thôi cháu đành ở già thôi.

Buổi tối Đà lạt lành lạnh, có hơi sương làm người ta nghĩ đến chuyện đi uống một tách cà phê nóng. Đành phải xuống nhà thủy tạ nơi mà trước kia những người thường ghé qua Đà Lạt không thể bỏ qua. Ngồi ở đó, bên một vài người bạn hay với người yêu, uống một tách cà phê hay một tách trà nóng, nhìn ra mặt hồ trong đêm tối, tưởng như không có gì thú vị bằng. Khách thường ngồi ở những quán cà phê Sàigòn, ở Brodard hay ở Givral, ầm ầm những tiếng xe trên đường qua lại, được ngồi một vài giây phút ở đây, trên nhà thủy tạ giữa bờ hồ Xuân Hương, để thấy lòng mình yên tĩnh, thư thái hơn.

Hồ Xuân Hương, quả là ai đó đã chơi chữ đem chữ Xuân Hương đặt tên cho Hồ, để người ta hay nhắc đến người nữ sĩ hay ỡm ờ, tinh quái này mỗi lần nói đến Đà Lạt, mặc dù Đà Lạt chẳng có gì khiến ta liên tưởng đến nhà thơ này.

Trong khi chờ cà phê, người “nữ mậu dịch quốc doanh” đem ra một bình trà và hai chiếc tách để xuống bàn. Tôi đang lơ mơ mãi nhìn qua phía bên kia hồ, tiếng động làm tôi quay lại. Bạn ơi, trên mặt bàn là một bình trà sứt vòi, vỡ nắp và hai chiếc chén, tất cả đều bằng sành. Tôi định kêu người mậu dịch viên trở lại nhưng cô ấy đã đi khuất sau cánh cửa. Cháu tôi hỏi : “Chú định gọi gì thêm?” Tôi liếc mắt nhìn xuống bình trà. “Chuyện ấy là thường chú ạ!”

Trong trí nhớ tôi, tôi vẫn thường nghĩ về một Đà Lạt dịu dàng, sang trọng đẹp đẽ, mặc dù điều ấy giờ đây có thể sai. Nhưng chiếc bình trà vàng ố, sứt vòi, vỡ nắp nằm thách đố trên chiếc bàn, dưới ánh đèn làm tôi cảm thấy nghẹn tức, như có một điều gì bất như ý hiện ra trong lúc tôi đang vui.

Đã mười bốn năm qua từ ngày miền Nam bước vào một thời kỳ mới, những năm đầu có khó khăn đã đành, đến nay vẫn còn giai đoạn cửa hàng nhà nước, quốc doanh với những cô mậu dịch viên mặt mày nặng nề, chanh chua và một chiếc bình trà sứt vòi trên nhà thủy tạ Đà Lạt tối nay.

Lẽ nào người ta kéo đất nước vào một tình trạng nghèo đói, thê thảm và sống sượng như thế này. Không bao giờ ai có thể tưởng tượng con cháu chúng ta lại thấy được cái xe hơi chạy bằng than trên đường phố hôm nay, và cho đến 1988 vẫn còn cái “cửa hàng nhà nước” tồn tại.

Buổi tối hôm ấy trên nhà thủy tạ, đáng lẽ chúng tôi phải nói đến chuyện vui buồn đi ở, thì nói nhiều đến chuyện đất nước tan hoang. Bây giờ chỉ còn trông cậy vào lớp thanh niên, có học yêu nước thương nòi, ráng đổi mới, cách mạng xây dựng đất nước. Những người cầm quyền vừa lạc hậu vừa ngu dốt đang còn cố bám lấy ngai vàng, yêu bản thân và quyền lợi của mình hơn cả đất nước và lê dân. Đổi mới, làm giàu quê hương, xây dựng lại dân chủ thì sợ mất chức, chạm đến đặc quyền đặc lợi của mình.

Tôi nghĩ đến hai đứa cháu tôi đang ở Đà lạt và tôi sẽ gặp lại chúng vào một ngày không xa nhưng chắc chắn sẽ vui hơn, lành lặn hơn. Hôm sau trên chuyến xe đò trở lại Sàigòn, tâm trí tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi chiếc bình trà, và bây giờ, sáng nay, nhớ Đà Lạt đến ray rứt, tôi không làm sao gạt ra ngoài ý nghĩ về chiếc bình trà sứt vòi trên nhà thủy tạ Đà Lạt đêm hôm ấy.

Huy Phương
(trích trong Nước Mỹ Lạnh Lùng)

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Thơ Bút Trẻ

Xin được giới thiệu với mọi người có lòng với đất nước, đặc biệt người dân thôn quê, những vần thơ mộc mạc kiểu “Bút Tre” sau đây của nhà thơ Bút Trẻ, một người thuộc hàng con cháu tinh thần của nhà thơ Bút Tre (*). Rất mong những vần thơ này được phổ biến…

—————————————————–

(*) Bút Tre là bút hiệu của cụ Đặng Văn Đăng, sinh 1911 tại Vĩnh Phú, người đã lập ra một kiểu thơ mới nghe có vẻ ngô nghê, sai luật, luộm thuộm, viết sai chính tả, ngắt câu ngắt chữ không đúng. Về sau, trong cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ hiện nay, kiểu làm thơ “ngô nghê, sai luật, luộm thuộm, viết sai chính tả, ngắt câu ngắt chữ không đúng” này đã được nhân gian dùng để mô tả những cảnh ngô nghê, luộm thuộm, bất chấp luật lệ, cũng như những sai trái, phi lý đến nực cười của chế độ cộng sản Việt Nam.

***

Đã hơn mấy tuần lễ nay, dân oan bị cán bộ cộng sản cướp đất cướp nhà ở Tiền Giang đang tụ tập biểu tình ở Trụ sở Quốc Hội 2, quận Phú Nhuận, Sàigòn (trước trụ sở Công An quận Phú Nhuận, nơi anh Đỗ Nam Hải vẫn bị mời đến làm việc). Tác giả Bút Trẻ kêu gọi những người Việt Nam thuộc ba miền đất nước có lòng đối với dân oan hãy nghe tiếng kêu cứu của người dân Tiền Giang. Họ mong chúng ta lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh của họ. Nếu chúng ta nỡ lòng không lên tiếng ủng hộ họ, e rằng những người dân oan này sẽ bị công an CSVN đàn áp như đã từng đàn áp dân oan cách dã man ở khắp nơi; hay ít nhất thì cũng bị Quốc Hội (được CSVN nói là do dân bầu lên) làm ngơ, không đếm xỉa gì đến nỗi oan ức, sự mất mát bất công của họ.

Dân oan bị cướp đất Tiền
Giang tay mời gọi ba miền tiếp hơi.

Trước khi đi Mỹ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã bịt mồm nhân dân, được biểu tượng cụ thể nhất qua việc bịt mồm Lm Nguyễn Văn Lý tại tòa án, không cho ông lên tiếng tự bào chữa. Khi qua Mỹ, ông Triết bị Tổng Thống và các chính trị gia Mỹ hạch sách về chuyện bịt mồm ấy. Ông bị đuối lý, ngọng miệng, nên ông đành cậy đến kế “nói dối như Vẹm” mà ông rất sở trường để chống chế. Khi về nước, ông lại tiếp tục chính sách bịt mồm cố hữu của ông: trước hết, ông bịt mồm báo chí, cấm báo chí tường thuật những cảnh nhục nhã, bị phản đối, hạch sách xảy ra cho ông trong chuyến Mỹ du của ông. Ông còn cả gan bịt mồm cả Tổng Thống Mỹ bằng cách không cho vị Tổng Thống này phát biểu trên báo chí của ông những câu nói liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam. Vì thế, Bút Trẻ có câu thơ dành cho ông:

Mỉa thay chủ tịch Nguyễn Minh
Triết ta thua lý, ngang nhiên bịt mồm.

Công lao của bác Hồ đối với nhân dân Việt Nam vĩ đại biết bao! Bác đã biến nước Việt Nam thành một nhà tù còn vĩ đại hơn bác rất nhiều. Vì thế, nhà báo Nguyễn Vũ Bình được những người kế vị bác bỏ vào nhà tù nhỏ để làm “con tin” dự trữ sẵn sàng dùng cho những dịch vụ ngoại giao với thế giới tự do. Nay Nguyễn Minh Triết, cũng một người kế vị bác, có dịp đi công du Mỹ, ông bèn thả anh ra khỏi nhà tù nhỏ để làm quà cho Tổng Thống Mỹ nhân dịp sang Mỹ chơi với vị Tổng Thống này. Mọi người yêu dân chủ đều mừng rỡ chúc mừng anh được ra khỏi nhà tù nhỏ để bước về cái nhà tù vĩ đại mà bác Hồ đã sáng lập để hầu giam giữ toàn dân Việt Nam suốt hơn 60 năm qua. Bút Trẻ cũng có lời chúc mừng anh:

Mừng cho nhà báo Nguyễn Vu (=Vũ)
Bình yên về lại nhà tù lớn hơn.

“Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh” (nhiều “vị mày râu” lại hiểu câu này là giặc mà đến thì chỉ có đàn bà mới phải đánh thôi, còn đàn ông được miễn, nên đã tỏ ra im lìm, thụ động, vô tư, vô trách nhiệm khi có “giặc nội xâm” tung hoành trên đất nước, gieo rắc đủ mọi thứ lầm than trên quê hương). Ý thức được trách nhiệm của mình theo tinh thần câu thành ngữ ấy, nên dù là thân mềm liễu yếu trước lũ giặc nội xâm bạo tàn, cô luật sư Lê Thị Công Nhân đã can đảm lên tiếng vạch trần tội ác của lũ giặc, đòi chúng phải tôn trọng những quyền căn bản và chính đáng của người dân. Vì thế, cô cũng bị lũ giặc này đưa từ nhà tù lớn vào nhà tù nhỏ. Với cô thì “tù lớn tù nhỏ đều là tù cả”, nên cô vẫn tỏ ra rất bình thản. Tác giả Bút Trẻ cảm phục cô gái trẻ này vô cùng. Nhưng ông mong ước trong đất nước Việt Nam đau khổ này, mẫu người như Lê Thị Công Nhân sẽ được nhân lên thành hàng ngàn hàng vạn Lê Thị Công Nhân khác. Có thế cuộc đấu tranh của người dân Việt Nam mới thành công được.

Ước gì chị Lê Thị Công
Nhân lên thành vạn cánh hồng đấu tranh.

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn cũng một thời nổi tiếng vì lòng can đảm của ông. Ông cũng đã bị kết án 13 năm tù và 3 năm quản chế vì tội gián điệp để trở thành “con tin” cho những dịch vụ ngoại giao của đảng CSVN. Và khi được dùng làm con tin, anh đã được về lại nhà tù lớn sau 5 năm bị cấm cố trong nhà tù nhỏ. Tác giả Bút Trẻ đã biểu lộ sự cảm phục “gan” (can đảm) và “lòng” (yêu nước) của anh qua câu thơ:

Phục thay bác sĩ Phạm Hồng
Sơn hào hải vị, nào hơn gan lòng.

(Một người bạn của Bút Trẻ)

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

Tuổi trẻ Việt Nam hải ngọai có quan tâm đến cội nguồn không ?

Cộng đồng Việt nam hải ngọai biểu tình chống Nguyễn minh Triết ngày 18-06-2007 tại thành phố New York
1.
Trong lúc chăm chú theo dõi chuyến công du Mỹ của ông chủ tịch nước Việt Nam cộng sản khởi sự từ hôm 18 tháng 6 vừa rồi, tôi bắt gặp một mẩu tin của hãng thông tấn họat động tòan cầu AFP (Agence France-Presse -Bản lược tiếng Việt của Nguyễn Dương – Cali Today 18-06-2007), liên quan đến giới trẻ Việt Nam ở khu vực Sài Gòn Nhỏ, nơi người Việt định cư đông đảo. Có đọan rất đáng suy nghĩ như sau :

“Chuyến đi thăm Hoa Kỳ của ông Triết sẽ là chuyến đi thăm của người giữ chức vụ cao nhất của Vietnam, 32 năm sau khi chiến cuộc Vietnam đã chấm dứt.

Hiện có trên 1.5 triệu người Việt sinh sống ở Mỹ và rất đông đang sống tại quận Cam, nam California, vùng đất có cái tên nổi tiếng là Little Saigon.

Nếu chỉ tính Westminster và Garden Grove thì vùng này cũng đã có số lượng người Việt cao nhất nước Mỹ, hay bất kỳ thành phố nào, bên ngoài Việt Nam. Không khí ở đây rất đặc biệt, nào là tiếng nhạc ra rả về các bản nhạc mới nhất của Việt Nam, các nhà hàng thơm lừng mùi phở và các cửa hàng quần áo may vừa khổ người Châu Á mà giá lại rẻ.

Đây là cái nôi chống cộng, chống rất mạnh. Năm 2005, khi TT Phan Văn Khải sang thăm Hoa Kỳ thì ở đây đã có hàng ngàn người xuống đường phản đối.

Thế nhưng, đối với một số người trẻ gốc Việt, họ không mấy quan tâm đến chính trị Việt Nam, vì họ quan tâm hơn đời sống của họ tại Mỹ. Bạn hãy nghe một người trẻ, anh John Trần, 23 tuổi, nói: “Cha mẹ tôi cứ nói về người CS, nào là người CS làm chuyện không đúng ở Việt Nam, nhưng tôi lại sinh đẻ ở Mỹ, vì thế tôi đâu có để ý.”

Là một kỹ sư software, Trần nói: “Nếu tôi phải lo lắng, thì đó là liệu có một vụ 9/11 thứ nhì hay không chứ đâu có phải là người CS. Đa số thì giờ tôi chỉ nghĩ về công việc và sự nghiệp của tôi thôi.”

Toàn Đỗ, một nhà báo chuyên về kinh tế đã rời Việt Nam vài ngày trước khi Saigon sụp đổ, nhận định: “Đối với lớp trẻ tuồi đôi mươi, họ đâu có biết tình hình Việt Nam ra sao và cũng không thèm quan tâm. Nhiều người trong số họ bây giờ Mỹ hơn Việt rồi.”

Thế nhưng, với người lớn, chuyện chính trị Việt Nam còn quan trọng hơn chuyện chính trị tại Mỹ. Hàng bao đoàn xe bus chở người Việt từ California, Texas, và các tiểu bang khác về Hoa Thịnh Đốn để biểu tình chống Nguyễn Minh Triết.

Nhiều người lớn đã phải chấp nhận ngồi trên xe bus 3 ngày đêm đi, và ba ngày đêm về, để không thể bỏ qua cơ hội phản đối Nguyễn Minh Triết.”

Đọc đọan tin trên, tôi không nghĩ tất cả những người trẻ Việt nam, dù sinh trưởng ở ngòai đất nước, lại có thể thờ ơ như thế đến những mối quan tâm của cha anh mình. Dù cho có “Mỹ hơn Việt” đến thế nào đi nữa, có “không thèm quan tâm đến tình hình Việt Nam” thì sự kiện cha mẹ, ông bà nội ngoại “chấp nhận ngồi trên xe bus 3 ngày đêm đi, và ba ngày đêm về, để không thể bỏ qua cơ hội phản đối Nguyễn Minh Triết”, viên chủ tịch nước Việt Nam hiện đang thăm viếng Hoa Kỳ cũng vẫn khiến đứa con, đứa cháu trong nhà phải thắc mắc tại sao những người lớn cứ nói về người CS, nào là người CS làm chuyện không đúng ở Việt Nam… ”. Có lẽ, chỉ cần sự kiện vị nguyên thủ một nước đến thăm một nước khác, nơi có rất đông đảo kiều bào mình sinh sống ở đó, lại bị chính kiều bào tổ chức biểu tình phản đối, vận động chính phủ nước chủ nhà không tiếp đón, cũng đã đủ để những con người bình thường đặt câu hỏi tại sao.

Chả lẽ, thế hệ thứ hai của người Việt lại có thể “ vô tình” đến thế. Tôi không tin. Dù thực tế, không phải chỉ tòan một mầu hồng.

Đúng một tuần lễ sau, khi phái đòan ông Nguyễn minh Triết đã quay về lại Việt nam, một người bạn viết lách sống ở khu vực quận Cam, gởi đến cho xem trước bài viết về những ngày “sôi động” ấy, trong đó cũng có đọan liên quan đến những người trẻ ở khu vực Sài Gòn Nhỏ:

“…Các cháu Thu Hà, Hùng và Hổ trong đoàn Young Matines cùng các cháu thế hệ thứ hai Cảnh Sát, SĐ18/BB, TTN Đa Hiệu, đoàn thanh niên Phan Bội Châu v.v.. đã tiến lên phía trước để duy trì an ninh trật tự, hướng dẫn đoàn người biểu tình, một số cháu đi phân phát hình cha Lý bị bịt mồm tới tay đồng hương.

Hai cháu gái mặc áo T-shirt với hàng chữ đòi Tự do cho VN leo lên thật cao, phất cờ Hoa Kỳ và VN theo nhịp hô của các cháu khác khiến các nhà báo bản xứ không thể bỏ qua những hình ảnh đẹp này.

Có lẽ tất cả đồng hương tham dự cuộc biểu tình này không thể quên giọng hô sắc và cao vút của một cô gái, cô liên tục hô những khẩu hiệu:

“Democracy for VietNam”, “Freedom for VietNam”, “NM Triết goes home”.

Qua máy phát âm, sau mỗi tiếng hô của cô vang suốt đọan đường dài, cả đoàn người biểu tình cùng hô theo, chắc chắn sẽ dội vào làm “chói tai” phái đoàn Triết và “sáng mắt sáng lòng” lũ lòng tong cá chốt, đám VK tay sai địa phương.

Tôi không ngạc nhiên vì sự tham gia của tuổi trẻ nhưng ngạc nhiên sao tiếng hô này liên tục suốt cả mấy tiếng đồng hồ khiến tôi nghĩ là tiếng hô phát ra từ máy thâu âm nên lần mò đi tìm nơi đăt máy?

Tôi thật hổ thẹn khi chính mắt nhìn thấy một cô gái mang kính cận, dáng người mảnh khảnh, gương mặt khả ái nhưng không thiếu cương quyết, tay cầm micro hô liên tục. Phục quá! Không thể không biết tên, tôi hỏi, tên cô là PHÚC NGUYỄN, không cần hỏi thêm cô thuộc đoàn nào, vì cô là biểu tượng của tuổi trẻ VN hải ngoại… ” (Hoan hô Tuổi Trẻ và đồng bào Thủ đô – Phila Tô)

Tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngọai trong những ngày chủ tịch nước Việt nam cộng sản Nguyễn minh Triết công du Hoa kỳ.

2.
Những người trẻ Việt Nam có quan tâm đến nguồn cội của mình hay không ?

Cây có cội, nước có nguồn. Điều đó, dù không phải là người Việt Nam, thì cũng không là điều xa lạ với những người phải sống xa quê hương,dẫu cho quê hương đó chỉ hiện hữu qua những tấm hình, những câu chuyện cổ tích được nghe kể lại bởi ông bà, cha mẹ. Những người trẻ Việt nam, bất kể họ thành đạt như thế nào, giữ một địa vị cao sang như thế nào trong xã hội người bản xứ, thì hẳn cái hình dáng bên ngoài da vàng mũi tẹt, cũng sẽ ngăn cản không cho họ hội nhập trọn vẹn với cuộc sống (xứ người).

Rất nhiều người trẻ ý thức được điều đó. Tôi đã có dịp nói lên những suy nghĩ, những điều tai nghe mắt thấy của mình về thế hệ thứ hai trên đất Mỹ:

Trong lịch sử hơn 30 năm người Việt định cư trên đất Mỹ, đã có hàng ngàn người trẻ thành đạt, vươn tới những vị trí chính trị, xã hội đáng kể trong mọi tổ chức dân sự cũng như chính quyền vì những đóng góp hữu hiệu và to lớn cho sự giàu mạnh của mảnh đất họ đang sinh sống. Có người được bổ nhậm vào các chức vụ lãnh đạo cao cấp trong chính phủ, các chức vụ cố vấn quan trọng trong guồng máy hành pháp, tư pháp và kể cả lập pháp. Có người đã được bầu vào những chức vụ dân cử, địa phương cũng như liên bang, góp phần nêu tiếng nói cộng đồng mình trong sinh hoạt dân chủ trưởng thành và lâu đời. Có người tình nguyện tham gia quân đội, tình nguyện cầm súng chiến đấu cho nước Mỹ và có người đã bỏ mình vì tổ quốc thứ hai của họ. Có người, bằng tài năng và sự tháo vát, đã nhanh chóng tạo được một chỗ đứng trang trọng trong các sinh hoạt văn hóa, thể thao, nghệ thuật v..v.. Và ngoài ra, còn hàng chục ngàn những chuyên viên trung cấp, cao cấp có mặt trong mọi lãnh vực hoạt động kinh tế, khoa học, giáo dục, quân sự của guồng máy một xã hội văn minh nhất, tiên tiến nhất thế giới.

Trong số những người trẻ đầy tài năng và đáng ngưỡng mộ ấy, có không ít người luôn ý thức mình là một người Việt Nam, mình có trách vụ với cộng đồng từ đó mình hiện hữu và thành đạt, xa hơn nữa, họ còn nhìn về nguồn gốc quê hương ở tít tắp bên kia bờ đại dương, với những mơ ước một ngày góp bàn tay đem lại cơm no, áo ấm, và cả dân chủ, dân quyền cho những người đồng bào chưa một lần biết mặt ấy. (Hai màu áo, một tâm hồn – T.Vấn)

Mới đây, trong một cuộc phỏng vấn dành cho đài BBC ngày 18-06-2007, Nguyễn thị Nhật Cúc, một cô gái trẻ theo cha mẹ qua Mỹ lúc mới 12 tuổi và hiện nay là phó chủ tịch ngoại vụ cộng đồng người Việt tại Massachussetts, đã nói rằng “… Không nhất thiết phải sinh ra trong cuộc chiến thì mới tha thiết với dân chủ tại VN. Tôi qua Hoa Kỳ năm 12 tuổi, tôi thấy các giá trị của nhân quyền, tự do báo chí, đây là quyền căn bản mà tất cả mọi người trên thế giới đều được hưởng. Ở Việt Nam không có tự do, không có dân chủ, và Việt Nam là quê hương tôi, cho nên tôi có quyền hy vọng mong muốn người dân của mình sống trong một nước tự do và giàu mạnh”.

3.
Nhưng, thế hệ thứ nhất không thể chỉ khuyến khích bằng lời nói suông rằng thế hệ thứ hai, thứ ba nên tìm về nguồn cội, nên quan tâm đến những gì hiện đang xảy ra trên mảnh đất vẫn còn mồ mả tổ tiên, vẫn còn những ông bà, cậu mợ, chú dì, các anh chị em họ của mình hơn nữa. Tình cảm giữa con người vốn là ý niệm trừu tượng. Nó cần những thứ cụ thể để làm nền, từ đó nó sinh sôi nẩy nở. Xa mặt cách lòng là điều không thể tránh khỏi.

Do đó, sự thờ ơ (nếu có) của tuổi trẻ Việt nam sinh sống ở hải ngoại đối với mảnh đất chôn nhau cắt rún bên kia bờ đại dương có phần trách nhiệm rất to lớn của các bậc cha anh.

Tình cảm quê hương lại là một ý niệm trừu tượng hơn nữa. Một người trẻ gốc Việt, sinh ra và trưởng thành ngòai đất nước, không thể phát sinh tình cảm sâu đậm với Việt Nam nếu như họ không từng đặt chân đến Việt nam, không từng nhìn thấy những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ ở Việt nam, không từng đi giữa những đường phố thôn quê rất đặc thù Việt Nam, không từng tiếp xúc với những con người Việt Nam tuy xa lạ nhưng cùng mang một màu da như mình, nói cùng một ngôn ngữ với cha mẹ mình. Chỉ đến khi họ nhìn thấy cuộc sống vất vả, tay lấm chân bùn vẫn không lo đủ cái ăn trong một ngày của nhiều gia đình Việt Nam, nhìn thấy người đau ốm không có thuốc uống, không có đủ điều kiện chăm lo chữa chạy, chỉ đến khi họ nhìn thấy tận mắt những quyền sơ đẳng nhất của con người bị chà đạp, bị ngăn chặn, khi ấy, họ mới có lý do chính đáng hơn nữa mà khẳng định lý do về nguồn của mình, mới khơi mở những ưu tư về đất nước, về dân tộc mà tuổi trẻ nào cũng đã chứa sẵn trong bầu nhiệt huyết lúc nào cũng sôi sục, chỉ chờ đợi những chất xúc tác cần thiết là trở mình biến thành hành động.

Không tạo được cho thế hệ trẻ những cơ hội tai nghe, mắt thấy, tay sờ, mũi ngửi về quê hương thì không thể trách họ sao thờ ơ với những vấn đề thiết thân của đất nước. Và nhất là không thể kết tội họ là mất gốc, là “ Mỹ hơn cả Mỹ “ vì chính mình đã không vun xới cái gốc cho họ.

Mặt khác, ngôn ngữ mẹ đẻ cũng là một yếu tố rất quan trọng. Cái vẻ ngòai châu Á, đầu đen, da vàng, mũi tẹt đã ngăn không cho người trẻ Việt Nam hội nhập trọn vẹn vào xã hội xứ người đã đành. Nhưng không nói được tiếng mẹ đẻ sẽ lại ném họ ra đứng ở bên lề. Họ không hội nhập được nơi xứ người, cũng không có chỗ đứng ở quê nhà.

Đó là một bi kịch ít người dám nghĩ tới.

4.
Tôi không cường điệu hóa vai trò của những người trẻ Việt nam sinh sống ở hải ngọai. Nhưng tôi có thể chắc chắn một điều, thế hệ chúng tôi chỉ có thể mơ ước về những điều mà thế hệ thứ hai, thứ ba người Việt hải ngoại sẽ biến chúng thành hiện thực. Họ có tất cả những gì chúng tôi không có: học thức, tầm nhìn, vị thế trí thức ưu tú trên thế giới. Chính họ sẽ là những người xóa bỏ điều tưởng chừng như nghịch lý hiện đang xảy ra : cộng đồng người Việt hải ngọai nô nức rủ nhau đi biểu tình phản đối những vị nguyên thủ từ trong nước ra công du nơi những nước có sự hiện diện của người Việt Nam . Lịch sử thế giới khó có những sự kiện tương tự được ghi lại. Nhưng mà điều ấy đã xảy ra, đang xảy ra, và sẽ còn xảy ra nếu nhà cầm quyền trong nước tiếp tục thực thi chính sách cai trị hiện nay.

Nếu sự kết thúc bi thảm của cuộc chiến vừa qua đã đẩy gần 3 triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi tìm tự do, thì ngày nay, sự hiện diện ngòai đất nước của khối 3 triệu người ấy, đang đóng vai trò thúc đẩy cho nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa đất nước và là một lực lượng đối trọng đáng kể để nhà cầm quyền hiện nay ở trong nước phải suy nghĩ chín chắn trước khi ra tay làm một việc gì đi ngược lại với quyền lợi đất nước và người dân. Và trong tương lai, khi một nền dân chủ thực sự đã đến với hơn 80 triệu người dân trong nước, thì hàng trăm ngàn người trẻ Việt Nam hiện đang sinh sống ở hải ngọai sẽ là thành phần quan trọng nhất hợp cùng với những người trẻ trong nước góp phần đưa đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh.

Tôi tin rằng có rất nhiều người trẻ Việt Nam hải ngọai đã sẵn sàng để đảm nhận vai trò lịch sử ấy.

T.Vấn
Tháng 6-2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Không Thể Ô Nhiễm Hơn Nữa


Quý sách nhất chắc là ông… Trần Quý Sách. Là ai vậy? Đó là tên khai sinh của nhà văn Trần Hoài Thư. Quý Sách, Hoài Thư, một bên thuần Nôm, một bên Hán Việt, bên nào cũng… quý sách! Mà Trần Hoài Thư quý sách thật. Chẳng thế mà ông cứ rỉ rả mỗi hai tháng lại ra một tập Thư Quán Bản Thảo, một tập san quy tụ nhiều cây viết cũ cũng như mới. Đó là không kể còn lai rai xuất bản sách của mình cũng như sách của bạn bè.

Thư Quán Bản Thảo không có quảng cáo, không bán. Cứ xuất bản khơi khơi, gửi cho bạn bè như một món quà văn nghệ. Món quà này rất quý vì nó là thứ… homemade. Trần Hoài Thư sắm sửa máy móc, cặm cụi học hỏi đến mức có thể hoàn tất một cuốn sách ngay tại nhà. Layout, in, đóng, cắt một cách hoàn chỉnh. Tay nghề của anh ngày càng cao, cao đến độ anh đã tự hào là sách in chơi đẹp hơn in thật!

Một người quý sách khác là ông Nguyễn Hùng Trương. Chắc nhiều người không biết cái tên Nguyễn Hùng Trương nhưng đã là dân Saigon thì ai cũng phải biết tới cái tên Khai Trí. Biết đã đành, dân Saigon chúng ta chắc chắn đã phải đặt chân vào nhà sách lớn vào bậc nhất này. Từ ngày nhà sách còn là một căn phố trên đường Lê Lợi tới khi nó phình ra hai căn phố rồi leo lên tới nhiều tầng lầu, lúc nào chúng ta cũng bắt gặp cái dáng người cao cao của ông chủ nhà sách Nguyễn Hùng Trương lẫn lộn trong một rừng sách. Ông bán sách nhưng là người có lòng với sách. Từ khi còn là một học sinh. Mỗi sáng được mẹ cho 2 xu ăn sáng. Ông dùng 2 xu này để điểm tâm bằng… báo! Lớn hơn một chút, ông được lên Saigon theo học trường Petrus Ký. Cứ mỗi cuối tuần ông đạp chiếc xe đạp cũ về thăm nhà ở Thủ Đức, sáng thứ hai trở lại thành phố với món tiền mẹ cho đủ ăn sáng cả tuần. Chỉ ngay chiều thứ hai, toàn thể món tiền đã chui vào túi ông hàng sách. Ông ăn sáng mỗi ngày bằng nước lã! Ngay trong thập niên 1940, ông đã gây dựng được một tủ sách có giá trị gồm cả những sách báo ngoại quốc. Bạn bè đến chơi, thấy ông có nhiều sách thường nhờ ông mua dùm sách xuất bản tại Pháp. Lệ mua sách, nếu đặt mua từ một chục cuốn trở lên thì được bớt 30%. Ông thường mua luôn chục cuốn để lại cho bạn bè, dư ra thì gửi bán tại nhà sách. Ông biết lựa sách nên việc “làm ăn” càng ngày càng khấm khá. Từ hàng chục cuốn, ông nhảy lên hàng trăm, rồi hàng ngàn. Ông tiết kiệm số tiền kiếm được để có vốn mở nhà sách. Vậy là nhà sách Khai Trí ra đời tại số 62 đại lộ Bonard vào năm 1952. Với đà tiến triển của nhà sách, ông mở nhà xuất bản cùng tên, rồi chủ trương tuần san Thiếu Nhi giao cho nhà văn Nhật Tiến trông coi, tập san Sử Địa giao cho Nguyễn Nhã săn sóc, tài trợ cho nhiều báo trong đó có báo Sống của nhà văn Chu Tử. Ông rất quý anh em văn nghệ, gặp dịp là giúp đỡ, nhận in sách trả tác quyền rất hào sảng dù sách có in hay không. Ông thích sưu tầm sách và đã có một bộ sưu tập sách báo rất quý mà chỉ riêng báo Le Monde xuất bản tại Pháp, ông có từ số báo đầu tiên tới số ngày 30/4/1975! Khi Cộng Sản vào Saigon, ông phải đi tù vì sách! Năm 1991, ông qua Mỹ đoàn tụ với vợ con với ý định mở lại nhà in và nhà sách Khai Trí nhưng hoàn cảnh không chiều ông. Năm năm sau ông trở lại Saigon với ý định phát triển hệ thống bán sách tân tiến tại Việt Nam. Ông có lòng say mê nhưng thiếu thực tế. Thực tế nó hành hạ ông ngay từ ngày đầu đặt chân về lại quê hương. Toàn thể số sách quý, công lao sưu tầm gian khổ của ông đã bị tịch thu. Ông lồng lộn chạy vạy mong cứu sách nhưng vô ích. Trong một bài viết sau khi ông Khai Trí qua đời, nhà văn Nguyễn Thụy Long đã cho biết: “Bao nhiêu lần tôi đi qua đường Lê Lợi, tôi nhìn thấy ông Khai Trí buồn bã đứng ở góc đường, nhìn sang hiệu sách cũ của mình mang tên mới là Phahasa. Một lần khác, trong bữa giỗ ông Chu Tử, tôi hỏi ông Khai Trí về việc xin lại nhà sách tới đâu rồi, ông cười chua chát: ‘Phải đến năm 3000 thì may ra’ ”. Người yêu sách Nguyễn Hùng Trương không đợi được đến năm 3000. Ông đã nhắm mắt xuôi tay vào ngày 11/3/2005. Những ngày cuối cùng trong bệnh viện, trong cơn hôn mê, ông cứ tìm sách. Hỏi tìm cuốn sách này rồi lại hỏi tìm cuốn sách kia, chỉ đến khi đặt được bàn tay mình trên cuốn sách, ông mới yên tâm nhắm mắt!

Sách như một người tình. Ôm vào lòng bao giờ cũng thấy ấm cúng.

em, sách quý – thư phòng ta để bụng
rằng mai kia mốt nọ chắc em vào
tình như gươm ta chỉ cần chém trúng
thì lần đầu lần cuối khác chi nhau?
(Hoàng Lộc)

Không quý sách có Tần Thủy Hoàng, người đã đi vào lịch sử như một người đốt sách và chôn học trò. Con cháu Tần Thủy Hoàng gần đây cũng mon men vào lịch sử. Năm 1975, sau khi cướp được miền Nam, Cộng Sản miền Bắc cũng đã đầy ải trí thức và cũng đốt sách. Những người bị kẹt lại Việt Nam sau 1975 chắc hẳn còn nhớ những cảnh hãi hùng khi từng đoàn thanh thiếu niên đeo băng tay đỏ đi từng nhà tịch thu từng xe ba gác sách. Những ngọn lửa đỏ cuồng nhiệt liếm sách trước những cặp mắt ngậm ngùi của dân chúng. Người viết sách lại có cái đau khác. Chúng ta hãy đau với nhà văn Nguyễn Thụy Long. “Tủ sách của tôi bị xô đổ, cơ man nào là sách. Trong đó có cả những tác phẩm tôi viết ngót hai chục năm qua. Những cuốn sách quí hiếm của các bậc tiền bối, bậc thầy, đàn anh cổ kim mà tôi đã mất công sưu tầm cả đời. Nhưng chồng sách quý giá ấy bị đám thanh niên nam nữ đeo băng đỏ, độ tuổi choai choai khiêng từ trong nhà tôi ra chất đống, nổi lửa thiêu hủy. Khói lên cuồn cuộn ngút từng mây, vướng mắc cả vào cây thánh giá mỏng manh trên nóc tháp chuông nhà thờ Tân Định… Tôi nhìn sách báo của tôi bị thiêu hủy mà nhợt nhạt cả người. Tôi nhìn lên những tro tàn bốc lên cao, những mảnh giấy cháy thành than vẫn còn linh hồn vương vấn trong lưỡi lửa bạo tàn. Tôi thấy những trang sách cháy đen bay nhập nhoạng như những bóng ma trơi trong hoàng hôn. Tôi nhìn lũ trẻ tay đeo băng đỏ tượng trưng cho quyền lực vừa vỗ tay vừa ca hát những bài ca cách mạng mới học thuộc, chúng nhảy múa quanh lửa hồng, vô tư và vô tội, vì chúng không biết mình đang làm gì. Chúng biết gì đâu mà cãi cọ với chúng, chúng giống như một đoàn âm binh bị phù thủy phù phép sai khiến. Tôi bước đi trong thống khổ, trong bóng ma trơi tro tàn khói bay và từ đó ném tôi vào cơn ác mộng. Tôi bị xô ngã xuống vực sâu, hình như có đám mây khói đen nào đỡ lấy tôi, êm như đệm bông, đưa tôi xuống đáy vực, không đau, không xây xát. Nhưng ở nơi đó tối đen, lạnh lẽo. Tôi đang ở đâu? Tôi ngơ ngác trong bóng tối mung lung. Mắt tôi còn tốt mà như mù tịt. Hay là tôi bị chôn sống? Không, tôi vẫn còn thở được và còn có thể kêu lên được, nếu tôi dám kêu. Nhưng sao tôi hãi sợ nơi thâm u này quá. Có ai cứu tôi không? Không ai cả!”

Có ai cứu sách không? Chuyện chi vậy? Sách đang lâm nạn, nạn thờ ơ. Tại Mỹ, trung bình một học sinh mỗi ngày xem TV mất 2 tiếng 15 phút, chơi game và chơi thể thao 1 tiếng 27 phút, đọc sách thì chỉ vỏn vẹn có 11 phút! Học sinh Nhật mỗi ngày xem truyền hình 2 tiếng 17 phút, chơi game và thể thao 44 phút, đọc sách tới 25 phút lận! Trong cuốn Đàm Thoại, nhà văn Võ Phiến đã có một nhận xét khá lý thú: Những căn nhà ngày xưa thường có phòng đọc sách, ngày nay cái phòng… văn hóa này bỗng dưng biến mất trong khi phòng ngủ, phòng vệ sinh lại cứ phình ra chiếm khá nhiều chỗ! “Hiện nay ở Mỹ chúng ta mua nhà hay thuê nhà, loàng xoàng thì một vài phòng, khá hơn thì ba bốn phòng. Có phòng nào gọi là phòng sách không? Ông nghĩ coi: Phòng ngủ, có. Phòng ăn, có. Phòng bài tiết, có. Ngoài ra nào là TV room, family room, living room..v..v.. Cái phòng sách, nó ở đâu?”. Cũng Võ Phiến trả lời: “Ở Mỹ bây giờ thỉnh thoảng bên mép bồn tắm có tờ tạp chí đặt úp mặt xuống để làm dấu một trang đang đọc lỡ dở, thỉnh thoảng trên nắp thùng nước ở cầu tiêu cũng có cuốn sách bị bẻ gấp một trang đánh dấu đang đọc.”

Sách quốc ngữ chữ nước ta cũng vất vả vào ra trên chính đất nước của chúng. Nói vậy là một cách nói cho thuận mồm miệng chứ thực ra sách chỉ tắc tị có một đầu: đầu vào. Còn đầu ra, cứ thoải mái! Mỗi lần rời Việt Nam, tôi khuân từng va li sách đi. Sách rẻ rề. Đó là tính theo giá đô la, chứ đối với người dân trong nước thì cái giá đó cũng không dễ với tới. Tôi có thằng cháu đang học Đại Học, mê sách không kém gì ông bác Việt Kiều. Hai bác cháu cứ rảnh chút thời giờ là lại sà vào tiệm sách. Lần nào như lần nấy, tôi bảo thằng cháu là thích cuốn gì thì cứ chọn tự nhiên, bác mua cho cháu. Vậy mà rất ít khi tôi thấy nó mua sách. Hỏi gặng mãi nó mới nhún vai: đắt quá! Ép thế nào nó cũng không mua. Cái giá trên cuốn sách vẫn làm nó ngại ngùng mặc dù không phải bỏ tiền ra. Tôi thì ôm từng chồng này tới chồng khác mà thấy số tiền móc ra chẳng là bao. Ra đi, hải quan thấy sách là cho mang đi tuốt. Sách mang đi có nhiều thật nhưng đọc được chẳng bao nhiêu. Biết vậy, nhưng lần sau lại lễ mễ với những cuốn sách mang trong mình loại chữ nghĩa lạ lẫm. Đành tự an ủi, thư trung hữu… thực tiễn! Cứ rảnh rỗi mở ra đọc, chẳng được điều bổ ích nhưng cũng ngẫm ra được khối chuyện!

Đầu ra thì trơn tru như vậy, đầu vào thì… ngược chiều. Ai đã từng về Việt Nam chắc đều có kinh nghiệm về chuyện này. Nhà văn trẻ Đinh Linh, một nhà văn di tản thế hệ một… rưỡi, viết văn bằng tiếng Anh, kể lại trên diễn đàn Talawas kinh nghiệm của anh. “Khi tập truyện Fake House của tôi ra mắt năm 2000, tôi đang sống ở Việt Nam. Nhà xuất bản ở New York gửi một quyển về Saigon cho tôi. Tôi hớn hở lại bưu điện để lãnh sách nhưng họ không đưa. Khi họ bảo phải giữ sách để xét nội dung, tôi giải thích cho họ chính tôi là tác giả. Sách không thể lây bệnh cho tôi vì tôi là nguồn bệnh. Hơn nữa, sách được viết bằng tiếng Anh nên khó có thể gây ô nhiễm cho tâm hồn trong trắng muôn thuở (xấp xỉ 4.000 năm) của người Việt. Lắc đầu, họ hẹn tôi hai tuần gặp lại. Sau hai tuần, tôi trở lại bưu điện nhưng chỉ được phát một hóa đơn: “tịch thâu 1 sách vì nội dung đồi trụy và phản động”. Quyển Fake House gồm 21 truyện. Trong đó có chiến tranh, có hòa bình, có người lương thiện, có lưu manh, có đĩ điếm, có tình yêu ngớ ngẩn, ngô nghê, có dâm đãng, có bệnh hoạn. Tất cả những gì trong Fake House bạn có thể tìm ra ngay trong bất cứ cái hẻm nào ở Saigon. Tất cả những gì trong Fake House bạn có thể tìm ra ngay trong cái đầu u u của chính bạn. Quyển Fake House không thể đồi trụy hơn cái xã hội mà nó diễn tả.”

Ý kiến của nhà văn Đinh Linh ngẫu nhiên trùng hợp với ý kiến của nhà văn Vũ Trọng Phụng trên nửa thế kỷ trước. Cuốn Lục Xì của Vũ Trọng Phụng được nhà xuất bản Minh Phượng nhận in. Sách in xong, Vũ trọng Phụng tới nhà xuất bản coi mặt đứa con tinh thần của mình. Nhân dịp này, Minh Phượng mời Nguyễn Vỹ đến ăn cơm và tiện thể giới thiệu Nguyễn Vỹ với Vũ Trọng Phụng vì hai người chưa biết nhau. Nguyễn Vỹ tới trước và Minh Phượng đưa cho nhà văn coi cuốn Lục Xì vừa lấy ở nhà in về. Nguyễn Vỹ đọc được vài trang bèn vứt xuống đất, đá cuốn sách vào gầm tủ, lầm bầm: “Cuốn sách của thằng này viết bẩn quá!”. Vừa lúc đó, Vũ Trọng Phụng bước vào, Minh Phượng vội giới thiệu: “Đây là nhà văn Nguyễn Vỹ”. Vũ Trọng Phụng không đợi được giới thiệu, vội bước tới, chìa tay ra: “Thằng Vũ Trọng Phụng đây!”. Minh Phượng vội nói: “ Nguyễn Vỹ vừa xem cuốn Lục Xì của anh, chê là bẩn quá.” Vũ Trọng Phụng hỏi: “Sách đâu rồi?”. Minh Phượng chỉ tay: “Nguyễn Vỹ mới đá vào gầm tủ kia kìa!”. Vũ Trọng Phụng đi lại gầm tủ, nhặt sách lên, nói: “Đúng đó là quyển sách rất bẩn. Nhưng chưa bẩn bằng ngoài xã hội đâu. Anh Nguyễn Vỹ đã nói thật lòng, còn hơn hàng chục thằng đọc sách rồi nịnh nhau là hay, là thơm, là tuyệt tác!” Nói xong, nhà văn họ Vũ cầm quyển sách lại gần Nguyễn Vỹ và rút viết ghi lên sách: “Thằng Vũ Trọng Phụng xin tặng cuốn Lục Xì đầu tiên này cho Nguyễn Vỹ.”

Cả Vũ Trọng Phụng lẫn Đinh Linh đều cho rằng sách chưa phản ảnh đúng cái xã hội nó mô tả nhưng sách ngày nay, mặt khác, còn phải chạy theo những diễn biến của xã hội. Đức Hồng Y người Đức Joseph Ratzinger vừa được bầu thành Giáo Hoàng Benedict XVI thì sách của Hồng Y này cũng lên ngôi… bestseller! Khi làn khói trắng tỏa ra từ ống khói đền thánh Peter chưa nhạt đi thì sách của Ngài đã được mọi người tranh nhau tìm đọc. Địa chỉ bán sách trên mạng Amazon.com bị một cơn lũ đặt mua sách. Bất cứ sách gì của Ratzinger, đâu chỉ có 5 đầu sách. Amazon.com đã phải xin lỗi độc giả vì không có đủ sách cung cấp. Anthony Ryan, chủ nhà xuất bản Ignatius Press cũng phải xin lỗi khách hàng vì đã bị tràn ngập những đơn đặt mua sách!

Nữ tài tử Jane Fonda cũng ti toe ra sách hồi ký, cuốn “My Life So Far”. Chị phản chiến này đã tỏ ra hối hận khi đã có hành động đâm lưng chiến sĩ khi vào năm 1972, giữa lúc cuộc chiến Việt Nam đang sôi động, chị đã tới Hà Nội ngồi chụp hình chung với bộ đội Việt Cộng trên cỗ súng phòng không bắn máy bay Mỹ. Trong khi đi một vòng các tiểu bang để ra mắt sách, ngày 20 tháng 4 vừa qua, trong khi ngồi ký sách tại Kansas City, chị đã bị một cựu chiến binh trong cuộc chiến Việt Nam, ông Michael Smith, 54 tuổi, nhai thuốc lá và nhổ vào mặt con người phản bội.

Sách như vậy cũng có nhiều loại. Tôi đã bê về loại sách xuất bản trong nước để đọc giữa hai giòng chữ thì độc giả hải ngoại cũng nhiều người mua sách của chúng ta để ủng hộ những nỗ lực duy trì tiếng mẹ đẻ nơi đất khách quê người. Có những độc giả miệt mài với sách đến cảm động. Một vị cao niên ở quận Cam đã chịu khó đón mua tất cả những sách xuất bản mà ông có thể kiếm được. Đọc sao cho hết? Cứ để đó, lúc nào đọc chẳng được, nhưng mục đích chính là góp tay vào việc ủng hộ và giữ gìn sách! Ông khuyến khích nhiệt thành đến như bắt buộc các con cái trưởng thành, cư ngụ tại nhiều nơi khác nhau, phải mua sách và đặt mua dài hạn các tạp chí văn học tại hải ngoại. Người ta vất vả hy sinh để duy trì văn hóa, mình không làm được thì phải tìm mọi cách tiếp tay với họ. Ông thường nhắc nhở con cái như vậy. Ông quý sách này mang họ Phạm. Tên ông không phải là Trần Quý Sách. Nhưng ông xứng đáng với cái tên này. Phải không, ông nhà văn Trần Hoài Thư?

Song Thao

Thêm bình luận Tháng Sáu 22, 2007

Tình chiến hữu & Tác phong người Lính











(Xin kính tặng những người đã từng khoác áo chiến binh)

Thiên Minh

Sau 42 năm được ghi nhận là mất tích trong cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng thì thi thể của hai quân nhân Úc là binh nhì Peter Gillson (20 tuổi), và trung sĩ Richard Parker (24 tuổi) đã được tìm thấy và đưa trở lại quê nhà (Australia) để an táng trong tuần qua. Ðây quả thật là một tin vui ngoài sức mong đợi… không những cho gia đình, cho đất nước mà còn cho những đồng đội cũ của hai anh. Ðược biết hai chiến sĩ này đã hy sinh vào ngày 8 tháng 11 năm 1965 trong một trận giao tranh tại Biên Hòa (của gần 42 năm về trước).

Phải nói rằng thời gian qua là một chuỗi ngày dài so với một đời người, nó gần như là gấp đôi tuổi đời của hai anh (lúc hy sinh) là 20 và 24 tuổi. Như vậy thì 42 năm quả là một thời gian quá lâu mà thân thể các anh đã nằm lại “vất vưởng” ở một chiến địa xa xôi, không người biết đến. Có lẽ cũng chính vì nghĩ đến điều này, nên các đồng đội của hai anh luôn cảm thấy ray rứt và tâm trạng không được yên lòng. Do đó họ đã quyết tâm bằng những nổ lực không ngừng tìm kiếm trong suốt thời gian qua, hầu mang các anh trở về… để được “yên nghỉ ngàn thu” trong lòng đất mẹ.

Chính những tấm lòng này đã thể hiện được tinh thần đồng đội của người lính năm xưa. Ngày nay mặc dù tuổi đời của họ càng cao, nhưng họ vẫn “một lòng” và không quên những người đã chết. Theo lời kể (với đài phát thanh ABC) thì một đồng đội cũ là trung đội trưởng Trevor Hagan đã tính từng ngày. Ông cho biết là tính đến bây giờ thì đã 15,151 ngày… từ cái ngày mà hai đồng đội của họ hy sinh. Ông cho biết thêm, là lần này trở lại VN để mang hai người bạn trở về thì đó là một trong những điều rất có ý nghĩa đối với ông. Nghe nói, ngày đó dù biết rằng đồng đội đã hy sinh, nhưng vì chiến trận quá ác liệt và căng thẳng nên những người lính Úc đành phải miễn cưỡng rút lui theo lịnh của cấp trên. Họ biết rằng đồng đội của họ vẫn còn nằm lại nơi chiến trường. Và họ đã không bao giờ lãng quên từ ngày đó cho đến hôm nay (là ngày mà thi thể của hai người lính ấy đã được tìm thấy và mang trở lại quê nhà)….

oOo

Vào hai tuần trước sau khi chiếc phi cơ Hercules của không lực Úc từ Hà Nội về đến Darwin, thì quan tài của hai anh đã được khiêng ngang qua đoàn quân danh dự trước sự chứng kiếng trong ngấn lệ của những người thân, viên chức, và hàng trăm cựu chiến binh Úc đã từng tham chiến ở Việt Nam. Mọi người nhìn thấy quan tài của hai anh có phủ lá quốc kỳ Úc được xếp chéo góc, bên cạnh là lẵng hoa, cùng với một “chiếc nón nỉ” truyền thống của quân đội Úc với vành mũ bẻ cong.

Nhân dịp này, bộ trưởng Cựu Chiến Binh Úc, ông Bruce Billson đã nói:

– “Ðồng đội đã hy sinh, trận chiến đã qua đi nhưng những người lính vẫn mang trên vai họ một hành trang nặng trĩu không lúc nào ngơi. Ðó là một sự lo lắng cho những đồng đội chưa trở về, nó giống như là một “túi ba lô” không nhìn thấy, không tưởng tượng chất chứa một sự giao dịch … chưa hoàn thành”.

(Mates lost; battles passed. But soldiers carried the weight and worry, without respite, of an invisble and unimaginable ‘backpack’, of unfinished business, of mates not returned).

Khi đề cập đến sự quan tâm của quốc gia dành cho những người chiến sĩ đã một lần ra đi không bao giờ trở lại, ông Billson nói tiếp:

– “Sự biết ơn của một quốc gia là tiếp tục bổn phận của mình và trách nhiệm đạo đức đối với những người đã đáp lời kêu gọi và đền nợ nước với núi sông.

Hơn 4 thập niên qua rất nhiều câu chuyện đã được ghi chép nhưng vẫn chưa hoàn thành. Ðó là một chương mà phần lớn đã được viết ra bởi những cảm xúc mạnh mẽ, bởi sự say mê, và bởi lòng-dạ kiên-trì của tình chiến-hữu với nhau. Họ không bao giờ bỏ cuộc và hiếm khi để một ngày trôi qua mà không nhớ đến và quyết tâm cho mục đích cao cả của mình”.

(A grateful nation carries forward its special duty and moral obligation to those who have done all that their country asked of them and in doing so, paid the ultimate price.

For more than four decades, much of this story has been largely settled, yet incomplete. The chapter largely penned by the passion and perseverance of mates who never gave up and rarely let a day escape without remembering and recommitting to their goal).

Cuối cùng ông Billson kết luận:

– “Như vậy ngày hôm nay một chương mới mà cũng là một chương sau cùng về câu chuyện của trung sĩ Parker và binh nhì Gillson. Câu chuyện này sẽ được cập nhật thêm nhiều nữa…

Thôi thì… hãy để chương cuối đó được đọc và ghi chép thế này: Hai người chiến sĩ gan dạ đã hy sinh, luôn trẻ mãi và không bao giờ bị lãng quên. Họ đã được tìm thấy, đưa trở lại quê nhà (bằng sự) tương xứng với phẩm chất cao quý trong vòng tay của tình chiến hữu với nhau. Họ trở về với những người họ yêu thương và những người yêu thương họ. Xin hãy vinh danh và đưa họ đến nơi an nghỉ sau cùng bởi một quốc gia còn nhớ ơn của họ.

Cuối cùng thì họ đã trở về và luôn được mãi mãi ghi công”.

(So today, the new chapter, the final chapter of the story of Lance Corporal Parker and Private Gillson, begins to be written.

Let the final chapter read and record: two brave servicemen lost; now forever young; never forgotten; found, recovered and repatriated with great care and dignity; carried home by the hands of mateship; returned to those who love and were loved; honoured and laid to rest by a grateful nation; home at last, always remembered).

Tang lễ của anh Richard Parker diễn ra ngày thứ Ba 12 tháng 6 năm 2007 tại Woden, thủ đô Canberra (Úc). Và tang lễ của anh Peter Gillson đã được tổ chức tại nghĩa trang Fawkner vào thứ Sáu 15 tháng 6 năm 2007 ở Melbourne. Nhân dịp này thủ tướng John Howard đã nói:

– Câu chuyện tìm kiếm trung sĩ Parker và binh nhì Gillson là một trong những điều cao quý của tình chiến hữu, sự bền chí và hy sinh. Ðó cũng chính là điều tốt đẹp nhất của truyền thống Anzac.

(“The story of the search for Lance Corporal Parker and Private Gillson is one of great mateship, perseverance and sacrifice in the best of the Anzac tradition,” Mr Howard said).

Ðược biết Ban Chấp hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do ở Melbourne đã ra một thông báo về việc tham dự lễ an táng của chiến binh Peter Gillson. Ðây cũng là dịp để cộng đồng người Việt bày tỏ lòng tri ân sâu xa đến gia đình của người lính Úc đã chết trong chiến cuộc Việt Nam, cũng như đối với quân đội Hoàng gia Úc. Riêng tang lễ của chiến binh Richard Parker tại Canberra thì cũng có một số đồng hương Việt Nam tham dự (theo tính cách cá nhân) để tỏ lòng tri ân cùng những người đồng minh ngày trước.

Khi nghe được tin này là người Việt Nam chắc chúng ta không khỏi bùi ngùi và cảm phục trước tình chiến hữu của những người lính Úc đã từng phục vụ, chiến đấu và bảo vệ đất nước chúng ta. Càng cảm động hơn là khi biết thi hài của họ đã được tìm thấy sau gần 42 năm bị vùi thây nơi chiến địa cũng chỉ vì một mục đích là bảo vệ lý tưởng tự do. Khi nói lên điều này chắc hẳn chúng ta khó lòng quên ơn những người đã từng là đồng minh có cùng chung chiến tuyến. Ðặc biệt là quân đội Úc nói riêng, cũng như đất nước Úc nói chung. Chính quân đội đó là đồng minh ngày trước của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và đất nước đó chính là quê hương thứ hai của hơn 200 ngàn người Việt Nam hiện tại.

oOo

Năm nay nhân dịp ngày Quân lực 19 tháng 6 lại đến, và sẵn dịp nói đến tình chiến binh, chúng tôi cũng xin phép (một lần nữa) ghi lại đôi dòng về đề tài “Tác phong người Lính” mà có lẽ nhiều kỷ niệm vẫn còn lưu lại trong lòng của những người chiến sĩ năm xưa…

Cách đây không lâu trong lúc đi ăn trưa tình cờ chúng tôi nhìn thấy hai người lính Úc chào nhau trên đường phố Sydney. Hình ảnh này đã thực sự làm tôi cảm kích. Không những thế, nó còn gợi cho tôi… nhớ lại những hình ảnh tương tự ngày xưa (lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà). Có lẽ tôi luôn ngưỡng mộ những “tác phong” cao đẹp này của người Lính, mặc dù trong đời mình… tôi chưa một lần nào… được “chào nhau” như thế. Lý do, vì khi tôi và các bạn của tôi lớn lên, thì cuộc chiến ở quê hương đã tàn. Nên “đời chiến binh” chúng tôi chưa hề trải qua, hay… được một lần tham dự.

Có lẽ từ sự cảm nhận đó ở trong lòng, nên hình ảnh ngày hôm ấy đã gây cho tôi rất nhiều ấn tượng. Một điều thú vị nữa, là không phải chỉ riêng chúng tôi, mà còn có vài người qua đường khác. Họ cũng dành cho hai người lính này với một cái nhìn đầy thiện cảm như nhau. Ðiều đáng nói ở đây là thái độ “tự nhiên” của hai người người lính Úc… lúc họ chào nhau. Tôi thấy họ thể hiện hành động ấy như là một thói quen, một sự tôn trọng, một sự kính nể dành cho đồng đội. Nói chung, đó là một “tác phong” nghiêm chỉnh… rất đổi nhà binh. Bởi thế, họ không hề tỏ ra một điều gì gọi là “gượng ép”. Nhìn cảnh đó tôi tự nhủ trong lòng, đúng là tác phong của những người lính chiến! Tôi hiểu, là ngoài trách nhiệm được giao phó để thi hành, họ còn luôn nghĩ đến đồng đội, đến tình chiến hữu. Bởi vì mai này, nếu có ra ngoài chiến trận, thì chính họ sẽ là những người cùng sống chết bên nhau…

oOo

Nhớ lại ngày lễ Anzac hàng năm. Ðây được xem như là ngày quân lực Úc. Từ rạng sáng hừng đông (dawn service) mọi người đã tề tựu về những tượng đài chiến sĩ để làm lễ truy điệu, và sau đó là đến phần diễn hành truyền thống như mọi năm. Không phải chỉ một nơi mà hầu như ở khắp mọi miền đất nước (Úc) cũng đều diễn ra như thế. Ðặc biệt là những cuộc tưởng niệm này còn lan rộng đến những quốc gia mà quân đội Úc đã từng tham chiến ngày xưa. Trong số đó phải kể đến bờ biển Gallipoli ở tận bên xứ Thỗ Nhĩ Kỳ. Nơi đây đã đánh dấu trận đổ bộ của quân đội Úc và Tân Tây Lan vào buổi rạng sáng ngày 25 tháng 4 năm 1915 lịch sữ. Rồi đến những quốc gia khác như Singapore, Philipines, Ðại Hàn, East Timo, Indonesia, Irag, Afganistan… và ngay cả Việt Nam tại vùng Long Tân (ngoài Vũng Tàu – nơi có căn cứ ngày xưa) người Úc cũng có đến đây để cử hành ngày Anzac.

Riêng tại Sydney thì như mọi năm, cuộc diễn hành đều có rất nhiều người tham dự và được truyền hình trực tiếp từ sáng đến trưa. Từ quân đội Úc bao gồm các ngành, các cấp cho đến lực lượng đồng minh (các nước) đều có tham gia. Từ già đến trẻ, từ cựu chiến binh đến những người còn đang tại ngũ. Chúng tôi thấy trên gương mặt họ luôn thoáng hiện nét hân hoan, cùng lòng tự hào về tác phong người lính (oai nghiêm và dũng cảm). Có người mặc dù giờ đây thân thể đã già, nhưng ánh mắt vẫn còn lộ nét tinh anh, và tinh thần vẫn còn minh mẩn. Ðây là những dịp để họ cùng đồng đội ngày nào được họp mặt với nhau, và nhất là được ôn lại những kỷ niệm của một thời xa xưa họ đã từng là người lính.

Và thật hãnh diện làm sao khi trong đoàn người diễn hành đó, còn có sự tham dự của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Giờ đây họ đang sinh sống trên quê hương mới này… và được công nhận là đồng minh, là cựu chiến binh của những người lính Úc. Trong cuộc diễn hành ngày Anzac hàng năm, họ luôn thể hiện tinh thần đồng đội và sự hợp tác đồng minh… để cùng tham dự. Mặc dù vậy, có lẽ qua ánh mắt hân hoan trong ngày Quân Lực Úc, những người lính Việt Nam ngày nào… chắc cũng không khỏi chạnh lòng nhớ về một tổ quốc xa xôi, về một ngày quân-lực 19 tháng 6 bất diệt thuở nào. Cũng như nhớ về một quân đội oai hùng mà họ đã từng là chiến sĩ. Bên cạnh đó họ còn có những đồng đội can trường, những cấp chỉ huy gương mẩu luôn nêu cao tác phong người lính… Ngày nay cho dù thời gian đã qua đi, nhưng có lẽ những truyền thống tốt đẹp kia vẫn còn in sâu trong lòng họ.

oOo

Chúng tôi luôn vững tin là như vậy, vì tác phong này chúng tôi đã được nhìn thấy từ lâu, từ những người lính chiến năm nào trên quê hương tôi (mặc dù khi xưa chúng tôi còn bé). Ngày xưa họ cũng “chào nhau” giống như hai người quân nhân Úc. Tuy nhiên có điều khác hơn là (ngày hôm nay) họ không còn mặc áo chiến binh để được chào nhau như thế nữa. Có người nói, là vì cuộc chiến đã tàn, nên cuộc đời binh nghiệp cũng không còn tồn tại nữa. Ðiều này thật sự có đúng hay không, nhất là mỗi khi đề cập đến tinh thần chiến binh, đến tác phong người Lính, đến kỷ niệm chiến trường, đến tình chiến hữu, đến những đồng đội hy sinh, và đến rất nhiều điều liên quan khác nữa…?!

Theo cảm nhận của chúng tôi, thì (hình như) tất cả những điều trên đã tạo nên một “spirit” thiêng liêng, một truyền thống oai hùng, một “linh hồn” sâu kính (sâu xa và kính trọng). Nên có thể nói, chúng đã khắc sâu trong lòng của những người chiến binh (kể cả bạn bè)… thì có lẽ muôn đời… vẫn là bất tử?! Ngày nay cho dù cuộc chiến thật sự có qua đi, hay có… “tàn” gì cũng được. Nhưng chắc chắn một điều… là hình ảnh đó, tác phong người Lính đó… vẫn còn đây, vẫn kiêu hãnh, vẫn tự hào, và vẫn lưu lại mãi trong tim của rất nhiều người… Vì họ đã từng một thời khoác chung màu áo trận.

oOo

Nhớ lại ngày xưa, ngay như hình ảnh của những người lính nghĩa quân chào cấp chỉ huy ở một đồn ấp xa xôi (gần ngôi trường ngày nào chúng tôi theo học) cũng khó làm cho chúng tôi quên được. Hầu như ngày đó mỗi lần thấy họ chào nhau là chúng tôi vẫn “khoái” chạy ra… và xem cho bằng được. Rồi có một lần trên đường đi học (tại một bến đò) chúng tôi đã chứng kiến cảnh một người quân nhân “đi theo” đồng đội của anh trong… “ngày trở về”. Khi đến nơi gặp lại gia đình bạn của anh, và trước lúc đò máy sang sông, thì anh lính này cũng đã đưa tay kính cẩn chào người bạn của anh trước khi từ biệt để trở lại đơn vị. Hành động này đã làm cho nhiều người chung quanh ngưỡng phục. Và càng cảm động hơn khi biết rằng người bạn của anh thì đang nằm yên trong quan tài giá lạnh. Tôi còn nhớ đó là một quan tài có lớp thiết bao bọc ở chung quanh, bên trên là lá cờ tổ quốc (có màu da vàng cùng ba dòng máu Việt của tổ tiên, của quê hương của ba miền Nam Trung Bắc). Nghe nói bạn của anh đã tử trận hơn 10 ngày qua, từ một chiến trường (vùng 1) xa xôi, nơi tuyến đầu lửa đạn.

oOo

Và có lẽ cũng chính vì một vài hình ảnh vừa nêu, đã khắc sâu vào tâm trí của nhiều người, nên dù thời gian có qua đi nhưng những “tác phong” này khó có thể… “tàn phai” theo ngày tháng? Nhất là trong lòng của những người đã từng tham gia chiến trận và mang thương tích trở về. Mặc dù ngày nay thân thể của các anh không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng chúng tôi tin, là tác phong và niềm kiêu hãnh đó, vẫn sống mãi trong lòng các anh như những ngày xưa còn xông pha nơi lửa đạn. Nói đến điều này làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của một người thương phế binh mà tôi có dịp cùng với nhiều đồng hương khác gởi tiền về giúp đỡ cho anh (qua trung gian của một vị nữ ân nhân giàu lòng bác ái). Trong lá thư (copy) của anh gởi sang mà tôi nhận được, thì ngoài những lời cám ơn, tôi còn thấy anh kèm theo tấm hình “oai phong” ngày nào, khi anh còn khoác áo chiến binh thời trai trẻ. Ðiều này đã nói lên tác phong người Lính ngày xưa thì vẫn còn sống mãi trong anh. Cho dù thân thể anh ngày nay có mang nhiều thương tật, nhưng anh vẫn hãnh diện về những kỷ niệm ngày nào. Mặc dù chỉ qua một tấm ảnh đơn sơ, nhưng tôi tin là nó đã gói ghém bao nhiêu tâm tư để gởi cho những người đồng đội cũ!?

Xin cám ơn các anh, những người trai thế hệ đã vì nhiệm vụ bảo vệ non sông mà cống hiến cuộc đời cho quê hương đất nước. Ngày nay chúng tôi dù chưa có dịp đóng góp như các anh ngày xưa, nhất là cho quê nhà đang nghìn trùng xa cách. Nhưng chúng tôi cảm nhận được tác phong người Lính và học hỏi được những bài học quý giá từ cha anh để lại…

Chúng tôi cũng biết trân trọng, biết tự hào, và nhất là biết tự xét mình đã xứng đáng với tiền nhân hay chưa, để khi có cơ hội sẽ tiếp nối những hoài bão cao đẹp ngàn đời (mà cha ông đã dạy), để không phụ lòng những người đi trước…

Thiên Minh
19 tháng 6 năm 2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Tám 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Posts by Month

Posts by Category