Posts filed under ‘Tham luận




Cố gắng xây dựng một lý thuyết mới để duy trì chế độ

“… Khi muốn chuyển từ tiên phú luận sang cộng đồng phú dư luận, ông Ôn Gia Bảo và ban lãnh đạo thế hệ cách mạng thứ 5 của Trung Quốc đã nghĩ đến tiền đề cải cách chính trị và bỏ chuyên chính một đảng …”

Tổng quát

Sau gần 7 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 11-12-2001, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc đang tìm một lý thuyết mới để chính thống hóa vai trò lãnh đạo của mình trên toàn xã hội Trung Hoa và đã làm đủ mọi cách để bảo vệ quyền lãnh đạo này. Cố gắng này đã được khích lệ bởi sự tăng trưởng cao và đều về kinh tế, nhờ đó tăng cường sức mạnh quân sự.

Chính qua cố gắng tăng cường sức mạnh quân sự này mà nhân dân Trung Quốc đã phần nào chấp nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản để có thể tự hào trước thế giới về sự hùng mạnh của quốc gia mình. Từ cuối thập niên 1990 đến nay, kinh phí quốc phòng hàng năm của Trung Quốc không ngừng gia tăng, chủ yếu vào hai lực lượng chính là hải quân và không quân để trong 10 năm tới có thể đối đầu ngang hàng với Hoa Kỳ, ít nhất trên biển Đông và khu vực phía tây Thái Bình Dương (Đông Á).

Trong cuộc Triển lãm IMDEX ASIA 2007 tại Singapore từ ngày 15 đến 18-5-2007 vừa qua, Bắc Kinh cho biết Trung Quốc đã đặt mua thêm 5 tàu ngầm mang đầu đạn nguyên tử SSN MIRV và 30 tàu ngầm loại tấn công khác. Về không quân, ngay trong năm 2007, bộ quốc phòng Trung Quốc đã đặt mua hoặc bắt đầu sản xuất theo bằng sáng chế của Nga từ 10 đến 20 oanh tạc cơ siêu âm Backfire TU-22M có phạm vi hoạt động 4.000 km, v.v.

Nhưng sự hùng mạnh của Trung Quốc không chủ yếu nằm trong lãnh vực quân sự mà là tư tưởng. Theo ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông và đường lối Đặng Tiểu Bình không còn sức thuyết phục nữa, nhất là đối với các thế hệ thứ 5 (sinh từ 1950 đến 1969) và thế hệ thứ 6 (sinh từ 1970 đến 1989), phải tìm cho ra một tư tưởng mới và một cách thức quản trị mới để duy trì sự lãnh đạo của đảng cộng sản trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, kể cả Đài Loan.

Cuối tháng 2-2007, thủ tướng Ôn Gia Bảo đã khai mạc cuộc hội luận về “nhiệm vụ lịch sử của chặng đường đầu tiên của chủ nghĩa xã hội và một số vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của đảng ta”. Tiếp đó, ngày 16-3, Hội nghị lần thứ 5 của quốc hội kỳ 10 Trung Quốc đã thông qua dự thảo “luật vật quyền”, hay luật về quyền sở hữu tài sản, dự định sẽ ban hành vào ngày 1-10 sắp tới. Đây là hai lý luận mới mà ban lãnh đạo Bắc Kinh muốn Đại hội đảng cộng sản Trung Quốc tổ chức vào mùa thu năm nay thông qua, trước khi chính thức được áp dụng vào thực tế.

Luật về quyền sở hữu tài sản

Để đối phó với nạn đầu cơ về nhà đất và chứng khoán, ban lãnh đạo đảng cộng sản vừa ban hành đạo luật về quyền sở hữu để giải nhiệt cơn sốt nhà đất và chứng khoán đang sắp bùng nổ.

Dự luật này đã được ra đời một cách khó khăn. Nó được phôi thai từ năm 1993, nhưng sau nhiều tranh cãi gay gắt về ý thức hệ, “luật này mâu thuẫn với nguyên tắc công hữu của chủ nghĩa xã hội”, tất cả đều bị xếp lại. Từ sau ngày đó, sinh hoạt kinh tế của xã hội Trung Quốc đã thay da đổi thịt, không còn liên quan gì đến lý thuyết của chủ nghĩa xã hội nữa. đổi hẳn. Tháng 12-2002, dự luật về quyền sở hữu tài sản này được đưa bàn cãi và mãi tới ngày 16-3-2007, nội dung của nó mới được quốc hội chấp nhận với khá nhiều sửa đổi.

Dự luật này có nhiều mục đích. Trước hết nó nhằm giải quyết các cuộc tranh giành tài sản giữa tư nhân và nhà nước, đang đe dọa xã hội Trung Quốc. Thứ hai là để đối phó với những tranh chấp quyền sở hữu bất động sản giữa các cá nhân, do mức sống được nâng cao. Thứ ba là để ngăn ngừa sự nhũng lạm của các cấp lãnh đạo địa phương trong việc thu dụng đất đai của nông dân và nhà cửa của cư dân đô thị cho nhu cầu riêng. Sau cùng là để hạn chế việc chiếm hữu tài sản nhà nước khi giải tư các xí nghiệp quốc doanh dự định sẽ tiến hành đều đặn từ đây.

Thực tế tại Trung Quốc từ 15 năm trở lại đây, cùng với việc khai thác đất đai và chỉnh trang đô thị trên khắp lãnh thổ, trình trạng những người bị buộc phải rời khỏi nhà đất của mình không được đền bù xứng đáng xảy ra tràn lan, gây thành vấn nạn xã hội lớn. Thêm vào đó, các chính quyền địa phương gia tăng tốc độ khai thác bất động sản một cách mù quáng làm thiệt hại khá nhiều công quỹ làm sinh hoạt kinh tế địa phương không bình thường.

Dưới chế độ cộng sản, mặc dù được ghi trong được ghi trong hiến pháp và dân luật, quyền sở hữu tư nhân vẫn chưa được công nhận. Lần này luật về quyền sở hữu xác định rằng tại Trung Quốc nhà nước, tập đoàn, cá nhân đều có quyền sở hữu tài sản riêng.

Bộ Luật về quyền sở hữu này có năm thiên, 19 chương, 241 điều, có thể tóm tắt lại như sau : chính quyền bảo vệ tài sản của nhà nước, các tập đoàn và tư nhân bằng pháp luật, không một tổ chức hay cá nhân nào có quyền xâm phạm. Trong trường hợp trưng dụng đất đai và nhà cửa vì lợi ích chung, chính quyền phải bồi thường thiệt hại một cách xứng đáng cho người bị truất hữu hay bị thu mua nhà đất. Không ai được quyền chiếm đoạt hay phá hoại tài sản hợp pháp đó.

Nhưng một vấn đề lớn đang đặt ra cho xã hội Trung Quốc là nếu luật này được áp dụng, nghĩa là quyền tư hữu được chấp nhận, giá bất động sản tại Trung Quốc sẽ nổ bùng và đào sâu thêm hố sâu cách biệt giữa nông thôn và thành thị, chênh lệch giàu nghèo càng thêm rõ nét. Nếu không kiểm soát được sự đầu cơ nhà đất, thị trường bất động sản sẽ có nguy cơ phá sản như các thị trường chứng khoán không có kiểm soát. Tuy nhiên, với luật mới này, sinh hoạt kinh tế sẽ phát triển hơn vì người sở hữu nhà đất có quyền thế cầm cố tài sản của mình để vay thêm vốn đầu tư. Tình trạng nhũng làm quyền thế cũng sẽ giảm đi vì sự chuyển nhượng bất động sản sẽ không qua trung gian nhà nước và người bị di dời đi nơi khác sẽ được đền bù xứng đáng theo giá thị trường.

Chính vì muốn phát huy những ưu điểm và hạn chế những khuyết điểm của luật về quyền sở hữu này, chính quyền Trung Quốc đã thả nổi dự luật để đón nhận những ý kiến khác nhau trước khi áp dụng. Nếu không có gì trở ngại, dự luật này “sẽ được quốc hội thông qua” nhân dịp quốc khánh 1-10 sắp tới. Từ đây tới đó những nhà lập pháp Trung Quốc đang suy nghĩ về những thủ tục áp dụng luật nào vào thực tế để tiếp tục lôi kéo đầu tư nước ngoài và giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Nói chung, với bộ luật về quyền sở hữu này, Trung Quốc đã làm một cố gắng lớn để hội nhập một cách bình thường vào sinh hoạt kinh tế chung của thế giới.

Lý luận mới về chặng đường đầu tiên

Khác với Nga và các nước Đông Âu, cho đến đầu thế kỷ 21 này Trung Quốc đã không phủ nhận chủ nghĩa xã hội mà còn từng bước tu chính ý thức hệ này.

Vào giữa thập niên 1980, dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, một số thành phần cấp tiến trong đảng cộng sản đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về “chặng đường phát triển đầu tiên của chủ nghĩa xã hội”. Trong đại hội lần thứ 13 của đảng cộng sản mùa thu 1987, tổng bí thư Triệu Tử Dương (bị thất sủng vào tháng 6-1989 vì lắng nghe ý kiến của sinh viên ở Thiên An Môn và muốn hiện đại hóa chính trị) đã tạo điều kiện để triển khai hệ thống lý luận này. Ôn Gia Bảo, lúc đó đang là bí thư của Triệu Tử Dương, phát biểu rằng nếu biến chủ nghĩa xã hội thành một “lý tưởng” và hợp thức hóa một số yếu tố của chủ nghĩa tư bản, như tự do kinh doanh và quyền tư hữu, chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ có thể kéo dài 100 năm dưới sự lãnh đạo chuyên chính của một đảng.

Lý luận này được đưa ra từ ý thức nguy cơ sau 30 năm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, khả năng sản xuất của Trung Quốc vẫn không gia tăng, khả năng xây dựng một xã hội lý tưởng theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa vẫn chưa thể thực hiện. Dưới sự chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình, khi bắt đầu đường lối cải cách, mở cửa và thực hiện bốn hiện đại hóa từ 1978, nhiều chỉ dấu tốt đẹp bắt đầu thành hình. Ban lãnh đạo cộng sản Trung Quốc nhận thấy rằng muốn gia tăng sản xuất không phải bằng kinh tế kế hoạch mà bằng các yếu tố tư bản chủ nghĩa, nghĩa là chấp nhận kinh tế thị trường, tôn trọng quyền tư hữu, cho phép cá nhân làm giàu và các vùng có điều kiện địa lý thuận lợi phát triển nhanh hơn những nơi khác. Chủ trương này có tên là “tiên phú luận”.

Sau gần 30 năm áp dụng, từ 1978 đến nay, kết quả đã vượt ngoài ước muốn của ban lãnh đạo đảng cộng sản. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế gia tăng chưa từng thấy, bộ mặt kinh tế của Trung Quốc cũng thay đổi hẳn. Những nơi nhận đầu tư nước ngoài phát triển vượt trội hơn các nơi khác ; những trung tâm trao đổi chính như Quảng Châu, Thượng Hải, và Bắc Kinh trở thành những đầu cầu phát triển mới.

Ngày 26-2-2007, thủ tướng Ôn Gia Bảo, nhà lý luận chính thống của đường lối cải cách mở cửa, nhắc lại “nhiệm vụ lịch sử của chặng đường đầu tiên để phát triển vững chắc chủ nghĩa xã hội”. Ông cho rằng phải giải phóng sức sản xuất, gia tăng không ngừng tài sản vật chất của chủ nghĩa xã hội bằng cách thực hiện từ từ công bình, dân chủ và pháp trị.

Ôn nói : “Khoa học dân chủ, pháp chế, tự do, nhân quyền không phải là thứ đặc hữu riêng của chủ nghĩa tư bản, đó là những giá trị trong quá trình lịch sử dài của loài người đạt được, đó là thành quả của văn minh sáng tạo. Dó đó chế độ xã hội chủ nghĩa và chính trị dân chủ không mâu thuẫn nhau, dân chủ cao độ, pháp chế hoàn bị thực ra là yêu cầu nội tại của chế độ xã hội chủ nghĩa… “Mục tiêu trước mắt của chúng ta là xúc tiến phát triển kinh tế, bảo vệ quyền lợi công dân, chống lại hành vi hủ bại, nâng cao uy tín của chính phủ, xúc tiến hòa giải xã hội, mở rộng dân chủ, chỉnh đốn pháp chế, tiếp tục cải cách thể chế chính trị. Làm được như thế chúng ta sẽ đạt được sự thông cảm và tán đồng rộng rãi về con đường mà nhân dân Trung Quốc đã chọn”.

Ông chủ trương tiếp tục đường lối cải cách, vừa mở cửa vừa thông qua cải cách chính trị như điều chỉnh khoảng cách thu nhập quốc dân, xem dân chủ và pháp trị là trung tâm cải cách để nhằm đào tạo một xã hội hài hòa mà ông gọi là “cộng đồng phú dư” (cùng giàu với nhau).
Trong tình trạng xã hội Trung Quốc hiện nay, hố ngăn cách giàu nghèo còn rất sâu rộng mà Ôn Gia Bảo gọi là “giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa xã hội” để thực hiện không phải là một xã hội xã hội chủ nghĩa xã hội chín muồi mà là xã hội tư bản chủ nghĩa thành thực như Nhật Bản và các nước Âu Tây đã đạt được.

Khi muốn chuyển từ tiên phú luận sang cộng đồng phú dư luận, ông Ôn Gia Bảo và ban lãnh đạo thế hệ cách mạng thứ 5 của Trung Quốc đã nghĩ đến tiền đề cải cách chính trị và bỏ chuyên chính một đảng dù vẫn chuẩn bị cho đảng cầm quyền có cơ hội nắm quyền lân hơn. Sự khiêm tốn muốn học hỏi “tài sản chung của loài người là dân chủ và pháp chế” của thủ tướng Ôn Gia Bảo là một bước tiến lớn để thuyết phục các đồng chí của ông thoát khỏi chủ nghĩa công nghiệp, chủ nghĩa khoa học giản đơn. Trong kỳ họp đại hội đảng cộng sản lần thứ 7 vào mùa thu năm nay, ông sẽ đề nghị đổi tên đảng cộng sản Trung Quốc thành đảng Xã hội khoa học để cân bằng giữa phát triển và hài hòa xã hội, khai thác và giữ gìn môi trường. Cả vấn đề Đài Loan cũng có thể giải quyết tương đối dễ dàng nếu có một cộng hòa liên bang Trung Hoa dân chủ, pháp trị và đa nguyên.

Nguyễn Minh (Tokyo)

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 12, 2007

GIẤC MƠ VIỆT NAM

Nhà bình luận nổi tiếng của chương trình News Hour, Roger Rosenblatt, tóm lượt về nguồn gốc nước Mỹ: “Quốc gia được thành lập từ những giấc mơ, và cũng qua đó, đã hun đúc nên giấc mơ của cả một quốc gia”.

Vâng đúng thế. Ngoài trừ số nhỏ người bản xứ, đất nước Hoa Kỳ được xây dựng nên do bàn tay và khối óc của những kẻ bên ngoài. Họ đến đây từ trăm ngã đường khác nhau và hàng trăm vùng đất khác nhau.

Cậu bé có tên Mỹ là Irving Berlin sinh tại Nga vào năm 1888. Cậu theo cha mẹ đến định cư tại New York khi mới vừa lên 4 tuổi. Khi còn rất nhỏ, cậu Irving phải vừa làm nghề dọn chén bát trong một nhà hàng và vừa học sáng tác nhạc, một bộ môn mà cậu say mê. Sau khi nhạc phẩm đầu tay được xuất bản vào lúc 13 tuổi, tên tuổi của nhạc sĩ trẻ tài ba Irving Berlin đã trở thành đồng nghĩa với nền âm nhạc Hoa Kỳ thế kỷ 20 qua những nhạc phẩm vượt thời gian như God Bless America, White Christmas, v.v…

Bà Madeleine Albright, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao và là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ cao cấp nhất trong chính phủ Hoa Kỳ, vốn là người Tiệp Khắc. Cha mẹ bà đã phải vượt qua nhiều biên giới để trốn tránh chế độ Cộng Sản khi tiếng xích xe tăng Liên Xô nghiền nát đường phố thủ đô Prague vào năm 1948. Cuối cùng bà cùng gia đình đã vượt thoát được và định cư tại Hoa Kỳ khi Madeleine Albright vừa 11 tuổi. Bà theo học Luật, đỗ tiến sĩ và cách đây không lâu, trở thành người phụ nữ đầu tiên giữ chức Ngoại Trưởng Hoa Kỳ.

Edward Bannister, họa sĩ nổi tiếng về phong cảnh của Mỹ là một người da đen thuộc vùng West Indian, Phi Châu. Ông đến định cư tại Mỹ qua ngã Canada vào năm 1848. Tác phẩm Under The Oaks của ông là một trong những thành tựu nghệ thuật lớn của nền hội họa Hoa Kỳ thế kỷ 19. Tác phẩm này đoạt giải nhất trong cuộc thi đánh dấu 100 năm hội họa tại Philadelphia Centennial Exposition. Khi khám phá ra Edward Bannister là người da đen, ban giám khảo có ý định thu hồi giải thưởng. Tuy nhiên, trước sự đấu tranh của những họa sĩ đồng nghiệp, nhất là của những họa sĩ da trắng đã từng cùng tranh giải với ông, Ban Giám Khảo đã hủy bỏ dự tính.

Những người di dân điển hình thuộc nhiều lãnh vực, màu da và chủng tộc khác nhau. Họ không từng quen biết nhau, không cùng một thế hệ, không cùng huyết thống và chẳng hẹn hò đính ước gì nhau. Những người di dân đầu tiên thường không giàu có, học hành, trí thức, trái lại phần đông họ rất nghèo nàn, ít học, đến đây từ hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, dù từ đâu đến và trong hoàn cảnh nào, họ đã cùng góp bàn tay đưa nước Mỹ từ một vùng đất hoang vu thuộc địa của Anh thành một cường quốc tự do, dân chủ và thịnh vượng nhất thế giới ngày nay.

Câu chuyện thành công của nước Mỹ, đúng như Roger Rosenblatt viết, đã bắt đầu từ một giấc mơ chung: Giấc Mơ Người Mỹ hay American Dream như chúng ta thường nghe gọi bằng tiếng Anh. American Dream được định nghĩa trong tự điển Wordsmyth như là “một lý tưởng của người Mỹ, nhờ đó, con người nhận được sự giàu có vật chất, bình đẳng, tự do, và các giá trị tương tự (the American ideal that any man or woman may obtain material wealth, equality, freedom, and the like)”.

American Dream đã giúp nhân dân Mỹ chiến thắng đạo quân tinh nhuệ của Anh Hoàng George III trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1775-1783), đã giúp nhân dân Mỹ vượt qua những bất đồng kinh tế chính trị sâu sắc trong thời kỳ chiến tranh nội chiến (1860-1865), đã giúp đưa nước Mỹ trở nên quốc gia có lợi nhất sau cả hai cuộc chiến tranh thế giới.

American Dream là giấc mơ mà những người cha sáng lập của quốc gia Hoa Kỳ từng ôm ấp và theo đuổi: Tự Do, Dân Chủ và Cường Thịnh. Tổng Thống đầu tiên George Washington đã từng dặn dò: “Tôi mong được thấy Hoa Kỳ mãi mãi là đất nước của tự do và công lý”. Tượng đài kỷ niệm Tổng Thống George Washington được kiến trúc dựa theo tinh thần độc lập, tự chủ và vươn lên đó.

American Dream là giấc mơ bình đẳng mà Mục Sư Martin Luther King đã đọc trên thềm đài kỷ niệm Lincoln ngày 28 tháng 8 năm 1963: “Tôi mơ một ngày, trên đồi Georgia, con cháu của những người nô lệ cũ, và con cháu của những chủ nô cũ, ngồi lại với chung một bàn trong tình huynh đệ…Tôi mơ một ngày, bốn người con của tôi sẽ được sống trong một đất nước, nơi đó, chúng sẽ không bị phán xét do màu da mà chính bằng tư cách riêng của chúng”.

American Dream, qua nhiều thời đại, từ những người trên chiếc tàu Mayflower cho đến hôm nay, đã được làm phong phú thêm để trở thành một bản sắc văn hóa, một truyền thống đặc biệt của quốc gia này.

Trở về với lịch sử Việt Nam, tổ tiên chúng ta, ông bà chúng ta đã bao giờ mơ và theo đuổi Giấc Mơ Việt Nam chưa?

Trong lúc khó có thể so sánh giữa 380 năm dựng nước của Hoa Kỳ thời hiện đại với gần 5 ngàn năm lịch sử Việt Nam, qua bao nhiêu thăng trầm thay đổi, chúng ta vẫn vững tin rằng tổ tiên chúng ta, không những đã mơ mà còn từng đeo đuổi giấc mơ độc lập, tự chủ và cường thịnh như thế từ nhiều ngàn năm trước.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những người để lưng trần, tóc cắt ngắn, đóng khố che thân, đầu đội mũ lông chim Hồng, tay ẵm đàn con Lạc Việt, vượt bao nhiêu núi rừng ghềnh thác trong cuộc Nam tiến đầy gian nan nhưng vô cùng hiển hách, từ vùng Nam Hoa di dân xuống lưu vực sông Hồng cách đây 48 thế kỷ. Trong lúc bao nhiêu bộ tộc Bách Việt khác đã hoàn toàn bị tiêu diệt hay đồng hóa vào những tỉnh, những huyện như Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến của Trung Quốc ngày nay, giòng giống Lạc Việt qua bao độ thăng trầm, vẫn tồn tại và trưởng thành nên quốc gia Việt Nam độc lập và tự chủ.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những người đã tạo nên nền văn minh Hòa Bình. Nơi đó, ngay từ 20 thế kỷ trước Công Nguyên, tổ tiên chúng ta đã biết trồng cây ăn trái, biết làm đồ gốm, biết đẽo đá thành những lưỡi cuốc nhọn, biết đắp đất ngăn bờ để đưa nước sông vào ruộng. Từ thuở nhân loại còn trong buổi sơ khai, tổ tiên chúng ta đã biết xây dựng các cơ xấu xã hội, lấy thôn làng làm căn bản, lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế, lấy tình nghĩa đồng bào làm sức mạnh, lấy nguồn gốc tổ tiên (một mẹ trăm con, chung cùng bọc trứng) làm nơi nương tựa tinh thần. Những hình ảnh thân thương quen thuộc của cây đa, bến nước, sân đình gắn liền trong tâm thức của mỗi người Việt Nam, đã bắt đầu từ thời xa xưa đó.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của những bàn tay khối óc xây dựng nên nền văn hóa Đông Sơn, bắt đầu từ hàng ngàn năm trước, trải dài đến thời điểm cực thịnh vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Những chiếc trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lữ được chạm trổ tinh vi đánh dấu một thời đại vàng son trong tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Những cổ vật quý giá đó, không phải chỉ là những biểu tượng cho văn minh dân tộc chúng ta mà còn đại diện cho cả nền văn minh vùng Nam Á đương thời. Chính tinh thần văn hóa Hòa Bình, Đông Sơn đã hun đúc thành sức mạnh dân tộc, để các thế kỷ sau đó, đủ sức đối kháng với sự xâm lăng thô bạo của các nguồn văn hóa mang ý đồ đồng hóa phát xuất từ phương Bắc.

Thật vậy, mặc dù hơn một ngàn năm trong bóng đêm nô lệ nhà Hán, nhà Ngô, nhà Đường với bao nhiêu cực hình đày đọa, sáng xuống bể tìm ngọc châu, chiều lên non săn ngà voi, trầm hương, châu báu, dân tộc Việt vẫn bảo vệ được tính độc lập, vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt trong sáng và thuần nhất. Đất nước chúng ta đã hơn một lần bị mất đi và giành lại được nhưng chúng ta hãnh diện nói lớn rằng dân tộc Việt Nam chưa bao giờ bị mất gốc. Hiếm có trên một đất nước nào, ở đó, tên của một con sông, một ngọn núi, một thôn làng, cũng có thể làm cho người dân khi nhắc đến phải rơi nước mắt. Những Phong Hóa, Nam Quan, Mê Linh, Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Thiên Trường, Diên Hồng, Chi Lăng, Lam Sơn, Đống Đa, v.v… không phải chỉ đơn giản là những địa danh lịch sử, mà hơn thế nữa, còn là là nơi giữ gìn anh linh hùng khí của dân tộc chúng ta. Hình ảnh những chiếc búa, những chiếc rìu, những mũi thương, mũi đao, mũi tên bằng đồng đào được ở vùng Trung Châu, Bắc Việt, ở Sông Bạch Đằng, dọc Ải Nam Quan không chỉ là những cổ vật mà còn là chứng tích của bao nhiêu trận mạc, bao nhiêu cuộc chiến đấu, bao nhiêu máu xương và nước mắt của tổ tiên Lạc Việt đã đổ xuống trước áp lực của các triều đại Bắc phương xâm lấn khác.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của hai người phụ nữ Việt đất Mê Linh uy danh lừng lẫy, đã can đảm thắp lên ngọn lửa tự do cho dân tộc. Một ngàn năm trăm năm trước Jeanne d”Arc, người phụ nữ Pháp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống ách cai trị của người Anh, tại vùng Đông Á đã có hai người phụ nữ Lạc Việt, Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa chống nhà Hán và lập nên một triều đại huy hoàng. Dù chỉ trị vì được 3 năm, tinh thần “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” của hai bà đã trở thành truyền thống yêu nước tồn tại đến ngày nay.

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của các bô lão được Vua Trần Thánh Tông triệu đến Điện Diên Hồng để hỏi ý trước cuộc xâm lăng của đại quân Mông Cổ vào tháng Chạp năm 1284. Lần đầu tiên trong lịch sử, sức mạnh dân tộc Việt thể hiện không chỉ bằng lòng yêu nước nhưng còn bằng tinh thần dân chủ. Chính sức mạnh tổng hợp vô địch của lòng yêu nước và tinh thần dân chủ đã đẩy lui bao nhiêu vạn hùng binh Mông Cổ trong ba cuộc chiến chống quân Nguyên lừng lẫy. Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã cảm khái sau cuộc kháng Nguyên lần thứ hai:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông muôn thưở vững âu vàng

Giấc Mơ Việt Nam là giấc mơ của Bình Định Vương Lê Lợi sau ba lần tổn thất phải lui về tử thủ Chí Linh. Quân kháng chiến đã phải đào củ chuối, giết ngựa chiến mà ăn. Suốt mười năm nằm gai nếm mật đầy hy sinh gian khổ, khi hòa khi chiến, lúc cương lúc nhu, tổ tiên chúng ta trong thời đại nhà Lê cuối cùng đã giữ được Giấc Mơ Việt Nam còn sống. Nguyễn Trãi đã kết luận trong Bình Ngô Đại Cáo: “Xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới, càn khôn bĩ rồi lại thái, nhật nguyệt hối rồi lại minh, ngàn năm vết nhục nhã sạch làu, muôn thuở nền thái bình vững chắc, âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ”. Sử gia Phạm Văn Sơn trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã nhận xét về Giấc Mơ Việt Nam: “Và cũng có thể nói rằng những cuộc hưng vong thê thảm này đã hun đúc cho dân tộc chúng ta một tinh thần tranh đấu bền bỉ, để tồn tại đến ngày nay, oanh liệt dưới vòm trời Đông Nam Á”.

Một điều hiển nhiên rằng, nếu tổ tiên chúng ta không có Giấc Mơ Việt Nam thì ngày nay Dân Tộc Việt Nam đã không còn là dân tộc Việt Nam nữa, và đất Nước Việt Nam đã không còn là đất Nước Việt Nam nữa.

Thế nhưng, các thế hệ con cháu Hùng Vương, trong cũng như ngoài nước ngày nay, có còn biết mơ, có còn biết sống với giấc mơ, có còn biết theo đuổi một Giấc Mơ Việt Nam như bao nhiêu thế hệ Việt Nam trước chúng ta đã hằng ôm ấp và theo đuổi hay không?

Nếu có, xin hãy cùng tôi mơ.

Một ngày, những khách du lịch nước ngoài sẽ không còn vội vã dừng xe bên những cánh đồng lúa cằn khô ở Quảng Nam, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Thái Bình để chiêm ngưỡng hình ảnh một bác nông phu, con trâu già với chiếc cày để lại từ thời Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp.

Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, trên màn ảnh truyền hình của các chương trình du lịch sẽ không còn chiếu cảnh những chiếc ghe bầu với cánh buồm mang hàng trăm mảnh vá, đang bồng bềnh trên Vịnh Hạ Long.

Tại sao? Bởi vì, người du khách thu hình bác nông phu đang cày ruộng, sẽ không bao giờ ghi được và hiểu được một điều quan trọng, rằng phía sau vẻ đẹp thiên nhiên, bên trong chiếc áo bà ba đen, chiếc khăn rằn vắt ngang cổ, chiếc nón lá rách viền, là một thân thể Việt Nam đẫm ướt mồ hôi với hàng trăm vết hằn in sâu trong da thịt già nua của bác. Cuộc đời bác nông phu, có thể là người lính già trở về sau trận Điện Biên, Hà Nam, Hà Bắc, giống như bao nhiêu thế hệ nông dân Việt Nam trước bác, đã chịu đựng cảnh nghèo nàn, lao khổ. Họ là thế hệ đã bị lãng quên và lừa gạt về những chân trời không bao giờ có thực.

Tương tự, những khán giả truyền hình xem những chiếc thuyền buồm, thoạt trông vô cùng thơ mộng, đang lênh đênh giữa Vịnh Hạ Long, sẽ không bao giờ biết được rằng, bên trong chiếc ghe bầu cũ kỹ kia là một đám dân chài cùng khổ. Họ là những con người không biết đến hai chữ tương lai. Họ không đủ cơm để ăn, áo để mặc. Họ được sinh ra ở hầm ghe, ăn đó, ngủ đó, cưới nhau đó, sinh con đẻ cái và lớn lên từ đó. Không thể gọi cảnh bác nông phu đang cày ruộng, cảnh những chiếc thuyền buồm trôi lênh đênh kia là nét đẹp Việt Nam. Những cảnh đó không đại diện cho một quê hương Việt Nam gấm vóc với gần năm ngàn năm văn hiến. Hình ảnh chiếc thuyền buồm, con trâu, cái cày chỉ nói lên sự buồn thảm, tuyệt vọng của một dân tộc không có một cơ hội để vươn lên. Những cảnh đó, có thể đẹp và lạ với người nước ngoài nhưng đối với những người Việt Nam tự trọng, là một sỉ nhục. Những cảnh đó chỉ nói lên sự lạc hậu của một nền kinh tế đứng yên tại chỗ từ bao nhiêu thế kỷ và tố cáo sự bất lực, thờ ơ, của một nhà cầm quyền vô trách nhiệm.

Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, trên đất Nước Hùng Vương, sẽ không còn cảnh hàng trăm em bé Việt Nam đói khát đang ngồi chờ những đồng bạc lẻ trên những bậc tam cấp ở Chùa Hương, trong sân Nhà Thờ Đức Bà, trong những quán ăn của người ngoại quốc, giữa Chợ Bến Thành, ngoài đường phố Sài Gòn, Hà Nội. Một ngày, người dân Việt sẽ không còn mắt thấy tai nghe thảm cảnh tuổi thơ Việt Nam giành giật chém giết nhau chỉ vì một chén cơm thừa, một tô canh cặn. Những con cháu Hùng Vương đáng thương kia sẽ có cơ hội đến trường như bao nhiêu triệu trẻ thơ khác trên thế giới. Các em sẽ lớn lên trong thanh bình, tự do, no ấm. Tâm hồn Việt Nam trong sáng của các em sẽ không còn bị những chủ thuyết ngoại lai nhuộm đen, nhuộm đỏ. Hạt mầm trí thức xanh tươi của các em sẽ không còn bị đầu độc bằng những liều thuốc hận thù, rẽ chia, ganh ghét. Giòng sông chảy róc rách qua tâm hồn các em không phải là Sông Gianh phân cách hay Bến Hải chia đôi, mà là giòng sông huyết thống Lạc Hồng bắt đầu tận cội nguồn Dương Tử từ 48 thế kỷ trước đây. Bài hát các em hát mỗi ngày không phải bắt đầu bằng những lời hô hào đấu tranh giai cấp mà sẽ bắt đầu bằng lòng kính nhớ đến ơn đức tổ tiên, công ơn cha mẹ, tình thương yêu dành cho đồng bào ruột thịt và kết thúc bằng ý chí vươn lên sánh ngang vai cùng thời đại con người đang không ngừng đổi mới.

Xin hãy cùng tôi mơ, một ngày, những mục đích đấu tranh vì tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, cơm áo mà dân tộc ta đang theo đuổi hôm nay sẽ không còn cần thiết, hay ít ra không còn là một ưu tiên tối thượng nữa.

Một ngày, những khái niệm, những phạm trù chính trị cộng sản, quốc gia, cách mạng, phản cách mạng, thanh trừng, cải tạo, ly khai, phản động, một thời vốn là những ám ảnh nặng nề trong tư duy, trong cảm xúc của mỗi người Việt Nam, sẽ không còn là những vấn đề đáng quan tâm nữa.

Một ngày, các chế độ độc tài đã thật sự tàn lụi và nền dân chủ đã mạnh khỏe lớn lên. Các nhà tù chính trị đã được san bằng và cũng từ trên đó, nhiều trường đại học, viện hàn lâm vừa được dựng nên. Người dân Việt sẽ không còn nghe nhắc về những bản án dành cho những người ly khai chống đối. Nhân dân Việt Nam sẽ chẳng còn ai bận tâm về chuyện Bắc Nam. Những con số thống kê sẽ không còn là dụng cụ tuyên truyền mà là những con số nói lên thành quả.

Một ngày, nhà thờ, chùa chiền, thánh thất sẽ thật sự là nơi rao giảng đức tin và tinh thần Chân Thiện Mỹ. Các Thầy, các Cha sẽ là những người dìu dắt, những chủ chăn của tín đồ, giảng cho họ bằng ngôn ngữ của thương yêu và tương kính.

Một ngày, những vướng mắc lịch sử, một thời xé nát trái tim dân Việt, thật sự đã đi vào lịch sử. Trên đất Nước Hùng Vương của thời đại mới, trọng tâm của các nhà lãnh đạo một Nước Việt Nam Mới là xây dựng và phát triển đất nước thành một cường quốc đa phương được thế giới kính nhường, một đất Nước Việt Nam có ý thức cao về dân chủ, độc đáo và sáng tạo về văn hóa, vững mạnh về kinh tế, hiện đại về khoa học kỹ thuật và chan hòa tình dân tộc.

Việt Nam sau hơn một phần tư thế kỷ, như nhà văn Dương Thu Hương đã viết: “trên dải đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc. Con chim ngậm cành ô-liu kia còn lẩn khuất nơi chân trời mù sương nào đó. Trên dải bờ xa xôi. Và chờ đợi bình minh”. Vâng, nếu chỉ nhìn vào thế hệ Cách Mạng mùa Thu 1945, thế hệ Điện Biên 1954, hay thế hệ gọi là “chống Mỹ cứu nước” còn sống sót hiện nay để trông chờ một cuộc cách mạng dân tộc, thì đó quả là một thực tế bất hạnh cho đất nước. Bởi vì điều đó sẽ không bao giờ đến.

Những thế hệ 45, thế hệ Điện Biên dù ở miền Bắc hay miền Nam đều kiệt sức như nhau. Họ là những múi chanh đã bị vắt đến khô cằn, xơ xác. Họ là những dây cung đã hết độ đàn hồi. Những chiếc bóng già nua thu mình trong căn nhà tập thể với những đồng tiền hưu cố định, chua xót nghĩ về hàng triệu anh em đồng chí đã thật sự làm ma ở Hà Bắc, Sông Lô, Trường Sơn, Khe Sanh, An Lộc. Có chăng, một vài tiếng rên u uất vang lên đâu đó không đủ mang lại sinh lực cho một thế hệ đã kiệt mòn năng lực. Có chăng, một vài ngọn đèn le lói được thắp lên từ những căn phòng tập thể, không đủ xua đi bóng đêm dày đặc mấy mươi năm đã phủ trùm trên đất nước.

Nhà thơ Tạ Ký, một nhà thơ miền Trung thuộc thế hệ 45, dù may mắn ở lại miền Nam, cũng chua chát nhìn lại thời hăng say cách mạng của ông:

Thời gian qua đã ba chục mùa Xuân
Trai mười tám tóc ngả màu sương gió
Những đêm đô thành men cay mắt đỏ
Nhìn trong ly bỗng thấy bóng mình xưa
Gác trọ buồn thiu nằm khểnh nghe mưa
Xót thân thế, nhớ từng thằng bạn học
Ngâm thơ người xưa đau mình cô độc
Rồi áo cơm thay thế chuyện giang hồ
Đôi lúc buồn tình làm một bài thơ
Bốn lăm!
Bốn lăm!
Những kẻ ra đi, những kẻ đang nằm
Những kẻ chết, những kẻ còn vất vưởng
Chúng ta làm gì?
Thuyền trong cơn gió chướng!

Đúng thế, tâm trạng của nhà thơ chắc chắn cũng là tâm trạng của những ai đã một thời hăng say chiến đấu, hăng say khăn gói lên đường tập kết ra miền Bắc, để rồi sau cuộc chiến trở thành những kẻ đứng bên lề. Những kẻ sống sót chắc chắn đã “sáng mắt sáng lòng” nhưng không đủ can đảm để nói lên sự thật, không đủ can đảm tố cáo sự lọc lừa phản bội của giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chế Lan Viên, sau mấy mươi năm làm thơ ca tụng đảng, cuối cùng đã viết hàng loạt bài thơ để thú nhận tội đồng lõa của chính mình, trong đó có bài “Tôi? Ai?” dưới đây:

Mậu Thân, 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ.
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

Tuy nhiên, dù hoàn cảnh đất nước còn bất hạnh, một điều rất thật, rằng con chim ngậm cành ô-liu mà nhà văn Dương Thu Hương ám chỉ, vẫn chưa chết.

Dù còn lẩn khuất bên kia khu rừng già hay dưới chân trời xa, Giấc Mơ Việt Nam vẫn còn sống trong lòng nhiều triệu người dân Việt. Trong lòng mỗi người Việt Nam vẫn còn đó một giấc mơ về một Việt Nam Mới dân chủ, nhân bản và hiện đại.

Cuộc cách mạng nào cũng thế, đều bắt đầu từ một nhu cầu, một giấc mơ thời đại, và được biến thành hiện thực từ những người cùng ôm ấp một giấc mơ của thời đại đó. Việt Nam đang cần, không phải là những đổi mới nửa vời, nhưng là một cuộc cách mạng Dân Tộc, Dân Chủ và Nhân Bản thật sự, toàn diện và triệt để.

Và một trong những lực lượng chủ yếu để biến mơ ước hôm nay thành bão tố cách mạng không ai khác hơn là tuổi trẻ.

Gần sáu chục triệu tuổi trẻ Việt Nam (65 phần trăm của dân số Việt Nam trong và ngoài nước), dù đang ngồi trong giảng đường đại học xứ người hay đang chăm lo đèn sách nơi quê nhà, rồi vẫn phải vươn vai gánh lấy trách nhiệm lịch sử để ngậm cành ô-liu về trên quê hương đầy bất hạnh của họ.

Quốc Gia Do Thái không chỉ được thành lập từ những người lính nhảy dù xuống Palestine vào buổi sáng tháng 5 năm 1948 nhưng một phần không nhỏ từ túi tiền của những nhà tài chánh Mỹ gốc Do Thái đang làm việc trên Wall Street ở New York, từ những khối óc đang ngồi trong các giảng đường Harvard, từ sự vận động của những nghị sĩ, dân biểu, bộ trưởng gốc Do Thái đang nằm trong các cấp lãnh đạo chính quyền Mỹ, Anh, Pháp, và từ những đóng góp máu xương của hàng triệu người Do Thái lưu dân khắp thế giới. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, những tinh hoa dân tộc Việt đang lưu lạc khắp bốn bể năm châu, chắc chắn một ngày sẽ cùng với anh em, bè bạn cùng thế hệ trong nước, bằng tài năng và bằng khối óc, ra sức phục hồi sức sống Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam, dù sinh ra ở Hà Nội, Sài Gòn, ở trại tỵ nạn hay lớn lên ở Paris, Boston, London, trái tim của họ vẫn cùng chung một nhịp đập và lòng họ đều ôm ấp một giấc mơ chung: Giấc Mơ Việt Nam. Đàn nai tơ Việt Nam đáng yêu kia, dù đi lạc trong rừng già tăm tối, vẫn dể dàng nhận ra nhau qua tiếng hú thân quen, để rồi từ đó cùng đưa nhau về bên dòng suối mát Mẹ Việt Nam.

Tuổi trẻ Việt Nam là thế hệ của những kẻ biết bay, biết vượt thoát ra khỏi ao tù nước đọng của quá khứ. Tuổi trẻ Việt Nam, khi bước qua sông, không mang theo trên lưng chiếc ghe quá khứ nặng nề như các thế hệ cha anh. Tâm hồn họ trong sáng như ước mơ của đời họ. Những gì nên giữ họ sẽ giữ và những gì cần phải xóa bỏ, họ sẽ không ngần ngại đập đổ đi mà không hề nuối tiếc, vấn vương công sức. Hành trang trên vai của họ là một tương lai đất nước đầy hy vọng. Họ sẽ dắt tay nhau đi về phía chân trời có thực, đó là bình minh cho một đất nước Việt Nam Mới.

Dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu chịu đựng, xứng đáng để có và chắc chắn sẽ có một cơ hội tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Giọt nước mắt vui mừng cuối cùng sẽ nhỏ xuống để làm tràn Giấc Mơ Việt Nam. Đêm liên hoan của lịch sử dân tộc sẽ không còn xa xôi nữa.

Xin hãy cùng tôi mơ.

TRẦN TRUNG ĐẠO

Thêm bình luận Tháng Bảy 5, 2007

Nhắn gởi Việt Weekly: Làm Báo & Làm Người

Khởi Ðầu

Ngày 23 tháng 10 năm 2003, tờ Việt Weekly ra đời, khổ tabloid, 36 trang, tờ báo được nhật báo Viễn Ðông kẹp chung để phát hành vào ngày thứ Năm hằng tuần. Trong số ra mắt nầy, Thư Chủ Nhiệm, ông Lê Vũ viết: “… Chúng tôi chủ trương một nội dung thiên về “đời sống người Việt hải ngoại”. Cách thức thực hiện là đi sát với thực tế, làm tốt vai trò của báo chí là quan sát và phản ảnh một cách khách quan”. Và kết luận “Lúc nào chúng tôi cũng tìm kiếm sự cộng tác của mọi người để mãi mãi tiến bộ. Rất mong quý bạn đọc xem Việt Weekly như một bạn đồng hành hữu ích trong cuộc sống rộn rã trước mắt”.

Sở dĩ, tờ Việt Weekly được nhật báo Viễn Ðông cho phát hành chung vì tháng Ba năm 2003, ông Etcetera và vợ là Mimi Tủy Thiên về làm việc cho tờ Viễn Ðông (Tháng 6 năm 2004, vợ chồng Etcetera bị “đi chơi chỗ khác” và tờ Việt Weekly cũng tự phát hành).

Có thể xem tờ Việt Weekly là hậu thân của tờ Mimi News, ra đời vào tháng Bảy năm 2001, chỉ có 8 trang khổ 11X17”, mỗi tháng phát hành vào ngày thứ Năm do nhật báo Người Việt phát kèm nhưng gần một năm vẫn ì xèo, không có quảng cáo nên bỏ cuộc. Tở VW số 29, ra ngày 15 tháng 7 năm 2004, Etcetera viết bài “Tôi “bị” ông Ðỗ Ngọc Yến… Xúi làm báo”, ông đề cập: “Năm 1997, tôi còn lo tơ mơ với công việc báo chí. Chỉ thích vẽ minh họa, vẽ hí họa cho một tạp chí sinh viên. Năm 1999, khi vụ Trần Trường nổ ra, tôi đã vẽ một bức hí họa đầu tiên phê phán sự kiện nầy, nhắm vào ông Trần Trường… Sau khi vẽ bức tranh tranh đó, tôi đến tòa soạn nhật báo Người Việt (trụ sở cũ) để xin được đăng tranh…”. Ông Ðỗ Ngọc Yến liếc qua bức tranh, khen được, và hỏi còn nữa không? “Hai hôm sau, tôi mang đến mấy tấm nữa, cũng về đề tài Trần Trường”. Sau đó, Etcetera được nhận phụ trách phần hí họa trong nhật báo Người Việt.

Với tờ Việt Weekly, chủ nhiệm: Lê Vũ, chủ bút: Mimi Tưởng (Mimi Thủy Tiên) và tổng thư ký: Etcetera. Tuy cả ba đều chưa trải qua trường lớp báo chí nào nhưng có lẽ “yêu nghề báo” nên dấn thân, thiếu kinh nghiệm và khả năng, nếu không có sự “dựa dẫm” tờ báo nào để phát hành thì khó tồn tại ngay ở bước đầu.

Nhìn lại báo chí Việt ngữ ở hải ngoại nói chung, Hoa Kỳ nói riêng, những người dấn thân trong công việc nầy đã lớn tuổi. Khi thấy giới trẻ “xông xáo” bước vào lãnh vực nầy, đáng khuyến khích. Vì vậy khi thấy tờ Việt Weekly ra đời, với bản thân người viết, biết được thành phần nhân sự: – Chủ nhiệm là Lê Vũ (Lê Cẩm Thạch) con của ông Lê Cẩm Khoán, nhân sỹ trong hội Tây Sơn Bình Ðịnh, – Chủ bút Mimi Tưởng (Mimi Thủy Tiên, con của nhà giáo ở Trung Tâm Giáo Dục Hùng Vương Ðà Lạt, cháu của cây bút chống Cộng sắc bén là Tưởng Năng Tiến (cậu ruột), – Etcetera (Nguyễn Quang Trường) con của ông Nguyễn Ngọc Bích, cựu Sĩ quan, cựu tù nhân chính trị… tôi cảm thấy vui vui. Etcetera với nhiều bức hí họa đã in thành sách Họa Etcetera, lên án chế độ Cộng Sản độc tài, dã man… nhất là hình ảnh Hồ Chí Minh qua nét vẽ trở thành tên hề, quái vật, bợm trợn, độc tài, láu cá, gian ác, đầy thủ đoạn… lên án những kẻ tay sai cho Sộng Sản

Thế nhưng! nửa năm sau, đã thất vọng khi xem tờ Việt Weekly và càng ngày càng thấy tởm!

Trở Mặt

Như đã đề cập ở trên, nội dung thiên về “đời sống người Việt hải ngoại” nhưng chụp hình và phỏng vấn vài ba người “lông bông lêu bêu”, xoay đi xoay lại với những cặn bã trong đời sống để tạo sự hiếu kỳ và có ý “dằn mặt” đối thủ nào phản bác để đừng đụng chạm đến tờ báo.

Etcetera lúc nào cũng đề cập đến 3 sư phụ là Ðỗ Ngọc Yến, Lâm Tường Dũ và Tuyết Sỹ. Về nhân cách và khả năng trong làng báo Việt ngữ, trong nghề ai cũng biết LTD và TS và cảm thấy “thầy nào trò đó” nhưng với Ðỗ Ngọc Yến là người đưa Etcetera vào làm tờ Người Việt và đỡ đầu nên nhiều người cũng hơi ngạc nhiên. Ông là sáng lập viên và cũng là linh hồn của tờ nhật báo nầy. Tình nghĩa thầy trò như vậy, thế mà đệ tử chụp bức hình tay cầm tờ báo Người Việt, tay bịt mũi! Khi xem bức hình đó, tôi không biết dùng chữ nào để nói về cái đạo lý làm người. Ông bạn bên cạnh liếc thấy và phán ngay “đồ mất dạy”.

Nói như ông Vũ Công Lý “bọn nầy ngựa non háu đá” nhưng không thể xấc xược, vô lễ với những bậc cha, ông một cách lỗ mãng với những chữ hạ cấp khi viết trong trang báo.

Khi Việt Weekly rêu ra sẽ đặt 500 thùng báo để phổ biến rộng rãi ở Nam Cali nhưng qua mấy năm, chẳng thấy có thùng báo nào cả. Sau khi về VN, tháng 12 năm 2006 “nổ” sẽ ra tờ nhật báo nhưng gần nửa năm rồi, có lẽ cũng mang số phận như 500 thùng báo?

Nếu điểm lại những số báo của Việt Weekly cũng đoán được chủ nhiệm Lê Vũ không biết gì về nội dung bài vở trước khi chuyển cho nhà in. Ðọc Thư Tòa Soạn, nếu có bài nào của Lê Vũ mới có gợi ý, có nhiều bài cũ từ trang web được tự ý trích để tạo “diễn đàn” nếu chủ nhiệm biết sẽ khôn khéo đề cập rồi. Vì vậy khi sự việc bị “bể”, lê Vũ phải chống chế nhưng vụng về chỉ lấy quyền tự do ngôn luận để quanh co.

Hình ảnh Etcetera qua những bức hí họa chống Cộng ngày nào đã biến mất để lộ diện những bài viết đả kích những người có tinh thần chống Cộng thảo nào có lời khen của Tôn Nữ Thị Ninh về tờ Việt Weekly. Có lẽ được “chân trong chân ngoài” nên khi về Việt Nam trong dịp hội nghị APEC, Việt Weekly được phỏng vấn Võ Văn Kiệt và những bức hình đó đăng tới đăng lui vừa “kiếm điểm” Cộng Sản vừa “khiếu khích” những người chống Cộng.

Cấp lãnh đạo và đảng viên lúc nào cũng tôn thờ Hồ Chí Minh; trong nước, nếu có ai xúc phạm đến “bác” sẽ bị tù ngay như đã từng diễn ra trong quá khứ, thế mà Võ Văn Kiệt tiếp chuyện với “kẻ chà đạp, khinh bỉ lãnh tụ của ông” thế mới kỳ quặc. Một, ông cảm thấy “chà đạp” là đúng; hai, ông không biết gì cả vì “đàn em nằm vùng hải ngoại” không báo cáo để khi được phát hiện thì “bé cái lầm”! Bộ Chính Trị nên mua tập hí họa của Etcetera nầy đưa cho Võ Văn Kiệt xem và làm “bản kiểm điểm”. Ðộng cơ nào thúc đẩy, “thành thật khai báo”!

Nầy nhé, phải “nói có sách, mách có chứng”, trong quyển Họa Etcetera dày 436 trang, ấn hành năm 2000, ngay trang đầu (trang 19) hình Hồ Chí Minh trông thật gian manh với câu nói “… cái Tự Do Ngôn luận đâu có trong đầu tao”. Ðơn cử vài trang với chân dung HCM: 20, 21, 28, 35, 37… mặt chuột, mặt dơi trông dị hợm, trang 31 hình HCM với câu “một thằng già trong công viên (Ba Ðình)”… trang 240, 242, 243… trang 239 với hình ảnh HCM như ác quỷ với chữ “Sinh nhật Ác Hồ”, trang 235 thì HCM trông thật dâm đãng ôm hai bà với dòng chủ “Minh Khai và A Vàng”… trang 244 hình HCM đầu trâu với 2 cái sừng cong, mặt có vòi, trông như con quái vật! Về tự do ngôn luận, trang 27 trông rất thú vị với dòng chủ “Tống ngay nó về CS đặng đòi tự do ngôn luận”…

Nếu Võ Văn Kiệt “chịu chơi” với đám Việt Weekly nầy thì nên ấn hành quyển Họa Etcetera nhằm thể hiện tự do dân chủ, tự do báo chí như thế đó.

Ngoài sư phụ Ðỗ Ngọc Yến, cho phụ trách trang hí họa trên tờ Người Việt, cho tiền để ra tờ Mimi News, khi qua đời, cho garage sách của ông… vợ, con còn giữ vai trò nòng cốt trong tờ Người Việt thế mà đệ tử phản thùng. Nhà báo lão thành Anh Tâm Nguyễn Thành Mỹ cùng vợ là Phan Anh Thư ở Fresno xuống buôn bán trái cây ở Little Saigon, giúp đỡ rất nhiều trong thời gian đầu VW sống thoi thóp, nhận làm nghĩa phụ Etcetera thế mà trong buổi bà vợ tổ chức sinh nhật của ông Việt Weekly bất ngờ biến thành kỷ niệm ngày ra đời tờ báo. Ông bà giận quá, mắng nỏ, về lại Fresno, ông tức quá nên bị đứt gân máu, phải đưa đi cấp cứu, bị liệt và nằm liệt từ năm 2005 đến nay.

Với Lê Vũ, kỹ sư điện toán, làm báo muốn trở thành một “lý thuyết gia” để biện bạch cho đường lối “tự do báo chí” nhưng qua những luận cứ đã được đề cập, hình như chưa được am tường. Lê Vũ giữ được nhân cách của người trẻ làm báo nhưng không có khả năng lo hết bài vở nên Etcetera bao trọn gói do đó, tờ VW mới trở thành lá cải, đánh phá, châm chọc rẻ tiền. Trước đây có vài trang English Section để bạn trẻ đọc nhưng cũng không ra gì nên phải dẹp.

Tự Do Báo Chí và Luật Mạ Lỵ

Trong bốn năm qua, tờ VW đề cập đến đời tư cá nhân nhiều người. Nhiều người cho rằng tờ báo nầy lợi dụng quyền tự do báo chí và vi phạm luật pháp về tội mạ lỵ, đó chỉ là ý kiền còn đúng hay sai khi đưa ra pháp luật phán xét mới biết được.

Nhận thấy bài nầy rất hữu ích nên xin trích nguyên văn bài viết của LS Nguyễn Quốc Lân với tựa đề “Tự do ngôn luận: Luật mạ lỵ” trong mục Pháp Luật và Ðời Sống trên nhật báo Người Việt, ra ngày 11 tháng Giêng năm 1995.

“Tự do ngôn luận là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong xã hội dân chủ. Tu Chính Án Thứ Nhất (First Amendment) của Hiến Pháp Hoa Kỳ ngăn cấm chính phủ không được có những hành động nào xâm phạm đến quyền tự do ngôn luận hay tự do báo chí của người dân. Những hành động của chính phủ bao gồm ban hành những luật lệ hay sử dụng hệ thống tòa án để xét xử những tranh chấp giữa các thành viên trong xã hội.

Như hầu hết mọi quyền tự do khác, tự do ngôn luận cũng có nhiều giới hạn trong pháp luật. Mặc dù tự do ngôn luận là một đặc quyền căn bản trong một thể chế dân chủ, luật pháp Hoa Kỳ cũng luôn cân nhắc đặc quyền nầy với những ưu tiên khác trong xã hội như trật tự an ninh quốc gia hay sự xâm phạm đến danh dự cá nhân hay cuộc sống an lành của những thành viên khác trong xã hội.

1.- Giới hạn của tự do ngôn luận

Tự do ngôn luận trong Hiến Pháp Hoa Kỳ không áp dụng đối với một số loại ngôn từ có tính cách nguy hại đến xã hội như:

a.- Những ngôn từ có thể trực tiếp gây xáo trộn trật tự hay an ninh xã hội (clear and present danger of imminent lawlessness). Ðây là loại ngôn từ tương tự như kêu gọi mọi người ném đá vào xe đi trên đường, tự động hô to và có lửa cháy trong rạp hát đang có đông người để đùa cợt, hay tiết lộ bí mật quốc phòng.

b.- Nhũng ngôn từ chửi bới có thể gây ra sự tức giận hay trả đũa bạo động bởi người nghe (figthting words). Ðây thường là những câu văn tục hay kỳ thị bởi một người nào đó.

c.- Những ngôn từ hay tài liệu có tính cách khiêu dâm và không có giá trị về văn chương, nghệ thuật chính trị, khoa học hay xã hội (obscenity). Ðây thường là những báo chí hay phim ảnh thuộc loại khiêu dâm dành cho người lớn.

d.- Quảng cáo sai sự thật hay đánh lừa khách hàng (false or deeptive advertising). Chính phủ có quyền đặt ra những điều luật để kiểm soát tiêu chuẩn quảng cáo thương mại.

e.- Những trường hợp đặc biệt cần thiết cho an ninh quốc gia như phổ biến tin tức trong chiến tranh, những ngôn từ kỳ thị chủng tộc hay tôn giáo.

f.- Những ngôn từ có tinh cách nói xấu, mạ lỵ hay phỉ báng người khác (defamation). Danh từ mạ lỵ có hai loại là (1) câu nói miệng (slander), và (2) câu nói thành văn hay viết ra trên giấy (libel). Cả hai đều có tiêu chuẩn pháp luật tương tự.

2.- Ngôn từ mạ lỵ hay phỉ báng (defamation)

Ngôn từ mạ lỵ là những lời tuyên bố sai sự thật về một người hay tổ chức nào đó mà có gây thiệt hại đến người bị liệng hệ. Muốn chứng minh một lời nói có mạ lỵ hay không, nạn nhân phải chứng minh được nhiều yếu tố khác nhau.

a.- Sai sự thật

Ngôn từ mạ lỵ phải là một lời tuyên bố về sự thật (statement of fact) chứ không phải phản ảnh những quan điểm, nhận xét hay phê bình (opinion). Ví dụ câu nói “ông A mới ăn cướp nhà hàng” là một lời tuyên bố có tính cách sự thật trong khi câu nói “ông A trông giống như một người ăn cướp nhà hàng” chỉ là câu nói có tính cách nhận xét.

Muốn chứng minh câu nói “ông A vừa mới ăn cướp nhà hàng” là sai sự thật thì chỉ còn có thể được vì chỉ cần chứng minh ông A có ăn cướp nhà hàng hay không mà thôi. Còn chứng minh câu “ông A trông giống như một người ăn cướp nhà hàng” là sai sự thật là một việc rất khó. Người bị mạ lỵ phải chứng minh được rằng câu tuyên bố liên hệ là sai sự thật thì mới có thể thắng kiện được.

b.- Ðối với những nhân vật của cong cộng (public figure)

Nếu nạn nhân là những nhân vật công cộng (public figure), tiêu chuẩn chứng minh các câu nói mạ lỵ chống lại mình khó khăn hơn những người khác. Muốn chứng minh một câu nói mạ lỵ, những nhân vật công cộng nầy phải chứng minh được là người phát ngôn các câu nói mạ lỵ biết rằng lời tuyên bố của mình là đúng hay sai sự thật. Nạn nhân phải chứng minh được rằng người phát ngôn lời nói mạ lỵ thật sự nghi ngờ về sự thật của câu phát biểu của mình nhưng vẫn có ý phát biểu mà không cần điều tra để tìm hiểu thêm về sự thật.

Những nhân vật công cộng nầy là những người nổi tiếng trong cộng đồng và tự lao mình vào các sinh hoạt hay tranh luận trong cộng đồng. Ðây là một tiêu chuẩn rất quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định kết quả, trong các vụ kiện liên quan đến các câu nói mạ lỵ.

c.- Ðối với những người riêng tư (private persons)

Ðối với những người không phải là nhân vật công cộng, họ chỉ cần chứng minh là người phát ngôn những câu nói mạ lỵ đã bất cẩn (negligent) vì không tìm hiểu thêm sự thật của lời tuyên bố của mình. Nếu chứng minh được sự bất cẩn nầy, nạn nhân có thể được bồi thường những thiệt hại thật sự (actual damage) như thiệt hại về tái chánh (economie losses), uy tín (reputation) hay nhục mạ cá nhân (personal humilitation).

Nếu những nạn nhân không phải là nhân vật công cộng chứng minh thêm được rằng người mạ lỵ biết rằng những lời tuyên bố của họ là sai hay cố ý tuyên bố mà không cần đếm xỉa gì đến đúng hay sai thì nạn nhân có thể được bồi thường thêm những thiệt hại tự động (presumed damages). Ðây là tiêu chuẩn khó chứng minh hơn và thường chỉ áp dụng trong trường hợp mạ lỵ mạ lỵ đối với những nhân vật cộng đồng mà thôi.

3.- Kết luận

Tự do ngôn luận la một đóa hoa đẹp trong một thể chế dân chủ, thế nhưng đây cũng có thể là một thất bại trong xã hội nếu người dân không biết tôn trọng đúng mức. Ðó là một cái gì mà xã hội cần phải chấp nhận để bảo toàn ý nghĩa của một quyền hiến pháp căn bản nhất: quyền tự do ngôn luận”. LS Nguyễn Quốc Lân

Bài viết của LS Nguyễn Quốc Lân cho thấy những điểm chính trọng về vấn đề mạ lỵ. Nếu người làm báo mà đi theo con đường tà đạo, không am tường luật pháp để dùng thủ thuật mượn lời người khác như phỏng vấn với chủ tâm bôi nhọ người khác để đăng báo phổ biến trước công chúng, cá nhân người được phỏng vấn và tờ báo đều bị trách nhiệm khi vi phạm.

Việt Weekly thân Cộng hay không?

Ðặt câu hỏi với Lê Vũ và Etcetera có “thân Cộng hay không”? dĩ nhiên đương sự trả lời không. Và nếu hỏi cán bộ Cộng Sản đặc trách vai trò truyền thông hải ngoại có đầu tư cho tờ VW làm công cụ tuyên truyền không, sẽ nhận câu trả lời không.

Qua đài truyền hình VTV4 phát hình trên khắp nơi ở hải ngoại, chủ trương bây giờ nhằm kêu gọi Việt kiều là “nắm ruột ngàn dặm” để thăm quê và đầu tư làm ăn. Không có chương trình nào đánh phá, bài xích cộng đồng người Việt hải ngoại để gây sự hận thù và đào hố sâu chia rẽ.

Nếu Cộng Sản muốn “đầu tư” cho tờ báo nào thì tờ báo đó phải đứng đắn, có ảnh hưởng mạnh trong cộng đồng người Việt, có những cây bút tên tuổi, có khả năng lèo lái xoay chiều rất tinh vi để thẩm thấu lòng người với tình tự dân tộc. Tờ báo phải được cảm tình với hội đoàn, đoàn thể, đồng hương để từ từ dẫn dắt con đường nhìn về tương lai của dân tộc đã trải qua bao năm gian khổ, đói nghèo… cùng nhau xây dựng lại.

Tờ VW không có cây bút đứng đắn, tên tuổi nào cộng tác, với những bài vở lèm bèm, xoay đi xoay lại với vài cây bút, nếu viết thì chẳng có tờ báo nào đăng. Ðâm bên nầy, thọt bên kia chỉ gây sự tò mò hạ cấp, không chiếm được cảm tình với đồng hương. Vì vậy, nếu CS chỉ sử dụng thì chỉ chi như “bài cậy đăng” có tính cách giai đoan mà thôi.

Trong chuyến đi Hoa Kỳ của ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nhà nước CSVN, vừa qua, trước khi đi VN hy vọng sẽ có những ký kết hợp đồng thương mại với Hoa Kỳ khoảng 4 tỷ Mỹ kim nhưng theo bản tin trên trang web của chính phủ CS ngày 25 tháng 6 “Tổng giá trị các thỏa thuận, hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp hai nước trong chuyến thăm lần này đạt trên 11 tỷ USD” vì vậy vấn đề kêu gọi Việt kiều đầu tư sẽ vào hàng thứ yếu trong kế hoạch chiêu dụ Việt kiều.

Nếu cần tuyên truyền thì nhiều tờ báo và trang web trong nước đã phổ biến, tờ VW nếu có phỏng vấn thì cũng Nguyễn Cao Kỳ hay vài nhân vật điếu đóm nhăng cuội cho vui mà thôi.

VW thường hay rêu rao số lượng phát hành, nhìn vào 500 thùng báo “vẽ” thì cũng biết thật hư. Tháng Sáu năm 2005, VW mới bán 50 cent, nếu in thêm 1000 số thì số tiền vào khoảng 300 đến 350 Mỹ kim, nếu bỏ cho các cơ sở thương mại để bán thì chỉ 25 đến 35 cent, làm con số cộng trừ thì biết. Tờ báo sống nhờ quảng cáo, với tuần báo dày 120 trang, quảng cáo không được bao nhiêu thế mà đòi “mua” tờ nhật báo nầy, nhật báo kia hàng triệu Mỹ kim… thấy đăng trên báo mà buồn cười.

Còn nhiều chuyện để nói nhưng sẽ vo đầu gối mà lai rai

Kết

Nhật báo Viễn Ðông, số ra ngày thư Bảy 23 tháng 6 năm 2007, đăng bài viết “Toan Ánh và hơn 70 năm cầm bút”. Năm nay, ông đã 96 tuổi, là vị thầy khả kính thỉnh giảng các trường đại học Huế, Sài Gòn, Ðà Lạt… là nhà văn có trên 120 tác phẩm, trong đó có nhiều tác phẩm đề cao về phong tục tập quán, đạo lý, nhân cách, thờ cúng tổ tiên… rất quý báu. Với thiên chức của nhà giáo và người cầm bút, ông có lời khuyên với giới trẻ: “Thời nay, đã cầm bút thì phải viết vì sự thật, vì lẽ phải và vì cái đẹp”. Phải lấy lời khuyên của ông để làm điều tâm niệm khi cầm bút: Sự Thật – Lẽ Phải và Cái Ðẹp.

Làm báo không khó, giữ được nhân cách và lòng tự trọng của người làm báo mới là điều khó, cần học hỏi tính khiêm nhượng và khả năng của người đi trước. Ngựa non háu đá thì cũng có ngày bị hồi mã thương.

Ðại Nghĩa
Nam Cali, June 25-07

Thêm bình luận Tháng Sáu 29, 2007

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Hai 2018
H B T N S B C
« Th7    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728  

Posts by Month

Posts by Category