Posts filed under ‘Thơ




Không có ai!

“… mẹ trông chín phương trời mẹ cầu mười phương đất…Không có ai!…”

Kính tặng các bà mẹ đang biểu tình tại nhà Quốc Hội số 2

Ở phương nào xa lắc có ba ông:
Hai ông rậm râu,
một ông đầu hói
một ông bên ta tên là sáng suốt
rước ba ông kia về đây
bốn ông rủ rỉ như nhau:
“Người cày có ruộng
Người nghèo có nhà
thế giới đại đồng
ấm no- hạnh phúc!”

Mẹ dọn dẹp ban thờ
cáo lỗi gia tiên
đặt bốn ông lên
ngày đêm nguyện cầu khấn vái.
Mẹ tế lên một đứa con trai
Tín ngưỡng chôn nỗi đau xé ruột

* * *

Bây giờ mẹ bị mất nhà
mẹ bị cướp đất
Mẹ đến nhà Quốc hội
mang cờ của mấy ông
và hình con
cùng tro xương
của mẹ!

Mẹ chờ 15 ngày nửa mưa
15 ngày nửa nắng
Quần áo tả tơi,
– Đói?
– Khát?
bánh mì và nước nguội

giữa trăm ông cảnh sát
bụng đeo súng sáu
tay cầm dùi cui
mẹ trông chín phương trời
mẹ cầu mười phương đất

Không có ai!
Không có ai!
Không có ai!

Hải Phòng, 7-7-2007
Nguyễn Xuân Nghĩa

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 8, 2007

Giờ Đã Điểm… Ngày Tàn Của Việt Cộng


Việt Cộng dám tác oai tác quái,
Dâng Bắc-triều cửa Ải-Nam-Quan
Hỡi ai, con nước Việt-Nam ?
Hãy đồng tay nắm, quyết tâm hướng về,

Cùng đồng bào cận kề bất khuất,
Diệt quân thù, dành đất Tổ-Tiên
Hồn thiêng-sông-núi ba miền,
Anh Hùng, Kẻ Sĩ nối liền năm Châu.

Giờ đã điểm chần chờ gì nữa,
Cùng toàn dân “Góp Lửa” đốt lên.
Dẹp tan bè lủ “chồn đen”,
Phản dân, bán nước, đê hèn cầu vinh.

Giờ đã điểm, nhất tình, quyết chí,
Khắp trong-ngoài hào khí Rồng-Tiên
Vì Tổ Quốc, dẹp tình riêng,
Cùng nhau lật đổ bạo quyền độc-tôn.

Đem Việt Nam trường tồn Dân Chủ,
Dựng ba miền đầy đủ Quyền Người
Từ Nam-Trung-Bắc reo cười,
Không còn than khóc, như thời cộng nô.

Vầng dương sáng nhấp nhô quê Mẹ
Bóng u-minh diệt kẻ tham tàn
Lạc-Long hào khí hiên ngang
Anh Hùng dẹp loạn bao ngàn năm qua.

Giờ đã điểm, không còn xa lắm
Gọi đồng bào tay nắm ra sân
Cất tiếng hô, chớ ngại ngần :
Đả đảo Việt cộng vô thần – phi nhân .

Việt Dương Nhân

Thêm bình luận Tháng Bảy 7, 2007

Ai Người Dân Việt

Hơn ba mươi năm, mắt lệ tràn
Nhìn dân tộc Việt vẫn lầm than
Bởi bầy «cáo đỏ» còn tác quái
Đày ải dân ta khổ ngút ngàn.

Xin gọi : trong, ngoài nước Việt Nam,
Cùng đứng lên quật khởi quyết tâm
Hàng hàng, lớp lớp đồng chung một,
Phất ngọn “Cờ Vàng*” dựng núi sông.

* * *

Tổ Tiên ta đã dày công
Ra tay dựng nước Việt Nam kiêu hùng
Bỗng đâu bè lủ điên khùng
Kéo về thống trị, não nùng dân ta.

Năm Châu, bốn bể gần xa
Ai người dân Việt đứng ra chung cùng
Đừng chủ bại, sống ung dung
Mà quên dân tộc khốn cùng khổ đau.

Vững lòng, trước cũng như sau,
Tinh thần Dân Chủ ta nào lãng quên.
Tự Do, bình đẳng giữ nền,
Quê Hương Quang Phục dưới trên thuận hòa.

Việt Dương Nhân
(*) Cờ vàng ba sọc đỏ

Thêm bình luận Tháng Bảy 7, 2007

Truyền thông Việt Nam


Ký giả chỉ chớp được mông

“… Truyền thông Việt Nam: … “thật tuyệt”!…”Gửi giới truyền thông Việt Nam

Truyền thông Việt Nam loa rằng:
Chuyến đi ông Triết thắng lợi
Ông Bút quý ta như vàng
Ông Nghị nâng ta như bạc
Biển đã mở ra phía trước
Việt Nam cứ thế thênh thang

Truyền thông Việt Nam loa rằng:
Hơn ngàn Kiều dân ra đón
Cờ đỏ tràn xuống vỉa hè
Căn phòng chỉ 600 ghế
ông Kỳ chịu đứng ngoài đường

*

Truyền thông Việt Nam không nói rằng:
Chuyến đi gặp nhiều tủi hổ
Không có đại bác đùng- đoàng
Không có đội quân danh dự
Nhà khách không chịu mở cửa
Bên ta thuê lấy nhà hàng.

Truyền thông Việt Nam không nói rằng:
Quốc Hội chỉ tay chất vấn
Chính phủ kêu ca phàn nàn
Bên ta mấy lần ú ớ
đối đáp cành bứa đâm ngang

Truyền thông Việt Nam không nói rằng:
Bên ta đi như ma đuổi
Đoàn xe không một chiếc cờ
vào đâu cũng chui cửa hậu
Ký giả chỉ chớp được mông

Truyền thông Việt Nam không nói rằng:
“Khúc ruột” trên toàn đất Mỹ
Hô nhau lũ lượt kéo về
Ngập đường cờ vàng ba sọc
đồng thanh bên ta: Go home

*

Truyền thông Việt Nam: … “thật tuyệt”!
Truyền thông Việt Nam: … “muôn năm”!
Truyền thông Việt Nam:… Gi-nét!
Quán quân truyền thông: … Việt Nam!

Hải Phòng, 6-7-2007
Nguyễn Xuân Nghĩa

Thêm bình luận Tháng Bảy 6, 2007

Bấy Giờ Em Ơi


DUYÊN ANH

Có bao giờ em hỏi
Quê hương mình ở đâu
Có bao giờ em đợi
Tháng mấy trời mưa ngâu
Có bao giờ em nói
Lời tình tự ca dao
Có bao giờ em gọi
Hồn ta về với nhau

Mùi hương nào gợi nhớ
Vườn trăng thoảng hương cau
Con diều nâu đòi gió
Gửi nhạc sáo lên cao
Nhịp võng trưa mùa hạ
Ngày xưa ru ngày sau
Thi ca trong sữa lúa
Tiểu thuyết trên lụa đào

Em, bao giờ em khóc
Ngơ ngác vì chiêm bao
Chưa kịp mê tam cúc
Xuân hồng đã trôi mau
Chưa kịp hôn môi tết
Tháng giêng sơn phấn sầu
Bây giờ em mới biết
Em đã chết từ lâu

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

N H Ữ N G V Ầ N T H Ơ C H U I

Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”. Những vần thơ chui đôi khi dí dỏm khiến người nghe phải tủm tỉm cười thầm hay ôm bụng cười sằng sặc hoặc đôi khi não nùng thống thiết bày tỏ tinh thần chống đối chủ nghĩa cộng sản đem lại đói khát, khổ đau, nhục nhã cho người dân sau ngày chúng cưỡng chiếm Miền Nam.

Vào ngày 30-4-1975, khi mà những đôi dép râu giẵm nát hè phố Sài Gòn thì mây sầu cũng phủ đầy trời, khí oan kín đất. Cái chiến thắng của những kẻ đào đường, phá cầu, giật mìn xe đò, đốt trường học, pháo kích nhà dân cũng là đám mây đen bắt đầu vần vũ báo hiệu một cơn giông tố hãi hùng sắp sửa xảy ra cho quê hương và dân tộc. Cho nên khi thấy những cái nón cối xuất hiện thì đồng bào đổ xô nhau chạy, chạy toát mồ hôi trước những kẻ tự xưng là “giải phóng”. Nhìn cảnh tượng đó, một bác sĩ, cũng là một nhà thơ còn kẹt lại ở Việt Nam đã làm một bài thơ có tựa đề:

CHẠY! CHẠY!
Tự do, độc lập nhất trên đời,
Thiên hạ sao mà chạy chết thôi!
Mới thấy bóng cờ sờn tóc gáy,
Vừa nhìn ảnh bác toát mồ hôi.
Tổ cò, tổ quốc tung hê cả,
Nhân bánh nhân tình vứt bỏ rơi.
Ông Táo quên quần la cuống quýt:
“Mau lên kẻo nó tới kia rồi”.

Và vừa chạy, đồng bào vừa bảo nhau:

Đôi dép râu giẵm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che khuất nẻo tương lai.

Công lý và tự do là hai danh từ mang nhiều ý nghĩa cao đẹp mà người dân của bất cứ quốc gia nào cũng đều ấp ủ, thậm chí có rất nhiều người còn hy sinh xương máu mình để bảo vệ công lý và tự do. Nhưng những người cộng sản vốn độc tài, ghét công lý, thù tự do nên khi vừa cưỡng chiếm Miền Nam họ liền cho thay đổi hai con đường Công Lý, Tự Do ở Sài Gòn lại thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Đồng Khởi. Thấy vậy người dân mới mỉa mai rằng:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Lúc mới chiếm được Miền Nam, Việt Cộng áp dụng nhiều biện pháp khắc khe để kềm kẹp đồng bào như kiểm soát từ miếng ăn, từ lời nói, tư tưởng, sự đi lại. Người dân muốn di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác phải xin phép với nhiều thủ tục giấy tờ phức tạp, khó khăn. Di chuyển không giấy phép sẽ bị bắt giữ hay không có danh sách trong “hộ khẩu”. Người dân không còn được tự do đi lại dễ dàng như trước kia khiến họ oán ghét chế độ, từ đó trong lòng nhân dân phát sinh ra một bài thơ chui “ĐI RA . . . ĐI VÀO” khá dí dỏm, mở đầu bằng câu Kiều của Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta,
Ai ai cũng được đi ra, đi vào.
Chậm tiến như ở nước Lào,
Người dân vẫn được đi vào, đi ra.
Tiên tiến như ở nước Nga,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Xa xôi như nước Bồ-Đào,
Đồng bào vẫn được đi vào, đi ra.
Mọi rợ như Angola,
Người ta cũng được đi ra, đi vào.
Độc tài như xứ bác Mao,
Nhân dân vẫn được đi vào, đi ra.
Chỉ riêng có tại nước ta,
Người dân cóc được đi ra, đi vào.

Chiếm được Miền Nam, cộng sản dùng mọi thủ đoạn gian manh như đổi tiền, đánh tư sản mại bản, tịch thu tài sản, sưu cao thuế nặng để bóc lột nhân dân cho đến trần trụi. Quá bần cùng, không cơm ăn áo mặc người dân phải đi ăn xin, ăn mày. Trong thời điểm này, ăn mày xuất hiện khắp đường phố và dân gian đã nhại bốn câu Chinh Phụ Ngâm để nói lên thảm cảnh ăn mày của người dân dưới sự cai trị tàn bạo của ngụy quyền tự nhận là “Đỉnh cao trí tuệ của loài người”:

Con cháu Lạc Hồng chung giống cả,
Không què đui sao rủ rê nhau.
Đảng ta bị gậy trao tay,
Nửa đêm truyền hịch đợi ngày . . . ăn xin!

Sau ngày 30-4-1975, Miền Nam như sụp xuống địa ngục, tập đoàn cộng sản đã vẽ nên bức tranh đen tối cho quê hương. Trước kia, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa người dân được sống sung túc về vật chất, thoải mái về tinh thần. Sự giàu sang, sung túc của Miền Nam bị những người cộng sản Bắc Việt gọi là “sự phồn vinh giả tạo” và sau khi “giải phóng” Miền Nam họ đã biến sự phồn vinh giả tạo này thành địa ngục của đói rách, khổ đau, nhục nhã, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, cả nước phải ăn cơm độn với khoai hay phải ăn bo bo. Các cựu sĩ quan với bằng tú tài, cử nhân, kỹ sư, giáo sư phải chạy xe ôm, đạp xích lô, bán chợ trời . . . Nhìn những người có học, trí thức đó phải bưng những cái mẹt đi bán từng trái chanh, trái ớt, từng bó rau muống, từng tấm vé số, từng điếu thuốc lá hay sửa xe ở góc đường thấy mà chảy nước mắt cho một cuộc đổi đời.
Trước cảnh quê hương bầm dập tả tơi, đồng bào lầm than khốn khổ, người dân đã nhại bài ca dao “Mười Thương” để nói lên thảm trạng của đất nước sau ngày được gọi là “giải phóng”:

Một thương phá hại xóm làng,
Hai thương bác bảo gian nan trường kỳ.
Ba thương cơm độn củ mì,
Bốn thương hội họp bất kỳ ngày đêm.
Năm thương chân cứng đá mềm,
Bắt đi đánh trận đông Miên, hạ Lào.
Sáu thương sản lượng bình cao,
Để cho mức thuế ngày nào cũng tăng.
Bảy thương sản xuất siêng năng,
Thuế rồi nhịn đói nhăn răng cả nhà.
Tám thương được hát quốc ca,
Của hai nước bạn là Nga với Tàu.
Chín thương nô lệ cúi đầu,
Chùi giày Trung Cộng, quạt hầu Nga Sô.
Mười thương có một bác Hồ,
Làm cho điêu đứng cơ đồ Việt Nam!

Cộng sản đưa ra khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” nhưng thực chất của chính sách thi đua lao động là phương cách bóc lột mồ hôi, máu lệ của người dân để đời sống của cán bộ và lãnh đạo giàu sang, “ngồi mát ăn bát vàng”. Đây, xin hãy nghe người dân nghèo khổ, lầm than gióng lên những tiếng chuông ngân dài, ai oán:

Thi đua làm một thành hai,
Để thằng cán bộ mua đài, mua xe.
Thi đua làm một thành ba,
Để thằng cán bộ xây nhà, lót sân.
Thi đua làm một thành tư,
Để thằng cán bộ tiền dư, bạc thừa.
Thi đua làm một thành năm,
Để thằng cán bộ vừa nằm, vừa ăn.
Phủ Chủ tịch có con dê,
Làm bao cán bộ vỗ về mệt công.
Dê Duẫn lẩn tránh đám đông,
Tối ngày tìm húc cái lồng không “rê”. (Cái LỒNG không G).

Và khi mà Võ Nguyên Giáp bị phe Lê Duẫn, Lê Đức Thọ làm nhục bằng cách tước hết binh quyền rồi giao cho chức vụ phụ trách “Sinh đẻ có kế hoạch” thì các chị em phái nữ che miệng cười:

Ngày xưa Võ Giáp cầm quân,
Ngày nay Võ Giáp cầm quần chị em.

Còn những chị em khác có óc hài hước, hóm hỉnh hơn một chút thì khúc khích rỉ tai nhau mà rằng:

Ngày xưa Võ Giáp bịt đồn,
Ngày nay Võ Giáp bịt l.. chị em.

Để kết luận, dưới sự cai trị của cộng sản, đồng bào đói khổ, xã hội suy đồi, truyền thống dân tộc bị chà đạp, tự do con người bị tước đoạt. Và cũng dưới sự cai trị của cộng sản mà Việt Nam ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất thế giới, còn xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội nhiều tệ đoan nhất hoàn vũ. Tóm lại, Xã Hội Chủ Nghĩa của cộng sản hoàn toàn thất bại, bị phá sản toàn diện, gây ra những vết thương rỉ máu cho Mẹ Việt Nam và những vết thương rỉ máu này chỉ lành được khi quê hương không còn bóng dáng của những người cộng sản.

Lê Thương
Richmond, Virginia 03-2007

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Thương Cho Nguyễn Cao Kỳ

Ngày xưa làm tướng cầm cờ tiên phong
Phèng la Bắc tiến to mồm
Đánh cho việt cộng không còn xác thân
Nào ngờ ông lại dzọt nhanh
Bỏ dân quân lại trong hầm tai ương …

Bao năm sống phận ly hương
Xứ người thói cũ: vũ trường, đỏ đen
Gia đình đổ vỡ tèm lem
Phải đi nhờ vả anh em “không quần” (*)
Thế mà đổ đốn hư thân
Đù luôn vợ bạn – còn ân nghĩa gì ?

Bây giờ lại thấy Cao Kỳ
Về thăm xứ Việt trán lỳ mặt trơ
Ngửa tay xin được dự phần
Cong lưng quì gối liếm chân vẹm thù
Cao Kỳ tuổi bẩy mươi tư
Hóa thân làm chó tiếng nhơ muôn đời …

CON ONG

Thêm bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Cuộc đối thoại giữa hai ba – con người Việt tại Mỹ

“… Ông Triết nói ở Hoa Kỳ: “ Chúng tôi không nỡ đối xử không tốt với nhân quyền. Chúng tôi bảo vệ nhân quyền…”…”

– Gọi họ là con người gì đây hả Ba?
Con người nói xạo?
– Không con ơi!
Nói xạo chỉ gây bực mình
không chết người!

– Gọi là con lươn hả Ba?
– Không con ơi!
Lươn sống dưới bùn đen
bị săn đuổi cũng không thay màu áo

– Gọi là thú kín mình chờ mồi hả Ba?
– Oan cho hổ,
Hổ bị đói không chia phần đồng loại

– Gọi là rắn hổ mang đi!
– Không!
Rắn hổ mang…
có con,
nghe tiếng sáo
biết làm vui phiên chợ!

– Vậy gọi họ là gì?
– Là…
Mấy ông cộng sản!

Nguyễn Xuân Nghiã

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Anh Lùa Bò Vào Đồi Sim Trái Chín


Anh lùa bò vào đồi sim trái chín
Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim
Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín
Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh
Anh nằm xuống để nhìn lên cho thỏa
Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh
Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả
Anh lim dim cho chết lịm hồn mình

Anh quên mất bò đương gặm cỏ
Anh chỉ nghe tiếng cọ rì rào
Có hay không ? bò đương gặm đó
Hay là đây tiếng gió thì thào
Hay là đây tiếng suối lao xao
Giữa giòng cỏ xuôi ghềnh chảy xuống

Mùi thoang thoảng lách lau sương đượm
Mùi gây gây gấy gấy của hương rừng
Mùi lên men phủ ngập mông lung
Không biết nữa mà cần chi biết nữa

Cây lá bốn bên song song từng lứa
Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn
Hạnh phúc trời với đất mang mang
Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ
Với người ngó ngất ngây đương nằm đó
Không biết trời đất có ngó mình không

BÙI GIÁNG

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Mười 2018
H B T N S B C
« Th7    
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
293031  

Posts by Month

Posts by Category