Posts filed under ‘Văn chương




Nửa đêm chọc tức …

Đang ngủ, tôi bỗng giật mình vì tiếng bước chân đi qua đi lại trên tầng lầu trên. Bực mình, tôi ngồi dậy nhìn đồng hồ, bốn giờ thiếu mười lăm sáng. Tiếng chân lại vang lên cốc cốc… rồi dừng ngay trên đầu giường tôi. Tôi đã tỉnh ngủ dỏng tai nghe, tiếng bước chân còn mang giày, không phải tiếng chân trần. Từ ngày ông tây này đến mướn căn phòng trên, cả tuần nay, giấc ngủ tôi bị đánh thức nửa chừng, gần bốn giờ sáng là tôi giựt mình bởi tiếng bước chân nặng giáng xuống nền gỗ, và đêm hôm nay cũng thế. Tôi rủa thầm. Cộc cộc… tiếng bước lại dội xuống. Tôi nhổm dạy quơ chiếc áo ngủ, khóac lên người, nhảy bổ xuống giường. Chịu hết nổi rồi, tôi phải nói cho họ biết, tôi đã mất ngủ cả tuần nay rồi.

Leo lên lầu, tôi đứng bấm chuông, độ một phút thì nghe có tiếng vặn ổ khoá bên trong, rồi tiếng cửa xịch mở. Ánh đèn “nê ông”, bên góc tường chiếu thẳng vào người đàn ông đang ngơ ngác nhìn tôi. Ông ta cao lớn, mặc bộ “vết tông” màu đen, thắt “cà vạt” xanh đậm, đeo cặp kính trắng, tuổi trên năm mươi; mái tóc màu bạch kim được cắt ngắn óng ánh dưới ngọn đèn. ông ta chắc là mới về nhà, nên chưa kịp thay quần áo, hay là sửa soạn để sắp đi đâu đó. Mặc kệ. Tôi nói:

– Yêu cầu ông bước nhẹ nhàng một tí. Ông có biết là đêm nào ông cũng đạp “lên đầu” tôi không ?

Ông ta nhìn tôi ngớ ra. Không kịp nghe ông ta trả lời, tôi hậm hực quay lưng bước xuống lầu. Ông ta như người vừa tỉnh ngủ, nói vói theo:

– Ô ! xin lỗi… xin lỗi.

Tôi nói nhỏ:

– Khỉ gió…

– Cô nói gì ?

Tôi hạ thấp giọng:

– Chào ông…

Sau đêm đó, mấy hôm nay tôi được ngủ một giấc cho tới sáng, không nghe tiếng chân mạnh trên sàn gỗ nữa. Có vậy chớ! Biết thế mình nói sớm, để chi mất ngủ giờ mới chịu nói. Coi vậy chứ người ta cũng biết điều. Nhưng… tối nay tiếng bước chân lại bỗng vang lên. Không chần chờ, tôi vội phóng nhanh lên lầu, bấm chuông lia lịa, ông ta mở cửa. Tôi ba gai:

– Yêu cầu ông bước nhẹ một tí… ? Ông có biết mấy giờ khuya không ?

Ông ta đưa tay coi đồng hồ, rồi nhìn tôi nói:

– Bốn giờ sáng.

Tôi hỏi :

– Bốn giờ sáng, giờ này người ta còn đang ngủ. Ông có biết không?

– Biết… !

– Hả !

Tôi nhìn trân trân ông ta, lặp lại “biết”, rồi ngoe nguẩy bỏ đi, tôi nghe ông ta lẩm bẩm phía sau:

– Tôi quên… tôi quên.

Thấy tôi giận ông ta cũng hơi… ngán. Vậy là yên chí, không còn nghe tiếng bước chân nữa. Nghĩ lại mình hơi lố bịch, nóng nẩy quá… có gì nhẹ nhàng với người ta một chút, đến nỗi gì phải lớn tiếng như thế. Mình đúng là ổ… kiến lửa.

Tôi đang mơ màng, lại giật mình, bởi tiếng giày trên lầu. Thế là mất ngủ. Có tức không ? Tây này mất lịch sự quá ! Lần này phải cho “chả” một bài học mới được. Tôi mở tung cửa, nhảy một lần hai, ba bậc thang lên lầu, đứng trước cửa bấm chuông không ngừng. Im lìm. Tôi gõ cửa rồi lại bấm chuông. Vẫn im lặng. A không chịu ra mở cửa hả ? Tôi đâu chịu thua, nhất định đứng lì đây nhấn nút chuông, không nhích ngón tay. Coi! có ra mở cửa không nào. Có tiếng bước chân đến cửa la lớn: ok! ok!. Cửa mở, chủ nhà đứng bên trong, nhe răng ra cười, nét mặt bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Trời ! nụ cười gì trơ trẽn. Nụ cười như đang thách thức, đang chọc tức tôi… Tôi mà làm đàn ông, tôi sẽ không bao giờ có nụ cười… vô duyên như ông ta. Tôi đứng thẳng, ưỡn người tay vòng trước ngực, mặt vênh vênh. Nhìn ông ta tôi giận run lên, nhưng cố giữ vẻ bình tĩnh rất lịch sự dễ thương như… bình nước sôi để nguội. Mặt tôi dàu dàu than thở:

– Ông ạ ! đây là lần thứ ba, tôi nhắc lại cho ông nhớ, đêm nào ông cũng đạp “lên đầu” tôi. Mong ông đừng làm phiền hàng xóm nữa…

Ông ta tỉnh bơ đứng yên nhìn tôi, không nói một tiếng, chỉ nhếch môi cười khan. Trời! sao mặt hắn khó ưa dễ sợ. Tôi ném cái nhìn hằn học về ông ta, rồi quay lưng bước nhanh xuống thang lầu.

Mỗi lần gây sự mới được ngủ yên, không còn nghe tiếng động trên lầu nữa. Nhưng mỗi đêm tôi phải lo âu, hồi hộp từng phút từng giây, sợ tiếng bước chân, sẽ phá giấc ngủ mình bất cứ lúc nào. Rồi sự hồi hộp đó đâu có lâu lắc gì. Chúa ơi! Tiếng bước cộc cạch, vang lên đều đặn giữa đêm khuya vắng lặng, khi thì nhẹ nhàng như tiếng gió, khi như khối đá ném xuống sàn nhà. Lúc ẩn lúc hiện, đúng là bước chân của ma quỉ, hiện về lúc nửa đêm để chọc ghẹo, nhất định không buông tha tôi.

Bây giờ tôi không tức giận cau có nữa, mà chỉ nằm yên mở mắt nhìn trân trân lên trần nhà, rủa thầm… rồi suy nghĩ: “cha” này xỏ lá hứa cuội, cố ý nửa đêm chọc tức tôi, chớ không phải vô tình. Không lẽ để tình trạng này hoài sao? Hay kêu cảnh sát ! Ai mà giải quyết ba cái chuyện này. Cũng chỉ tại căn nhà này đã lâu đời rồi. Sàn nhà làm bằng gỗ, hở lớn ở trên, mình ở tầng dưới nghe rõ, đành chịu trận. Chịu không được tìm nơi khác dọn đi. Bây giờ tìm một chỗ ngay trong thành phố đâu phải dễ, mà ra vùng ngoại ô thì buồn… Trời! tính sao đây… Cộc cộc… Tiếng bước trêu ghẹo, chọc tức tôi. Tôi cảm thấy mình đã bị xúc phạm…

Tôi bình tĩnh mở cửa, nhẹ nhàng bước ra ngoài, đi thẳng lên lầu. Nhấn ngón tay thật mạnh, bấm chuông và bấm chuông. Ủa! sao vậy cà… không nghe tiếng chuông. Thôi rồi! “giây chuông” bị cắt đứt… Tên tây gió mắc dịch. Tôi đạp cửa nè… đạp đến mỏi chân, gõ đến sưng buốt mấy ngón tay, ông ta mới chịu ra mở cửa. Vừa trông thấy ông ta, máu tôi muốn dồn lên đầu, giận bắn người, cứng miệng. Tôi bỗng oà khóc tức tưởi, ông đứng chết trân nhìn tôi. Tôi vừa mếu máo, nhăn nhó (chắc mặt tôi lúc ấy giống như con khỉ đột). Tôi túm lấy áo “hắn” kéo ra ngoài, xuống nhà tôi, rồi để hắn đứng đó, tôi chạy ngược lên lầu, nện chân thật mạnh xuống sàn nhà, để xem ông đứng dưới có chịu được không?

Bước xuống thang lầu, tức quá tôi ngồi bệt trước cửa, khóc hu hu như… mưa dông. Nước mắt “cá sấu” của tôi làm hắn như gà mắc đẻ. Ông ta nhìn tôi, vừa như tội nghiệp, vừa như thương xót. A bắt được tâm lý hắn rồi… Nhìn đàn bà khóc là tây nó sợ. Thấy vậy, tôi càng khóc lớn, khóc già… hu hu… Ông ta hoảng hốt, gương mặt căng thẳng hiện ra. Khóc mãi mới thấy đọng mấy ngấn nước mắt. Tự dưng…tôi muốn được một lần, hắn đến bên cạnh, lau khô những giọt nước mắt đen của tôi. Nhưng không… hắn đứng đó… xa lắc, như người mất hồn, phờ phạc tái xám. Ông ta giơ tay thề bạt mạng, hứa không dám tái phạm sự vô ý, làm phiền hàng xóm nữa. Hừ ! dân ba xạo, cố ý thì có, vô ý gì tới ba, bốn lần lận! khéo mồm mép… Tiếng khóc, tiếng nói tôi quá lớn, đánh thức giấc ngủ ông tây già ở tầng dưới, rồi tôi nghe tiếng lão cằn nhằn, rồi tiếng cửa mở. Tôi thất kinh nín bặt; lão tây già khó chịu này, mà lên nhà tôi là có chuyện. Mất giấc ngủ của lão, ngày mai lão sẽ chưởi tôi suốt cả ngày.

Sau hôm đó, tôi không còn nghe tiếng động mỗi đêm trên lầu nữa. Bốn lần gây gổ với ông hàng xóm đâu phải ít, cũng đã trở thành kỷ niệm. Đêm nay, tôi gương mắt, ngước nhìn lên trần nhà lặng yên im ỉm, nghe sao mà lạnh lùng… Tôi lại nghĩ ngợi lung tung, chẳng ra đâu vào đâu. Đôi lúc lại mơ màng một cái gì đó thật xa xôi huyền ảo. Tôi thiếp đi, đến năm giờ sáng, lại thức giấc, bởi tiếng ngáy trên tầng lầu trên, lọt vào tai tôi. Tôi lại suy nghĩ… chỗ nằm của tôi, cũng một chỗ của ông ta. Nhất định là “hắn” nằm dưới sàn nhà, chứ không nằm trên giường, vì tiếng ò o tôi nghe rất rõ. Thiệt khổ! hết tiếng bước chân, rồi đến tiếng ngáy. Tiếng ngáy của ông ta, trùm lên đêm lẻ loi tôi đang tư lự một mình. Nếu gặp đêm mưa, có khác chi tiếng ểnh uơng kêu dưới hồ nước…

Tôi vừa nghe tiếng động khẽ, lần này không phải phía trên lầu, mà là ngay trong nhà tôi. Tôi run lên đến lạnh toát cả người, trườn khắp tứ chi. Trong bóng tối mờ mờ, rõ ràng tôi thấy một vật gì đen thui, cao lớn trong một xó, bên cạnh tủ để áo quần, đang giơ tay ra dấu, ý như bảo tôi đến gần. Tôi nằm co quắp, không dám thở mạnh, co rúm người lại, tim đập thình thịch cuống cuồng. Căn nhà đột nhiên lạnh buốt. Vật đen trong góc xó tủ, đang từ từ lăn lộn tới bên cạnh mép giường, giang hai tay như muốn kéo lấy chân tôi… Tôi run cầm cập, gân cốt không cử động được, cố mở mắt nhưng không mở được. Bỗng vật đen nhảy chổm lên giường. Khủng khiếp quá! tôi vùng ngồi dậy bỏ chạy, đụng phải cái ghế, tôi té lăn mấy vòng đau điếng.

Mở mắt ra, mồ hôi đầy mặt; thì ra là giấc chiêm bao. Tôi đang nằm trên giường mệt lả người. Không có gì xẩy ra cả. Đêm vẫn yên lặng như thường. Tôi úp mắt xuống gối không cựa mình, để nhớ lại giấc chiêm bao vừa qua. Lúc này tôi mới cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo giữa vũ trụ mênh mông. Căn nhà nằm gần bên xa lộ, tôi nghe tiếng xe chạy qua, tiếng người vọng lại. Trời bắt đầu sáng, căn nhà sẽ hết cô đơn, khi không còn dầm mình trong đám mù sương. Sau cơn lạnh mỏng tan, nắng ráo chóa vàng thay cho màu hồng đêm tối. Tôi đứng dậy mở tung cánh cửa, có tiếng gió bay vào, mang theo mùi hương của đất trời, trong buổi sáng sớm tinh mơ.

***0***

Hôm nay tôi phải đi chợ, làm tiệc khao các bạn, trước khi tôi đi qua Mỹ. Leo lên xe. Đề máy. Cái xe mắc dịch, trở chứng không chịu nổ. Thôi chết ! hỏng máy rồi… hư gì đang lúc đi chợ thế này! Định băng qua đường, đến trạm xe buýt, chiếc xe BMW chạy ngang qua, bỗng ngừng lại, de lui, đậu sát bên cạnh tôi. Nhìn qua cửa kiếng, tôi thấy ông này quen quen… Nhưng không nhớ mình đã gặp ở đâu. Đang đứng suy nghĩ, thấy người đàn ông trên xe mở cửa bước ra. Tôi hoảng hốt : Ui trời! “cha” ở tầng lầu trên. Mấy tháng nay im hơi, bây giờ mới gặp lại. Ban ngày nhìn rõ mặt coi bộ “hắn” cũng điển trai!.

Tôi đứng ngớ ra, còn hắn coi vẻ vồn vã, hỏi tôi đi đâu đứng đây. Tôi nói:

– Đi chợ nhưng xe đề không nổ.

Ông ta hỏi:

– Xe đậu ở đâu ?

– Đó đó.

Tôi chỉ ngón tay qua bên lề đường. Ông ta đến giở nắp thùng xe, dòm dòm ngó ngó gì bên trong, rồi lại leo lên xe, bảo tôi đưa chìa khoá đề máy. Máy quay bình bịch vài ba tiếng rồi im ru, không nhúc nhích. Ông ta nhìn tôi nói:

– Bình điện hết rồi, thay cái khác sẽ chạy ngon lành…đừng lo.

– Ngày mai thay. Tôi nói.

ông ta bảo:

– Chiều nay.

Tôi nhún vai:

– Chiều nay bận.

– Tôi thay cho….

Ông ta lấy ngón tay chỉ vào ngực mình. Tôi nghĩ bụng: Biết điều lắm. Ngon! Ông ta quay nhìn tôi không chớp mắt:

– Hàng xóm mà, có gì giúp đỡ nhau…

Rồi ông đi vòng qua bên hông xe mở cửa, nói như ra lịnh :

– Đi chợ nào để tôi chở đi.

Tôi hơi làm dáng:

– Đi chợ Tầu.

Ông ra dấu bảo tôi lên xe. Tôi ngoan ngoãn chui vô xe. Lên xe tôi ngồi im, lắng nghe tiếng bánh xe lăn đều, chầm chậm. Nhưng đầu tôi thì nghĩ rất nhanh: “cha” này mình đã quên mất đất, tình cờ gặp lại trong cái nháy mắt, rồi để “hắn” chở đi ngon lành, nghĩ có tức cười không ? Lúc nãy xe hư còn có chuyện để nói, bây giờ im lặng, tôi cảm thấy bối rối vô cùng. Tôi cứ nhìn thẳng, chẳng dám nhìn ngang, sợ vô tình gặp ánh mắt ông ta nhìn mình thì ngượng…chết. Đến ngã tư, gặp đèn đỏ ông ta nói:

– Tôi đi xa, mới về hai ngày nay.

Tôi à lên một tiếng. Té ra mấy tháng nay, không nghe tiếng ồn trên lầu vì ông ta đi vắng, chớ đâu phải tôn trọng lời hứa với mình đâu… Điệu này chắc mình phải dọn nhà đi nơi khác quá! Thấy vẻ mặt đăm đăm của tôi, hình như ông ta cũng đoán ra tôi đang nhớ lại chuyện cũ nên ông hỏi:

– Hình như cô lo lắng điều gì?

Nghe hỏi, tôi quay lại, bắt gặp hắn đang nhìn tôi cười… ruồi. Tôi im lặng không nói gì. Không nghe tôi nói gì, ông ta cũng không hỏi gì nữa. Xe chạy được một đoạn xa tôi hỏi:

– Tên ông gọi là gì ?

Đến lượt ông ta lặng thinh, không trả lời câu hỏi tôi, mà chỉ cười cười ra vẻ bí hiểm. “Cha” này lối! Tôi hỏi tên ông, ông ta lặng thinh. Tôi nghe ứa gan, lộn ruột, muốn mở cửa nhảy xuống xe cho rồi. “Cha” này sao ưa chọc giận phụ nữ thế nhỉ ? Tôi mà làm đàn ông như chả, sẽ có vô số phụ nữ mê tôi cho đến chết. Thấy tôi có vẻ giận, ông ta gợi chuyện:

– Tên cô có phải là Ngọc Anh không?

Còn khuya tôi mới trả lời. Đừng hòng. Biết tên tôi trên thùng thơ chứ gì. Dễ quá mà ! Tôi cũng hỏi lại:

– Ông có phải Raymond ?

Ông ta liếc nhìn tôi cười nửa miệng. Nhìn “hắn” lúc này không sao ưa được. Sao không… câm luôn đi! Đúng lúc cũng vừa đến trước cửa chợ Tầu. Xe ngừng. Tôi bước xuống. Hắn cầm tay tôi rất tự nhiên, hẹn tiếng sau trở lại đón tôi. Tôi nghe mênh mang cái nắm tay, như đang thầm thì khác lạ của hắn. Xe vọt chạy đi, tôi bỗng sực nhớ… Thôi chết rồi ! chùm chìa khoá xe, và chìa khóa nhà trong đó; lúc nãy đưa Raymond đề máy xe, “hắn” quên chưa trả lại tôi. Lỡ “hắn” không trở lại đón tôi, biết kêu ai… khổ quá đi mất thôi. Ui! cũng tại thấy “giai” cứ xớn xác quên đầu, quên đuôi hết trơn… biết sao bây giờ ! Thôi lỡ rồi, tới đó rồi hay, đi chợ trước đã…

Tay xách đầy giỏ thịt bước ra chỗ hẹn, tôi nhìn thấy xe Raymond đậu sẵn bên kia đường. Tôi thở một hơi nhẹ nhõm, may mà ông ta trở lại đón tôi, nếu không thì chẳng biết làm sao để vô nhà. Hú hồn…. Raymond nhìn thấy tôi vội vã bước xuống xe, đi đến đỡ lấy cái xách đầy những rau, thịt trên tay tôi. Tay phải Raymond cầm bàn tay trái tôi. Tôi để yên tay mình trong tay Raymond, và tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ, khi Raymond nắm chặt bàn tay mình để băng qua đường.

Hôm nay tôi ngủ dậy muộn, mà còn nằm nướng trên giường, chưa muốn dậy. Nắng chan hoà ngoài cửa, tít tắp cả vòm trời như hoa hồng trên phố, còn tôi thì đang nằm ẩn nấp trong một góc nhà, thong thả nghe trái tim rung động. Tôi đang cuốn hút một cái gì đó, còn nằm lại ở cõi lòng. Một đôi mắt vời vợi mông lung… cái nhăn mặt khật khùng, cái dáng thề thốt xin tha đầy trắc ẩn, những cái đụng tay bất ngờ nên tôi còn mơ mộng lắm! tưởng tượng ra lắm chuyện. Chuyện ồ ạt ầm ỷ đã qua, chuyện ngày mai sắp đến, mà nội tâm đang náo động vội vàng. Đang mơ hồ bỗng có tiếng bấm chuông. Tôi khoác áo ra mở cửa, thì ra là Raymond đưa mấy cái bánh Pain chocolat còn nóng hổi, để tôi ăn sáng. Mấy hôm nay sáng nào Raymond, cũng nướng bánh đem xuống cho tôi. Một buổi sáng Raymond trên lầu phôn xuống nói:

– Hôm nay anh được nghỉ, sẽ cùng ăn sáng với nàng.

Tôi nói nhanh:

– Chờ một tiếng nữa, tôi còn đang muốn nằm trên giường, chưa muốn… dậy.

Tôi và Raymond sáng nào cũng hẹn nhau để ăn sáng. Có khi tôi lên lầu chàng, khi chàng xuống nhà tôi. Tình cảm mỗi ngày thêm gắn bó. Chúng tôi thường xuyên gặp nhau luôn. Nhà chàng nhà tôi, chỉ cách nhau một cánh cửa khép. Sau này Raymond nhắc lại chuyện cũ, tôi phục Raymond quá sức! Đâu dè Raymond để ý tôi, mà nghĩ ra cách làm quen… kỳ cục như vây! Vô tình mình mắc bẫy. Rồi chúng tôi cặp bồ với nhau.

Raymond có hãng xây cất nhà cửa, nên làm việc rất dữ, có khi di chuyển việc làm cách Paris cả hàng ngàn cây số. Từ ngày quen tôi, cuối tuần nào Raymond cũng chạy bạt mạng về Paris, để rồi sáng sớm thứ hai, dậy thật sớm về lại tỉnh. Raymond thích không khí trong lành của đồng quê, nên Raymond mua căn nhà dưới tỉnh, để cuối tuần về đó nghỉ ngơi. Từ ngày yêu tôi, Raymond tính chuyện lâu dài, vẽ ra đủ thứ, nét mặt hân hoan ngập tràn trong nắng. Còn tôi thì nghe rất xa vời, cuộc đời này tôi chẳng còn tin tưởng, mong chờ gì cả. Tôi gật đầu cho qua câu chuyện, để cho Raymond hy vọng, ham muốn đợi chờ. Những đường nét trên khuôn mặt tôi, đã từng đem lại cho chàng miên man, tiếp nhận những lạc thú. Cũng có lúc nỗi dày xé trong tâm hồn chàng. Raymond yêu tôi bằng tử tế trong lòng. Tôi đã từng trải qua, những cuộc tình trong đời, nên không còn tự tin nữa. Tôi thương Raymond mà dành cho chàng tình cảm nồng nàn.

Raymond đưa tôi về giới thiệu với anh em trong gia đình chàng. Tôi đồng ý cho Raymond vui, nhưng trong lòng tôi không thích gì lắm. Qua đến ngày mai, và ngày mai nữa, đôi lúc gây sự với tôi việc này. Tôi không từ chối việc Raymond đưa ra trong tương lai, mà cũng không có vẻ gì chấp nhận. Tôi tầm thường như những phụ nữ khác, nhưng tôi điềm tĩnh và cương nghị, nhất định tôi không lơi lỏng bản tính. Tôi đã nhìn thấy trong đôi mắt thông minh của Raymond loé lên ánh lửa, đôi mắt ấy sẽ mải mê trong sự nghiệp của mình.

Những lần Raymond đi làm xa, tôi ngồi một mình nhìn bầu trời mây đen, nghe sấm sét ầm vang, như muốn rung chuyển cả căn nhà. Rồi đêm nghe mưa đổ xuống, mưa thật to thấm vào đất, thấm vào lòng người. Tôi chợt nhớ Raymond ray rứt. Nhớ nụ cười chung chiêng, bừng lên thêm rực rỡ nắng chiều xuân, bên dòng sông xanh nhạt. Tôi ở đây cứ chờ đợi Raymond ở xa kịp về. Chờ đợi trong những đêm trừ tịch tĩnh lặng. Trong nhà, tôi như cuốn hoa ủ dột, nằm nghe gió réo rắt bên tai, phập phồng một thứ cảm giác khó chịu, dâng lên trong lòng. Tự nhiên tôi khóc, ứa nghẹn. Tôi lại nhớ… chàng nữa rồi, nhớ những chuyện đã xảy ra… Raymond cố tình trêu ghẹo, đánh thức giấc ngủ tôi, với những bước chân đêm, để có dịp chàng được làm quen. Nhớ những buổi điểm tâm đầu tiên, dè dặt như đôi tình nhân vừa mới lớn, cả hai đều ngoan ngoãn nghe nhau, bên ly cà-phê thơm đặc ngọt đường. Nhớ những sáng tinh mơ, hai đứa phải dậy thật sớm, vội vã chạy về căn nhà ngoài nông thôn, chỉ lưa thưa mấy căn chung quanh cánh đồng, nhưng đầy hoa hồng nắng xanh thiên nhiên chỉ có tôi với Raymond. Nhớ những lần gây sự vô cớ, rồi ôn hoà một cách kỳ lạ của Raymond. Nhớ đêm Noel, tôi nằm vật ra tóc tai rối bời, để chàng đổ rượu nửa ngực, trên thân xác trần truồng, nuột nà mịn tăm… Rồi như con ngựa tinh khôn, chàng đưa răng cắn vào…. Tai, cổ tôi nóng hổi như đêm hừng hực, âm vang như những que tăm, châm chích nghe rợn cả người. Tôi bỗng biến thành chiếc lá trong hốc đá, bị con tằm đang nhai nhấu nghiến, nhanh chóng lạ lùng…

Đêm hồng ngọc đốt em vào lửa mắt
Nửa rực trời bung rừng cháy rung mây
Dòng mắt rền như mưa bão lung lây
Lòng chao đảo dục em lời vô nghĩa…

Tôi biết tôi không đòi hỏi một điều gì, khi Raymond ở bên cạnh tôi, với nét mặt không được thanh thản. Nhưng đôi khi Raymond nóng nãy một cách vô cớ, làm tôi sững người… Thỉnh thoảng như xuất quỉ nhập thần, tôi thò tay vào quần chàng đùa nghịch. Trên da non âm ấm, mấy ngón tay như con sâu bò lung tung, trên bụng, trên rốn… Lúc ấy tôi mới nhìn thấy trên khuôn mặt chàng, như mặt nước chao nghiêng, trong niềm say mê ẩn hiện ồ ạt vội vàng, rồi phẳng lặng rũ rượi, trong sự cám dỗ của lãng quên trên khuôn mặt sáng ngời, ẩn dưới nụ hôn sâu… để trở thành kỷ niệm.

Tình yêu bỗng có, bỗng dưng không. Tôi nằm đây vất vưởng tò vò, nghe âm thanh vô vọng tột cùng trong lòng. Cô đơn thật khủng khiếp dày xé tim tôi. Qua những lần yêu, những lần nhớ để rồi quên. Rồi lại yêu, rồi lại nhớ xót xa… Lại cứ thế tiếp theo, nên chẳng biết lấy ai là chồng. Nhưng yêu thì vẫn cứ yêu. Yêu đâu phải là tội là hư hỏng. Những giáo điều tình yêu, cũng chỉ là YÊU đã nói lên những giấc mơ về hằng đêm, dù hạnh phúc có xa xôi nông cạn. Tôi biết sao hơn… Biết bao điều cay đắng của tình yêu, đang xảy ra trong thế gian này. Lỗi tại ai? và sự nghiệp của Raymond, chẳng nghĩa lý gì với tôi, đã biến chàng thành một chứng bệnh, nghiêng về nghề nghiệp, làm Raymond quên đi sâu vào tâm lý của người yêu. Raymond làm việc xa tít xa, chàng lu bu công việc, chạy bên này, leo lắt bên kia, nên có lúc về lúc không. Không phải về mà ghé về. Chàng ghé về, để cho tôi kịp úp mặt đầm đìa hạnh phúc, vào niềm vui chút ít, cũng là những cảm giác…

Rằng ngày sang trống canh năm
Anh dậy em vẫn còn nằm trơ trơ. (Tú Xương)

Chàng dậy, mặt hốc hác tái xanh, đôi mắt trơn tuột. Điện thoại cầm tay bắt đầu kêu không ngừng. Công việc Raymond thật bề bộn, đã hiện rõ trên đôi mắt, phấp-phỏng lo-âu, bồn-chồn lòng dạ lúc nào cũng không yên. Rõ ràng tôi đang ở bên cạnh người, mà như chiếc bóng, đang khắc khổ lăn lộn với công việc. Bắt đầu bảy giờ sáng, đến ba bốn giờ khuya mới về nhà. Kiệt sức để chợp mắt một lát. Gần sáng chuẩn bị cho hôm nay, và ngày mai, rồi những ngày mai kế tiếp… Ôi! phức tạp trong nghịch cảnh cuộc đời. Và trong bóng tối mập mờ, tôi nhận lầm cái bóng chàng, là con beo hung hãn phi phàm, dù tôi có mở trao tráo đôi mắt, cũng không làm sao thấy được những gì bên trong. Những gì trừu tượng ấy, bây giờ thành cụ thể của nó. Sự thật là gì? Là Raymond đang từ từ, tiến dần đến sự bất lực, của sự cọ sát cơ thể. Những gì rời rạc vô thức, dừng lại giữa kiếp người, trong khoảng mênh mông. Những lạc thú không còn cảm giác chất chứa, khi cặp môi dại khờ tôi như bướm hồng nhỡn nhơ trên má chàng. Raymond nằm trơ trơ, trầm tư u-mặc như khúc gỗ. Chàng miễn cưỡng như một điều bắt buộc. Đó là triệu chứng sự làm việc quá độ chăng ? Raymond tự giam mình, trong phạm qui nghề nghiệp. Raymond không lo chữa bệnh, chàng đã quên mất cái ý nghĩa thâm sâu của cuộc sống. Rõ là sự phi lý… Dẫu một phụ-nữ non-nớt, đa-cảm đa-tình như tôi, trong đó có pha-phách ít nhiều sai lầm tư-dục, cũng không đi quá xa sự thực như chàng… Tôi khóc. Raymond dỗ dành trên đôi môi tham lam, như đang reo mừng trong khóe mắt si tình tôi.

Mấy tháng nay Raymond thường xuyên đi bác sĩ, để theo dõi bệnh chàng, tôi khuyến khích chàng như vậy, và tôi đã mềm lòng, với những tiếng thở dài của chàng, như đang nằm trong ngực tôi. Tôi cho Raymond niềm hy vọng. Tôi biết tôi yêu Raymond với tình yêu chân thực nồng cháy.Tôi có thể sống bên Raymond để chờ những tháng năm dài cuộc thử nghiệm. Tôi ở bên Raymond được bao lâu, khi bệnh chàng không dứt khỏi ? Tôi bỗng rùng mình lo sợ, sợ cho Raymond sợ cho tôi. Tôi biết chàng và tôi đều khổ như nhau, khi Raymond gầm lên khe khẽ bối rối, làm cồn cào lòng tôi. Chàng duỗi chân. Thân hình dài dài thanh mãnh tôi, nằm trên người Raymond dễ chịu. Chàng và tôi đều căm giận như thế này. Hãy kiên nhẫn ! Tôi thô bạo cử chỉ, dè xẻn lời nói, hai tay gợi cảm lạ lùng, rần rần dồn lên muốn khụyu ngã. Trời ! thân hình Raymond lẳn chắc, tràn trề thứ ánh sáng làm thu hút lòng tôi như cơn dịch sốt. Đùi chàng chạm vào ngực tôi, cứng lại, không thở được. Bủn rủn. Cặp mắt tôi như diều hâu, rực lên như tia chớp. Raymond nhìn đăm đăm vào tia chớp bập bùng, vừa man rợ vừa mê đắm của loài ngựa hoang, có trái tim khác thường, ăn rất ít nhưng không chịu được khát đang vẫy vùng leo núi, băng qua những con đường, về phía rừng ma trong cơn mưa, có mạch nước ngầm từ ngàn xưa, đang phun lên không ngớt. Và, đuôi con công chỉ xoè nửa vòng. Không ánh nắng, không trời xanh, tất cả chỉ một màu, bên cái hang đá rêu rong ủ bám xanh rì. Vừa đủ để cảm xúc trào dâng, rồi chùn xuống bóp nghẹt tim chàng dồn đến tận cùng. Run rẩy mồ hôi Raymond toát ra, tôi nghe loáng thoáng chàng lắp bắp, những si mê cuồng dại. Nhưng… chàng rít khẽ nằm vật ra rã rời, giữa đống rạ chăn ấm áp, mặc cho tôi úp bàn tay trên đôi ngực trần, như cây già buông rể phủ kín. Tôi cảm thấy đắng khô miệng lại, ứa nước mắt chảy xèo xèo lên ngọn lửa đỏ rực. Chàng sống giữa bạc tiền, chàng chịu đựng, chàng mua bán rất đam mê hứng thú. Bây giờ Raymond cảm thấy cuộc đời tẻ nhạt, nhàm chán vô nghĩa. Raymond bỗng rùng mình, vì sựï im lặng chung quanh, sự lặng thinh kinh hoàng. Raymond khóc. Tôi ép sát người vào chàng thở dốc, tôi thương Raymond vô tận. Tôi cứ để cảm xúc gợn chút hơi nóng, bên trong cảm giác yếu ớt của ngọn nến đã tàn. Trong bóng đêm Raymond hôn tôi, tràn ngập tình cảm biết ơn. Tôi vẫn tự tin giữa xa xôi mênh mông, chẳng xẩy ra điều gì. Nhưng thoắt cái nó đã xẩy ra, và sẽ tiếp tục cho những năm tháng tới? Hy vọng trong một phần nghìn bỗng tiêu tan… Tại sao phải dày vò nhau như thế ? Ôi tình yêu ! hy vọng, là địa ngục của tôi. Thượng đế đã ban cho loài người, một tuyệt dịu nhất trên đời, đã làm cho tôi hóa điên hoá dại, khi tỉnh dậy thấy mình bàng hoàng, cảm giác đau xót ngập tràn.

Raymond vui trở lại với những công việc hàng ngày, nhưng đôi mắt vẫn sâu hoắm, phảng phất tia lạnh. Còn tôi thì tiếp tục tái tê ngày với ngày, đêm với đêm u hoài lẻ loi, nghiêng lệch một góc trời. Mưa đá rơi bên thềm nhà, khiến tôi thót tim. Tôi còn trẻ mới hai mươi sáu mà lại gặp rắc rối, rỗng tuếch của tình yêu, tôi sẽ hóa cành cây khô, chứ đâu phải một bông hoa ? Raymond từng nói với tôi, chàng sẽ xin về hưu non, thời giờ còn lại dành tất cả cho tình yêu, cho tuổi mùa xuân của tôi, tuổi đẹp nhất trong đời. Tôi cười. Raymond biết đây là nụ cười buồn, những gì thảng thốt trong tim tôi còn lại. Những lúc bên cạnh chàng, tôi lại không dám hẹn hò, bởi sợ những cái mong manh của những nụ hôn dài, khát khao ấp ủ khờ ngất trong tay người, theo những đam mê, mà tôi cảm thấy chưa được bình yên. Đàng nào rồi anh cũng lại đi, bỏ em một mình để đợi chờ, để nhớ nhung. Hãy để em định đoạt nhé!.

Tôi chợp mắt được một lúc thì nghe tiếng điện thoại. Một nỗi sợ hãi hồi hộp trong lòng. Raymond đến giờ này là gọi phôn cho tôi. Tôi nằm yên nghe tiếng chuông kêu. Tôi không muốn hẹn hò, không muốn quyến luyến, những lời thương nhớ, than thở của Raymond nữa. Tôi nồng nàn tất cả và cũng lãnh đạm tất cả với Raymond. Tôi không muốn gặp lại Raymond, khi biết lòng mình đang buồn nản thất vọng, và sự mệt mỏi tận đáy sâu tâm hồn, đờ đẩn hiện lên nét kẻ si tình chua xót…

Điện thoại im, rồi lại kêu vang. Tiếng chuông kêu réo những khát khao hò hẹn, những tuyệt vọng chứa chan. Tôi lờ đi lầm lì đoạn tuyệt. Reng reng… Lập tức tôi rút dây, cúp điện thoại, để không còn sự liên hệ nào gắn bó với Raymond nữa, dù bên tai tôi còn văng vẳng lời thì thầm da diết, của những lần tựa đầu hò hẹn níu kéo. Tôi bừng thức… và tôi khóc rất nhiều, không biết giọt nước mắt khóc cho tình yêu, hay khóc cho thân phận mịt mù chất đầy trước mắt ! và tôi cảm thấy an ủi tâm hồn mình, bằng những dòng nước mắt cảm thương. Thế là xong coi như là chuyện xa lạ với mình. Chỉ còn lại những dư âm rắm rối, rồi cũng sẽ bay theo ngày tháng nhạt nhòa.

Cuối cùng tôi vẫn là tôi, suốt bốn mùa trong những ngày óng mượt trăng sao. Cơn gió ào ào thổi qua khe cửa, một cảm giác buồn da diết xâm chiếm. Tôi buồn tôi, buồn cho Raymond vì sự nghiệp quyến rũ, để mất tình yêu tiêu tan như giá rữa. Chàng chưa hiểu ! rồi chàng sẽ hiểu : Quá khứ là kinh nghiệm sống của con người.

Buồn cho tôi cứ lao vào ảo vọng, thành tiếng khóc hằng đêm. Cảm giác này tôi cứ tưởng là thứ hạnh phúc, suốt ngày suốt tháng trong lòng người. Nhưng nó đã biến thành lạnh lùng, vô cảm, thản nhiên để kết thúc số phận của cuộc tình….

Bich Xuan
bichxuanparis@yahoo.com

Advertisements

Thêm bình luận Tháng Bảy 14, 2007

Con Búp Bê Việt Nam

En Vietnamesisk Dukke av Vigdis Stokkelien
Dương Kim
dịch

Mỗi buổi sáng, khi Esther kêu lên như một con chuột trong phòng ngủ, Gril vẫn còn hy vọng đấy chỉ là cơn ác mộng. Đứa bé vẫn chưa đến, chút nữa nàng sẽ lên phố, chọn mua những chiếc áo đầm xinh xắn, đôi giầy nhỏ, mấy con gấu lông xù, vài con búp bê mềm mại, những khối gỗ để xếp đồ chơi, ăn trưa với Leif, sẽ tính mọi việc về “đứa bé mới”: Vườn trẻ, đi dạo sở thú…

Esther nằm trong chiếc giường trẻ nhỏ, màu vàng. Nó nhìn vào khoảng không, đôi mắt chẳng biểu lộ gì. Mấy cái màn che cửa sổ, vui tươi với những hình vẽ Donald Duck, lay động trong cơn gió hiu hiu từ biển, Gril có thể nghe thấy những đợt sóng đập vào bờ. Không khí bốc mùi đất nóng và mùi hoa bạch anh đào.

Tất cả những gì nàng mua trong thời gian đợi chờ lâu dài, vẫn nằm đấy, bất động trên cái tủ dài và thấp:

Một con búp bê trắng và một con đen, một cái nhà búp bê sơn đỏ, trong có nhiều đồ xinh xinh, một trái banh có sọc, những khối gỗ để học chữ cái, cái kèn, cái trống, cái thùng và cái xẻng. Mỗi thứ đều được chọn bằng tất cả sự quan tâm. Nàng còn dự tính đi tìm một con búp bê Việt Nam, nhưng tìm không ra. Rồi nàng mua một con búp bê da đen, tóc quăn, nghĩ chắc con búp bê này “giống như ở quê nhà Esther” hơn con màu trắng. Nhưng nước da của Esther đâu có xậm, da của nó rất sáng. Mấy chiếc áo đầm trong tủ cũng chưa mặc đến, đứa trẻ đã bốn tuổi mà chỉ mặc vừa quần áo của đứa bé ít tuổi hơn. Khi Gril bồng đứa bé gái ra khỏi chiếc giường, từ người nó toát ra một mùi hăng hắc nặng, là lạ, tưởng như mùi vỏ cây.

Trong khoảnh khắc nàng cảm thấy nó thật đáng ghét. Tóc trên đầu lưa thưa, vài giọt mồ hôi lăn trên trán.

Đôi mắt nâu, nhỏ, nhìn nàng chòng chọc, nhưng đứa bé đã nín không kêu la nữa.

Lúc ở phi trường, nàng và Leif đứng cùng với tám người cha mẹ nuôi khác. Nàng đã cảm thấy có cái gì không ổn. Nhà báo địa phương đến chụp hình:

Leif nhấc đứa trẻ lên, nàng đưa cho nó con búp bê da đen, trong khi ấy đứa bé cứ trơ trơ, nhìn giống như một hình nộm Á đông bằng ngà voi.

Đến tối, nhiều người trong gia đình đến coi “đứa bé mới” ấy. Esther ngồi đấy, nơi họ đặt nó, trên sô-pha màu xanh dương, nó nhìn thẳng ra phía trước, chồng quà trong những giấy tươi vui, nằm bất động.

– Chở con bé thẳng vào nhà thương đi, trước khi con thương yêu nó, bà mẹ chồng nói.

– Tội nghiệp, nhưng má có kinh nghiệm nhiều về con nít, và đứa bé này không bình thường đâu. “Thương yêu”.

Nàng bối rối khi bồng đứa bé, cảm thấy cùng một lúc những cảm xúc mãnh liệt: sự ghê tởm, sợ hãi, lẫn thương xót. Một trong những người bạn gái có khuyên:

– Người ta có quyền khiếu nại khi nhận một đứa trẻ như thế này, anh chị có lòng tốt đón nhận đứa bé, thì họ không nên gởi đến mình một đứa đần độn như vậy.

Nhưng nàng chắc chắn đứa bé không đần.

Trong lòng nàng có một cảm giác kỳ lạ là Esther đang say ngủ, nếu nàng có thể đến với bé, thì bé sẽ thức ngay.

– Có lẽ mình nên đem nó đến một nhà tâm lý nhi đồng để khám nghiệm cho nó xem sao.

Đêm trước Leif nói thế.

Chàng đã thử nói chuyện với con bé, chỉ vào mình, nói “pappa”; chỉ vào con búp bê, nói “baby”.

Lúc chàng đứng dậy, nàng nhìn thấy mặt chàng mồ hôi ướt đẫm, chàng đã cố gắng giấu sự bất mãn.

***

Nàng cho nước vào bồn tắm, đặt Esther vào đấy. Cởi áo nó ra, thiệt tội nghiệp, bụng nó ỏng, chân tay nhỏ, sự thăng bằng của nó cũng yếu, đầu lắc qua lắc lại, người hơi giật giật. Nom giống như một điệu múa kỳ lạ.

Nàng sợ sát sà-bông vào chân tay đứa bé, cảm thấy sự ghê tởm bò quanh mình, tay nàng giựt mạnh khi chạm vào làn da căng của nó.

Một buổi sáng, lúc Esther nằm yên trong cái khăn tắm màu xanh dương, để cho nàng lau chùi, một cảm giác tuyệt vọng dâng lên trong lòng Gril.

Gril gọi dây nói tới y-tá, người đã đem đứa bé vào xứ này, mong được sự chỉ bảo, hỗ trợ, hoặc có lẽ nàng muốn người y-tá sẽ đem đứa bé đi nơi khác, những chuyện về nó rồi sẽ lắng xuống trong ký ức như một giấc mộng dữ.

Người y-tá giận dữ:

– Tôi tưởng ông bà là người chín chắn, bộ ông bà ngỡ sẽ nhận được con búp bê từ một nước đã ở trong chiến tranh lâu dài sao?

Rồi người y-tá nói đến những sự kinh hãi mà Gril không thể nào hiểu rõ, nào là bom săng đặc và chết chóc. Chẳng có gì đáng nghe.

– Ngay đến ngôn ngữ của nó cũng chẳng hiểu, người y, tá nói tiếp, đừng mang nó đi lòng vòng đến bác sĩ chuyên khoa làm gì, hãy cho nó thời gian và đầy đủ tình thương…

Nàng đặt chiếc thuyền nhỏ mà nàng đã mua cách đây vài hôm, xuống bồn tắm; đẩy chiếc thuyền qua lại, nàng kêu: – Tutututututut.

Trong khoảnh khắc, Esther theo dõi chiếc thuyền, vẫn không có chút dấu hiệu của sự vui vẻ qua ánh mắt Á đông xếch lên?

Không, nó chỉ nhìn thẳng, bất động.

Gril mặc áo cho đứa bé gái, bồng nó vào bếp, lấy vi-ta-min, bột ngô (cornflakes), trứng luộc.

Bé Esther ăn được đôi lần đầy miệng.

– Esther, mình ra biển tắm nhé? Tắm nhé?

Trong đôi mắt đậm có ánh lên niềm vui vẻ không? Esther có hiểu gì không? Bé hiểu như thế nào? Cả ba tuần nay, đứa bé không thốt một tiếng, cũng chẳng nói lời nào, dù bằng ngôn ngữ của nó nữa.

***
Lúc ra tới bãi biển, Gril đã phải cam đảm chịu đựng, vì trên đường và cả trong công viên người ta đã nhìn theo nàng, dị nghị: Con nhỏ Việt Nam kia kìa, họ mang về nuôi, vì chính họ không có con. Cô ta không sanh nở được. Họ phải rước về một con bé đần độn. Coi kìa!

Nếu Esther muốn, nó có thể đi, đi vài bước trong công viên, rồi ngồi bệt xuống đất, đầu lắc qua lắc lại; lúc Gril nhấc bé đứng lên, người nó lại cứng đơ. Gril đã mua chiếc xe đẩy trẻ con cho đứa bé bốn tuổi này; ngồi trong xe, nó vẫn cứ cứng đơ như cây que và nhìn thẳng về phía trước.

Trên đường ra bãi biển, Gril nói ríu rít với con bé:

– Nhìn cái cây kìa, xe kia chạy nhanh quá, coi con mèo kìa, con chó gầm gừ kìa, hoa…

Tất cả những ai họ gặp, đềøu nhìn chằm chặp vào hai người, nhìn xoáy vào đứa bé ngoại quốc. Gril khóc.

Trong chín tháng trời, trước ngày nhận con nuôi, nàng đã mơ ước tình trạng sẽ ra sao, tưởng tượng hai người chạy ra bãi biển, chơi trong công viên như thế nào. Nàng tưởng đứa bé sẽ tràn đầy hạnh phúc khi vào một nhà như thế này, ở trong một vi-la có vườn tược, đồ ăn ngon, nhiều đồ chơi đẹp, có phòng riêng. Họ đặt tên đứa bé là Esther theo tên bà nội của Leif. Với nàng, giờ chỉ còn một cảm giác lạnh nhạt: Đứa bé không được giữ tên của nó, tất cả đều xa lạ ghê sợ với nó. Ở bãi biển, Gril nhấc đứa bé lên cao.

Một con hải âu vươn đôi cánh rộng lớn, bay đến họ, thân chim mảnh khảnh lắc lắc.

– Chim, chim kìa!

Gril vừa nói vừa chỉ, nhưng bé Esther không nhìn theo. Gril đặt bé trên một tấm mền, lấy ra cái thùng và cái xẻng màu mè tươi vui, xây thành quách, trang trí bằng vỏ sò, cỏ thô, và có hào chung quanh thành. Xa xa ngoài bãi biển, có vài đứa trẻ cười đùa, chúng chơi banh dưới nước, trái banh có nhiều chấm.

Bỗng nhiên bé Esther khóc:

– Má, tắm.

Nàng muốn bơi xa thiệt xa, bơi và cứ bơi cho tới khi nào nước làm cho nàng dịu đi cái cảm giác chán nản này? Nước chảy lành lạnh tới đùi Gril. Bé Esther ngồi đấy trên tấm mền, nàng thấy bé nhìn mình, bé muốn vẫy tay. Gril nằm trôi trên mặt biển. Mặt trời ở ngay trên cao và bãi biển. Phía tây có mây đen kéo vào trên những cù lao.

Trên bãi biển, Esther ngồi như bức tượng, chỉ có mấy sợi tóc phe phẩy trong gió hắt hiu.

Khi Gril vào bờ, nước biển văng vào bé Esther, nàng quỳ gối trên cát, xúc đầy cát vào những thùng màu sặc sỡ; nghiêng thùng, nàng nói:

– Bánh bằng cát này, bánh bằng cát này.

Y như là đang nói chuyện với đá vậy.

Lúc ấy có một ngón tay nhỏ, tựa như tình cờ đến gần mấy cái bánh bằng cát, nàng cầm bàn tay gầy gò ấy vào tay mình, và đưa cho cái thùng với bánh cát.
Bàn tay như run lên nhè nhẹ.

Bé Esther đã ngủ, Gril dựng một loại như dù che nắng lên, nằm xuống, nhìn mấy đám mây chuyển động. Hồi còn nhỏ, nàng tưởng tượng truyện cổ tích trong những đám mây như thế này; ngắm chúng chuyển thể lạ lùng ra sao: Ông tiên, quỉ, bà tiên trong truyện cổ tích.

Thỉnh thoảng mây hiện nguyên hình tàu hải tặc trên trời, với những cánh buồn căng và thuyền trưởng Kidd trong đám đông. Giờ mấy đám mây tụ lại, sự ảm đạm bao trùm bãi biển.

Chắc Gril cũng đã thiếp ngủ, vì lúc nàng nhìn lên, trời đã tối. Bé Esther ré lên:

– Nhà, mình về nhà?

Gril cảm thấy tê cóng mệt mỏi, gần như không đủ sức đẩy cái xe trên bãi biển.

Khi ở nhà cũng thế. Gril cứ qua lại nhìn bé Esther trong khi sự ngã lòng cứ tăng lên. Kệ sách dính đầy bụi, chén bát đã ngập đầy chậu; nàng dùng thức ăn làm sẵn cho bữa chiều, không còn đi tiệm hớt tóc nữa, chẳng còn uống cà-phê sáng với mấy bạn gái.

Ánh chớp lóe ngoằn ngoèo trên trời.

Esther động đậy, tức thì dây thần kinh dồn xuống những ngón tay, Gril cảm thấy bàn tay lay chuyển.

Bé Esther đứng dậy, tay nắm chặt một cây gậy, đứng nhìn nàng. Thiệt là ghê sợ, như một người chết sống dậy, Esther buông cây, thụt lùi một bước.

Esther nhìn nàng, Gril cảm thấy sự căm hờn trong mắt nó. Lúc ấy sấm sét nổ trên bãi biển, ánh chớp ngoằn ngoèo lao xuống sóng biển. Esther phóng ra phía trước, Gril chụp lấy đứa bé, ngã xuống cát cùng với nó. Esther trở nên điên dại, bé cào cát, gắng sức vùi mình xuống.

Sấm chớp rất gần, Gril thấy sét đánh xuống, cát bị tung lên. Tức thì Gril ép lấy Esther, phủ nguyên người bé bằng chính thân nàng, thì thào những câu an ủi vào tai bé, nghe cả tiếng nức nở của chính mình. Nàng xấu hổ, lau nước mắt, hy vọng không ai nhìn thấy.

Esther vẫn còn khóc nức nở.

Và nàng hiểu ra ngay, Esther tưởng có bom đạn tấn công, phải vùi mình xuống đất như khi trước, cố tìm chỗ ẩn núp. Gril cảm thấy một nỗi đau đớn êm dịu, ôm sát đứa bé vào mình, hôn lên tóc nó, lên mặt, lên mũi, thì thầm những câu vô nghĩa như:

“Esther của má, má ở đây không có bom đâu – chim hải âu đấy – không phải máy bay đâu – sấm sét đó.”

Trong khoảnh khắc Esther la hét sợ hãi, rồi nó nhìn thẳng vào Gril.

Một bàn tay bé bỏng vuốt ve trìu mến trên má Gril, những ngón tay nhỏ bé mơn trớn.

Rồi, cả hai ngồi đấy khóc lớn, nức nở.”

Dương Kim

Thêm bình luận Tháng Bảy 13, 2007

Bến Xưa

Thường ngày, khi hoàng hôn vừa tắt nắng tiếng dương cầm trầm bổng trổi lên bản nhạc ‘’Lettre à Élise’’ của Beethoven. Và đôi khi người ta còn nghe tiếp bản ‘’Những Lá Thư Tình’’ của nhạc sĩ Anh Huy. Tiếng đàn êm dịu phát ra từ vi-la ‘’Nhựt Yên’’, nằm cuối đường Balzac, khu nhà mới xây cất khoảng mười năm nay, trong vùng Bussy-Saint-Georges cách Paris khoảng ba mươi cây số, của đôi vợ chồng người Việt Nam. Họ dọn về đây mấy năm nay mà không làm quen – giao thiệp với bất cứ ai trong xóm. Những người hàng xóm rất lấy làm lạ, thường xúm lại hỏi nhau :‘’Hai vợ chồng người Á-Châu kia. Họ là ai ? Làm nghề nghiệp gì ? Mà cuộc sống của họ có vẻ kín đáo và bí mật thế ?’’…
*
… Đầu thiên niên kỷ thứ ba, vào một đêm cuối tuần của mùa đông buốt giá, tuyết rơi trắng xóa bao phủ cả trời Tây. Ông Phạm Tân Nhựt, cựu Giáo sư trường Đại học… Paris…, sống độc thân trong một căn appartement ba phòng khá khang trang gần công-trường Madeleine quận 8 Paris. Ông rất nghiêm trang, đứng đắn, dáng vóc cao ráo. Tuy tuổi ông đã quá lục-tuần, nhưng trông không già lắm, gương mặt vẫn còn ‘’đẹp lão’’, đôi mắt trong sáng đầy nhựa sống, nhưng ánh mắt hơi buồn. Dường như lúc nào ông cũng mơ mộng, gởi hồn vào tận cõi xa xăm !
Sau khi Tân Nhựt ăn cơm xong, ông ngồi nhìn qua song cửa thấy tuyết đã ngừng rơi, ông lưỡng lự, tự nhủ :‘’Mình phải sửa soạn đi ra ngoài mới được. Ở nhà đọc sách, xem ti-vi hoài cảm thấy chán nãn sự đời thêm !’’. Ông đứng lên đi đến bàn phấn ngồi trang điểm… Lấy mái tóc giả chấm vai trùm lên đầu, độn ngực, mang vớ đen, mở tủ lựa chiếc rốp màu đỏ dài khỏi đầu gối mặc vào, mang giày và xách tay cùng màu để sẵn sàng, rồi với tay lấy hộp móng tay giả đã chuốt sẵn và sơn màu đỏ choét dán đều mười ngón tay.
Sửa soạn xong, ông đứng trước gương, ẹo mình, xoay qua, xoay lại, ngấm nghía, miệng mỉm cười, tự khen :‘’Ô ! Nhựt Lan ! Mi vẫn còn đẹp !… Kể từ giờ phút này, Tân Nhựt là Nhựt Lan như thường khi đấy nhé !’’. Rồi ông lấy áo măn-tô choàng qua vai… Ra khỏi nhà nghe lòng thoải mái đôi chút. Ông sửa tướng như đàn bà, uốn mình, õng ẹo đi lang thang trên đại lộ Capucine. Bất chợt, ông nhìn thấy tấm bảng nhỏ gắn bên hong ‘’Club Privé – L’ Âme de la Fleur’’ (Linh Hoa – Câu Lạc Bộ – Tư Nhân), ông tự thốt lên :‘’Đúng là đây rồi ! Chỗ này, mình nghe ông bạn Jean-Paul… nhắc hoài. Mình thử vào xem…!’’. Ông ngần ngừ vài giây, rồi đưa tay nhận chuông… Yvonne (trai giả gái) khoảng hai mươi tuổi, dáng vóc mảnh mai, phấn son lòe loẹt, mái tóc vàng cắt kiểu bôm-bê, mặc mi-ni-rốp thật ngắn, có kim tuyến lóng lánh, kín ngực, nhưng phía sau khoét hình trái tim lớn hở gần hết lưng, mang giày-bốt trắng, gót cao, dáng đi õng ẹo ra mở cửa :
– Chào bà !
– Chào cô !
– Bà có hẹn với ai ở đây không ?
– Dạ, thưa không. Xin lỗi, tôi có làm phiền gì không ?
– Không. Rất hân hạnh. Xin mời bà vào…
Tân Nhựt theo chân Yvonne bước vô trong, ông cỡi áo lông… màu nâu đậm đưa Yvonne… Ông làm dáng yểu điệu kiểu cách như một mệnh phụ, chễm chệ ngồi xuống chiếc ghế nhung màu xanh dương trước cái bàn tròn nhỏ. Ông nhìn chung quanh, phía trong góc có để cây đàn dương cầm. Đã có khoảng vài ba chục người khách, đàn ông lẫn đàn bà (?) ngồi từng nhóm đang chuyện trò, cười giỡn vui nhộn. Họ trưng diện quần áo màu mè, kim tuyến lóng lánh… Những giọng nói Âm-Dương lẫn lộn nghe eo éo, ồ ồ… Vì nơi đây, có những vị khách rất ‘’đặc biệt’’. Họ đến uống rượu, uống nước, nghe nhạc… Nơi đây, nhân viên toàn là trai giả gái hoặc ngược lại. Quang cảnh, đèn mờ mờ, ảo ảo đủ màu ; tím, đỏ, vàng, xanh, trông rất ‘’Liêu Trai…’’. Nếu là người bình thường, lần đầu tiên đặt chân nơi chốn này thì không thể nào phân biệt được, ai trai, ai gái ?
Yvonne máng áo xong, đi đến trước mặt Tân Nhựt :
– Thưa bà ! Bà dùng chi ?
– Tôi có thể xem carte được chứ ?
Yvonne làm duyên, õng ẹo :
– Dạ, có ngay.
– … …
Tân Nhựt lật vài tờ và đọc sơ :
– Cô cho tôi xin chai Champagne Cristal.
– … …
Nãy giờ, Tân Nhựt để ý người đàn ông Á-Châu, tuổi ngoài bốn mươi, (gái giả trai, tên Minh Yên) đang đứng trong comptoire. Tân Nhựt nghe tim mình xao xuyến, tự nhủ :‘’Hắn đẹp trai quá ! Mình thử mời hắn đến uống với mình, coi hắn chịu không ? Chắc hắn là ông chủ ở đây ?’’. Tân Nhựt đưa bàn tay dịu nhiễu ngoắt Yvonne :
– Cô có thể mời ông chủ đến uống Champagne với tôi được không ?
Yvonne vén mái tóc và hất qua bên trái, cô biết Tân Nhựt là loại nào rồi. Vì nghề nghiệp nên phải rót mật ngọt vào tai khách :
– Chắc chắn được liền… Người đẹp mời làm sao dám từ chối !
Yvonne nhìn Minh Yên ra dấu, gật đầu. Tuy nơi đây ít khi có khách Á-Châu, nhưng dù Á hay Âu gì cũng là khách. Minh Yên tự hỏi :‘’Không biết ‘’Má’’ này từ đâu đến ? Coi bộ hơi ‘’quê quê’’. Nhưng cũng có chút tư cách. Chắc là dân Nhựt Bổn !’’. Nàng tự nhiên như Tây-đầm, tay rút điếu thuốc ghim vào ống điếu nhỏ, cầm theo gói thuốc lá và hộp quẹt, tướng đi mạnh dạn như phái nam, vòng ra ngoài và ngồi xuống bật lửa đốt thuốc, phì phà vài hơi, tay mở gói thuốc :
– Dạ, xin mời bà !
Tân Nhựt lắc đầu :
– Dạ, cảm ơn ông. Tôi đã bỏ hút thuốc từ lâu rồi.
Tân Nhựt nhìn chai Champagne, thì Yvonne đem thêm một cái ly nữa và rót…
Minh Yên làm ra vẻ như đàn ông, liền nâng ly :
– Dạ, xin uống cùng bà.
Tân Nhựt nâng ly… hơi thẹn thùng, nói :
– Xin… ông gọi tôi… Nhựt… Lan !
– Ô, Nhựt Lan ! Tên của bà đẹp quá ! Xin lỗi, phải bà là người Việt Nam không ?
– Vâng !
– Tôi cũng vậy. Gặp được người đồng hương, tôi vui quá… Vì lâu rồi, tôi chẳng được nói tiếng Việt, nên rất thèm… Xin bà gọi tôi Minh Yên đi nha !
Tân Nhựt lảm nhảm : ‘’Minh Yên ! Minh Yên !’’. Ông hỏi :
– Ông là… là chủ ở đây à !
– Không. Tôi chỉ làm quản lý thôi !
– Chắc ông sống ở Pháp lâu rồi chứ ?
– Hơn hai mươi bốn năm ! Còn bà ?
Tân Nhựt im lặng vài giây :
– Tôi thì qua đây lâu lắm rồi !
(……)
Đôi bên chuyện trò qua lại, mà đã hơn mười giờ đêm. Một nữ nhạc sĩ (?) tha thướt bước ra, nhún chân chào quan khách, trên đầu đội vương-miện gắn kim cương chiếu lấp lánh, mặc chiếc áo đầm màu trắng ngà kiểu cổ-điển xa xưa, trông giống y như Hoàng Hậu Josephine, ngồi xuống đệm dương cầm. Tiếng nhạc trổi lên với bài ‘’La Vie En Rose’’(?). Một nam ca sĩ hóa trang Hoàng Đế Napoléon lên cầm micro… giọng hát khàn khàn nghe rất chuyên nghiệp. Nhưng ánh mắt chàng ta cứ nhìn về bàn của Nhựt Lan và Minh Yên… Khi bài hát vừa dứt, tiếng vỗ tay và la ó ‘’bis-bis’’… Nhưng ‘’Napoléon’’ không hát nữa. Chàng để mặc tình cho ‘’Josephine’’ đệm đàn…
*
Tân Nhựt về đến nhà hơn ba giờ sáng, tâm hồn lâng lâng như bay bổng tận mây xanh. Ông nghe tim mình là lạ, lòng hơi lo và nghĩ :‘’Trời ơi ! Mình đã yêu Minh Yên rồi sao ? Sẽ khổ nữa chăng ? Ha ! Con tim không có tuổi, yêu thì cứ yêu ! Nhưng khổ vì yêu là ‘’thú đau thương’’. Ta cần phải có Minh Yên, người lý tưởng của tôi ơi !’’. Đôi mắt ông mơ màng và ôm thương nhớ hình bóng Minh Yên. Vì ông đinh ninh Minh Yên là đàn ông thật. Ông ngả mình trên giường lăn qua lộn lại và ngâm thơ :
Đêm nay hồn bổng xoay chiều
Yêu ai, ai hiểu những điều ta mơ ?
*
Sau cả tháng trời, Tân Nhựt thường lui tới nơi hộp-đêm nho nhỏ này. Rồi một hôm ông không thấy Minh Yên nữa. Ông kiên nhẫn trở lại nhiều lần, nhưng Minh Yên vẫn bặt tăm. Đêm nay còn sớm, khách mới vô lai rai có mấy cặp, họ ngồi tuốt bên trong. Nhựt hỏi nhỏ Yvonne :
– Cô Yvonne ! Sao lâu rồi, tôi không thấy ông Minh Yên đi làm ? Ông ấy có khỏe không ?
– Chắc khỏe mà. Nhưng bị bà chủ cấm lại đây rồi.
– Bà chủ là ai ? Bộ ông ấy có vợ hả ?
Yvonne gật đầu, uốn éo, cười hí hí, cô bắt đầu nhiều chuyện :
– Minh Yên là đàn bà. Bộ bà không biết sao ? Còn bà chủ là, ca sĩ “Hoàng Đế Napoléon’’ lùn tịch đó. Bà ấy, tên Marie. Trời ơi ! Bà ta ghen Minh Yên với bà dữ lắm đó. Bà Minh Yên ăn diện theo đàn bà thì đẹp gái. Nhờ tướng tá cao ráo, khi giả đàn ông thì đẹp trai. Nên “má già “Marie mê mệt, bắt Minh Yên đóng vai chồng của bả…
– Hả ! Trời ơi !
– Làm gì mà bà ngạc nhiên dữ vậy ? Để tôi kể tiếp cho bà nghe…
– Thôi, thôi đủ rồi, cô Yvonne à !
Nhựt nghe Yvonne nói, tâm hồn ông như bị trời đánh, súng nổ bên tai, chết điếng trong lòng. Ông cố gắng trấn an, ráng bình tĩnh và hỏi nhỏ Yvonne :
– Cô có biết số điện thoại riêng của Minh Yên không ? Xin cô cho tôi.
– Có đây. Mà điện thoại di động. Tôi cho bà… Bà nhớ cẩn thận nha. Bà Minh Yên thường nhắc và khen bà đẹp…
Nhựt lấy số điện thoại xong, ông bảo Yvonne tính tiền. Yvonne cười :
– Còn sớm mà !
– Tôi phải về.
– Nè, nếu bà có gọi bà Minh Yên, thì gọi cỡ nửa đêm nha !
Nhựt trả tiền xong và nhét vô tay Yvonne hai trăm quan và nói :
– Cám ơn cô Yvonne. Chào cô, tôi về.
– Chúc bà ngủ ngon.
Đêm nay, Tân Nhựt về nhà, tâm hồn của ông bị chấn động, quay cuồng như người điên loạn. Ông nắm đầu tóc giả giựt mạnh ra và vứt bừa xuống đất. Ông không thay đồ, chẳng thiết tha gì nữa cả. Ông mở tủ rượu lấy chai Cognac nóc một hơi, trong chốc lát… rồi buông mình trên salon nửa trên nửa dưới, nhắm nghiền đôi mắt…
Hơn bốn mươi năm về trước…
… Phạm Tân Nhựt, mười tám tuổi, sanh trưởng trong một gia đình buôn bán nho nhỏ ở Bình-Điền – Bình-Chánh (Sài-gòn), vừa thi đậu bằng tú tài toàn phần. Cậu là học sinh ưu-tú nên được chánh phủ (thời Ngô Đình Diệm) cho sang Pháp học bổng. Trong khi đó, Tân Nhựt và Minh An, hai người yêu nhau tha thiết và thề non, hẹn biển… Ngày tiễn đưa Tân Nhựt đi du học, đôi trai-gái trẻ đọng đầy nước mắt chia ly…
*
Tân Nhựt đến Paris, học qua năm thứ ba, thì thời cuộc biến đổi. Trào Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Nhựt không còn nhận tiền trợ cấp qua Tòa Đại Sứ nữa. Tại vì Tân Nhựt không chịu đầu phục ai, nên sống trong nghèo túng, cậu phải đi xin rửa chén trong những nhà hàng… để tiếp tục sự học. Vì con nhà nghèo nên gia đình chẳng có phương tiện nào để giúp đỡ cậu. Và cũng chẳng còn được nhận những lá thư tình của Minh An nữa. Từ thất vọng này sang đến thất vọng khác. Tân Nhựt chỉ còn một cứu cánh duy nhứt là phải ráng học đến thành tài.
Sau bao năm cuộc sống của Tân Nhựt thật là cực khổ ; thiếu cơm, thiếu áo… ‘’Đơn thương, độc mã’’ bơ vơ trên xứ người. Nhưng khí-phách của chàng trai nước Việt không hề nãn chí, lòng cương quyết tiến thân, chấp nhận đời lưu-vong, vững bước trên đường học vấn cho đến ngày đỗ đạt.
Sau khi Tân Nhựt đậu bằng Cử Nhân… Rồi vừa đi làm vừa đi học, cậu đỗ luôn bằng Tiến Sĩ….Và được bổ nhiệm làm giảng Sư Đại-Học… Paris…
Tuy, Tân Nhựt đã thành tài mà trong lòng luôn ôm khối hận ‘’tình-tiền’’. Cậu không tha thiết gì đến đàn bà, con gái. Rồi tâm hồn cậu ‘’xoay chiều’’ trở thành người ‘’đồng-tính-luyến-ái’’. Cậu chỉ kết bạn và đi chơi với những ‘’xác bướm hồn hoa’’…
*
Tiếng động của xe đổ rác nghe rầm rầm dưới đường. Tân Nhựt giật mình thức dậy, nhìn đồng hồ mới bảy giờ sáng. Trong đầu ông nghĩ ngay đến Minh Yên, bên tai còn văng vẳng lời của Yvonne nói :‘’Minh Yên là đàn bà. Bộ bà không biết sao ?’’. Ông nhìn xuống người, giựt mình :‘’Trời ơi ! Đêm qua về, mình say dữ lắm sao ?’’. Ông đứng dậy, thất thiểu đi thay đồ và làm toilette…
Tân Nhựt ngồi trước tách cà-phê nóng, ông ráng tưởng tượng và hình dung Minh Yên là đàn bà. Nhưng không làm sao tưởng tượng ra nổi, lòng tự hỏi :‘’Mình đã ngoài sáu mươi tuổi rồi mà còn mang bệnh tương tư à ? Mình có thể còn yêu đàn bà được nữa sao ? ‘’. Càng nghĩ đến Minh Yên, ông nghe tim mình quặn đau, Ông nghĩ tiếp :‘’Làm sao mình gặp được Minh Yên đây ? Nàng có biết, mình là đàn ông không ? Vì mình chích thuốc… cho đổi giọng nói…’’… Tân Nhựt suy nghĩ bao nhiêu điều, rồi ôm đầu, rứt tóc…, đứng lên mở tủ thuốc lấy tất cả những loại thuốc ‘’đặc biệt’’ kia vứt vào giỏ rác. Rồi ông đến mở hộc tủ tìm kiếm lại ‘’những lá thư tình’’ của Minh An gởi cho ông hơn bốn chục năm qua. Ông lần lượt mở ra đọc từ từ cho đến hết… Ông nghe tâm hồn mình đang trở về tuổi trẻ. Hai hình bóng, Minh An và Minh Yên chập chờn ẩn hiện lúc mờ, lúc tỏ…
Tách cà-phê đã nguội ngắt, Tân Nhựt bưng lên hớp vài hớp. ngồi lẩn thẩn từ sáng sớm đến trưa như người mất trí. Rồi ông sực nhớ số điện thoại của Minh Yên. Không thể nào chờ đợi tới nửa đêm được, liền với tay lấy điện thoại bấm số…
– … !
Minh Yên đang loay hoay sau bếp, lo sửa soạn bữa cơm trưa, nghe Marie gọi :
– Minh Yên ! Điện thoại của mày reo…
Minh Yên liền chạy nhanh lên lấy điện thoại của mình nghe :
– … A-lô !
– A-lô ! Dạ, thưa, có phải ông Minh Yên không à ?
– Dạ, tôi đây ! Xin lỗi, ai đầu giây đó ?
– Dạ, tôi Nhựt… Nhựt Lan đây !
– Ha !… Chào bà Nhựt Lan !
Nhựt lặng im vài giây, rồi hỏi :
– Tôi có làm phiền gì ông không ?
– Không. Bà cứ tự nhiên đi.
– Tôi có được hân hạnh mời ông tối nay đi dùng cơm với tôi không ?
– …… !
– A-lô, a-lô !
– Dạ, được ! Mấy giờ, ở đâu ?
Nhựt nghe lòng nhẹ nhõm :
– Hai mươi giờ, nhà hàng Sàigòn-Sàigòn, số… đường Convention, Paris15.
– Nhà hàng Việt Nam à ?
– Vâng ! Ông biết chỗ đó chứ ?
– Dạ, biết. Chỗ quen lắm.
– Ông có ngại gì không ?
– Không. Không hề gì… Chắc, cô Yvonne có nói với bà về tôi rồi chứ ? Nhưng… thôi, tối mình gặp nhau nha bà !
Nhựt lưỡng lự :
– Rất mong gặp ông tối nay !
– Dạ. Xin chào bà nha !
Minh Yên vừa cúp điện thoại, thì Marie hỏi :
– Cái con ‘’mụ già’’ Việt Nam gọi mày phải không ? Làm sao, nó có số của mày mà gọi vậy ?
Minh Yên biết là Marie ghen với Nhựt Lan dữ lắm, nàng nín thinh không thèm trả lời. Marie tiến tới lắc vai và lớn tiếng :
– Tao bảo mày ở nhà, mọi sự để tao lo, mà mày vẫn còn lén tao sao ? Nếu, mày muốn còn được tao lo thì mày phải dứt khoác liên lạc với con ‘’mụ già’’ ấy.
Minh Yên vẫn nín thinh. Marie tức quá, lấy điện thoại cầm tay của Minh Yên vứt xuống đất thật mạnh và lấy gót giày dậm lên, làm bễ nát cái điện thoại. Miệng bà ta hét lớn :
– Tao chịu hết nổi rồi.
Bà lấy tay xỉ vô mặt Minh Yên và la tiếp :
– Mày làm tao khổ quá. Mày hãy dọn đồ đi đi, đi mau lên.
Minh Yên không dằn được nữa :
– Nè, bà đuổi tôi. Tôi sẽ ra đi thật đó.
– Ừa, đi đi, đi liền cũng được.
Minh Yên nghe tự ái bị chạm nặng. Nhưng bị “vợ ” đuổi bất thình lình, nghĩ :”Trời ơi ! Giữa mùa đông tuyết phủ. Đi đâu bây giờ này trời !’’. Nàng ráng dẹp tự ái, dằn lòng, nói nhẹ giọng với Marie :
– Marie ! Marie cho tôi ở nán thêm một tuần nữa, để rồi tôi sẽ tìm nhà mướn nha !
Marie thừa thắng xong lên :
– Không. Tao muốn mày đi liền. Đồ ” con chó dơ “..
Minh Yên nghe Marie chửi và đuổi mình. Nàng nghe trong lòng đau buốt và cảm thấy bị Marie miệt thị, khinh bỉ.. Không còn cách nào hơn, nàng vào phòng thay đồ… rồi lấy quần áo, đồ đạc cá nhân bỏ vào va-li và vài túi xách nhỏ. Ứa nước mắt, nói cảm ơn Marie, lấy chìa khóa nhà trả lại cho bà và mở cửa ra đi.
Bà Marie nghĩ :‘’Hứ, làm bộ đi. Chút chiều là quay đầu về. Kỳ này ‘’Má’’ sẽ không mở cửa đâu con ơi !’’. Nhưng đến chiều tối, bà không thấy Minh Yên điện thoại để xin lỗi, cho trở về với bà, như những lần trước nữa… (…)
Còn Minh Yên, sau khi đi ra khỏi nhà bà Marie, nàng xách va-li đi xuống mê-trô, đến thẳng nhà hàng Sàigòn-Sàigòn. Minh Yên mở cửa bước vô nhà hàng với chiếc va-li và vài bịt lỉnh-nghỉnh. Chị Hai Sâm, chủ nhà hàng vừa trông thấy :
– Minh Yên ! Em đi đâu mà xách tùm lum đồ đạc vậy ?
Minh Yên lắc đầu :
– Bị bà chủ đuổi, thất nghiệp nữa rồi chị Hai ơi !
– Trời ơi ! Tai nạn đến với em nữa rồi hả ?
– Thì đời mà chị ! Hên, xui, may, rủi có gì lạ đâu ! Chị cho em gởi đồ đạc nha ! Chiều em có hẹn bạn đến đây ăn cơm.
– Được rồi, cứ để đó, chút chị kêu sắp nhỏ đem lên lầu. Có gì thì ở đây với chị, rồi từ từ đi kiếm việc làm.
– Em cảm ơn chị Hai nhiều. Em đi nha !
– Em đi đâu giờ này ? Ở đây, chút nữa ăn cơm với chị.
– Em đi ra Montparnasse làm tóc. Chút chiều, em sẽ trở lại.
– Ừa, thôi cũng được !
*
Khoảng sáu giờ chiều, Minh Yên trở lại nhà hàng, nàng xin chị Hai Sâm cho lên lầu tắm rửa và sửa soạn, nàng mặc bộ Âu phục màu đen. Bảy giờ rưởi, nhà hàng mở cửa, Minh Yên xuống và lấy cái bàn hai chỗ trong góc, nàng ngồi đợi Nhựt Lan…
Đúng tám giờ, một người đàn ông lớn tuổi, tướng diện cao ráo, vẻ mặt rất hiền từ, tóc muối tiêu, mặc áo măn-tô nỉ màu đen, bước vô nhà hàng, cỡi áo măn-tô ra, bên trong ông mặc bộ côm-lê màu xám đậm, mắt đang nhìn cậu chạy bàn. Ông định hỏi, thì Minh Yên đứng dậy ra tiếp :
– Thưa ông, có phải ông có hẹn với ông Minh Yên không ?
– Dạ, thưa bà. Đúng vậy.
– Xin ông đưa áo cho tôi, và mời ông bước vô bàn trong.
– Cảm ơn bà.
Minh Yên đưa Tân Nhựt ngồi vào bàn. Tân Nhựt nhận ra giọng nói của Minh Yên. Ông nghi ngờ, nhưng vì lịch sự nên không dám hỏi. Minh Yên mỉm cười :
– Nhựt Lan, không nhận ra em sao ?
Tân Nhựt xoa hai bàn tay, đôi mắt sáng lên, cười cười :
– Thôi, gọi tôi là anh Nhựt được rồi.
– Còn em là, cô Minh Yên nha !
Tân Nhựt vui vẻ và trong lòng rất sung sướng, ông ráng hạ giọng nói như đàn ông, nhưng vẫn còn giọng hơi the-thé :
– Thiệt, trên cõi đời không thể tưởng tượng được nổi, phải không Minh Yên ?
(…)
Chị Hai Sâm bước ra, Minh Yên giới thiệu… Rồi họ kêu canh chua, cá kho tộ ăn với cơm.
Bữa cơm thuần túy Việt Nam, mà từ lâu cả hai người không được ăn. Vì đàn ông sống độc thân thường hay làm biếng nấu nướng. Còn người đàn bà kia thì ở với đầm… !
Sau khi ăn cơm xong, Minh Yên kể lể chuyện vừa xẩy ra hồi trưa này… Tân Nhựt nghe hết sự tình, ông mở lời mời Minh Yên về nhà. Trong hoàn cảnh, nước đường cùng, Minh Yên như con thuyền bị sóng gió giữa dòng biển cả, mà Tân Nhựt là chiếc phao cứu vớt đời nàng. Nên nàng không chút ngần ngại, mà nhận lời ngay.
*
Minh Yên về nhà Tân Nhựt, hai người ngồi bên nhau tâm sự những chuyện đã qua… Minh Yên kể lể :
– Hơn hai mươi bốn năm về trước, gia đình em ; ba, má và chị Minh An kéo xuống miệt Cần-Giờ vượt biển.
Tân Nhựt giựt mình vội hỏi :
– Hả, Minh An là chị của em ? Có phải con gái của ông Lý Minh Tịnh không ?
– Dạ, đúng. Ủa, anh có quen biết gia đình em sao ? Làm gì anh ngạc nhiên dữ vậy ?
– Có… Nhưng không. Không có gì. Thôi, em kể tiếp đi.
– Anh biết không ? Tất cả trên chiếc ghe tam-bảng khoảng ba chục người. Nhưng vừa ra khỏi hải phận Việt Nam, thì bị bão lớn làm đấm thuyền. Mấy tiếng đồng hồ sau – cũng may nhờ có chiếc tàu hàng… của Pháp đến cứu vớt, nhưng chỉ còn sống sót được chín người, trong đó có em. Còn cha, mẹ, chị Minh An và những người khác bị chìm dưới đáy biển, làm mồi cho cắ mập… Kinh hoàng lắm anh ơi ! Sao em không chết chung với gia đình…
Kể tới đây, Minh Yên ôm mặt khóc thút thít, nghẹn ngào nói tiếp :
– Sau mấy tháng ở trong trại … Rồi em được chánh phủ Pháp nhận về cho tị-nạn. Lúc đầu có tiền trợ cấp và cho đi học Pháp-văn, rồi học nghề kết-xe… Trong suốt hai mươi mấy năm trời, em sống bơ vơ, phiêu bạt giữa thủ đô hoa-lệ này. Em gặp lắm điều buồn khổ, bao cậm bẩy, lừa lọc… Rồi một buổi chiều hè, cách đây hơn ba năm, em đang ngồi trong quán rượu ở khu Opéra, em và bà Marie làm quen với nhau… Kể từ đó, em thay đổi cuộc sống…
Tân Nhựt nghe Minh Yên kể, ông rất xúc động. Bao nhiêu oán hận khi xưa điều tiêu tan bay hết. Ông đứng lên, đi lấy quyển album cũ kỹ, lật đến tấm ảnh của ông và Minh An chụp chung ở công-viên Nguyễn Huệ khi xưa, chỉ cho Minh Yên xem. Minh Yên nhìn hình chị mà nước mắt tuôn tràn :
– Vậy là khi xưa, anh và chị Minh An yêu nhau à ? Rồi vì sao mà không thành hôn ?
– Câu chuyện dài dòng lắm. Để rồi từ từ, anh sẽ kể cho em nghe. Vì lúc ấy, em còn nhỏ xíu.
– Đúng rồi. Chị Minh An lớn hơn em mười mấy tuổi
– Minh An bằng tuổi anh; à, Minh An có chồng, con gì không em ?
– Chị em lấy chồng, thì không đầy một năm anh rể bị tai nạn chết. Cũng may không có con.
Tân Nhựt thở ra, nhích lại gần Minh Yên và nói :
– Mọi chuyện đau buồn, em hãy cho vào dĩ vãng đi. Anh muốn hỏi em chuyuện này.
– Chuyện gì vậy anh ?
Tân Nhựt nắm tay Minh Yên, lòng hơi ái ngại, ông nghĩ :‘’Mình muốn nói, mình yêu nàng. Không biết nàng có cho mình sổ sàng hay lợi dụng gì không đây ? Chắc, nàng cũng có cảm tình nhiều với mình…?’’.
Minh Yên thấy Tân Nhựt nín thinh, nàng lắc tay và hỏi :
– Kìa, anh đang suy nghĩ gì, mà không nói cho em nghe ?
Tân Nhựt nói nhanh :
– Anh yêu em, và muốn cưới em làm vợ !
Minh Yên nhìn Tân Nhựt gật đầu và ngả người vô ngực ông…
– …… !
Tân Nhựt nghe tâm hồn khoan khoái :
– Cảm ơn em đã tin tưởng anh… Anh sẽ thu xếp mọi việc trong vòng sáu tháng. Đến hè, chúng mình đổi nhà ra ngoại-ô ở cho yên tịnh. Đừng nên ở trong Paris nữa.
– Mọi sự, em để cho anh quyết định. Mà vì sao, anh không thích ở trong Paris ?
– Vì… Paris có quá nhiều kỷ niệm buồn. Ra ngoài đó, hằng ngày anh sẽ làm ‘’Hoàng Hậu Josephine’’ đệm dương cầm. Còn em là ‘’Hoàng Đế Napoléon’’ hát cho anh nghe nha !
– Trời ơi ! Sao anh muốn chúng mình giả trai, giả gái nữa ?
– Thì… thì để nhớ kỷ niệm của chúng mình gặp nhau. Em đồng ý với anh chứ ?
– Dạ, đồng ý. Và, em sung sướng được trả món ‘’nợ tình’’ mà chị Minh An thiếu anh khi xưa.
– Không. Chẳng có nợ nần gì cả. Ngược lại chúng mình còn phải mang ơn Minh An. Có lẽ, nàng xui khiến cho hai chúng ta cứu giúp lẫn nhau đó em à ! Đời anh, nay đã có em, thế là anh được trở về nguồn gốc, như thuyền cặp BẾN XƯA :‘’Ta về, ta tắm ao ta. Dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn’’. Có phải vậy không… ông… Minh… Yên ?
Ánh mắt Minh Yên tràn đầy hạnh phúc, nàng mỉm cười đáp lại :
– Dạ, đúng rồi đó…bà… Nhựt… Lan à !
*
‘’Ngẫm hay muôn sự tại trời
Trời kia đã bắt làm người có thân
Bắt phong trần, phải phong trần
Cho thanh cao, mới được phần tha cao…’’
(Kiều’’ Nguyễn Du)

Việt Dương Nhân
(Ivry-sur-Seine, Bạch Am, đêm hè 12-07-2003)

Thêm bình luận Tháng Bảy 11, 2007

KẺ GIẾT MƯỚN

Vừa nhìn thấy John bước ra, người tài xế vội lái chiếc lymousine đến ngay trước cửa tòa nhà Ủy Hội Liên Hiệp Quốc, bước xuống mở cửa, cúi đầu kính cẩn:

– Kính chào ông chủ, xin mời.

John gật đầu đưa chiếc cặp cho tài xế, bước vào an vị chỗ ngồi của chủ nhân. Người tài xế trao lại chiếc cặp cho John, nhẹ nhàng đóng cửa, bước lên xe và từ từ lái ra khỏi khu vực. Trong lúc xe đang quay đầu tìm hướng ra phi trường quốc tế Kennedy, một giọng nói phát ra từ hệ thống âm thanh trang bị trong xe:

– Chào ông Smith, đừng ngạc nhiên, tôi có chuyện quan trọng cần nói với ông!

Người tài xế kinh ngạc, bấm kính đàng sau lưng xuống và quay đầu chờ lệnh. Sau vài giây suy nghĩ, John khoát tay ra hiệu tài xế tắt ngay các hệ thống âm thanh và điện thoại. Nhưng tuyệt nhiên giọng nói vẫn rõ ràng ra lệnh:

– Đừng vô ích, làn sóng vô tuyến được nối trực tiếp điện thoại của tôi. Bây giờ nghe kỹ đây, tiếp tục cho xe chạy và phải tuân theo lệnh của tôi. Không được ngừng hoặc dùng điện thoại cầm tay liên lạc với cảnh sát. Nếu không tuân lệnh, xe sẽ bị nổ tan ra từng mảnh tức khắc. Tôi báo để ông hay, dưới gầm xe đã gài một ký TNT, ngòi nổ được điều khiển bởi vô tuyến và đang nằm ngay trong tay tôi.

Hết kiên nhẫn, John hét lên:

– Ông là ai, muốn gì?

– Tôi là ai và muốn gì thì chốc nữa sẽ biết. Bây giờ ông chỉ biết tuân lệnh. Trái ý chiếc xe sẽ bị nổ tức khắc.

John chưa biết xử trí ra sao, giọng người trong máy tiếp tục:

– Bây giờ quay đầu xe lại, lấy hướng bắc và chạy đến trước cổng chính của trường đại học Columbia. Nếu nghe và hiểu rõ thì chớp đèn xe ra hiệu.

Người tài xế lại quay đầu ra phía sau chờ lệnh. Sau vài giây đắn đo, John gật đầu và ra hiệu chớp đèn hai lần. Một tiếng trả lời từ trong loa ở các cánh cửa:

– Được lắm. Cho xe chạy tiếp bao giờ đến đó sẽ có lệnh sau.

– Tại sao ông bắt tôi?

– Không phải bắt mà mời ông.

John cười gằn:

– Mời? Tôi đâu quen biết gì với ông. Tại sao?

Giọng nói vẫn bình thản:

– Có nhiều việc liên hệ đến mạng sống của ông. Im đi, đừng hỏi nhiều.

Chừng hơn muời phút sau, xe đã đến trước cổng chánh trường đại học. Giọng nói tiếp tục:

– Ông thấy bên tay phải có nhiều chỗ trống, hãy ghé xe vào ngay đó, không được tắt máy.

Để xem phản ứng ra sao, John ra dấu cho tài xế tiếp tục lăn bánh thêm vài thước, vượt qua hẳn hai chỗ trống, tức thời giọng nói vang lên:

– Dừng lại, thụt lùi vài thước và ép ngay vào.

Cả tài xế lẫn John bây giờ biết chắc rằng xe họ đang bị theo dõi chặt chẽ. Không cách nào hơn là phải tuân lệnh. Sau khi xe đã vào trong vị trí, giọng nói tiếp tục:

– Bên kia đường khoảng chừng một trăm mét, dưới chân tấm bảng quảng cáo xe hơi, ông có thấy chiếc xe Ford màu xám bạc không? Nếu thấy rõ thì ra hiệu bằng hai lần chớp đèn.

Cả hai người quay đầu một lượt về hướng tay phải, sau khi nhận ra được vị trí xe Ford màu xám, John gật đầu cho phép tài xế báo hiệu bằng hai lần chớp đèn. Chỉ vài giây sau, một tiếng nổ lớn tung chiếc xe Ford lên cao, vỡ ra hàng trăm mảnh. Chưa kịp hoàn hồn, hai người đều nghe tiếng cười phát ra:

– Mạng của hai ông cũng như vậy nếu chống đối và không biết ngoan ngoãn nghe lời. Bây giờ thì sẵn sàng làm theo lời tôi chưa?

John chỉ còn phản ứng nhẹ:

– Nhưng mà…ông mời hay bắt cóc tôi?

Giọng nói gằn từng tiếng:

– Hiểu cách nào cũng được. Cho xe đi theo lệnh tôi!

Tài xế cho xe ra đường, giọng nói tiếp tục ra lệnh:

– Bây giờ quay đầu xe trở xuống hướng đông nam, đến phi trường quốc tế J. Kennedy sẽ có lệnh tiếp.

Chiếc lymousine quay về hướng đông, vượt qua cầu, dùng xa lộ chính xuyên qua quận Queens để đến phi trường Kennedy. Suốt quảng đường không một lời đối thoại nào khác, John cần yên lặng để tìm cách đối phó với những gì sắp xảy ra. Khi xe vào phạm vi phi trường, lệnh từ các loa phát ra:

– Quay qua phía tây, lấy hướng thẳng ra ngoại ô Nassau.

Tôi nhắc lại một lần nữa, xe sẽ bị nổ tung bất cứ lúc nào nếu xử dụng điện thoại di động, dừng lại hay phát ra một dấu hiệu cầu cứu nào.

Để chứng tỏ xe bị kiểm soát một cách chặt chẽ, giọng nói ra lệnh:

– Bop, dập tắt ngay điếu thuốc, tháo kiến đen xuống. Tài xế đang lái xe, không được vô lễ với chủ.

John và tài xế đảo mắt một vòng quan sát tình hình, không có xe theo dõi phía sau hay cản đầu đàng trước.

Tiếng người trong loa tiếp tục:

– Ông Smith, khỏi phải mất công tìm kiếm làm gì. Ống kính thâu hình, hệ thống thâu tiếng và chất nổ đã được gài sẵn trong xe ông từ trước. Hơn nữa, ông được theo dõi bởi vệ tinh qua hệ thống định vị. Tọa độ chính xác của xe ông trên màn hình vô tuyến chỉ sai biệt chừng nửa mét. Tất cả động tĩnh của cá nhân ông tôi đều thấy rõ ràng.

John muốn trắc nghiệm lời nói trên, ông đặt câu hỏi với tài xế:

– Anh đã bỏ xe lúc nào?

Tài xế chưa kịp trả lời, tiếng cười lớn đã phát ra:

– Ha ha…nhân viên của tôi thi hành mệnh lệnh dễ dàng như trở bàn tay, dù tài xế đang có mặt ngay cả trong xe.

Xe vừa qua khỏi công viên Hyde, giọng nói lên tiếng:

– Gia tăng tốc độ và cứ tiếp tục chạy tiếp.

Tài xế làm theo chỉ thị, hai người tiếp tục giữ yên lặng trên suốt quãng đường khoảng chừng năm chục cây số.

Khi xe đi băng qua cách rừng, giọng nói lên tiếng:

– Bây giờ nghe đây, giảm tốc độ, chạy chậm và chuẩn bị quẹo tay mặt để vào rừng bằng con đường nhỏ. Nếu nhận ra, báo hiệu bằng hai lần chớp đèn.

John gật đầu ra hiệu cho xe chậm lại và ép vào lề khi nhận ra con đường mòn trước mặt. Xe dừng lại, máy vẫn nổ.

Giọng nói lại tiếp tục:

– Cho xe chạy vào đường mòn, khoảng chừng một cây số, trong đó một xe khác đang chờ ông.

Cả John và tài xế đều ngần ngại, nhưng đã ở vào thế này không còn cách để chọn lựa. John trầm tĩnh gật đầu cho lệnh làm theo yêu cầu. Vào rừng được một quãng, xe buộc phải dừng lại trước mặt một chiếc xe thùng lớn và dài bằng container 40 feet đang mở rộng cửa sau. Không có bóng dáng một người nào, chỉ có lệnh phát ra:

– Ông ngồi yên, tài xế cho xe chạy thẳng vào trong thùng.

Vừa dứt tiếng, chiếc cầu tự động sau thùng xe từ từ phóng ra, đầu hạ xuống đất để chiếc limousine có thể chạy lên.

Tài xế bây giờ mất bình tĩnh ra mặt nhưng điều này không lạ gì với John, bất cứ cuộc bắt cóc nào, nạn nhân không bao giờ biết được lộ trình. Xe nhỏ chui vào ngụy trang trong một xe lớn để di chuyển là một hình thức bình thường. John có ấn tượng đây không phải cuộc bắt cóc làm tiền hay với lý do chính trị nào mà có lẽ, theo nhận xét đầu tiên của John, chỉ là một lối mời trong giới giang hồ với nhau. Suy nghĩ như vậy, John gật đầu cho xe chạy lên chui vào thùng xe.

Liền sau đó, tiếng nói tỏ vẻ hòa nhã:

– Cám ơn ông Smith, tôi thành thực xin lỗi ông với lối mời bắt buộc và thiếu lịch sự này.

John lên tiếng:

– Bây giờ ông cho tôi biết ông là ai và với lý do nào bắt tôi?

– Còn quá sớm để nói chuyện này.

Không để John nói thêm, giọng nói ra lệnh tiếp:

– Bây gìờ các ông phải ngồi yên và giữ yên lặng trong xe. Chuyện ông muốn biết sẽ được giải quyết trong vài giờ tới.

Sau câu nói, cánh cửa sau xe đóng lại, chung quanh toàn một màu đen đưa bàn tay ra trước mặt hoàn toàn không nhìn thấy. John nghe tiếng máy nổ và đoán biết được xe đang chạy thụt lùi trên một quãng đường bằng thời gian chiếc limousine rẽ phải vào rừng. Sau đó xe đổi chiều, sang số và chuyển bánh nhanh chóng trên đường lớn.

Xe tiếp tục giữ tốc độ như vậy trong một thời gian gần hai tiếng đồng hồ rồi chạy chậm lại, sang số, quẹo về hướng tay mặt và đi xuống dốc, cuối cùng dừng hẳn. Khi cánh cửa sau thùng xe được mở ra, tài xế cho John biết:

– Có lẽ họ đưa chúng ta xuống một bãi đậu xe trong lòng đất.

John định hỏi, nhưng giọng nói đã lên tiếng truớc:

– Chúng ta sẽ làm việc với nhau tại đây. Tôi chỉ mời một mình ông Smith. Bop sẽ được tiếp đãi riêng trong thời gian ông Smith làm việc. Bây giờ xin lỗi một lần nữa, nhân viên của tôi sẽ gặp ông.

Ánh sáng của hai chiếc đèn bấm chiếu thẳng vào mặt John và Bop, tiếp đến hai miếng vải đen bít chặt mắt hai người lại trước khi dẫn ra khỏi xe.

Được dìu đi bộ chừng trăm bước và sau khi qua khỏi vài cánh cửa, John bị đẩy vào một phòng rộng. Tấm vải đen bịt mắt được tháo ra, sau vài giây thích nghi với ánh sáng, John thấy mình đang ở trong một phòng khách lớn. Trước mặt, một bàn giấy trên đó chỉ có màn hình lớn của máy vi tính, một tập giấy trắng và cây viết sheaffer bằng vàng. Bên cạnh, một bàn tròn có đủ các loại rượu cùng những ly dùng riêng cho từng loại một. Kế bên trái, một phòng vệ sinh đã mở sẵn cửa.

Trong phòng chỉ có mình John, cánh cửa sau lưng đã được khóa lại. Bây giờ thì John chắc rằng người ta mời ông ta thực sự. John tiến đến lấy chai Scotch rót đầy một ly Glenfiddich rồi trở về ngồi xuống ghế dành cho khách trước bàn viết.

Màn hình máy vi tính trên bàn được bật sáng, trong đó hiện lên một văn phòng lớn thật sang trọng với những trang bị hiện đại, những kệ sách lớn, bàn ghế bằng da, hệ thống vô tuyến truyền hình và đồ dùng điện tử. Đặc biệt không có chủ nhân trong ghế. Một giọng nói lịch sự phát ra từ ghế bành:

– Chào ông Smith, thật hân hạnh đã mời được ông đến đây.

John hơi lớn tiếng:

– Trước hết phải cho biết ông là ai và mời tôi với mục đích gì?

Trong màn hình vẫn một giọng ôn tồn:

– Đã đến đây trước sau gì cũng biết, xin đừng vội nóng.

– Thế thì vào đề ngay. Tôi không rảnh để mất thời giờ với ông.

Tiếng cười nhẹ tiếp tục câu chuyện:

– Mất hay không là do tôi định đoạt, ông có được ra về nhanh chóng và bình yên hay không cũng tùy theo thái độ của ông. Hãy nhớ kỹ, tất cả đều tùy thuộc vào quyết định của tôi!

Trong thế bị động, John bưng ly rượu uống một hơi và giữ thái độ yên lặng

Vẫn giọng nói bình thản:

– Tôi biết ông còn rõ ràng hơn chính ông tự biết ông.

– Láo!

– Hãy bình tĩnh, tôi biết ông từ thời thơ ấu. Cha mẹ ông chết sớm, cơ quan từ thiện đã gởi ông vào viện mồ côi lúc chưa đầy sáu tuổi. Ông là một người chăm chỉ, vượt qua bao gian nan, tự lực cánh sinh để thành tài. Tốt nghiệp đại học lúc mới 25 tuổi. Tôi còn biết ông rất giàu có, tiền của gia tài hiện tại không phải do công ty bình phong đem lại cho ông đâu! Thưa ông chủ tịch tập đoàn thương mãi QBK!.

John không ngờ đời tư của ông bị lột trần. Chưa kịp phản ứng, giọng nói tiếp tục:

– Tôi biết tiền ông có hàng chục triệu là do những việc làm mờ ám khác của ông. Không một ai có thể nghi ngờ, kể các cơ quan tư pháp cũng như cơ quan an ninh của Mỹ, Ý Đại Lợi…. Chỉ một mình tôi nắm trọn vận mệnh đời ông mà thôi.

Phản ứng tự nhiên bắt buộc John trả lời:

– Tôi không làm và không biết chuyện mờ ám gì như ông vừa đề cập đến.

– Ha, ha… ngay cả số tiền khổng lồ của ông sau ba lần giết mướn, từ bắn tỉa, nổ bom và chích chất độc vào nạn nhân…ông chuyển đi đâu tôi đều rõ.

Ngừng giây lát giọng nói tiếp:

– Chúng ta thuộc giới giang hồ, tôi khuyên ông nghiêm chỉnh nói chuyện với nhau.

John cự tuyệt:

– Tôi không cần phải hợp tác với bất cứ ai.

Bây giờ giọng nói không còn giữ bình tĩnh:

– Việc đó tùy ông. Nhưng phải nhớ rằng, mạng sống của ông đang nằm trong tay tôi. Tôi không phải nhọc công làm gì, chỉ cần cung cấp tài liệu có sẵn trong tay cho cơ quan tư pháp, chắc chắn ông sẽ vào ngay nhà đá và đợi ngày lên ghế điện. Hãy xem đây!

Vừa dứt lời, màn hình vi tính chuyển qua một trang khác, trong đó chiếu cảnh một người đàn ông đang chĩa mũi súng có máy nhắm vào một nạn nhân vừa bước ra từ xe hơi. Hình được phóng đại, John giật mình khi nhận ra người đàn ông hóa trang cầm súng chính thật là ông ta. Cảnh tượng cách đây trên năm năm đang diễn ra một cách sống động trước mắt.

Bây giờ không còn cách nào khác hơn, John đặt câu hỏi:

– Bây giờ ông muốn gì ở tôi?

Giọng nói tỏ ra bằng lòng:

– Thế mới phải chứ! Việc tôi yêu cầu ông là giết chết một người, hay đúng hơn một gia đình.

– Nếu tôi không nhận?

– Tất cả hậu quả sẽ đổ xuống đầu ông!

John đổi lại thế ngồi:

– Đối với tôi, việc giết người đều do tôi đưa ra điều kiện.

Tôi chỉ chấp thuận giết những nhân vật tối quan trọng, thứ lem nhem tôi không thèm. Tại sao ông không nhờ đến những người khác, thiếu gì những tay giết mướn sẵn sàng thi hành lệnh của ông.

– Những tay khác không đủ bản lãnh để hoàn thành nhiệm vụ, tôi cần người có kinh nghiệm, chỉ cần ra tay một lần, nạn nhân phải chết tức khắc. Không còn cơ hội để cơ quan an ninh phanh phui manh mối.

John cười:

– Chỉ cần bắn một phát đạn chì vào ngay não bộ thì xong ngay!

Tiếng cười phụ họa:

– Ở trường hợp này khác hẳn. Phải giết trọn gia đình trong một ngày do tôi chỉ định. Tôi, người ra lệnh, ông là kẻ thi hành.

– Tôi không chấp nhận. Ông muốn làm gì thì làm!

– Tại sao?

– Từ trước đến nay, tôi nghiên cứu sự việc trước xong rồi mới đặt điều kiện. Ông không đủ tư cách để đặt điều kiện với tôi

Một phút yên lặng, giọng nói đề nghị:

– Ông cho tôi biết điều kiện của ông, ngoài vấn đề tiền.

-??

Không đợi John thắc mắc, giọng nói tiếp theo:

– Đặc biệt vụ giết người này sẽ đem về cho ông một số tiền lớn. Ông chỉ cần nói thêm điều kiện khác của ông mà thôi.

John chậm rãi:

– Thứ nhất, nạn nhân là người hoàn toàn không liên hệ cũng như không quen biết với tôi. Thứ hai, phương cách giết người do tôi nghiên cứu và thi hành. Thứ ba, thời gian ra tay do tôi định đoạt. Thứ tư, tùy theo giá trị của nạn nhân, giá tiền thù lao tối thiểu từ năm triệu dollars trở lên.

– Ba trong bốn điều kiện có thể chấp thuận. Ngoại trừ điều kiện thứ ba, thời gian thi hành phải rơi đúng vào ngày tôi quyết định.

– Tại sao vậy?

– Sau này ông sẽ biết.

– Thời gian ra tay còn được bao lâu?

– Trên sáu tháng.

– Được.

John đặt lại câu hỏi:

– Bây giờ ông cho biết tên tuổi nạn nhân, tiền thù lao.

– Đến giờ phút này chưa thể cho ông biết tên nạn nhân, nhưng tôi biết chắc chắn, kẻ bị giết là một người hoàn toàn xa lạ đối với ông. Ông chưa bao giờ tiếp xúc lần nào. Tên tuổi sẽ cho biết sau khi đã thỏa thuận với nhau.

– Vấn đề tiền bạc?

– Mười triệu dollars, đưa trước ba triệu, bảy triệu sẽ nhận liền sau khi nạn nhân chết và phải chết tức khắc không kịp trăn trối một điều gì.

– Tại sao phải chết không kịp ngáp?

– Tôi không muốn có một đầu mối nào do nạn nhân để lại.

Trong nghề, ông dĩ nhiên cũng muốn như vậy.

– Được.

– Tôi cần nói thêm, sau khi đã nhận một phần tiền, ông trở nên người của nhóm tôi. Mọi hành động đều được theo dõi và có thể bị ám sát bất cứ lúc nào, nếu ông phản bội.

John vờ đặt câu hỏi:

– Ông không sợ tôi quỵt ba triệu của ông hay sao?

– Không bao giờ, với một số tiền nhỏ như vậy không ăn nhằm gì đối với ông. Tôi đã biết ông từ thuở nhỏ, theo dõi hành động của ông trong mười năm qua. Tôi biết ông là người thông minh can đảm và có tài qua những vụ án động trời do ông gây nên. Hồ sơ tội phạm được khép lại vì không kiếm ra thủ phạm, cơ quan an ninh đã bắt lầm người khác hoặc được ghép vào việc khủng bố. Phần ông vẫn bình yên qua mặt được tất cả mọi người, sống ung dung như một thượng khách trong giới kinh doanh, đi đây về đó, có người đưa kẻ đón hầu hạ.

John chen vào:

– Ông đã biết tay tôi, thì tôi cũng có thể giết ông bất cứ lúc nào.

– Cũng có thể, nhưng hiện giờ tôi đang nắm cán dao. Tôi rút lúc nào thì ông đứt tay lúc đó !

– Ví dụ…thì chuyện gì xảy ra?

– Ông không biết tôi là ai, trong khi đó tôi rõ đường đi lối về của ông.

John cũng không vừa:

– Để rồi xem. Chuyện kiến ăn cá cũng thường xảy ra.

– Ông hù tôi? Nói thật, đối với tôi không quan trọng. Một khi ông biết tôi rồi, tôi tin ông sẽ quỳ xuống xin làm đệ tử.

John cười khỉnh:

– Để rồi xem mèo nào cắn mèo nào.

Không đợi tiếng trả lời, John trở lại vấn đề:

– Phải giết cả gia đình? Gồm những người nào và liên hệ thế nào với nạn nhân?

– Nạn nhân, vợ và con trai 10 tuổi. Đừng hỏi thêm gì nữa !

Suy nghĩ một hồi John lên tiếng:

– Tôi cần ít thời gian để suy nghĩ thêm một vài chi tiết.

– Nghĩa là chúng ta đã đồng ýtrên nguyên tắc?

– Đúng.

– Tốt, từ nay gọi tôi là Big Mike.

Trước khi chia tay Big Mike lặp lại:

– Tối nay đúng 10 giờ đêm, ba triệu dollars sẽ nằm ngay tại cửa nhà của ông. Nhắc lại để ông rõ, luật giang hồ không bao giờ tha thứ cho kẻ phản bội. Những chi tiết sẽ bổ túc sau qua internet. Nhớ nắm lòng site internet… phải vào mật mã thứ nhất… và mật mã thứ hai… để vào nói chuyện với nhau. Mỗi mật mã chỉ xử dụng một lần. Sau mỗi lần đàm thoại, ông sẽ được cung cấp mật mã tiếp theo. Bây giờ xin mời ông qua phòng bên dùng bữa trước khi nhân viên tôi đưa ông và tài xế về lại chỗ cũ.

Một cánh cửa tự động mở ra, bên trong là phòng ăn sang trọng. Trên bàn thức ăn đầy đủ dành cho một người ăn cùng các loại rượu đắt tiền. Trước ghế ngồi một mảnh giấy có viết hàng chữ, ‘chúc ông ngon miệng, ăn xong vui lòng gọi để chúng tôi đưa ông về’. Tinh thần căn thẳng, thể xác mệt mỏi nhưng những thức ăn ngon đã giúp John lấy lại thăng bằng mau chóng.

Sau khi dùng bữa John được trả về cũng bằng phương cách như lúc bị đưa vào đây. Một người đàn ông to lớn mặt che kín, bước vào cúi mình xin phép John để bịt mắt, rồi dẫn theo đường cũ trở lại chiếc limousine.

Vừa ra đến xe, người tài xế đưa tay tháo miếng vải đen che mặt và ân cần hỏi thăm John:

– Ông vẫn bình yên, thưa ông chủ.

John bình thản:

– Không sao. Chúng đã làm gì anh?

– Thưa không, tôi được nghỉ ngơi và ăn uống đàng hoàng.

– Còn ông chủ

– Đừng hỏi nhiều, ra khỏi khu vực này trước đã.

Chiếc xe lớn bắt đầu chuyển bánh. Sau một thời gian hai người được trả về chỗ cũ trong rừng.

Giọng Big Michael vang lên:

– Cám ơn ông Smith. Hẹn gặp lại.

Tài xế lùi xe xuống đất và trở đầu chạy ra đường chính. John bấm nút đưa kính lên cao, ngăn đôi phạm vi tài xế và chủ nhân, ngã đầu về phía sau nhắm mắt ngủ.

Đối với John những sự việc vừa xảy ra không làm nao núng con người ông ta, trừ giây phút lúc đầu, ông hơi bối rối chút đỉnh khi chưa phân định rõ ràng sự việc và chưa biết phải xử trí ra sao.

Bên ngoài John là một người trí thức giầu có trong ngành thương mãi, đã thực hiện những hợp đồng quốc tế lớn từ Âu Mỹ sang Á. Di chuyển xứ này qua xứ khác thường xuyên như đi chợ. Hội họp từ đông qua tây, tiếp xúc với đủ mọi thành phần trong xã hội. Lợi nhuận thương mãi đem lại những số tiền đủ cung cấp cho John một cuộc sống vương giả, nhưng kết quả này không đem lại một hứng thú nào. Đây chỉ là bình phong để che đậy con người thật ông ta, một người có giòng máu lạnh hoàn toàn, không một chút tình cảm trong tim. Từ hồi trẻ thơ John đã nhẫn tâm giết gia súc không thương tiếc. Ông càng cảm thấy thỏa mãn và sung sướng khi con vật quằn quại run rẩy từ từ chết trên tay sau khi bị ngắt chân, vặn đầu, cắt đuôi, mổ bụng một cách thích thú. John không tha bất cứ loại thú nào ông bắt được, từ những con thú nhỏ như dán, chuột đến gà, vịt chó mèo nuôi trong nhà hay của hàng xóm. Ông thích thú khi thấy chính tay mình đã kết liễu cuộc đời chúng, bôi máu của chúng lên tay chân thân mình và đem khoe thành tích với đám bạn. Lớn lên ông là người không có trái tim, không biết rung động, chỉ biết tiền, máu và chém giết ! Có lần bắt gặp một người chết đuối đang cố vùng vẫy kêu cứu, ông ta nhảy xuống chẳng những không vớt lên mà còn dùng chân đạp xuống một cách thích thú cho đến lúc nạn nhân chìm hẳn.

xxx

John, một thanh niên đẹp trai khỏe mạnh, hàng chục cô gái sẵn sàng ngả vào tay, nhưng tuyệt nhiên ông chưa bao giờ ôm một cô gái nào vào lòng chứ đừng nói đến chuyện yêu thương! Đôi lúc vì nhu cầu sinh lý, ông đi tìm đối tượng để giải quyết một cách bình thản như hai con thú làm bổn phận theo luật tự nhiên rồi ném tiền xuống giường như vào quán uống ly rượu. Không tình cảm, sẵn giòng máu lạnh trong người, thích bạo lực và chết chóc, John đã dấn thân vào việc giết người vừa thỏa mãn thú tính, có tiền lại vừa có cơ hội đấu trí với các cơ quan điều tra. Sau lần bắn gục nạn nhân thứ nhất ông cảm thấy sung sướng, ngửng mặt lên trời cười thỏa mãn, tối về nhà uống cạn một chai champange để tự khen thưởng mình.

Không biết cha là ai, mẹ theo tình nhân bỏ rơi từ hồi còn bé. John lớn lên trong cô đơn, thiếu hẳn tình thương ruột thịt. Khác với những trẻ em cùng tuổi, John tự vươn lên trong tủi nhục, trong cô đơn để tạo cho mình một cuộc sống vững vàng. Một thanh niên thông minh tột bực, ngay từ hồi nhỏ John đã vượt qua tất cả bạn cùng lứa tuổi trên ghế nhà trường cho đến ngoài đời. Tốt nghiệp ưu hạng ngành luật và ngành kinh tế thương mãi, giữ một vị trí tốt trong một công ty lớn rồi tiến đến chức vị chủ tịch tập đoàn. John đọc nhiều sách gián điệp, sách nói về tội phạm cũng như những vụ án giết người trong lịch sử và nghiên cứu những phương thức giết người. Để tránh những dấu vết mai sau, John không ghi danh theo bất cứ khóa học chính thức nào về hóa trang, bắn súng, chất nổ hay điện toán. Tìm hiểu lý thuyết, John nghiên cứu tại các thư viện hoặc mua những loại sách cần thiết, sau khi đọc xong John liệng chúng ngay vào thùng rác không thương tiếc. Phần thực hành, John vào rừng, ra biển hay đến những cách đồng hoang tự tập bắn súng với ống nhắm, ráp nối kíp nổ, kiểm chứng các hệ thống điện tử không giây. Ngoài ra, ông còn nghiên cứu cách hóa trang thành rất nhiều nhân vật, nhái tiếng nói và điệu bộ của một cá nhân nào đó để đội lốt một khi cần thiết. Việc hóa trang John không chú trọng nhiều vào các chi tiết như đội tóc, mang râu, mang lông mày giả mà chú ý rất nhiều thay đổi hình dáng, màu da và nhất là khuôn mặt. Nghiên cứu tròng mắt giả với các mầu sắc đặc biệt và những mẫu nhựa mềm để gắn trong má, mũi, răng, miệng cũng như biến đổi toàn diện khuôn mặt và tuổi tác của mình được John áp dụng triệt để. Khi hành sự, John không cần mang găng tay, ông dùng một loại keo trong xịt sơ qua một lớp mỏng trên lòng bàn tay và các đầu ngón. Khi lớp keo khô, xúc giác vẫn giữ được bình thường nhưng tuyệt nhiên không một dấu vết nào để lại. Nhờ bí quyết này, những nhân chứng khi diễn tả cho cơ quan điều tra về vóc dáng mà họ thấy đều khác hẳn với con người thật của John. Cho đến lúc này tên ông ta bao giờ cũng được gạt khỏi danh sách những người bị tình nghi theo dõi.

Trong nhà ở hay tại văn phòng làm việc, người ta sẽ không bao giờ tìm được những dấu vết, những sơ hở nào có thể liên quan đến nguyên nhân hay bằng chứng của tội phạm. Ngay đến khẩu súng có ống nhắm tối tân, John đã dùng tên giả điều đình và mua lại từ một tay anh chị trong giới giang hồ. Thi hành xong thủ đoạn giết người, súng được tiêu hủy ngay lập tức.

xxx

John đã giết ba người. Nạn nhân thứ nhất ông Tom Bishop, một chính khách tầm cỡ lớn, đang dẫn đầu trong các lần thăm dò dư luận trước cuộc bầu cử của tiểu bang. Sau khi thỏa thuận để bắt tay vào việc, John nghiên cứu và chuẩn bị trên ba tháng. Nghiên cứu tính tình, thói quen, sở thích, lộ trình đi về của nạn nhân…Khả năng, số cận vệ, khả năng an toàn xe hơi. Tiếp đến nghiên cứu hiện trường cũng như xạ trường làm thế nào chỉ cần một viên đạn xuyên thẳng vào não bộ và nạn nhân phải chết tức khắc. Cuối cùng phải tìm mua một súng tối tân thích ứng với xạ trường. Việc này không khó, chỉ cần hóa trang đổi tên tuổi và mua lại súng của đám giang hồ như vậy vết tích nguyên thủy của khẩu súng cũng như lý lịch người mua không liên hệ gì với John trong trường hợp cơ quan điều tra lập biên bản với đám giang hồ này.

Sau khi quyết định xong ngày giờ địa điểm, John đã hoá trang thành một người thợ máy với những đặc điểm của những người thuộc nhóm chính trị có khynh hướng đối lập với Tom Bishop. John đã bắn nạn nhân ngay trước văn phòng làm việc lúc ông ta vừa bước ra xe. Chỉ một viên một, nạn nhân chết liền tại chỗ. Trong lúc những người đi đường đang xôn xao bàn tán và cảnh sát bận rộn những thủ tục cần thiết thì John cũng có mặt tại đây nhưng với bộ âu phục và dáng dấp của chủ tịch một công ty đang trên đường ngang qua. Điều buồn cười, chính John được cảnh sát mời để bổ túc thêm vài chi tiết với tính cách nhân chứng như những khách qua đường khác!

Nạn nhân thứ hai, một tên trùm khét tiếng trong giới buôn bán vũ khí bạch phiến, sống tại Naple. Ông thường có mặt tại Mỹ, ở trong một khu biệt thự lớn thuộc vùng biển Floride. John được móc nối với giá năm triệu dollars để thanh toán tên trùm này. Chương trình hành động, phương thức thanh toán nạn nhân đều do chính John quyết định. John hạ sát tên này tại Ý thay vì ngay trên đất Mỹ với nhiều lý do an ninh cũng như việc điều tra của cơ quan tư pháp hầu để tránh rắc rối cho John và tổ chức đã thuê mướn ông ta. John nắm trong tay một phần tư tiền mặt, số còn lại sẽ thanh toán tiếp sau khi nạn nhân đã chết thực sự. Ngụy tạo một hợp đồng thương mãi mục đích làm bình phong để John có lý do đến Naples. John sẽ tiếp xúc và thương lượng với một công ty quốc tế qua chương trình ‘dầu lửa đổi thức ăn’. John đến đây ngôn chính danh thuận dưới tên một nhà thương mãi, ngụ tại khách sạn năm sao, đi mercedès có tài xế riêng.

Trả tiền vụ án này là nhân vật đứng đầu một tổ chức quốc tế buôn lậu về bạch phiến và vũ khí. Chính quyền Ý và Mỹ đã có hồ sơ của nhóm này nhưng có thể một vài lý do nào đó, họ còn âm thầm điều tra bổ túc thêm để nắm trọn ổ một lần. Tổ chức yêu cầu John phải ra tay trước khi nhóm này bị các tổ chức an ninh và cảnh sát quốc tế vây bắt.

Khi được cung cấp đầy đủ tin tức nạn nhân, John biết ngay người ta mượn tay ông ta để loại bỏ một mắt xích quan trọng trong đường giây. Chủ nhân tổ chức thuê mướn John không tiết lộ danh tánh và yêu cầu John gọi ông ta bằng Jim một cách thân mật. Sau một thời gian nghiên cứu, John khám phá ra hai đối thủ đã liên hệ làm ăn với nhau từ lâu và đã có nhiều tranh chấp, lường gạt cướp giật lẫn nhau. Jim muốn mượn tay John để trừ khử một đối thủ lợi hại ngoài lãnh thổ nước Mỹ. Dù phải mất một số tiền khá lớn nhưng giết được đối thủ một cách dễ dàng và nhất là an toàn cho Jim khi Interpol, FBI và cơ quan tư pháp của Ý mở cuộc điều tra.

John lưu lại Naples trên ba tuần lễ, tiếp xúc với nhiều người trong giới thương mãi với mục đích đánh lừa cơ quan điều tra sau này, nhất là những người có trách nhiệm trong hợp đồng cũng như những nhân vật trong chính quyền địa phương qua nhiều bữa tiệc business thân mật và trong các cơ hội tiếp tân. Nạn nhân thuộc giới thương lưu, nhiều người biết qua tên Filippo Giordano, sống trong một khu đất biệt lập trên ngọn trên đồi trông xuống biển.

Đây là khu đất nằm lưng chừng giữa ngọn đồi, được bao bọc bởi bức tường vây kín bốn hướng. Lối vào độc nhất bằng một cửa lớn trang bị hệ thống điện tử, kiểm soát bởi toán an ninh canh gác ngày đêm trong phòng trực. Gần như nạn nhân ít ra khỏi khu vực này. Văn phòng làm việc, hồ tắm, phòng chiếu phim đều được trang bị bên trong. Những cơ hội ra ngoài như hội họp, đi phi trường… ông đều lên xe ngay từ trong hầm nhà. Xe được bọc thép và trang bị hệ thống kính đặc biệt chống tầm đạn trên hai trăm thước. Vấn đề an ninh được đám vệ sĩ thi hành gắt gao. Trước khi chủ nhân bước lên, nhân viên mở thùng xe, thùng máy và dùng kính phản chiếu kiểm soát từ dưới làn xe trở lên. Khi xe dừng, ba vệ sĩ xuống trước lấy thân bao che để chủ nhân bước xuống. Một người quá cẩn thận như vậy chắc chắn trong người ông lúc nào cũng có áo giáp chống đạn. Chỉ còn cái đầu là mục tiêu nhưng gặp phải đám vệ sĩ quá giàu kinh nghiệm, chúng dùng đầu mình để bảo vệ đầu chủ, bằng cách phối hợp cách đi đứng với nhau làm sao đầu của chúng lúc nào cũng che khuất một phần lớn đầu ông ta. Rất khó dùng súng trường trang bị máy nhắm. Viên đạn chưa chắc trúng ngay trán nạn nhân mà có thể sẽ gim vào đầu của một vệ sĩ bên cạnh, như vậy dùng súng bắn tỉa không khả thi trong trường hợp này. Giải pháp đặt bom nổ cũng khó khăn, chung quanh ông ta lúc nào cũng hiện diện vài ba vệ sĩ. Trong nhà có hàng chục nhân viên an ninh và một đàn chó, chắc chắn không thể đến gần nạn nhân hoặc tính chuyện gài chất nổ trong khu vực nhà ở hay bàn giấy. Phương pháp đầu độc cũng khó khăn trong trường hợp này, không vào được nhà bếp riêng do một người thân tín phụ trách, hơn nữa khi thức ăn được bày lên trong phòng nằm kế bên chỗ làm việc, nhân viên phục vụ hầu bàn có bổn phận phải nếm tất cả các món ăn trước mặt ông ta.

Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ, John đã chọn phương pháp giết ông ta bằng cách xử dụng một chất hóa học cực độc để nạn nhân phải chết tức khắc và không còn cách nào có thể cứu chữa. Chiếc xe hơi của nạn nhân sẽ được John xử dụng làm cơ sở căn bản để gài chất độc.

Đã quyết định, John hướng trọng tâm vào việc nghiên cứu lộ trình di chuyển, nơi rửa xe, địa điểm bơm xăng và nhất là garare bảo trì định kỳ chiếc limousine của nạn nhân đang xử dụng. Những khó khăn cần phải vượt qua và phải nghiên cứu thêm khi quyết định chọn chiếc limousine: Trước tiên John không thể đến gần xe, lịch trình di chuyển của nạn nhân rất hạn chế, xe được rửa bởi tài xế và nhân viên trong khuôn viên tòa nhà, thời gian xe ra ngoài bơm xăng rất ngắn, hơn nữa mỗi lúc ra đường dù không có chủ nhân, trong xe lúc nào cũng hiện diện tối thiểu hai người. Như vậy không thể chọn lúc xe ra ngoài rửa hay bơm xăng để thực hiện ý định. Cuối cùng phải hướng trọng tâm vào lúc xe đi bảo toàn định kỳ tại garage.

John yêu cầu khách sạn thuê bao một chiếc lymousine màu đen thay thế chiếc Mercedes ông đang đi. Hai ngày sau đó, lúc đang di chuyển trong khu vực có garage đặc biệt dành riêng cho loại xe này, John đã kín đáo nhét một đồng xu vào hệ thống kính tự động ngăn đôi buồng lái và chỗ ngồi của chủ nhân. Tài xế đề nghị đổi xe khác nhưng John từ chối và cho lệnh kiếm garage để giải quyết vấn đề nhỏ nhặt này. Khi đến đây chuyên viên cho biết phải mất tối thiểu một ngày để hoàn tất công việc. Như vậy sự việc đã xảy đúng kế hoạch của John nhưng bề ngoài ông tỏ vẻ giận dữ, yêu cầu tài xế đi taxi về hãng lấy xe khác đến thế. Mười lăm phút chờ xe khác đến cũng đủ thời gian để John ghi nhận những gì phải làm….

John đã giết chết nạn nhân bởi chất độc cực mạnh bằng cách chích vào cơ thể. Trước tiên, John xử dụng một túi nylon hình thức giống hệt loại túi thường dùng để truyền máu vào cơ thể bệnh nhân. Thể tích chừng 250 ml được nối với hai ống nhựa trong suốt có độ dài khác nhau, chừng nửa thước và một thước. Hai đầu ống gắn hai kim chích thịt dài 5cm thường dùng trong y khoa. Chất cyanure đựng trong túi nylon, một khi túi bị sức nặng cơ thể nạn nhân ngồi lên trên, chất độc sẽ được bơm ngay vào thịt, lan vào các mạch máu nhỏ đưa về tim. Nạn nhân sẽ chết tức khắc nếu lượng chất độc được bơm vào trong cơ thể chừng chục phân khối.

Túi nylon và mũi kim thứ nhất gắn ngay trong lớp nệm, dưới chỗ ngồi của chủ nhân, mũi nhọn hướng lên trên. Kim thứ hai gắn trong nệm phần dựa lưng, mũi tên hướng thẳng vào vị trí tim của người ngồi. Khi nạn nhân, với sức nặng gần cả trăm ký lô, vừa ngồi lên, chiếc kim dưới ghế sẽ đâm thẳng vào bàn tọa. Nạn nhân ngã ra sau, mũi kim thứ hai đâm ngay sau lưng xuyên đến tim phổi. Chất độc sẽ theo ống nhựa đi vào thẳng vào mông, mũi kim thứ hai quan trọng hơn sẽ bơm thẳng chất độc vào ngay tim. Dù với phương tiện cấp cứu khẩn cấp tối tân nào, một khi cyanure de mercure đã vào đến tim thì không còn phương cách nào cứu nổi.

Túi nhựa đựng hóa chất chắc chắn không thể bị khám phá bởi máy rà kim loại. Đối với các loại chó, đa số được huấn luyện với mùi thuốc nổ, bạch phiến, bom, lựu đạn… nhưng John muốn được tuyệt đối an toàn, ông ta đã bôi vào túi nhựa một hóa chất hoàn toàn không thích hợp khứa giác của chúng. Duy chỉ một điều rất quan trọng, John đã cẩn thận đề phòng những bất trắc có thể xảy ra vì đám cận vệ sẽ kiểm soát xe rất kỹ trước khi chủ nhân ngồi vào… John nghiên cứu và thực hành nhiều lần, từ việc cắt đường chỉ may bên mép miếng da, móc vừa đúng một phần thể tích miếng mousse tương ứng với túi nhựa, kéo ống truyền chất độc ra phía sau lưng, gắn chiếc kim thứ hai có hướng đâm thẳng vào tim, dán lại vết cắt giữa hai mép da, đường chỉ may được phớt nhẹ một lớp keo trong lên trên để chỉ may không rơi rớt mà vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Quan sát bằng mắt hay bằng tay đám cận vệ không thể khám phá ra được các vết chỉ bị cắt, John tin chắc chỉ một mình nạn nhân sẽ lãnh trọn hai mũi kim này vì không một ai được phép ngồi vào chỗ dành riêng của chủ nhân.

Biết được thời gian tu bổ định kỳ và ngày giờ xe nạn nhân nhập xưởng. Trước tiên, John hóa trang thành một nhân viên giao hàng trong bộ y phục chuyên nghiệp, mang kiếng đen, râu giả và nhất là trong miệng trong mũi đã độn nhiều miếng nhựa để biến thành một người ốm với hai gò má đưa lên cao, răng hô, mũi bò, cằm bạnh với giọng nói ngọng pha tiếng Mễ tây cơ. John xử dụng một xe thùng gắn số giả, đến giao phụ tùng đúng vào lúc nhân viên tại đây nghỉ ăn trưa. Thực ra John có thể đột nhập vào garage một cách dễ dàng nhưng phải dàn cảnh đủ mọi cách để có thể giải thích khi bị bắt gặp cũng như đánh lừa những hình ảnh thu được bởi camera. Kế hoạch diễn tiến tốt đẹp trong vòng mười lăm phút, từ việc đặt túi nhựa dưới nệm đến hoàn tất các vết chỉ. Trong garage không có người trực, tất cả đều kéo nhau qua quán café bên cạnh.

Sáng hôm sau lúc quan sát cổng biệt thự nạn nhân, John thấy xe cấp cứ hụ còi chạy về hướng bệnh viện. John ung dung dùng taxi đến phòng cấp cứu, biết đích xác danh tánh và nạn nhân đã tắt thở, John dùng điện thoại gọi về Mỹ báo tin rằng hợp đồng đã ký xong.

Nạn nhân thứ ba bị ám sát bằng chất nổ. Đây là phương pháp John đã áp dụng sau khi nghiên cứu chương trình làm việc, lộ trình di chuyển thường nhật và các sở thích của nạn nhân. Will Hutton là một nhân vật quan trọng của tiểu bang, mỗi lần di chuyển đều có cảnh sát mặc sắc phục hộ tống. Khi được móc nối, người trả tiền chấp nhận dễ dàng tất cả điều kiện do John đề nghị. Ngược lại họ tuyệt đối không cho biết lý do phải thủ tiêu người này. Điều đó không quan trọng, đối với John số tiền thưởng và cách giao tiền là yếu tố quyết định. Dù nạn nhân thuộc thành phần nào John cũng hào hứng nghiên cứu và tìm cách thủ tiêu, càng khó ra tay càng tạo thêm nhiều say mê.

Sở thích của nạn nhân, thú câu cá bằng du thuyền tại vùng vịnh Mexcico. Mùa câu năm nào cũng vậy, nạn nhân thường đem bộ tham mưu nhẹ ra khơi vài ba ngày có khi đến cả tuần lễ, gồm chánh văn phòng, thư ký riêng, chuyên viên truyền thông điện toán và hai vệ sĩ thân tín. Muốn giết nạn nhân bằng chất nổ bắt buộc phải hy sinh những người đi theo.

Sau khi nghiên cứu lần chót, John chuẩn bị chất nổ với một số lượng lớn đủ khả năng làm vỡ chiếc tàu ra từng mảnh và các người trên tàu đều tan xác, không còn một người nào sống sót trước khi các đội cấp cứu đến kịp. Tránh tuyệt đối các sơ hở, John đã bay qua Thụy sĩ, tự mình tìm mua hai điện thoại di động cùng các loại thẻ gọi đặc biệt. Hai điện thoại cầm tay với ba băng tần xử dụng được tại các lục địa Âu-Á và Mỹ có thể tìm thấy dễ dàng tại các khu chợ trời, nơi bán hàng ăn cắp. Thụy sĩ, xứ sản xuất và bán tự do các loại thẻ này, sau mỗi lần gọi, chỉ cần bấm một nút nhỏ, có thể xóa tất cả dấu vết lưu lại trên thẻ, trong máy và nhất là trong hệ thống bộ nhớ của những phương tiện đã truyền cuộc điện đàm qua vệ tinh. Gần đây nhiều tổ chức khủng bố quốc tế đã xử dụng các loại thẻ này để thông tin liên lạc và thực hiện những cuộc khủng bố.

Nguyên tắc đơn giản, xử dụng luồng điện của chiếc điện thoại cầm tay để kích lửa ngòi nổ đặt trong khối thuốc. Khi có người gọi đến, chiếc điện thoại đổ chuông chính là lúc luồng điện phát ra kích vào ngòi nổ. Cuối cùng chỉ cần đặt thuốc nổ trong các bình chữa lửa. Để bảo đảo kết quả, chất nổ sẽ giấu trong hai bình chữa lửa cạnh phòng lái và nhà bếp, chúng phải nổ cùng lúc tạo ra hai lực ngược chiều, không còn một cái gì có thể còn nguyên vẹn, chiếc tàu phải tan ra hàng trăm mảnh vụn.

John cưa đôi bình chữa lửa đặt thuốc ngòi nổ và điện thoại vào một túi nhựa sau khi đã nối liền các mối dây ngòi nổ với hai cực âm dương của điện thoại. Antenne chiếc điện thoại hàn dính liền với bình thuốc để tăng khả năng bắt sóng. Bình chữa lửa được hàn lại bằng phương pháp hàn nguội và sơn đúng theo màu nguyên thủy, bảo đảm không còn vết cưa hay sơn dù chỉ một sơ hở nhỏ. Cuối cùng John bơm trở lại vào bình các hoá chất chửa cháy, đề phòng lúc cận vệ kiểm soát khả năng hoạt động của bình chữa lửa, bột vẫn phun ra một cách bình thường nếu chốt an toàn được rút ra.

Giai đoạn cuối cùng quan trọng hơn cả, John trong vai một người khách bình thường đến thăm viếng các quan cơ sở cho mướn du thuyền, nghiên cứu các loại bình chữa lửa, hóa chất căn bản, cách vận hành cũng như nơi đặt để. Tuyệt đối John không đặt câu hỏi hay có hành động nào gây sự chú ý cho người bán hàng cũng như khách đang có mặt.

Đến mùa câu biển người ta tụ tập về đây. John dưới một tên khác, khuôn mặt cũng như cách phục sức đã thay đổi, ông thuê một khách sạn cách xa bến đậu của du thuyền, hàng ngày thả bộ đến đây trông chừng, nhận diện đám cận vệ sẽ xuất hiện để tiếp nhận tàu, chuẩn bị, kiểm tra an toàn và xuống hàng cho chủ nhân. Khi biết được đích xác chiếc du thuyền nạn nhân sẽ xử dụng, John nghiên cứu bố trí trước để thừa lúc nhân viên an ninh bỏ thuyền vào quán rượu, ông sẽ tráo hai bình chữa lửa ngay.

Tối hôm đó, sau khi nhân viên an ninh rời thuyền vào quán rượu, John từ xa trên hai trăm thước, vai mang hai bình cứu hỏa lặn sâu xuống nước. Mười lăm phút sau John đã kín đáo leo được lên thuyền, vội vàng tráo hai bình mới vào hai vị trí cũ đã định sẵn, cẩn thận kiểm soát một lần chót trước khi rời thuyền với hai bình cứu hỏa thật.

Ngày sau, nạn nhân cùng đoàn tùy tùng đã ra khơi, John lên sân thượng một quán rượu gọi một chai scotch, châm lửa điếu thuốc rồi lấy điện thọai trong túi từ từ bấm liên tiếp hai số… Chỉ nghe được hai tiếng chuông đổ, sao đó bị cúp hẳn.

John thở phào nhẹ nhỏm khi ngoài khơi hai tiếng nổ lớn tiếp nhau, ngọn khói bốc cao tận mây xanh.

Trong quán rượu khách hàng xôn xao bàn tán, John đem chai rượu và chiếc ly vào trong quầy, ngồi trước màn hình tivi để đợi tin sốt dẻo. John không cần thông báo cho người mướn vì trong chốc lát đài CNN sẽ tạm ngưng chương trình để thông báo tin này.

Sau đó chừng mười lăm phút bản tin đầu tiên các cơ quan truyền thông cho biết quân khủng bố đã đặt chất nổ trên du thuyền làm thiệt mạng mười người trong đó có ông Will Hutton.

– Thưa ông chủ, đến nhà rồi, kính mời.

Nghe giọng nói tài xế, John bừng tỉnh khi xe đã vào hẳn trong sân. Chủ không trả lời, người tài xế vội hỏi tiếp:

– Thưa ông chủ, ông có sao không?

– Không sao, cám ơn Bop.

Vừa bước vào phòng, John cho lệnh:

– Chiều nay tôi không ra ngoài, anh yêu cầu nhà hàng giao thức ăn đến đây. Anh ăn chung với tôi trước khi về, sáng mai trở lại.

– Dạ, xin cám ơn.

Bữa cơm tối thật thịnh soạn do nhân viên nhà hàng đem đến phục vụ nhưng không quyến rũ được John sau một ngày thần kinh căng thẳng. Chốc nữa theo thỏa thuận, tiền sẽ được giao trước cửa nhà. Nếu việc thuê mướn xảy ra theo chiều hướng tốt đẹp, ngày mai phải bắt tay ngay vào việc theo những giao ước đã thỏa thuận với Big Michael.

Người tài xế vừa từ giã ra về, tiếng chuông điện thoại tại phòng khách đổ liên hồi, John vừa cầm lên, giọng quen thuộc của Big Mike lên tiếng trước:

– Chào ông Smith, đúng mười giờ đêm ông ra cổng lấy chiếc valy giao hàng như đã thỏa thuận. Kiểm hàng xong, ông vào site internet với hai mật mã mà tôi đã cho ông sáng nay để làm việc.

John đưa tay nhìn đồng hồ, còn hai phút nữa, ông tắt đèn phòng khách đứng sát vào cách cửa để quan sát cổng chánh ra vào. Không thấy động tĩnh gì, John định chừng năm phút sau sẽ ra cổng. Nhưng điện thoại tiếp tục đổ chuông, ông vừa cầm máy lên, đầu giây vẫn giọng của Big Mike:

– Bây giờ ông có thể ra cổng để lấy vào!

– Ông cho tôi biết số điện thoại của ông được không?

Bên đầu giây kia không trả lời, chỉ nghe tiếng cúp máy.

John mở cửa bước thẳng ra cổng, một valy lớn màu đen để ngay tại cánh cửa sắt, John bình tĩnh xách lên đưa vào phòng khách. Ông an tâm không nghi ngờ chiếc valy có thể hại ông lúc này, đây là một cuộc làm ăn sòng phẳng. Hơn nữa nếu Mike có ý hại ông thì chuyện đã xảy ra trong sáng nay, không cần phải dàn cảnh mang chiếc valy này đến tận nhà.

Vào đến phòng khách, chẳng cần do dự John mở ngay chiếc valy không khóa ra. Trong đó đựng toàn dollars giấy 100, liếc sơ qua John cũng tính được ba triệu như đã thỏa thuận. Ông ta đóng chiếc valy lại và đến ngồi trước máy vi tính. Vào site và qua hai lần mật mã, trên màn hình hiện ra khung cảnh một phòng khách như John đã thấy sáng nay trong lúc bị bắt cóc. Vẫn bàn giấy rộng lớn với chiếc ghế da nhưng không có chủ nhân. Giọng Mike phát ra từ máy vi tính:

– Hoan hô ông Smith. ông bằng lòng với số tiền?

– Cám ơn ông.

– Ông đã thấy những đề nghị hợp tác đứng đắn giữa chúng ta và tôi là người giữ lời hứa.

– Vâng.

– Tốt, ông nghe thật kỹ những chi tiết sau đây. Nạn nhân là ông Rick Jackson, lãnh đạo an ninh tiểu bang X. Phải giết một lượt với vợ và đứa con trai mười tuổi, đúng vào ngày hai mươi mốt tháng tám, nghĩa là ông còn thời gian gần năm tháng để thảo kế hoạch và thi hành lệnh của tôi.

John định đặt thêm vài câu hỏi, nhưng giọng nói đã cản lại.

– Cho đến bây giờ ông chỉ có quyền biết đến đây, liên lạc lần sau ông phải dùng ám số mới gồm tám số là ngày tháng năm sanh của mẹ ông. Chắc ông còn nhớ?

Vừa nói xong, màn hình của máy vi tính biến mất. John thử vào lại web một lần nữa với ám số cũ nhưng bị từ chối.

xxx

Lý lịch và mục đích những người bị giết trước đây không gây thắc mắc nhiều cho John, chỉ cần nghiên cứu sơ qua đời tư và những thói quen thường nhật của nạn nhân để lập chương trình hành động. Miễn làm sao nạn nhân chết đúng theo yêu cầu, nhận được tiền đầy đủ và các cơ quan điều tra khó lòng phanh phui manh mối là được, ông không thắc mắc gì hơn. Thật vậy, đã giết ba người tính đến giờ này nhưng John chưa gặp một rắc rối nào với các cơ quan điều tra của Mỹ, Ý và Interpol.

Vụ thứ nhất thật may mắn vì một người đàn ông bất bình thường bị bắt lầm, xuyên qua chi tiết trùng hợp những gì người qua đường và nhân chứng khai báo như y phục, hình dáng, đặc điểm cá nhân… Người này đầu đuôi khai bất nhất lại không đủ phương tiện tài chánh để mướn luật sư giỏi đành phải chịu tội thay cho ông ta.

Án mạng thứ hai xảy ra tại Ý, không một dấu vết cũng không liên hệ gì có thể nghi ngờ một người ghé qua đây vài ngày để ký hợp đồng. Lần chót mới đây, người trả tiền mướn John nắm trong tay quyền lực quá lớn, có lẽ đã hướng dẫn các cơ quan điều tra cũng như báo chí quay hướng điều tra để đổ lên đầu bọn khủng bố.

Nhưng lần này, có nhiều chi tiết bắt buộc John phải suy nghĩ và tìm hiểu cả hai đối tượng, người bỏ tiền ra mướn và nạn nhân. Cả hai nhân vật này đều xa lạ với John, nhưng tại sao Big Michael biết quá rõ về ông ta, từ cuộc sống riêng tư đến những việc làm ăn bí mật. Có thể ông ta thật sự có liên hệ gia đình với John hay chỉ đơn thuần là một lãnh tụ cao tay trong giới rửa tiền, mua bán vũ khí và bạch phiến quốc tế, đã bám sát John từ hàng chục năm qua. John bỏ ngay nghi vấn thứ nhất cho rằng ông này là người có liên hệ gia đình, vì John không có bà con thân thích ngay từ hồi còn nhỏ. Nhưng ví dụ, nếu có một người nào đó mà John đã quên thì chắc chắn họ cũng không bao giờ biết rõ ruột gan ông ta một cách tường tận như vậy. Nghi vấn thứ hai khả dĩ có thể tin được phần nào, trong giới giang hồ, để tin tưởng và dùng người cho một mục đích tối hậu nào đó, các tay trùm thường dày công tìm hiểu về gia thế, khả năng, tính tình, việc làm trước khi giao một nhiệm vụ trọng đại. Có thể John đã được chọn trong trường hợp này.

Bấy lâu John thường tự hào qua nhiều lần giết người nhưng vẫn được an toàn, các cơ quan điều tra chưa có một nghi vấn nào đặt ra với ông ta. Nhưng nay thì John giật mình, trên đời không có gì bí mật cả. Sanh mạng John bây giờ không nằm trong tay cơ quan cảnh sát mà chính tổ chức đã mướn ông ta. Dùng đòn lợi hại này để sai khiến John bắt ông phải phục tùng. Nhưng có điều lạ, tổ chức này không đưa ra yêu sách, dọa nạt bắt John phải thi hành lệnh mà đã đề nghị trả một số tiền ngoài dự đoán.

John vẫn thừa biết, dù nạn nhân là một nhân vật quyền thế nắm trong tay các cơ quan an ninh hàng đầu tiểu bang, nhưng với một giá nào đó Big Michael cũng có thể giết được Rick Jackson một cách dễ dàng, nhưng tại sao ông ta không muốn tự mình xuống tay hạ thủ kẻ địch mà phải dựa vào John. John đánh giá việc giết Rick đã được nhen nhúm từ lâu và quyết định thuê ông ta ra tay còn một ẩn số nào đó, được nghiên cứu đắn đo từ nhiều năm qua.

Vấn đề quan trọng, gây thắc mắc cho John là phải giết cùng lúc đứa con trai mười tuổi và bà vợ của nạn nhân vào đúng ngày hai mươi mốt tháng tám. Hai yếu tố này có thể giúp John tìm được nguồn gốc manh mối Big Michael cũng như động lực nào đã đưa đến mối thù không đội trời chung giữa Big và Rick bằng một cuộc thanh toán đẫm máu. John bắt tay vào việc nghiên cứu báo chí cũ cũng như các bản tin ngày 21 tháng 8 trước đây qua các đài truyền thanh truyền hình, tìm hiểu hoạt động giới buôn lậu và những thế lực che dù trong bóng tối. Cuối cùng ông ta tạm có một giải đáp.

Big Mike chỉ là bí danh đàn em thường gọi của Michael Schiano, cũng là tên giả trong giới giang hồ, một trùm quốc tế khét tiếng của hơn thập niên về trước trong giới buôn lậu và rửa tiền. Băng nhóm của Big Mike công khai lộng hành được tại các xứ nghèo, dưới các chế độ quân phiệt độc tài hoặc tại các xứ kém mở mang ở Phi châu thì dễ hiểu. Nhưng trên đất Mỹ, bọn chúng vẫn ngang nhiên từ nhiều năm qua, John cho rằng đã có ô dù che chở từ những nhân vật có quyền lực.

Nghiên cứu qua hàng trăm tin tức tai nạn, bắt cóc, ám sát, chết chóc… xảy ra trên đất Mỹ ngày 21 tháng 8, cuối cùng John nghi ngờ một tai nạn thương tâm, có thể có nhiều liên hệ mật thiết với Big Michael.

Ngày 21 tháng 8 cách đây mười năm, một trận hỏa hạn nhỏ lại tiểu bang miền đông nam Mỹ đã thiêu rụi khu rừng nằm sát ven biển, trong đó một gia đình mang tên William Harford, gồm hai vợ chồng và một đứa con mười tuổi bị cháy thành tro. Bắt đầu từ điểm này, John để trọn thời gian vào việc tìm kiếm. Cuối cùng ông đã gặp được những ngôi mộ trong một nghĩa trang của thành phố mang tên Harford với ngày sanh, ngày chết phù hợp những gì ông mong muốn. John dùng một số tiền lớn để mua chuộc người quản thủ nghĩa trang, bí mật cung cấp những gì liên quan đến những ngôi mộ này. Chỉ một thời gian ngắn, John đã nắm được kết quả khi người quản thủ nghĩa trang báo tin ông ta thấy một người thường đến đây đặt hoa tưởng niệm trên các ngôi mộ mang tên Harford.

Lúc đầu John thất vọng khi quan sát người đàn ông thường đến đây không phù hợp với mẫu người theo dự đoán của ông. Ông ta vóc người bé nhỏ trong lúc Big được đàn em gọi như vậy có nghĩa Big có thân mình to lớn. Hơn nữa ông ta thuộc thành phần nghèo khó, đem hoa đặt xuống trên mộ rồi vội vã ra về. Người này đến tưởng niệm người quá cố nhưng không một chút gì tha thiết với những người đang nằm ở dưới. Từ những dữ kiện này, John quyết đoán đây có thể một sự dàn cảnh để che mắt những ai còn bám theo vụ án hay làm thay công việc của những thân nhân, vì một lý do nào đó không thể tự mình ra mặt viếng thăm. Như vậy những gì ông khám phá ra phải có một liên hệ mật thiết giữa hai người mang tên Schiano và Harford. John quyết định phải trực tiếp với người thường đến viếng mộ đặt hoa.

Đứng xa quan sát từ lúc người đàn ông vào nghĩa trang cho đến lúc xong bổn phận và chuẩn bị quay gót ra về, John thản nhiên tiến lại đặt tiếp thêm ba bó hoa trên phần mộ xem như không ai bên cạnh. Hành động này gây ngạc nhiên tột độ cho ông ta vì từ mười năm qua, chỉ một mình ông đảm trách công việc thăm viếng. Không để ông này phản ứng, John lên tiếng trước:

– Chào ông, ông là… thân nhân của William?

Sau vài phút ngỡ ngàng, người đàn ông ấp úng chưa kịp trả lời, John tiếp ngay:

– Tôi, anh họ của bà Harford, xin lỗi ông cho biết qúy danh.

Nguời đàn ông ấp úng một hồi:

– Tôi liên hệ bên gia đình William.

John nắm lấy cơ hội:

– Sao từ lâu tôi không nghe nói đến. Tôi cũng vừa gặp vài người trong gia đình nạn nhân, họ cho biết từ cả chục năm nay không có ai đến đây viếng thăm.

Thấy trước có những điều bất lợi nếu kéo dài câu chuyện, người đàn ông xin từ giã vì còn nhiều việc phải làm. John không thể để cơ hội trôi qua, quay qua nhìn thẳng vào mắt người đàn ông, dằn mạnh từng tiếng:

– Tôi đã theo dõi từ lâu, ông không có chút liên hệ nào với những người nằm dưới này. Ông phải cho tôi biết thực ra ông là ai !

Người đàn ông đáp liều:

– Là người quen biết.

– Vô lý, không ai tin được những gì ông nói. Nếu ông chỉ là một người quen biết, không bao giờ có chuyện thăm viếng đều đặn những người nằm đây.

Không cần mất thêm thời giờ, John rút trong túi lấy ra một xấp tiền bằng giấy 100 đưa ngay trước mặt ông ta:

– Tôi muốn biết sự thật, ông là ai.

Người đàn ông vẫn ngoan cố:

– Tôi là người quen biết, ông muốn gì?

– Đơn giản, ai thuê mướn ông đến viếng thăm đặt hoa thường xuyên?

– Đây là chuyện riêng tư, ông có quyền gì?

– Quyền của tiền bạc và của cái này.

Nói xong John rút từ túi quần ra khẩu súng lục có gắn đầu hảm thanh, tiến đến sát ông ta, dí súng vào hông:

– Tiền hay chết? Tôi biếu ông mười ngàn dollars để trả lời đúng một câu hỏi.

Ông ta liếc nhìn xấp tiền và súng, ngập ngừng:

– Tôi sợ.

– Sợ ai, người mướn ông phải không? Tôi sẽ giữ bí mật hoàn toàn cho ông.

– Ông muốn biết gì?

– Ai đã mướn ông làm việc này. Tôi chỉ cần đơn giản biết tên địa chỉ, thế thôi.

– Thú thật tôi không biết rõ tên tuổi, địa chỉ.

John đưa súng lên dí mạnh vào cổ:

– Buồn cười ai tin được lời ông !

– Thực tình như vậy. Người ta đã thương lượng với tôi và trả tiền trong một quán rượu.

– Thương lượng như thế nào?

– Mỗi tháng, tôi mua ba bó hoa lớn đem ra mộ. Thế thôi.

– Còn tiền bạc?

– Đưa trước sáu tháng tiền hoa và tiền công.

John nôn nóng:

– Tôi không cần chi tiết, làm cách nào để biết mặt kẻ đưa tiền.

Ông ngập ngừng:

– Người đưa tiền chỉ là tài xế.

John bực mình:

– Làm sao anh khẳng định như vậy.

– Người chủ luôn ngồi trong xe không bao giờ vào quán.

– Còn bao lâu nữa đến ngày lãnh tiền?

– Thứ bảy này.

– Tại đâu?

– Quán rượu trước mặt nghĩa trang này lúc ba giờ chiều.

John bằng lòng:

– Tôi sẽ có mặt tại đây, nếu nhận ra tôi, đừng có bất cứ một phản ứng hay thái độ nào. Ông nghe rõ?

– Thưa ông, tôi hiểu.

– Được rồi, anh cầm mười ngàn dollars, cứ tiếp tục như không có chuyện gì xảy ra, tôi sẽ biếu thêm tiền cho ông, yên chí đi.

John hóa trang thành một người khách đến trước một giờ để theo dõi tình hình trong quán. Vừa vào John nhận ra người đàn ông trong nghĩa trang đã có mặt tại đây, ngồi một mình trong góc, trước mặt chai scotch với hai cái ly. Đúng giờ hẹn, một chiếc xe hơi màu đen dừng lại trước cửa, tài xế xuống xe vào quán và đi thẳng đến phía người đàn ông đang ngồi đợi. Người tài xế không cần bắt tay, kéo ghế ngồi và tự nhiên rót rượu cho mình. Uống xong ly rượu, tài xế trao gói giấy cho người đàn ông, John biết những gì người này nói đều đúng sự thật. John đứng dậy ung dung ra quán, kín đáo nhìn số xe rồi băng qua đường đánh lạc hướng người ngồi trong xe.

Tìm hiểu qua số đăng bộ, John biết chủ nhân chiếc xe màu đen tên Harry Whitney ở tại số…đường… Đối với John, chừng đó dữ kiện đủ cho phép ông biết được những gì bí ẩn chung quanh Big Michael và Rick Jackson

Câu chuyện trở lại từ đầu, dưới tên giả Michael Schiano, Big cầm đầu nhóm buôn lậu tại Mỹ. Hàng chục vụ nhập bạch phiến, buôn bán vũ khí, rửa tiền phi pháp đã trót lọt an toàn nhờ bí mật hợp tác với Rick Jackson, một người đứng đầu trong ngành cảnh sát. Hai người hợp tác bí mật dưới hình thức thông qua kế hoạch, bảo đảm an toàn nơi giao nhận và lộ trình chuyển vận hàng hóa. Rick lấy bốn mươi phần trăm tiền lời tận tay của Big. Không một ai ngoài hai người biết sự việc và nghi ngờ bất cứ điều gì. Chỉ một lần vì lý do kỹ thuật, Big và Rick phải hy sinh tức khắc mấy đàn em có mặt trong chuyến hàng để cắt đứt hoàn toàn đường giây điều tra của cảnh sát. Trong nghề này dù anh em ruột thịt cũng không thể tin cậy nhau được huống gì giữa hai người xa lạ, nhất là việc hợp tác vì đồng tiền giữa tướng cướp và cảnh sát. Trước mặt họ vẫn trung thành hợp tác bảo vệ nhau nhưng sau lưng mỗi người đều thủ sẵn trong người khẩu súng đã lên đạn. Người nào ra tay trước sẽ nắm được phần thắng cho mình. Sau khi kiếm được những số tiền lớn, Rick đã xuống tay thủ tiêu Big trước để bảo vệ an toàn tuyệt đối cho mình, chấm dứt những liên hệ mờ ám đồng thời trừ hậu họa bất trắc cho con đường sự nghiệp của mình đang lên như diều gặp gió.

Trong cuộc sống bình thường ngoài đời, tên thật của Big Michael là William Harford, một nhà kỹ nghệ giàu có. Ngoài ngôi nhà đồ sộ tại trung tâm thành phố còn một ngôi nhà nghỉ mát ở ven rừng sát bờ biển. Gọi nhà nghỉ nhưng ngôi nhà này được kiến trúc bằng gỗ theo lối xưa, hai từng lầu với mười lăm phòng riêng biệt. Cuối tuần hai vợ chồng và đứa con trai thường về nghỉ ở từng trệt và ngủ ở lầu một. Phần trên trang hoàng đủ tiện nghi dành để sẵn cho bạn bè mỗi khi họ theo đến đây.

Tối 21 tháng 8 trước đây mười năm, sau khi kiểm chứng chắc chắn William hiện đang có mặt trong nhà cùng Mary vợ William và đứa con trai, Rick đã bố trí bắn William chết liền tại chỗ trước khi châm lửa đốt khu rừng chung quanh nhà và phóng hỏa trực tiếp vào các cửa ra vào để không một ai có thể thoát ra ngoài. Rừng thông nhạy cháy, lửa vừa bùng lên đã lan nhanh khu này qua khu khác trong nháy mắt. Nhà xây bằng gỗ thông bắt lửa phựt cháy từ dưới lên trên ngay từ lúc que diêm vừa chạm vào mấy thùng xăng mồi rưới chung quanh nhà. Bên trong một người đàn ông chết cháy ngay trong phòng khách. Vợ William từ lầu một kéo tay đứa con trai tìm lối thoát nhưng ngọn lửa đã vây kín bốn phía và cháy sập cầu thang.

Đội cứu hỏa phải mất thời giờ để mở đường xuyên qua ngọn lửa, khi vào đến sân nhà họ không còn hy vọng gì để cứu nạn nhân bị kẹt lại trong đó. Ngôi nhà đã sập hoàn toàn. Ngày hôm sau người ta tìm được ba nhúm xương và tro của hai người lớn và một trẻ em. Cốt tro được an tang trong nghĩa trang của thành phố với ba mộ bia mang tên Harford William, Mary và Tom.

Các biên bản tư pháp, vệ sinh đều nghiêng về tai nạn và cho phép chôn cất thi hài để tránh ô nhiễm. Hồ sơ cảnh sát dưới quyền Rick từ từ khép lại đưa vào khu lưu trữ.

Nhưng số William chưa chết, tối hôm đó bận việc không về nhà, ông ta đã điện thoại nhờ người em ruột đến ngủ lại qua đêm trong trường hợp cần thiết còn có người bảo vệ cho vợ và con trai. Ngay đêm đó William đã hay tin, khi ông ta về đến nhà thì lính cứu hỏa và cảnh sát đã dập tắt được ngọn lửa, nhưng vợ con và người em trai đã cháy thành tro. William biết ngay đây không phải tai nạn, chính một bàn tay nào đó đã dàn cảnh để thủ tiêu ông ta. Trực giác cho ông biết ngay chính Rick muốn xóa sổ ông ta, nhưng không hiểu tại sao phải ra tay độc ác giết hại cả gia đình.

Sau khi âm thầm theo dõi việc an táng em và vợ con, William trốn qua Ý sống ẩn dật tại đây hai năm. Trong thời gian này ông đã nhờ phẫu thuật thẩm mỹ thay đổi hoàn toàn khuôn mặt, các dấu chỉ tay và mang tên mới rất lương thiện: Harry Whitney. Dưới tên mới Big trở lại Mỹ và tiếp tục con đường cũ, Ông ta kín đáo quy tụ các đàn em ngày trước, nhưng tuyệt đối không một ai biết được quá khứ nguồn gốc ông ta. Những bộ hạ thân tín thường gọi ông một cách thân mật Big Michael, trong giới giang hồ thì người ta biết đến Michael Schinano. Big phải dùng hai tên mới, một chính thức cho cuộc sống thường nhật, làm việc cưới vợ sinh con… và một xử dụng trong giới giang hồ. Đối với ông cũng như tất cả mọi người William Harford đã chết hẳn

Trá hình dưới một nhà kỹ nghệ, sản xuất các loại thực phẩm đóng hộp, Big dưới tên Harry Whitney cưới người vợ thứ hai và đã có một đứa con gái năm tuổi. Mối hận ngày xưa phải thanh toán bằng bất cứ mọi giá, nhưng Big thương bà vợ sau và đứa con gái, không muốn tự mình trực tiếp nhúng tay vào hay ra lệnh cho đàn em thi hành vì trước sau gì cơ quan cảnh sát cũng tìm ra manh mối. Hơn nữa Big không muốn vì một sơ hở nào đó gia đình ông sẽ bị hy sinh một lần thứ hai. Big quá thừa tiền, lý lịch trong sạch dưới tên Whitney và muốn hưởng trọn vẹn hạnh phúc những ngày còn lại với vợ đẹp con thơ, Big phải dùng tay John Smith để đấu trí và trả thù Rick. Phải giết trọn gia đình một lượt gồm vợ và con như Rick đã hại gia đình ông trước. Quyền lực tiểu bang giờ đây đang nằm gọn trong tay Rick nhưng ông hy vọng với mười triệu dollars và trí thông minh của John, việc giết gia đình Rick không gặp khó khăn gì.

John vào site internet với ám số ngày sanh tháng đẻ của mẹ ông như Big đã xác định lấn cuối, John tiếp xúc được với Big dễ dàng:

– Chào Big Mike. Tôi muốn tiếp chuyện với ông.

– Chào John, có chuyện gì mới lạ không?

– Tôi đã nghiên cứu và biết rõ Rick, hôm nay thông báo để

ông hay, chương trình chúng ta sẽ tiến hành tốt đẹp, không gì trục trặc.

– Rất tốt. Đúng ngày quy định?

– Vâng ngày 21 tháng 8 là ngày sinh nhật đứa con trai. Cơ hội tốt để ra tay nhưng tôi chưa thể cho ông biết chi tiết.

Big cười dễ dãi:

– Chết thế nào không cần thiết, điều quan trọng là ba người phải chết tức khắc cùng lúc với nhau.

– Tôi biết rất rõ nguyên do ông yêu cầu.

Big lớn tiếng ngạc nhiên:

– Ông biết rõ lý do?

John chậm rãi:

– Vâng, còn nhiều hơn thế nữa.

– Nghĩa là?

– Ông biết tôi một nhưng bây giờ tôi biết ông hai. Nghĩa là từ những hoạt động trong quá khứ, việc hợp tác với Rick. Rick dàn cảnh hỏa hoạn để đốt gia đình ông thành tro. Phải không ông Schiano? ông Harford hay Whitney cũng vậy !

Nghe John nêu đích danh ba tên của mình nhưng Big vẫn bình tĩnh không lên tiếng, John tiếp tục:

– Em ruột ông đã chết thay ông đêm đó. Ông trốn qua Ý giải phẫu thẩm mỹ để thay hẳn hoàn toàn bộ mặt thật của ông và đổi tên mới, hai năm sau quay trở lại Mỹ quyết rửa hận, phải không ông Harry Whitney?

Big ngắt ngang:

– Bây giờ ông muốn gì?

– Không muốn gì cả, chúng ta đã thoả thuận với nhau, tôi sẽ hoàn tất những gì đã hứa. Trong giang hồ, tôi hiểu luật chơi và tôn trọng lời nói của mình.

Không đợi Big lên tiếng, John tiếp tục:

– Bây giờ thì ông thấy ai trên ai? Ai là người nắm sanh mạng của ai. Tôi độc thân, ông còn bà vợ đẹp đứa con gái xinh xắn và một gia tài vĩ đại. Như vậy ông phải chịu ở thế dưới do tôi chỉ huy, bây giờ ông đã nắm ngay lưỡi dao do tôi cầm cán. Hơn nữa, nghe kỹ đây, trường hợp ông bán đứng tôi bây giờ, chưa chắc gì ai tin và phải qua nhiều thủ tục mới trói được tay tôi. Ngược lại tôi chỉ cần cho Rick biết ông còn sống thì chắc chắn ông sẽ bị thủ tiêu ngay tức khắc !

– Tôi nhắc lại một lần nữa, còn điều kiện gì đưa ra hãy nói ngay.

– Không, chỉ cho ông biết, đời người chưa nhắm mắt thì

đừng vội nói ai đã hơn ai. Cá thì ăn kiến nhưng có lúc kiến lại ăn cá một cách ngon lành !

Big xuống giọng:

– Cám ơn ông, người hiểu biết và chơi đúng luật giang hồ.

– Không có gì, chúng ta làm ăn với nhau và sẽ bảo vệ nhau. Ông an tâm.

Trước khi chấm đứt, John nhắn Big:

– Ông ghi nhận để ám số để lần tới vào internet nói chuyện với tôi. Site…, ám số chính là 6 con số trong hộp đồng hồ ghi điện tại nhà ông. Xin chào ông !

Sau khi ra khỏi internet John bằng lòng vì đã trị được Big một đòn thật đau. John không muốn phản bội Big Michael nhưng phải dằn mặt trước để tránh trường hợp Big có thể bất thần cho lệnh đàn em thanh toán John.

Nhiều đêm không ngủ, John suy nghĩ một phương cách giết ba người làm sao thật gọn, không cần phải hy sinh thêm người nào như vụ ám sát bằng cách cho nổ thuyền trên vịnh Mễ tây cơ. Giết Rick là chuyện đương nhiên, đời có vay có trả nhưng với bà vợ xinh đẹp và đứa con gái vô tội thì kể ra cũng tàn nhẫn. John tự nhiên không hiểu sao ông hơi đắn đo khi phải ra tay với một bé gái. Có lẽ lần đầu tiên trong đời tình cảm của ông đã bắt đầu thức dậy sau khi chứng kiến cảnh vợ Big đón con ở trường học. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau, đứa bé gái thật đẹp, vô tư, vừa đi vừa nhảy múa theo chân mẹ bước lên xe. John không yêu ai, không thích trẻ con nhưng hình ảnh hai mẹ con trước mắt đã làm cho John băn khoăn về cái chết sẽ do chính ông ta giáng xuống đầu hai người xấu số này. Sau đó không hiểu bởi động lực nào, John thường lén đến trường để chứng kiến cảnh mẹ con âu yếm nắm tay nhau ra xe, dù chỉ trong vài chốc lát, nhưng vẫn phảng phất một chút xao xuyến trong lòng. Dần thành thói quen, mỗi khi rỗi rảnh John hay đến trường, ngồi yên trong xe đợi đứa bé ra trường. Từ từ John cảm thấy thương hại đứa nhỏ, nó chẳng tội tình gì phải chết chung một cách oan ức với cha nó. Đời nó còn dài, một tương lai tươi sáng phải để yên cho nó sống. Nhưng giết cha nó, đời nó sẽ khổ, biết đâu sau này lớn lên sẽ đi bụi đời. Những dằn vặt kéo dài từ ngày này qua ngày khác và lớn dần trong trong suy tư. Đến một ngày John quyết định phải tha chết cho đứa bé và mẹ nó nhưng đối với Big không thể bỏ qua được, phải thi hành những gì đã cam kết dù có rủi ro cũng phải chấp nhận. Biết chắc không thể nào thuyết phục được Big thay đổi ý định. Phải đặt Big trước một chuyện đã rồi và để bảo đảm an toàn cho bản thân John cần nghiên cứu thêm một kế hoạch…

Rick sẽ tổ chức lễ sinh nhật con trai mười tuổi vào ngày 21 tháng 8 tại nhà hàng lớn của thủ đô tiểu bang. Thời điểm và nơi chốn đã ấn định. Ngày đó các lực lương an ninh sẽ được tăng cường và tổ chức canh phòng chặt chẽ. Dù đến với tư cách khách mời danh dự cũng không cách gì mang theo phương tiện giết người. Súng tiểu liên nhỏ phải được đưa vào nhà hàng từ những ngày trước, nghĩa là những ngày nhân viên an ninh chưa đến nghiên cứu, lục soát và canh gác. May mắn John đã lẻn vào ban đêm và giấu được súng trong hệ thống thông hơi của phòng vệ sinh. Một bánh sinh nhật lớn cho năm trăm khách mời sẽ được nhân viên an ninh kiểm tra, sau đó đưa vào phòng lạnh đặc biệt do nhân viên an ninh canh giữ cho đến lúc cắt. Bánh sinh nhật, chính là nơi giấu súng an toàn để có thể đưa đến gần nạn nhân. Để bảo toàn chất lượng và vệ sinh, nhà hàng sẽ chọn chính người thợ làm bánh trông xem về kỹ thuật đồng thời trách nhiệm đưa ra trình diện quan khách. Kế hoạch của John, hóa trang thành người thợ làm bánh này đột nhập vào nhà hàng trước đó vài tiếng đồng hồ, ông có thể thi hành được kế hoạch.

John đã tìm dịp nói chuyện và chụp được hình James, người thợ được đề cử làm chiếc bánh sinh nhật, trách nhiệm phẫm chất và đem ra trình giữa buổi tiệc.

Ngày 20 tháng 8, John lên máy tiếp xúc với BigMichael:

– Cho ông hay tất cả đều được sắp đặt đúng theo kế hoạch.

– Nghĩa là thi hành đúng vào ngày mai? Ngay lúc Rick tổ chức sinh nhật cho con trai?

– Đúng, sau khi xong việc tôi sẽ báo cho ông hay. Ông cho tôi số điện thọai riêng để nếu cần có thể liên lạc dễ dàng.

– Được, ông ghi nhớ lấy, không được viết ra giấy.

– Vâng, tôi nghe.

– Số…

– Cám ơn Big Mike.

Chấm dứt chuyện với Big, John xuống hầm lấy chiếc valise ra xe và chạy thẳng đến nhà thờ.

Nhà thờ giờ này vắng không một bóng người, John xách chiếc valise vào thẳng tòa giải tội, dùng điện thoại cầm tay gọi cha xứ:

– Alo, ông là linh mục?

– Vâng chính tôi. Cha Peter.

– Thưa cha, tôi muốn xưng tội!

Đầu giây kia nghe cha Peter ngập ngừng:

– Sao xưng tội giờ này? Tôi có chương trình hằng tuần.

– Thưa cha, tôi gấp lắm.

– Được ông cứ đến nhà thờ bấm hai lần chuông tôi sẽ ra ngay.

– Tôi hiện đang đợi cha trong tòa giải tội!.

Rất ngạc nhiên nhưng bổn phận của một linh mục, ngài gấp cuốn sách đứng dậy bước nhanh qua nhà thờ. Đến tòa giải tội ngài thấy một người đang quỳ sẵn bên trong:

– Nhơn danh Cha và Con và Thánh Thần. Có phải ông là người vừa điện thại cho tôi?

– Đúng vậy, thưa Cha.

– Ông muốn xưng tội?

– Đúng.

Sau vài câu kinh đọc thầm trong miệng, cha Peter hỏi:

– Trước khi xưng tội, ông đã suy xét tội lỗi của mình và đã thật lòng ăn năm về những lỗi lầm đã phạm?

John đáp không suy nghĩ:

– Suy xét thì có, nhưng ăn năn thì không!

Hơi ngạc nhiên trước câu trả lời, nhưng cha Peter vẫn ôn tồn:

– Nếu ông muốn được tha thứ, trước hết phải ăn năn việc làm sai trái của mình và hứa sẽ không còn tái phạm nữa.

– Thưa Cha, có sai trái hay không thì chưa rõ, nhưng phải chừa không tái diễn nữa thì không được!

– Sao vậy ông?

– Vì ngày mai tôi còn phạm lại tội này.

Vị linh mục thật thà:

– Thực ra có nhiều tội, người đàn ông đã thề hứa khi vào tòa giải mà vẫn tái phạm liền sau đó. Nhưng ông biết, lòng Chúa nhân từ, Ngài đều tha thứ nếu mỗi lần đến đây biết nhận lỗi sám hối ăn năn.

John phấn khởi:

– Như vậy tốt lắm.

– Thế ông đã phạm tội gì?

– Giết người, và ngài mai còn phải giết thêm một người nữa!

Nghe đến đây, cha Peter hốt hoảng:

– Ồ không! tưởng là những tội bình thường của điều răn thứ sáu. Không ngờ…

John thắc mắc:

– Điều răn thứ sáu là tội gì?

– Thứ sáu chớ làm sự dâm dục…

Sực khám phá ra điều gì, linh mục hỏi:

– Như vậy chắc ông không phải người có đạo?.

– Tôi không phải người công giáo, thưa Cha.

– Làm sao giải tội cho ông bây giờ !

– Thì cứ xem tôi như người có đạo vậy!

– Phép giải tội là một đặc ân Thiên Chúa dành cho người đã chịu phép rửa tội.

– Sao rắc rối quá vậy, cứ rửa tội trước cho tôi rồi giải tội sau có mất gì đâu.

Lần đầu tiên trong đời gặp một trường hợp quá đặc biệt cha Peter ôn tồn tìm hiểu:

– Thưa ông, trường hợp của ông quá đặc biệt, xin vui lòng cho tôi biết rõ thêm phần nào.

John trình bày:

– Thưa Cha, tôi không theo đạo nào cả. Trong đời đã ba lần giết người và ngày mai còn giết người thêm một lần nữa.

– Ông có thù oán sâu đậm với những nạn nhân?

– Không ! nghề của tôi là giết mướn. Ai thuê tiền thì ra tay.

– Tại sao lần này ông….hối hận và muốn xưng tội?

– Nói hối hận và muốn xưng tội cũng không đúng.

Vị linh mục hết kiên nhẫn:

– Thưa ông, thế ông muốn gì?

– Muốn có cơ hội gặp riêng cha để phó thác một việc.

– Tại sao chọn tôi?

– Tôi nghe người ta nói luật giáo hội áp dụng với các linh mục rất chặt chẽ.

– Nghĩa là?

– Các linh mục sau khi ngồi giải tội cho con chiên đều bắt buộc phải giữ bí mật cho đến chết những gì họ đã tiết lộ cho linh mục, phải vậy không cha?

– Đúng vậy.

– Tốt, như vậy tôi chọn cha để phó thác một việc.

Cha Peter thẳng thắn trả lời ngay:

– Tôi không nhận, vì không muốn cùng ông nhúng tay trực tiếp hay gián tiếp vào tội ác cũng như bao che những gì ông đã, đang và sẽ làm.

– Thưa cha không đúng vậy.

-?

John nói nhỏ:

– Ngày mai tôi được lệnh giết một gia đình gồm hai vợ chồng và một đứa con trai mười tuổi. Nhưng tôi đã đổi ý, có thể chỉ giết một mình người cha và tha tội chết cho hai mẹ con.

Vị linh mục mỉm cười:

– Ông nói vậy không nghe được chút nào, giết hại người ta mà ông bảo tha tội chết.

John cắt ngang:

– Cha hiểu làm sao cũng được, tùy cha.

– Rồi sao nữa?

– Người ta đã đưa trước ba triệu dollars cho tôi, bảy triệu còn lại sẽ giao ngay sau khi bắn gục nạn nhân.

Cha Peter dứt khoát:

– Không thể được ! Như vậy tôi đã gián tiếp giết người.

– Thưa cha, việc ám sát đã được thỏa thuận và tính toán kỹ càng. Cha nhận giúp tôi hay không, tôi vẫn giết người như thường.

– Có cách nào để tránh việc này không?

– Không, nếu không thi hành tôi sẽ bị giết. Nghĩa là trước sau gì cũng phải có án mạng. Nạn nhân hay chính tôi, một trong hai người phải chết theo hợp đồng !

Cha Peter cố gắng thuyết phục:

– Cố gắng liên lạc với người trả tiền yêu cầu hủy bỏ xem sao.

– Chắc chắn không được.

Cha Peter im lặng, không còn lời nào có thể thuyết phục được John. John nóng lòng lên tiếng:

– Tôi nhờ cha làm một việc thiện.

Cha Perter nghe nói đến việc thiện, hỏi ngay:

– Việc gì tôi có thể làm được cho ông?

– Tôi đem sẵn theo đây ba triệu tiền mặt ứng trước vụ sát nhân. Nếu ngày mai bất trắc tôi chết, nhờ cha giao số tiền này cho một người. Trường hợp tôi thành công sống sót, tôi sẽ tự tay đem thêm để đủ số mười triệu, và cũng chỉ giao lại cho người này.

– Tôi chưa hiểu, xin nói rõ:

– Đây là số tiền người ta mướn tôi giết nguyên gia đình ba người. Nhưng tôi sẽ giết một mình người cha, số tiền này nhờ cha cất kỹ và chỉ giao cho người con trai khi nó trưởng thành. Đây là sự tin tưởng tuyệt đối của tôi với một linh mục.

– Sao không giao cho mẹ nó mà phải qua tôi?

– Tôi sợ mẹ nó lấy số tiền này và sẽ tái giá, đời nó sẽ khổ sau này.

– Để tiền lại cho ai?

– Con nạn nhân, ngày mai cha sẽ biết nạn nhân là ai.

Bây giờ cha Peter bắt đầu hiểu sự việc:

– Giết cha lấy tiền thưởng để lại cho con nạn nhân?

– Đúng vậy.

– Tại sao?

– Tôi bắt buộc phải nhúng tay vào việc này.

– Bây giờ ông thấy hối hận?

– Cũng không đúng hẳn.

Cha Peter suy nghĩ một hồi:

– Thật khó nghĩ. Ông để tôi xin ý kiến ngài tổng giám mục.

– Không ý kiến gì cả. Cha đã nhận tiền thì phải thi hành đúng theo lương tâm và giáo luật. Valise đựng ba triệu dollars đang nằm dưới chân và tôi để lại đây.

Nói dứt câu, John đứng dậy vội vã bước ra tòa giải tội, đặt cha Peter trước một chuyện đã rồi.

Cha Peter đứng dậy chưa kịp phản ứng gì, John đã ra khỏi cửa. Ngài cúi xuống bàn qùy, chiếc valise lớn đang để lại đó. Biết làm sao bây giờ, cha Peter đành xách vào trong cung thánh và mở ra xem. Valise đầy ắp tiền giấy. Ngài đóng lại để vào tủ khóa cẩn thận rồi quay ra trước bàn thờ, nhìn lên tượng Chúa than thở:

– Lạy Chúa, người ta đã đặt lên vai con một thánh giá quá nặng. Con phải làm sao bây giờ?

Hôm sau, ngày sau 21 tháng 8, John thức dậy thật sớm cải trang thành James người thợ bánh, lái xe qua nhà vợ con nạn nhân trước khi đến nhà hàng.

Khu vực ra vào nhà hàng đã được phong tỏa và kiểm soát chặt chẽ. John vào bằng cửa sau dành riêng cho nhân viên và người giao hàng. Thu hồi khấu súng tiểu liên dấu kín trên hệ thống thông hơi xong John vào phòng vệ sinh kiên nhẫn đợi James. Gần đến tối, James vừa bước vào đã bị John đánh thuốc mê với một liều lớn, chỉ vài giây James bất tĩnh được John dựng ngồi yên trên bàn cầu. John khóa trái cửa phía trong, nhảy ra và ung dung trở vào phòng đang chứa bánh sinh nhật.

Thừa lúc nhân viên an ninh đi vệ sinh, John dấu súng vào trong chiếc bánh và lấp lại bằng kem, chỉ chừa một lổ nhỏ vừa đúng để lòn ngón tay trỏ vào bóp cò.

Công việc xảy ra tốt đẹp. Đến giờ cắt bánh, John châm mười ngọn nến, khi đèn điện trong phòng tiệc đều tắt John đẩy xe bánh ra giữa phòng. Rick, vợ và đứa con đang tươi cười nhìn chiếc bánh vĩ đại đặt biệt làm riêng cho dịp lễ. John đẩy xe đến thật gần Rick hướng mũi súng vào ngay đầu và bóp cò. Năm viên đạn vụt ra khỏi nòng súng đâm ngay vào giữa trán nạn nhân. Rick gục ngay tại chỗ. Số đạn còn lại trong nòng súng dành riêng cho vợ con nạn nhân, John hướng mũi lên trần nhà bắn xối xã, cốt gây náo loạn quan khách đám an ninh và phục vụ để tiện đường thoát thân. Cởi bỏ bộ áo trắng phục vụ, John thoát nhanh khỏi nhà hàng bằng lối sau. Cảnh sát siết chặt vòng vây thì John đã thoát ra được bên ngoài, ông ta vào trong một chiếc xe cách đó vài trăm thước để quan sát việc cấp cứu.

Mười phút sau John điện thoại cho Michael:

– Công việc xong xuôi, nhưng có một việc…

Big vội cắt ngang:

– Việc gì?

– Tôi chỉ giết một mình Rick.

Big hét lên trong điện thoại:

– Vợ con nó sao?

John thản nhiên:

– Tôi tha chết.

Tiếng hét càng dữ dội hơn:

– Ai cho phép?

– Chính tôi.

– Tôi sẽ giết ông tức khắc.

John chặt lưỡi:

– Đừng vội, ông không giết được hay nói đúng hơn ông không bao giờ dám đụng một sợi lông chân của tôi.

Big phát điên trong máy:

– Để xem, đồ khốn nạn. Tôi sẽ giết ông ngay !

– Khoan đã, ông giết chết tôi, ông đâu biết chỗ vợ con đang ở.

– Sao, ông nói gì?

– Tôi đã bắt cóc vợ con ông sáng nay, ngay lúc ông vừa lên xe đi làm.

Bây giờ đến lượt Big hoảng hốt:

– Ông đã làm gì vợ con tôi?

– Ông an tâm không có gì nguy hiểm. Vợ con ông là khách của tôi.

– Ông nói láo.

John lấy máy ghi âm, bấm nút cho Big nghe giọng nói của vợ và con gái ông. Vợ Big xác nhận đang ở trong một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi và được đối xử như thượng khách. Bà còn khuyên ông đừng lo lắng gì, bà sẽ được tự do sau khi John lên máy bay.

– Với mục đích gì? Ông cần đòi thêm bao nhiêu?

John bình thản trả lời:

– Một, để ông không thể phản bội bằng cách thanh toán hay bán đứng tôi cho cảnh sát. Hai, buộc ông phải giao đủ số tiền bảy triệu còn lại. Ba, để tôi an tâm lên đường ra khỏi nước Mỹ. Mục đích không phải đòi thêm tiền bạc gì cả !

– Lấy gì bảo đảm an toàn cho vợ con tôi?

– Lời nói của tôi.

Big hoài nghi:

– Không thể tin một người như ông. Tại sao ông không thi hành lệnh tôi giết sạch cả gia đình?

– Tôi thấy chỉ cần giết Rick đã đủ. Vợ con nó vô tội. Giết hai người này không ích lợi gì?

– Tại sao ông đổi ý?

– Chuyện riêng của tôi.

Hai người im lặng vài giây, John lên tiếng trước:

– Chắc ông vừa nghe bản tin ngắn và biết chắc chắn Rick đã chết. Đối với tôi xem như hết chuyện. Đúng 12 giờ khuya nay, ông giao nốt số tiền còn lại. Sáng mai trước khi bước chân lên phi cơ, tôi sẽ cho ông địa chỉ để ông đón người nhà về.

– Không được, phải thả ngay vợ con tôi trước khi nhận số tiền còn lại.

John cười:

– Tôi đã nói, bây giờ chính tôi ra lệnh chứ không phải ông.

Cứ tin tôi, tôi giữ vợ con ông vì lý do an toàn cho tôi mà thôi.

– Làm sao tin được.

– Con người dù xấu xa đến đâu cũng có lúc vì một lý do nào đó họ trở nên lương thiện, hay ít ra cũng làm được một vài việc gì tốt đẹp

– Với ông thì lý do gì?

– Tôi đã không nỡ tâm giết chết vợ con Rick thì chắc chắn không làm gì phương hại đến vợ con ông. Tin tôi đi.

Big xuống nước:

– Tôi tin tình cảm trong con người ông đã thức tỉnh, xin ông hãy thương đứa con gái của tôi.

– Được tôi sẽ giữ lời.

Ngày sau trước khi ra phi trường, John ghé qua nhà thờ để chiếc valise đựng bảy triệu trong tòa giải tội, mở điện thoại gọi cha Peter:

– Thưa cha, tôi là người hôm qua đã nói chuyện với cha.

Bây giờ cha ra tòa giải tội nhận gấp chiếc valise đựng tiền. Chừng một giờ nữa, tôi sẽ gọi lại để nói chuyện rõ ràng hơn.

Không đợi cha Peter lên tiếng, John đã cúp máy.

Làm thủ tục xong, John gọi cha Peter:

– Thưa cha, tôi xin tiếp câu chuyện.

– Được ông cứ nói.

– Tôi sẽ lên máy bay trong chốc lát, vĩnh viễn đi xa và không bao giờ trở lại đất Mỹ. Tôi sẽ thay họ đổi tên làm lại cuộc đời mới thật lương thiện. Tôi hứa với cha không bao giờ giết người nữa. Từ nay tất cả mọi người sẽ không kiếm ra tôi kể luôn cả cha. Mong cha giúp cho đứa trẻ. Nó chính là con trai của Rick Jackson.

Cha Peter sung sướng:

– Như vậy ông bắt đầu sám hối ăn năm về tội lỗi mình đã phạm?

– Cũng có thể một phần như vậy.

– Nếu ông thực tình ăn năn sám hối và sẽ từ bỏ những xấu xa ngày trước thì trên nguyên tắc tôi có thể tha tội cho ông. Hy vọng ở một nơi nào đó, khi tâm hồn nổi loạn ông nên đến với thánh đường, nơi đó ông sẽ tìm được sự an lành trong tình thương của Thiên Chúa.

– Cám ơn cha.

Chiếc phóng thanh thông báo cho những hành khách có chuyến bay đi Thượng hải chuẩn bị ra cổng số.. John gọi cho Big:

– Chào Mike, tôi đã lên máy bay. Vợ con ông hiện đang ở tại số… đường… .thành phố… Ông đến đón về. Nhớ đừng làm khó gì những người tôi đã thuê để hầu hạ phục dịch cho vợ con ông. Tôi đã thanh toán tiền bạc sòng phẳng với họ. Nếu ông muốn biếu thêm thì tùy ông. Chào Big Mike.

John tắt máy, nhìn ra ngoài cửa sổ, máy bay đã lên cao. John lim dim đôi mắt tự hỏi: Không lẽ hình ảnh hai mẹ con Rick đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời của mình chăng?

Đinh Lâm Thanh
dinhlamthanh@hotmail.com

(Bến Nước Đục, xuất bản 2005)

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

TÂM SỰ CỦA MỘT CHIẾC RĂNG

Bây giờ thì tôi nằm đây, trên mặt bàn, trông gớm ghiếc như một mẩu xương cũ và bẩn. Hình thể lồi lõm theo cách cấu trúc của chiếc răng bình thường, chỉ trừ một đường địa đạo đen thui nằm luồn phần ngang hông, như những vết sẹo lành da trên thân thể con người. Tuy vậy, tôi vẫn còn đủ ba chân răng vững chắc, đủ sức bám vào phần thịt bên dưới suốt gần sáu mươi năm cuộc đời, nếu không vì cái rãnh sâu kia để phải ra đi vào miền miên viễn.

Cũng buồn nhỉ, vì mặt bàn không phải là chỗ đứng của tôi, cho nên từ đây tôi đã là kẻ vô dụng, đâu phải chỗ nào mình cũng đứng được. Nhớ lại nơi chốn của mình ngày xưa, tôi cảm thấy lẻ loi khi bị gạt ra bên lề xã hội. Xã hội của răng, nghe có kỳ không? Nhưng thực tế là vậy, vì tôi được sinh ra để đi song song với cuộc đời của con người, chia xẻ buồn vui, tủi nhục , vinh quang với họ, dẫu chỗ đứng có khiêm nhường và hơi hẻo lánh, nhưng đâu vì thế mà không quan trọng.

Năm ấy, hình như là một mùa hè hai ven đường đầy những hoa phượng đỏ, con ve sầu kêu ve ve, khi tôi vừa mọc lên, đã thấy lấp ló bên ngoài những chị em trắng nõn và bé xíu. Sự ra đời của mỗi chiếc răng đã hành hạ chủ nhân tôi những cơn sốt nóng, ho hen , sổ mũi kéo dài suốt nửa tháng. Lũ oắt con bên ngoài tuy ra đời trước, nhưng chúng lại mảnh mai, nhỏ nhắn, còn lũ chúng tôi ở bên trong, kềnh càng như những ông hộ pháp, vất vả lắm mới nhô lên khỏi cái miếng thịt hồng hồng mà con người gọi là lợi. Bên ngoài là một lũ chị em nhà răng sinh ra đời chỉ để cười và để cắn, cho nên khi bọn trẻ con sắp mọc răng, chúng ngứa ngáy lắm, và gặp cái gì cũng kéo vào để nhây nhưa một cách thú vị.

Chủ nhân tôi hồi ấy là một thằng nhỏ bảy, tám tháng, cái khoái nhất để nhai cho tiện là chính bàn tay của chú. Vì thế suốt ngày chú đứng trong nôi, đút bàn tay vào mồm rồi cứ thế nút một cách thích thú. Khi say sưa với giòng sữa mẹ, chú cứ tỉnh queo mà nghiến lấy cái núm vú mềm mại ngon lành ấy. Chú làm cho người mẹ bực mình vì bị cắn đau, cho nên tức thời cái mặt chú bị ấn ngay vào bầu vú thơm tho khiến chú ngạt thở, vội nhả ra ngay. Nói đi cũng phải nói lại, cái đó không phải tại chú, tại mấy chiếc răng đang nứt lợi nó ngứa ngáy một cách kỳ dị, nó cần phải cắn vì Trời sinh nó thế. Sau này khi càng lớn lên, nhiệm vụ của nó còn quan trọng hơn ngoài việc cắn nó lại phải biết cười, vì cuộc đời có ăn tiền hay không cũng nhờ cái cười của răng nữa.

Đấy là lan man về lũ họ hàng nhà răng chúng tôi, mỗi đứa một nhiệm vụ. Mấy đứa bên ngoài trời sinh để làm cảnh, cho nên trông đứa nào cũng dễ thương. Hình dáng lại giống như cái bàn cuốc, nên người đời thường ví von gọi chúng là”răng bàn cuốc”. Nó mảnh thôi, trông có vẻ hiền lành nhưng ngoạp vào đâu thì hệt chiếc cuốc xục vào chậu đất, khiến những thứ thức ăn lập tức được táp lấy đưa vào miệng một cách ngon lành. Thêm vào đấy là hai chú răng nanh bên vành miệng, trông chúng nó thật dữ tợn, biết ngay là phải đề phòng nếu không muốn bị xé cho tan xác. Mấy đứa chúng nó như răng liền răng, lợi liền lợi, giúp đỡ nhau kịch liệt để thanh toán tất cả những thứ mà con người muốn xơi. Nhìn tinh thần đoàn kết ấy thấy cũng hay hay, nếu cứ biết hợp quần gây sức mạnh như thế thì cái gì mà không xực được.

Dù vậy, khi bọn tôi mọc lên thì tất cả mới có đủ sức mạnh để làm xong nhiệm vụ quan trọng, để có thể thanh toán được tất cả những thứ cứng cỏi, hóc búa nhất của thức ăn , đẩy qua thực quản mà không bị mắc nghẹn. Tôi phải nói ra điều này dù có vẻ không tao nhã, nhưng giá không có lũ “vai u thịt bắp” chúng tôi giúp sức, cái lũ bên ngoài kia cũng chả làm cách nào cho xong việc. Có một lần cãi nhau vì chuyện ấy, đó là chỗ đứng của răng trong mỗi cái miệng người, như chỗ đứng của người trong xã hội. Lũ kia cứ cho là mình đài các, tự ví mình như những nhân viên ngoại giao để con người mang đi cười cợt, giao tế với bên ngoài. Cái tật hợm hĩnh này cũng chỉ vì con người chiếu cố đến chúng nó hơn, thích khoe cái mẽ bên ngoài mà không trân trọng chiều sâu của bên trong, họ chỉ hay săn sóc chúng nó và thường đứng soi gương để tập cười một mình. Bởi vậy chúng mới lên mặt khinh người, ra điều cũng răng mà đứa cao đứa thấp. Tức mình , bọn tôi đình công không nhai một bữa xem sao, cho nên hôm ấy chủ nhân tôi vì ăn vội vã, nuốt nhanh thành mắc nghẹn, tởn tới già, lúc ấy mới thấm thía câu “ăn phải nhai, nói phải nghĩ “. A^u cũng là một kinh nghiệm sống để cậu ta ghi nhớ mãi, khi biết rằng cuộc đời cái này vẫn phải cần đến cái kia.

* * *

Cuộc đời trải dài theo năm tháng, mỗi lần hồi tưởng lại lòng ai cũng rưng rưng với kỷ niệm. Tôi đi theo chủ nhân như bóng với hình, như con người không thể tách rời với thăng trầm dòng lịch sử dân tộc. Tôi đã thử tách mình ra khỏi cuộc đời của chủ nhân, để nhắm mắt cho rằng mình chỉ là công cụ của người ấy mà thôi, nhưng thật ra lại gắn bó với nhau nhiều, khiến mỗi một thay đổi trong cuộc đời anh ta, tôi đều có chia xẻ. Bình thường thì không có gì phải ngẫm nghĩ, nhưng những lúc trong họ hàng anh em nhà răng chúng tôi, bị ốm đau do sự ăn uống, giữ vệ sinh cẩu thả của anh ta, tạo nên những lỗ sâu gây sự đau nhức, tôi cũng buồn vậy. Nhìn anh ta những lúc lên cơn đau răng, chổng khu, hả mồm, rên la đủ kiểu mà vẫn không chấm dứt được những cái giựt giựt buốt lên tới đỉnh đầu, ai lại không sót. Khi ấy cả họ hàng nhà răng chúng tôi đều đau lòng, có ngấm ngầm trách sự cẩu thả của con người, chỉ vì cái miệng làm khổ cái thân, lại không biết giữ gìn mồm miệng cho nên mới ra nông nỗi này. Đúng là nỗi buồn của “một con ngựa đau, cả tàu chê cỏ” là thế.

Nhớ lại thời thơ ấu của chủ nhân, tôi vẫn thấy thú vị. Hình như con người chỉ sung sướng nhất là thời kỳ còn bé bỏng. Vui thì cứ vui, cười hả họng để khoe những chiếc răng cửa, nhưng thật sự chưa đủ trí khôn để nghiền ngẫm những nỗi buồn. Lúc này là thời kỳ mà ăn gì cũng thấy ngon, chát chua, ngọt mặn gì cũng được những cái miệng be bé ấy nuốt vào hết. Tôi cũng làm việc kịch liệt với tâm hồn rất yêu đời ấy, vì họ hoạt động nhiều, lại đang hăng sức cho nên không chê một món gì, dẫu chua đến ê răng như mấy quả sấu hái được ngoài vườn, dai nhanh nhách như miếng gân bò hầm chưa chín mà họ vớ được khi mẹ vắng mặt trong bếp.

Đây là thời kỳ cần ăn để lớn, để cơ thể có đủ chiều cao mà học hành, yêu đương, làm việc . Họ yêu đời lắm, tâm hồn đầy nhiệt huyết ôm nhiều hoài bão to lớn và tốt đẹp. Họ nghĩ cái gì họ ăn vào cũng tốt, chả phân biệt được tác hại của sự ôm đồm ấy, và họ cũng hay bị phỉnh phờ vì những thứ ngọt ngọt, thơm thơm của thức ăn được bán trong những chiếc xe đẩy trên lề đường. Những thứ hấp dẫn của đời chính là những thứ hại cho họ về sau, nhưng ngay lúc ấy giá những người có trải qua kinh nghiệm đau đớn về răng miệng, có mở lời khuyên bảo thì ít khi họ nghe lời lắm.

Họ nhai đá cục, họ đớp những cục xương, họ ăn bánh kẹo bất cứ khi nào vớ được, có khi sắp lên giường đi ngủ, họ cứ bắt chúng tôi nhai rau ráu tất cả những thứ cứng cỏi ấy để tống vào bụng, đâu có nghĩ gì tới sức khỏe của chúng tôi, chưa kể là cũng chả nghĩ tới việc chăm sóc để chúng tôi còn sức lực mà phục vụ họ tới già. Cẩu thả, ích kỷ như những nhà lãnh đạo vô trách nhiệm, họ bắt chúng tôi làm việc kịch liệt để thỏa cái tham vọng vô biên của họ, vì cái bụng ăn mãi cũng chẳng no. Lạ lùng cho ông trời, và cũng bất công quá xá khi ông sinh chúng tôi chỉ là những chiếc răng nho nhỏ trong một cái mồm bé, để phục vụ cho một cái bụng to tham lam thế kia, anh em chúng tôi sau này lần lượt ra đi cũng vì thế.

Tôi có một thằng em kết nghĩa, vì không có nó thì tôi cũng không làm sao nhai được thức ăn để phục vụ con người. Thằng em ra đời sau tôi ít lâu, nó ở phía dưới, tôi ở phía trên, hai đứa như chày với cối, giã nhịp nhàng như “gạo trắng trăng thanh”. Trong cái miệng tối om đó, chúng tôi hăng say làm việc. Lúc con người ăn uống là lúc chúng tôi làm chết bỏ, theo hệ thống dây chuyền đi từ ngoài vào trong, nhưng công việc của chúng tôi mệt nhọc hơn lũ chị em ngoài kia.

Hai đứa tôi chăm chỉ lắm, thằng anh giã, thằng em cũng nhịp nhàng đưa lên để hai đứa ăn khít với nhau, nghiền tất cả những thứ từ bên ngoài đưa vào. Cũng cái bụng làm khổ cái răng, chúng tôi làm việc cực khổ để cống hiến cho con người những ham muốn không biết đâu mà lường. Người đời họ gọi là “ngốn”, nghĩa là ngấu nghiến vơ vét vào cho đầy mới thôi. Khi cái bụng họ ngưng, anh em tôi cũng rã rời, ê ẩm cả ra, vì phải đụng chạm với những thứ cứng mềm, nóng lạnh đồng loạt được đẩy vào, đôi khi không đủ sức chịu, chúng tôi cứ vã cả mồ hôi, tê cả mồm vì những thứ gia vị cay đắng mà con người ưa thích. Nói mà không giải thích thì họ bảo chúng tôi bịa đặt quá đáng, nhưng cứ xem một hoạt cảnh ăn uống thì biết sức chịu đựng của tụi tôi dữ dội biết chừng nào.

Này nhé! Bên một tô hủ tíu bốc khói, nóng hổi, thổi suỵt soạt mấy cái rồi được đưa ngay tắp lự vào mồm từ mấy cái bàn cuốc, cộng thêm ít ớt cay và tiêu hột làm họ vừa ăn vừa chảy nước mắt. Chúng tôi bỏng rẫy lên vì sức nóng, đang luống cuống chưa biết cách nào để nhai thì lập tức đã nghe ào ào như thác đổ vào mồm, cả bọn choáng váng vì một đợt nước lạnh ồ ạt tấn công, khiến lớp men bọc bên ngoài chiếc răng như muốn rạn nứt ra khi bị tra tấn cực kỳ dã man như vậy. Lớp áo ấy lâu ngày liên tiếp bị khủng bố, hết nóng tới lạnh, hết lạnh tới nóng, chịu không nổi rạn ra, thế là có chỗ để những con sâu bé xíu len lỏi vào hang ổ, làm thành đường mòn như địa đạo ăn sâu vào lòng răng, gây ra những lỗ thủng trầm trọng. Khi hệ thống thần kinh phải giựt chuông báo nguy, lúc ấy họ mới tỉnh người thì đã muộn, chỉ biết nguyền rủa cái răng sâu mà không chịu học câu ” tiên trách kỷ, hậu trách nhân”.

Đấy là chuyện của răng, những người công dân hèn kém nhất, sống trong điều kiện tối tăm nhất, nhưng lại ảnh hưởng đến sức khỏe con người dữ dội nhất. Khi con người nhìn ra vấn đề thì mọi chuyện đã muộn màng, họ tìm cách để cứu vãn tình thế như châm ngôn “còn nước còn tát ” mà bà con ta hay nói, nhưng sự thật thì cái gì mất đi có bao giờ tìm lại được. Sau này tôi sẽ kể đến giai đoạn “còn nước còn tát” của họ cho mọi người nghe, lúc họ thấm thía vô cùng khi không biết cách bảo vệ và trân trọng cái thật, để rước về cái giả, và suốt đời cay đắng với sự giả dối.

Dạo ấy tôi còn khỏe, lũ anh em cũng chưa xệu xạo, chỗ đứng vẫn còn vững chắc.Trong anh em nhà răng đã có đứa yểu số, sớm ra đi để lại cho họ hàngrăng miệng một sự mất mát vô cùng to lớn. Sự mất mát này dẫu to lớn tới đâu, một lúc nào cũng chìm vào quên lãng. Người vốn hay quên, cho nên vẫn chưa cho đấy là kinh nghiệm đau thương để rút ra một bài học.

Có đôi khi tôi ngồi nhẩm tính những thực phẩm hằng bao nhiêu năm dài, cả một hành trình đằng đẵng mà họ nhà răng chúng tôi phải lao động cật lực để vận chuyển những thức ăn cho một con người, thấy muốn giật mình té ngửa. Trung bình mỗi năm con người ngốn bao nhiêu ký gạo, ăn bao nhiêu ký rau, xực bao nhiêu ký thịt, xơi bao nhiêu quả trứng, nuốt bao nhiêu thứ trái cây và bánh kẹo. Nhân lên với tuổi thọ của họ thì số thực phẩm ấy phải to bằng núi Thái Sơn, để những người con bất hiếu phải rùng mình khi biết cha mẹ họ phải làm việc vất vả như thế nào mới nuôi con thành người. Và để cho những con người vô ơn, biết được rằng bao nhiêu công sức của một cộng đồng nhân loại, đã phải tranh đấu với bao khắc nghiệt của đời sống để cung cấp lương thực cho họ.

Định mệnh đã sắp đặt cho tôi sinh ra để làm răng, cho nên dẫu thế nào tôi cũng nguyện trung thành với chủ nhân cho tới chết, chẳng hề tự ý bỏ đi nếu ông ta không đành đoạn mà tống khứ tôi đi, như tống khứ con ngựa già không còn kéo nổi cỗ xe. Ít ra gần sáu mươi năm, tôi đã chia xẻ với ông ta tất cả những thứ chua cay, mặn ngọt cuộc đời, với tinh thần phục vụ của một bề tôi trung hậu, ăn ở có nhân có nghĩa, vui cùng vui, buồn cùng buồn với nhau.

Vậy mà có một thời gian tôi bị thất nghiệp, hay là cả bọn chúng tôi bị thất nghiệp khi không có gì để nhai. Lúc ấy tôi còn khỏe mạnh, những cái chân răng bám vào lợi còn vững chắc, lại không lười biếng trốn tránh trách nhiệm, tôi thèm lao động để phục vụ con người mà bỗng dưng bị thất nghiệp, hay là có việc làm rất ít để dư thì giờ nằm khểnh ra ngẫm nghĩ chuyện đời. Lúc ấy tôi thèm có việc làm lắm, nhưng lạ một điều là không có gì để nhai cả. Tôi nhớ những hôm ấy, trời rất lạnh, cái bụng nằm phía dưới cứ sôi ùng ục lên đòi cơm, thế mà chủ nhân tôi không tranh thủ, cựa quậy được tý gì để dằn bụng. Đến giờ ăn, anh ta hơ hải đem về một cái bát nhựa mấp mé đầy một thứ gì giống như cơm, mà vẫn không phải cơm, lại không được giã kỹ cho nên nó sần sật như cao su. Không biết đây có phải là thực phẩm dành cho gia súc, mà ít ra phải có hàm răng như răng ngựa mới tiêu hóa nổi. Thế nhưng lúc ấy cái bụng đòi hỏi quá, anh ta cũng đành phải ăn vậy, không thì đói rã ruột.

Chưa bao giờ chúng tôi phải làm việc vất vả bằng lúc này, giống như những người công nhân nhà máy, thời kỳ kinh tế xuống , lâu lâu mới có việc làm, lại toàn những thứ việc nặng nề, không đủ cung ứng nhu cầu hằng ngày, mà vẫn phải hùng hục làm. Công đoạn đầu là phải nhai thì đã có chúng tôi giúp sức, thằng chày thằng cối làm việc tưng bừng, như những ngày nào còn mâm cao cỗ đầy một thuở xa xưa. Công nhận món này khó nuốt thật, nó cứng vì bọc bên ngoài một lớp vỏ dầy, cho vào mồm nhạt nhẽo như nhai cao su. Tôi chịu không biết đấy là cái gì, có lẽ phải hỏi các nhà nông học xem cớ sao trong ngũ cốc lại có những thứ lạ đời như thế?

Một ngày ba lần làm việc, tuy không nhiều nhặn gì chỉ đủ cho cái bao tử đỡ lên cơn đòi hỏi, thế mà chúng tôi cũng toát mồ hôi vì những thứ thực phẩm quý hiếm ấy. Nhai mòn cả răng, ê cả lợi, thằng em nằm bên dưới bị tôi giã nhiều cái nên thân, lắm khi lại còn lẫn cả một cục sạn cho nên nó la oai oái, mặt mũi méo xẹo đi trông rất tội nghiệp. Đám chị em bên ngoài đã lâu cũng không có việc làm, thỉnh thoảng vớ được củ khoai, họ nhâm nhi cắn từng tý một, như để kéo dài giây phút thần tiên mà không muốn chia xẻ cho người khác hưởng. Dễ gì những thứ bột mềm mềm, mịn mịn ấy đến tay tụi tôi, nó chỉ đi đến cửa miệng là bọn ngoài ấy đủ sức đẩy qua cuống họng, đi thẳng vào dạ dầy. Khiếp thật, trong đời tôi chưa có thời kỳ nào kinh tế đi xuống như dạo đó. Lúc ấy tôi bỗng nhớ nôn nao cái thời vàng son của những bữa ăn gạo ngon thịt béo ngập đầy răng miệng, cho nên dằn lắm mà nước miếng nó cứ ứa ra dù chỉ hồi tưởng bằng trí nhớ.

Chủ nhân tôi lúc ấy tội nghiệp lắm, cái cơ thể tròn trịa năm xưa đến sáu, bảy chục ký cứ từ từ rút xuống, cả một hình thể oai phong lẫm liệt vào sinh ra tử mà giờ đây lép kẹp như một miếng bánh tráng mỏng, đi phất phơ như hình bóng ma quỷ trong một đêm mưa gió lạnh lùng. Đấy là nói về phần bên ngoài, còn nói đến trí tuệ thì lại càng thảm não. Lúc nào anh cũng chỉ nghĩ đến “ăn”, dù khi xưa anh từng dè bỉu ” miếng ăn là miếng tồi tàn”. Đó là chí khí của người quân tử khi đang thời, nhưng trước cái nạn đói kém và thời kỳ suy thoái này, miếng ăn có sức mạnh làm những đôi mắt buồn ủ rủ sáng rỡ lên, những thân gầy guộc kia tỉnh táo ngay tức khắc.

Tôi đã từng chứng kiến anh ta vồ bắt những chú chẫu chuộc ở trên cây, rình rình tìm nhưng con ốc ốm trên thửa ruộng sâm sấp nước, hay khi vào rừng đốn cây, anh cứ lơ láo tìm xem có thứ gì bỏ vào miệng mà không chết. Mấy cọng rau già bên bờ suối, củ sắn sượng hay củ mì tinh đầy những xơ, chúng tôi cũng cẩn thận chế biến để nuôi dưỡng cơ thể. Trong đêm khuya bụng lại cồn cào đòi ăn, anh em tôi hay nằm tâm sự vặt, không có gì nhai cho nên hai đứa cứ nghiến vào nhau , bật ra những tiếng kèn kẹt làm ê ẩm một nỗi buồn đến rứt da rứt thịt.

* * *

“Lâu rồi thì đời cũng qua”. Đó là câu tôi rất thích khi nghe lỏm được trong một bài hát, để an ủi những tâm hồn đau khổ. Thế rồi thời kỳ đói kém cũng qua đi, nó dằng dặc bao nhiêu năm trời, vì phải nhai nhiều nên lũ răng chúng tôi trên mặt vạc cả đi mà dưới chân lại đùn lên những tảng đá ong, lắm khi cứa vào lợi đến rướm máu. Bây giờ khi không còn thất nghiệp nữa, việc làm lai rai lúc nào cũng có, nhưng quái lạ lũ chúng tôi không còn hồ hởi để làm việc như ngày xưa, có lẽ đã đến lúc ” tri thiên mệnh” rồi chăng?

Thời gian này tôi biết ông chủ đang thấm thía lắm cái luật đào thải của trời đất, khi ông ngồi lúc lắc những chiếc răng còn lại với nét mặt băn khoăn. Ông chăm sóc chúng tôi và vỗ về như cha thương con, nhưng than ôi cũng muộn mất rồi. Bây giờ khi nghĩ đến chuyện hồi phục lại hàm răng năm xưa, thì có khác nào ” mất bò mới lo làm chuồng”. Ông cũng già mà chúng tôi cũng già, nhìn quanh thì đã rơi rụng khá nhiều, muốn phục hồi lại hào quang dĩ vãng đâu phải dễ, nhất là khi tiềm lực đã gần như cạn kiệt. Mỗi lần nhìn những chiếc răng cửa, ngày xưa chỉ dùng để cười và để cắn, nay phải làm sai chức năng là nhâm nhi chút đồ ăn, tôi cười mà lòng lại buồn đến chảy nước mắt, cám cảnh sự xuống dốc của một kiếp người. Tôi vốn nhiều tình cảm, hay nhìn người mà nghĩ tới mình, cho nên tôi lại hình dung được cả sự tuột dốc trong lòng chủ nhân, ăn uống uể oải thế kia còn mong gì phục hồi phong độ cũ.

Mùa thu vừa tới là lại thêm một biến cố đau buồn trong đời tôi. Đó là sự ra đi của thằng em bên dưới, đã từng chơi với tôi trò “gạo trắng trăng thanh” ròng rã bao nhiêu năm trường. Mới đầu lúc nó bị ốm tôi vẫn không để ý, mỗi lần cần nhai tôi vẫn vô tình làm chày giã thẳng cánh xuống khiến chủ tôi la oai oái, lúc ấy tôi mới giật mình nhìn xuống thì ôi thôi, thằng em đã ngả nghiêng xiêu vẹo đứng không vững. Nó ốm lúc nào tôi cũng chả biết, thật có lúc mình cũng vô tâm như những kẻ không có lòng. Tôi hối hận quá, tình đồng đội, nghĩa huynh đệ chi binh gắn bó với nhau từ hồi mới sinh ra, cho tới lớn lại chia xẻ bao thăng trầm vinh nhục với nhau, thế mà khi thằng em tôi nó ốm, ốm nặng tôi mới biết.

Từ đấy, tôi cũng không còn hứng thú gì để làm việc nữa, nhai nuốt cũng uể oải, mỗi lần thấy một món ngon tôi định vực thằng em dậy để nó chung vui với tôi như ngày xưa, nhưng nó chỉ im lìm nằm oặt đi, sờ vào nó thì nó cứ run bần bật như sắp rời ra khỏi lợi. Tôi đâm chán đời, buồn tênh ngẫm lại cuộc đời trong cái lỗ miệng tối om. Cho đến một ngày kia, tôi nằm thần ra mà nghe tê tê một nỗi buồn, đấy là hôm thằng em tôi ra đi vĩnh viễn. Tự nhiên nghe hụt hẫng , trống vắng, thiêu thiếu một cái gì, lúc nhìn xuống bên dưới thì thằng em tôi đã biến mất, chỉ còn trơ lại lòng huyệt lầy nhầy những sợi đỏ bầm như máu. Tưởng tượng đến mình khi ngày ấy sẽ tới, tôi như cứ muốn tuồn tuột đi vào cái lòng huyệt của thằng em.

Được ít lâu, tôi đã nguôi ngoai chút chút, nhưng đời lại càng buồn hơn khi chẳng còn ai đồng tâm đồng chí với mình để mà làm được điều gì nho nhỏ giúp người. Ít lâu sau khi những chiếc răng ra đi khá nhiều, chủ nhân tôi phải tuyển thêm mấy cái răng mới để tiếp tục phục vụ ông trong những ngày còn lại.

Bọn này mặt mũi nhâng nháo vô tình cảm, trông trắng trẻo mà lại vô duyên. Chúng được gắn vào một cái bửng màu hồng nhạt cho tiệp với màu lợi, nhưng để làm kiểng thì hay hơn. Tụi tôi dù sao cũng có tình cảm, dù chỉ là răng nhưng chúng tôi chia xẻ tận tình với chủ nhân, từ cảm giác cho đến sự đóng góp tích cực bằng công sức, cho nên người ta mới hay nói “thấm tận chân răng”.

Lũ răng mới câng câng và cũng chẳng biết cách ứng xử sao cho vừa mồm vừa miệng chủ, cho nên đã nhiều lần tôi thấy ông ta xót xa nhớ tiếc những tình cảm thân thương của lũ răng thật tụi tôi, dù sao thì sự chân thật vẫn là món quà quý mà loài người cần trân trọng. Bọn răng giả lại hay né tránh những món dai cứng mà chúng không nhai được, bây giờ ông chủ mới cảm thấy được cái cộng tác chân tình của tôi, khi nhiệt tình giúp ông bất cứ hoàn cảnh nào, tiêu thụ những món khó nuốt của cuộc đời vào bụng. Có chung đụng với những điều giả dối, người ta mới biết trân quý lòng chân thật. Tôi đã nghe chủ tôi than thở, mỗi lần ăn uống ông lại thở dài, và cho rằng cứ phải sống với sự giả dối mãi như thế này, đó là điều đau khổ người ta phải nén lòng mà chịu đựng.

Thế rồi tôi cũng không qua được sự đào thải của tạo hóa, từ ngày không có thằng em bên dưới đỡ đần, tôi cứ tuột xuống một cách thảm hại. Sống không anh em, không bạn bè tri kỷ thật tình tôi cũng muốn chết quách cho xong. Bây giờ phải ép lòng làm bạn với cái lũ răng giả vô tình cảm kia, chúng ỷ mình khỏe, kèn cựa với tôi để khoe tài khoe giỏi. Thực ra chúng làm gì biết thưởng thức cái ngon, cái dở, làm gì có trái tim chân thật, những cảm xúc chân thành để mà chia xẻ với con người, trong những ngày huy hoàng tuổi trẻ, những đau buồn lúc sa cơ thất thế, những lúc già nua đời như chiếc lá héo mùa thu.

Tôi cũng chẳng biết tại sao mình ra nằm đây, trên mặt bàn, như một nấm mồ trên mặt cỏ phẳng lặng. Trò chơi thuở xưa khi những chiếc răng sữa được vứt vào gầm giường cho chuột chí, hay vứt lên mái nhà để xin những chiếc răng khôn, những chiếc răng đẹp của một thời trẻ con đâu còn. Không biết chủ nhân tôi còn để tôi đứng đây làm chi? Hay có khi để nghiền ngẫm một nỗi buồn, vì biết rằng con đường nào rồi cũng tới La Mã.

NGUYÊN NHUNG

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Vũng Lầy

Về đến nhà, tôi dựng chiếc xe đạp ở đầu hiên ngồi nghỉ mệt. Đột nhiên, con Lài hối hả bước vào nhà, nét mặt nhăn nhó. Nó không hỏi han gì, đi thẳng vào giường kéo mền trùm kín mít. Thấy chuyện lạ, tôi hỏi :
– Con bệnh hả Lài ?
Không có tiếng trả lời, tôi bước đến giường ngồi xuống cạnh con gái :
– Con có điều gì sao không nói cho mẹ nghe ?
Hỏi xong, tôi lách mền nhìn nó, con Lài phản ứng kéo mền kín lại :
– Con không sao cả. Con hơi mệt. Con muốn nằm nghỉ một chút thôi.
– Con đi đâu từ chiều hôm qua đến nay? Suốt đêm mẹ sốt ruột không ngủ được.
– Đi chơi với mấy nhỏ bạn, tụi nó rủ đi Saigon.
– Mẹ biết con không tiền. Tiền đâu con đi. Con cứ bỏ học chừng nào mới ra nghề được ? Có đi phải nói cho mẹ biết.
Con Lài nằm im không trả lời. Dáng nó co quắp trong chiếc mền len phủ kín. Nhà nghèo, mười bốn tuổi đầu con tôi phải bỏ học vì không tiền đóng góp cho nhà trường nhiều thứ, đành phải đi học cắt may ở một tiệm may ngoài chợ Huyện. Tôi mong con gái tôi có một nghề trong tay để không phải như tôi cả đời lận đận làm thuê, buôn gánh bán bưng.
Tôi dằn lòng không được, kéo chiếc mền để nhìn mặt con. Mặt con Lài đỏ lừ lừ. Tôi nghĩ nó đang bị sốt. Trán nó nóng hầm, lấm tấm mồ hôi. Nó đang mệt, hơi thở không bình thường. Tôi hốt hoảng ôm chầm lấy con, dỗ dành :
– Con làm sao vậy hả Lài ? Có gì con nói cho mẹ nghe.
Đột nhiên con Lài hỏi lại :
– Việc con làm, nếu con hỏi mẹ, mẹ trả lời được không ? Mẹ cũng từng nói, đời mẹ cũng đã một vài lần gì rồi đó.
Nghe con gái nói có vẻ khác thường, tôi hoảng sợ lo lắng một điều gì không ổn. Tôi vỗ về ngọt dịu :
– Con dấu mẹ điều gì ? Con không thể nói cho mẹ nghe ? Con đang bị sốt đó Lài. Hay là…
Tôi không nói hết suy nghĩ, dường như cổ họng nghẹn cứng ! Lài hiểu ý, nó nhìn tôi cười gượng :
– Mẹ !…con đã lỡ rồi !….như mẹ ngày trưóc vậy…mẹ đừng trách con nhé.
Tôi trố mắt nhìn con Lài. Nó nói tiếp :
– Mẹ chớ mắng chửi con. Con là đứa con nông nổi khờ dại. Mẹ…mẹ à, con đi Saigon để hút thai mẹ ạ. Con có thai đã hai tháng. Con hút chứ không nạo.
Điều con gái tôi vừa nói, tôi đã đoán gần đúng trước khi nó thú nhận.Tôi không giận, trách móc con. Tôi càng thương con tôi nhiều hơn. Dường như đó là hậu quả vốn đã như thế, cũng vì nghèo.
Cha mẹ tôi nghèo lắm. Đã nghèo rớt mồng tơi mà con cái lại đông. Tôi là người chị cả của tám đứa em. Gia đình ở nhà quê không một mảnh đất cắm dùi. Từng ngày, cha mẹ đầu tắt mặt tối tất bật làm thuê gánh mướn từ sáng tinh sương đến nửa đêm để có cơm cháo cho mười một miệng ăn. Hôm nào mùa màng thất bát không ai thuê mướn, cả nhà nhịn đói dài dài. Cha mẹ nhịn để cho con cái ăn. Đứa lớn nhịn để cho đứa nhỏ ăn. Mười một tuổi đầu, tôi mới được cắp sách đến trường. Mỗi ngày học một buổi, nghỉ một buổi, chữ được chữ mất thất thường. Có tuần lễ không đi học trọn. Tôi đang như người mẹ trách nhiệm quán xuyến gia đình, chăm sóc đàn em thay cha mẹ bươn chải bên ngoài. Thỉnh thoảng rảnh rỗi tôi lăn xả ra ngoài làm mướn để phụ giúp thêm miếng ăn trong gia đình cùng cha mẹ tôi. Công việc gì vừa sức là tôi làm, không từ nan. Nhổ cỏ lúa. Cắt rau dưới ruộng nước. Chăm sóc heo gà. Hái ớt, hái cà tại các rẫy nương. Đi gánh nước thuê cho bà con hàng xóm. Tuổi mới mười hai, mười ba tôi đã bị người lớn manh tâm dụ dỗ cưỡng hiếp nhiều lần đến rạc người để họ cho tôi gạo, ngô khoai, thực phẩm mang về gia đình. Qua nhiều lần như thế, trong người ê ẩm, đau đớn tôi lo sợ mình mang thai, quyết định chừa không dám tái diễn, thế mà cứ bị lôi cuốn. Tôi cố dấu cha mẹ mọi chuyện, sợ đòn roi. Cuộc sống va chạm với đời quá sớm đã cho tôi một nhẫn nại chịu đựng và lớn hẳn lên.
Mẹ tôi có học chút ít, chữ viết dễ nhìn và làm được bốn phép tính rành rẽ. Mặc dầu lam lũ lao động sớm nắng chiều mưa, mẹ cũng còn nét mơn mỡn của người đàn bà đang tuổi hồi xuân. Nhờ đó, mẹ xin được một chân kế toán thủ kho tại một công ty xây dựng trong Huyện. Được công việc làm trong mát, nhẹ nhàng thư thả, đồng lương khiêm tốn, mẹ mỗi ngày trông nõn nà ra, cả nhà mừng cho mẹ tôi bớt vất vả cực nhọc tấm thân.
Điều đáng nói và thật khổ tâm thời gian sau đó, mẹ tôi đã đi lại thân mật với ông trưởng phòng vật liệu của công ty. Hai người đang có sự quan hệ mà người ngoài nhìn vào không mấy tốt đẹp. Ông ta là người giàu có, lại có chút thế lực trong cơ quan nhà nước. Ông ấy thường xuyên cho mẹ tôi nhiều tiền và quà cáp. Thỉnh thoảng ông ấy và mẹ tôi có những chuyến đi công tác chung về tỉnh hay Saigon, đôi khi kéo dài cả tuần lễ, có lúc đến nửa tháng.
Tôi, lúc này cũng đã mười lăm, mười sáu tuổi đầu, có chút hiểu biết khôn ngoan và nhận định phải trái. Tôi cho việc mẹ quan hệ với người đàn ông kia là sai trái, bất chính không những với cha tôi mà còn với đàn con dại. Tôi có suy nghĩ ông ấy đã chiếm được mẹ tôi trong vòng tay ông ta, và cha tôi đang mất người vợ thân yêu của mình.
Cha tôi nào hay biết gì chuyện ấy và cứ ngỡ rằng mẹ tôi vì công tác nhà nước phải xa nhà, cho là chuyện hợp tình hợp lý, chẳng có gì phải bận tâm. Suốt ngày ông quần quật làm kiếm tiền nuôi vợ con, tối khuya về mệt, ăn xong ba hột là ngã lăn ra ngủ như chết để sáng thức dậy sớm tiếp tục trả nợ áo cơm. Khi có điều gì lấn cấn giữa cha mẹ, mẹ tôi giải thích trôi chảy, nên ông không có gì thắc mắc.
Đối với tôi, nhìn đàn em khờ dại, và thương xót cha nên tôi đã nảy sinh những bất bình với mẹ. Đôi lần tôi đã nói thẳng với mẹ là thà chúng con húp cháo, ăn khoai củ mà sống để không nhìn thấy mẹ đang đi lại quan hệ bất chính với người ta. Mẹ tôi hùng hổ quát tháo ầm nhà :
– Mẹ nuôi con lớn, để con dạy đời mẹ đấy hả ? Mẹ có làm như thế cũng vì gia đình mình nghèo khổ đói rách con biết chứ ? Mẹ cứu vớt gia đình, chẳng có gì là xấu.
A ! thì ra mẹ viện dẫn sự nghèo đói trong gia đình để được làm điều đó, đem đồng tiền bẩn về nuôi con nuôi chồng. Tôi tuyệt đối không chấp nhận lý do đó của bà. Nên giữa hai mẹ con đang có sự căng thẳng từng ngày trong gia đình.
Thời gian sau tôi rất buồn và uất ức nhìn thấy cha tôi ngày xanh xao gầy ốm. Có lẽ ông lao động nặng nhọc bị kiệt sức và trong lòng thầm đau khổ điều gì đó không nói ra được. Tôi chất vấn mẹ nhiều vấn đề và đề nghị mẹ tôi xin thôi việc, ở nhà coi sóc gia đình con cái. Tôi tìm việc làm phụ giúp gia đình thay cho mẹ. Chỉ chờ như vậy, bà không nói không rằng đánh tôi một trận suýt chết và hốt mớ quần áo rách của tôi ném ra đường. Mẹ tôi gầm lên đe tôi :
– Mày cút khỏi nhà, nếu bước vào tao giết mày ngay. Tám chín đứa con, có mất một cũng không sao. Nhà nghèo mày biết chớ. Tao không làm như vậy mấy năm nay cả nhà đói rục xương mày không biết à ?
Tôi nghĩ đã đến lúc tôi nên rời khỏi nhà để mẹ tôi phải trở lại gia đình mà lo con cái, để ba tôi có lại được người vợ toàn vẹn và cũng để cái hạnh phúc bèo bọt kia của bà có cơ chấm dứt. Nếu phải lấy chồng, sinh con, tôi hãy giữ lòng, chớ thả lỏng rồi cũng mẹ nào con nấy cũng chưa biết chừng. Nghĩ được như thế, nhưng bản thân tôi cũng đã nhem nhuốc vết nhơ do những người lớn bất nhân tạo nên.
Lặn lội tìm đến xứ khác thật xa để xoa dịu bớt mặc cảm vây hãm, tôi ở nhờ ở đậu nhà người dưng. Chẳng bao lâu tôi có chồng và sinh hai đứa con. Vợ chồng không cưới hỏi, gặp nhau là xáp vào sống với nhau, chỉ mong có chỗ nương tựa bên nhau và cũng vì đời con gái của tôi cũng chẳng còn tốt lành gì cho lắm để mà lựa chọn. Nghèo cũng vẫn là nghèo, nghèo trơ nghèo trấc. Nghèo có căn, có gốc rễ, có truyền thống. Nghe nhà nước hô hào ầm ỉ xóa đói giảm nghèo, nhưng chẳng thấy mốc xì gì, họ nói láo để được nói láo, nói để có chuyện nói, gạt dân, mị dân. Sống trong cái xã hội đảo điên hôm nay, con người trở nên điên đảo, cứ mạnh được yếu thua, người bóc lột người không khoan nhượng, không bác ái nhân hậu. Mặc dầu đã thống nhất đất nước từ lâu, người dân vẫn nghèo đói, bệnh tật, lạc hậu. Chồng làm vợ làm quần quật, tháo mồ hôi sôi nước mắt không nuôi nổi bốn miệng ăn ngày hai bửa, nói chi đến tấm áo manh quần cho lành lặn. Ngẫm nghĩ rồi lại thương cha, thương mẹ cũng đã trong hoàn cảnh chẳng khác gì vợ chồng tôi. Làm thì chỉ làm thuê làm mướn ngày có ngày không làm sao cất đầu lên nổi, ai cũng như ai. Thật là trần ai. Đời sống ai ai cũng thế, đói nhiều hơn được no. Vợ chồng bàn nhau tính tới tính lui tìm phương kế. Cuối cùng chỉ còn cách xin đăng ký đi lao động nước ngoài do nhà nước đang hô hào, chủ trương mới may ra cứu vãn tình thế. Đi Đài loan là chắc ăn nhất. Mọi người dân đang đổ xô ào ạt về hướng đó. Phong trào đi lao động nước ngoài rầm rộ từ Nam ra Bắc. Nghĩ được rồi lại lo tiền. Tiền đóng cho nhà nước. Phải đóng một khoản tiền lớn cho nhà nước để thế chân. Thêm những khoản tiền linh tinh khác mà họ tùy tiện qui định. Tiền đút lót hối lộ qua nhiều cửa ải quan quyền. Tiền qủy tiền ma dọc đường. Còn khoản tiền lớn nạp cho công ty dịch vụ lo hồ sơ, điều hành, tìm việc, phân phối từ trong nước ra nước ngoài. Đồng tiền đi trước mọi chuyện là thế. Ngất ngư, ngộp thở, quay mòng mòng người dân đen. Đã nghèo, thiếu cơm thiếu áo, chạy đâu ra.Vợ chồng hộc tốc chạy vay mượn với một đồng vốn ba đồng lời. Những nhà giàu có thế lực đổ tiền ra cho vay ngồi mát ăn bát vàng. Làm giấy cam kết qua đó gởi về trả. Đi chừng vài năm theo hợp đồng, rồi về. Nếu thuận buồm xuôi gió tốt lành mọi đàng thì may ra có của ăn của để giảm bớt cái nghèo.
Đến việc ai đi ai ở. Một người đi, một người phải ở nhà lo cho con. Nhường qua, nhường lại không ai muốn đi. Dằn co cả tuần lễ, cuối cùng tôi phải đi. Ông chồng gà mờ khù khờ nhút nhát quá chẳng được tích sự gì. Tôi lo “sứ mệnh” đổi đời sau khi học tiếng Đài một tháng để biết vài câu thông thường.
Mọi việc tiến hành cho chuyến đi sắp kết quả tôi lại có thai đứa con thứ ba. Thật là rủi ro cho tôi. Cái thai chưa được hai tháng tôi đành phải đi nạo. Phải nạo, phải hút, không thể chần chờ một giây nào được. Tiền vay nợ của người ta, tôi đã đem nạp hết các nơi. Giấy tờ, và cơ hội đi đang gần kề. Các chủ nợ đang nhìn vào mình để chờ trả nợ. Đi vì đang cần chén cơm manh áo của bốn mạng người. Vì cái nghèo truyền kiếp đã ăn sâu tận gốc rể, tôi đành cam tâm hủy diệt bào thai máu me ruột thịt của tôi. Tôi mang ác cảm tội lỗi khủng khiếp, bởi lương tâm dằn vặt suốt thời gian dài sau đó. Tôi chỉ vì tiền, vì nghèo đói thường trực, không vì danh lợi phú quí để hưởng thụ. Tôi đâu muốn làm giàu.
Sau khi nạo thai, tôi mất sức phải xin nán lại hai tuần lễ để hồi sức. Ngày rời khỏi nước lòng tôi quặn thắt nhìn hai đứa con và ông chồng khù khờ bơ vơ nhỏ nhoi trong cuộc sống bần cùng trước mắt. Tôi nén lòng và giữ vững tinh thần để đối mặt những khó khăn xa lạ phía trước.
Bước xuống phi trường xa lạ nào đó ở Đài Loan tôi chới với mất đà như đang lạc trong rừng sâu và choáng ngợp trước cảnh phồn hoa ở xứ người. Nếu không có số người hướng dẫn cùng số chị em đồng cảnh ngộ đi chung, có lẽ tôi bỏ cuộc. Họ chở chúng tôi đến một dãy nhà có rất nhiều phòng riêng biệt. Mỗi người được ở riêng một phòng. Phòng rất hẹp vừa kê đủ chiếc giường một người nằm với một bàn nhỏ. Tôi có bụng mừng và nghĩ rằng có thể tôi được tạm trú trong căn phòng nhỏ này để sau đó sẽ được phân phối đi lao động theo lời hứa hẹn rất xôm tụ, hấp dẫn của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và của công ty dịch vụ tại quê nhà.
Nhưng những suy nghĩ tốt đã bị tắt ngấm ngay trong đêm đầu tiên mới đến. Tôi và số chị em cùng đi chung chuyến đã bị cưỡng bức hãm hiếp tơi bời từng giờ suốt đêm bởi những tên đàn ông mà chính họ đã đưa đón chúng tôi lúc chiều tại phi trường với một số đàn ông xa lạ nào khác. Từng tên luân phiên hãm hiếp tôi liên tục không ngừng. Việt có, Tàu có, già trẻ đều có. Chống cự là ăn đòn nhừ tử. Tứ cố vô thân, không hiểu luật pháp, không biết đường xá, không biết nơi đâu là nơi đâu, không biết kêu cứu vào ai. Tôi đành chấp nhận buông xuôi nằm đó để chúng dày xéo thể xác tôi tơi bời không thương tiếc, và tôi nghĩ rằng tôi không còn gì nữa của giá trị làm người trong cuộc sống.
Ban ngày chúng cho ăn uống, tắm rửa, làm vệ sinh cá nhân. Tất cả chúng tôi được chúng canh giữ, không được tiếp xúc. Ban đêm nằm trong phòng chịu đựng từng tên tiếp tục hãm hiếp rồi đi. Có những tên đàn ông đến một lần rồi không thấy đến nữa. Có nhiều tên lạ mặt. Dường như chúng rũ rê thêm bạn bè, người quen đến để hưởng thụ trên thể xác rã rời của tôi và số chị em cùng đi chung chuyến. Có tên sau khi cưỡng hiếp tôi, tỏ lòng nhân đạo cho tôi tiền. Lần đầu tiên, cầm nắm đồng tiền nhơ bẩn trong tay trên xứ Đài, tôi lại nghĩ về mẹ tôi. Tôi uất nghẹn kêu to, có đúng là mẹ nào con nấy, mẹ sao con vậy ! Tôi cảm thấy thương mẹ vô cùng. Tội cho mẹ. Tội cho bản thân tôi.
Tất cả chúng tôi và còn rất nhiều người đàn bà Việt Nam khác đang chịu những thảm cảnh đau xót đó. Chúng buộc chúng tôi phải chấp nhận như thế gọi là thủ tục ban đầu để chờ đợi một công việc làm ổn định. Qui luật là biết vậy. Muốn sống phải phục tùng. Muốn có việc làm phải vâng lời triệt để. Ai ai cũng đều như thế, nhưng nào có ai dám hé môi kể lại cho người khác nghe khi trốn được về nước. Thảm thương lắm ! Nhục nhã lắm ! Đâu dám nói ra. Lạy Trời Đất, mười phương tám hướng linh thiêng, xin dành cho con một phương để con còn về với chồng con đang đói nghèo ở quê nhà..
Qua hai tuần lễ thể xác rã rời, bọn chúng chuyển tất cả chúng tôi đến một địa điểm khác rất xa. Tôi nào có biết nơi nào là noi nào, và cũng chẳng cần biết để làm gì. Tôi đang bị hãm hại trong tay của bọn gian manh từ Việt Nam và sang cả đây. Người dân đang bị đối xử tồi tệ, nhưng nào thấy ai dòm ngó can thiệp. Một người được đưa ra nước ngoài không còn tính vào dân số hiện hửu của quốc gia.
Đến địa điểm mới, tôi tiếp tục bị hãm hiếp với một lũ đàn ông khác dữ tợn, hung hăng hơn. Cơ thể tôi lúc này ê chề nhớp nhúa như một khối bùn đen hôi hám trong vũng lầy nước tù.
Lũ người thỏa mãn thú tính thấp hèn tiếp tục chuyển tôi cùng số người nữa đến bán cho một nhà chứa, ép tôi đi khách và chúng bảo rằng đó là công việc làm ổn định, ráng mà làm để kiếm tiền. Tôi lại phải chịu đựng cho bọn ma cô nhà chứa hãm hiếp tôi thêm một lần nữa mà chúng gọi là dằn mặt và ra mắt chúng. Không còn gì, giấc mơ đã lỡ cuộc, tôi chấp nhận nỗi nghiệt ngã đau đớn để bước tới, để được sống còn có ngày gặp mặt chồng con. Bây giờ tôi không còn lo sợ những điều bất hạnh xảy ra. Tôi cố gắng chịu đựng và phấn đãu để đạt mục đích dự tính. Dù sao tại nhà chứa hằng ngày cũng có được tiền cho dù ít ỏi. Cố gắng làm bất cứ việc gì để có tiền rồi trốn thoát, tìm đường về xứ. Đem cái “ngàn vàng” để cứu mạng sống mình và gia đình thật là khốn nạn cho thân tôi !
Một lần nữa tôi lại có thai trong bao nhiêu lần bị cưỡng hiếp. Bằng mọi cách tôi phải trục cái thai quái ác đó. Một phần máu thịt của tôi lại sắp bị hủy diệt. Tôi chấp nhận tội lỗi. Lần phá thai này tôi ngã bệnh nặng và nhờ một người bạn đồng cảnh ngộ thương xót đưa tôi về nhà riêng chăm sóc. Ba tháng sau tôi mới hồi phục sức khoẻ. Tiền bạc dành dụm được đã hết sạch. Bọn gian manh vô lại đã bỏ rơi tôi trên xứ người khi thân tàn ma dại. Tôi bơ vơ giữa dòng đời nghiệt ngã, tứ cố vô thân. Tôi đang sống bất hợp pháp trên đất Đài Loan xa xôi mù mịt. Tôi tìm mọi cách làm kiếm tiền không từ nan một điều gì. Đĩ điếm. Cờ bạc. Hầu bàn. Chuốt rượu. Khỏa thân trình diễn trong các quán rượu. Rửa chén. Giặt quần áo…để kiếm tiền. Tôi đã sành các loại rượu, bia. Tôi biết hút điếu thuốc này đến điếu khác cho vừa lòng khách. Tôi đang nghĩ cần phải làm những điều bất hợp pháp, càng vi phạm luật càng dễ bị bắt, bị ở tù và được trục xuất về nưóc.
Có những lúc tôi lại cảm thấy nhớ cảnh bị áp bức cưỡng hiếp, lại còn thèm khát được tái diễn. Tôi nghĩ đó là quả báo để có được hậu quả khốn nạn ấy. Nhiều lúc nghĩ thấy thương hại cho chính họ và chính bản thân mình. Tôi không ân hận việc làm của tôi. Tôi không thù ghét những kẻ đã hãm hiếp, đánh đập tôi. Nhà nghèo, những bào thai vô tội đã bị hũy diệt oan nghiệt cho tôi hậu quả, tôi chấp nhận mà không oán trách. Tôi nghĩ đến chồng con, có những lúc thật gần trong tình yêu thương để tôi ôm ấp, có lúc thật xa ngoài tầm tay.
Tôi trở về nước sau ba năm sống đọa đày tại Đài Loan. Tôi bị bắt trong cuộc bố ráp sòng bạc lớn. Họ giam giữ và trục xuất tôi vì những thành tích bất hảo. Chính đó là cơ may tôi đang trông đợi. Một lần trót tay, tôi cảm thấy run sợ kế hoạch xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Không được gì, còn mất trắng và nhục nhã đối với người dân nghèo như tôi.
Về đến quê nhà, tôi trốn lánh mọi người kể cả cha mẹ các em, dòng họ. Tôi mang mặc cảm tội lỗi xấu hổ và nhục nhã. Tôi tìm cách liên lạc chồng con đưa nhau đến một nơi khác thật xa lập nghiệp. Tiền bạc kiếm được tôi phải trả dứt nợ vay lúc ra đi. Tay trắng hoàn tay trắng. Những năm sau vì buồn phiền nhiều cho chuyến đi lao động nước ngoài của tôi, chồng tôi qua đời sau cơn bạo bệnh không tiền chạy thuốc. Thằng con trai lớn bị nhà nước bắt đi nghĩa vụ quân sự rồi mất xác ở biên giới.
Tôi lại tiếp tục sống góa bụa với đứa con gái côi cút trong nghèo đói không còn cơ may chuyển đổi. Lắm lúc tủi thân và buồn, nhớ gia đình, tôi lại cố gắng liên lạc với cha mẹ, các em, nhưng chẳng ai hơn gì mình trong xã hội đầy bất công, nghèo đói và đảo điên này. Hằng ngày trên chiếc xe đạp đi rong khắp nẽo đường tôi bán thuốc lá lẻ và vé số để mưu sinh. Tôi gắng nuôi và chăn giữ con Lài để nó không phải như tôi. Nhưng không tránh khỏi con tôi đang buớc vào con đường mà tôi đã trải qua.

Nhìn con, lòng tôi se thắt. Nó còn quá trẻ và khờ dại. Ngày trước ở lứa tuổi nó tôi đã có những suy nghĩ và nhận xét đúng sai nên đã bất bình với mẹ trong cuộc sống tình cảm không đứng đắn của mẹ để cho tình mẹ con phân ly.
Bây giờ đến lượt con gái của tôi mới mười sáu tuổi đầu đã khởi sự sa chân vào vũng lầy. Tôi ôm con vào lòng. Cơ thể nó nóng ran. Tôi sẽ phải lo thuốc men cho nó theo sự hiểu biết của tôi đã trải qua. Tôi vuốt mái tóc con, âu yếm hỏi :
– Sao con dối mẹ đi làm chuyện không tốt. Con nói cho mẹ biết đứa nào đã ăn nằm với con.
Con Lài bật khóc :
– Con đã dối mẹ lâu rồi. Chuyện thật con có quen với một ngưòi đàn ông lớn tuổi. Ông ấy thấy con thiếu thốn nên thường cho con nhiều tiền và quần áo. Còn cho con đồng hồ đeo tay nữa. Ông ấy dụ con đến nhà nhiều lần và hiếp con đến có thai. Con sợ khóc lóc, nên ổng cho tiền hối thúc con đi phá cái thai đó.
Tôi sững sốt :
– Trời ! Con ham tiền để người ta dụ dỗ. Con nói cho mẹ biết ông ấy là ai, ở đâu ?
Con Lài ngưng khóc, chậm nước mắt, trả lời tỉnh bơ :
– Mẹ cũng chẳng cần biết ông ta để làm gì. Con cũng ghét ông ta lắm rồi. Ghét thì có ghét, nhưng con vẫn thích ông ta, vì ông ta có nhiều tiền mà mẹ.
Tôi không ngờ con tôi lại trả lời như thế, cũng chỉ vì nghèo. Vì nghèo nên con tôi bị người ta dụ dỗ để hãm hiếp. Vì nghèo đói tả tơi ngày xưa, tôi cũng bị người ta dụ dỗ hãm hiếp để có được thực phẩm mang về nuôi gia đình, và mẹ tôi cũng thế. Đã biết như thế, muốn tránh cũng không tránh khỏi. Trách ai bây giờ ? Nói gì với con mình trong hoàn cảnh hôm nay ? Nhưng tôi vẫn cố khuyên con :
– Con nói thế không được. Bản thân con quan trọng hơn, con biết chứ ! Con phải gìn giữ bản thân. Việc như thế con đi dấu mẹ, không nói cho mẹ biết để mẹ giúp con.
Con Lài không chú ý lời tôi nói, lại bô bô trong suy nghĩ của nó :
– Ông ấy thương con lắm mẹ ơi, dự tính dẫn con lên Saigon giúp con kiếm chồng Đại hàn đó mẹ. Ông ấy bảo lấy chồng Đại hàn có nhiều tiền, sung sướng thích lắm. Mai mốt rồi con sẽ đem tiền về giúp gia đình mình không còn phải nghèo đói như thế này. Chồng Đại hàn giàu hơn chồng Đài loan mẹ ạ.
Nghe con Lài nói, tôi như đang bị lên cơn sốt, ớn lạnh và nhức nhối. Con gái tôi đang bắt đầu rơi vào vũng lầy hôi hám, nhục nhã mà tôi đã gồng hết sức mình để chui ra. Trong nỗi lo ấy, tôi lại hỏi dọ nó :
– Con thích lấy chồng Đại hàn lắm phải không ? Đừng mơ điều ấy. Mẹ không chấp nhận con lấy chồng nước ngoài. Mình nghèo thì chịu thôi, lấy chồng xứ mình để mẹ con mình gần bên nhau, mẹ không mất con. Đến xứ người con sẽ nhục nhã gian khổ trăm bề có thể nguy hiểm tính mạng mà trăm người trăm nói.
Con Lài gân cổ cố cãi :
– Ai nói mẹ như thế ? Chính bạn bè cả ông ấy nói không giống mẹ chút nào. Gia đình mình nghèo mà mẹ. Người ta giàu nhờ lấy chồng nước ngoài, mẹ không thấy sao ?
– Con chỉ nghe chứ chưa thấy tận mắt. Họ thổi phồng để dễ dàng trục lợi. Xã hội hôm nay đảo điên hết cả rồi con ơi ! Thực tế không như con đã nghe. Lấy chồng Đại hàn, Hồng kông, Đài loan. Miên, Lèo….gì đó đều bị chúng cưỡng bách bề hội đồng tình dục và còn hành hạ như một đứa ở đợ. Khi chán chê họ tống cổ con vào các động mãi dâm bán để lấy tiền. Hoặc tốt số sẽ lấy những ông già cọp rọp, những tên đui què mẻ sứt, bất lực, nghèo đói, ngu dốt…chứ đâu phải người giàu có tốt lành gì đâu con. Mẹ khuyên con bỏ ý định đó, lo học nghề rồi lấy chồng trong xứ mình mà làm ăn, mẹ con có bên nhau.
Con Lài gặn hỏi :
– Hồi trước mẹ nói mẹ cũng đã thất bại ở Đài loan phải hôn ?
Đột nhiên con Lài cắc cớ hỏi làm tôi cứng họng cảm thấy ngượng mặt với nó. Tôi đã dấu kín những điều của tôi làm ngày trước, vậy mà nó cũng biết được. Tôi chối :
– Hồi ấy mẹ đi lao động do nhà nước đưa đi con ạ.
Con Lài thở dài, than :
– Nhà mình nghèo quá, con cũng đã lớn, quần áo không có mặc thua sút bạn bè, đi xe đạp cà tàng, đạp ê ẩm cả người, không có đồng hồ, nhẫn vàng để đeo….chỉ bao nhiêu đó thôi mẹ lo nổi cho con không ?
Tôi hứa chắc với con để nó yên tâm :
– Mẹ sẽ lo cho con. Con đừng dại nghe lời thiên hạ. Con sẽ bị hãm hiếp, rồi bị bán vào các động mãi dâm, đời con sẽ tàn tạ con ạ !
Con Lài nhắc lại ý kiến của nó vừa rồi :
– Ông ấy và bạn bè không nói như mẹ nói đâu. Mọi thứ họ nói đều hấp dẫn nghe mà ham. Nếu con làm con sẽ không thất vọng như mẹ nói. Chuyện có thai rồi phá thai là bình thường, đâu có gì mất mát. Miễn sao có tiền, tiền và tiền…nhà nghèo phải cần tiền… không còn cách nào khác. Mẹ cũng thế, và ngoại trước đây cũng chẳng khác nào.
Tôi không ngờ con Lài đang nói lên đúng ý nghĩ mà mẹ tôi đã nói ngày trước. Mẹ nào con nấy, bà nào cháu nấy, đúng là một vòng lẩn quẩn không thể xóa được. Tôi lại hứa với con gái để khuyên nó :
– Bằng mọi cách mẹ sẽ lo cho con. Điều duy nhất mẹ khuyên con nên nghe lời mẹ. Những điều con đã nghe không có gì tốt lành như con đã nghe và suy nghĩ.
Con Lài nhìn tôi mũm mĩm cười có ý như không tin tưởng nổi vào điều hứa hẹn của tôi. Tôi thông cảm và bao dung việc con gái tôi đã làm như tôi đã tha thứ việc làm của tôi, lòng thì cứ lo lo.
Bẳng đi một thời gian ngắn tôi luôn theo sát việc đi đứng và sinh hoạt của con tôi. Thấy chưa có điều gì khác thường, tôi có phần an tâm.
Đột nhiên, hai ngày nay con Lài vắng mặt. Tôi bấn lên đi tìm kiếm hỏi han nhiều nơi. Tôi lục lạo trong quần áo, vật dụng của con và đã bắt gặp lá thư của con tôi để lại.
“Thưa mẹ,
“Con xin lỗi mẹ. Mẹ tha thứ cho con. Con xin tạm biệt mẹ để con đi lấy chồng Đại hàn như con đã quyết định. Con hẹn mẹ năm sau con sẽ về và mang tiền về cho mẹ để gia đình mình không còn nghèo khổ. Vì gia đình mình nghèo, con đành phải làm, chứ con đâu có muốn. Mẹ đừng la rầy con. Con thương mẹ. Lài.
Tôi không hốt hoảng khi đọc hết những dòng chữ con tôi viết để lại. Tôi biết vấn đề sẽ phải xảy đến không sớm thì muộn dù tôi luôn quan tâm. Cái nghèo là một vấn nạn ám ảnh bao gia đình giữa một đất nước nghèo đói tụt hậu không còn cách nào để xoay chuyển. Đời đảo điên đã nhồi nặn nên chiếc bẩy khổng lồ làm tan nát và hoen ố người phụ nữ Việt Nam dưới nhiều hình thức bằng những mỹ từ hết sức hấp dẫn.
Tôi đành bất lực và chỉ cầu xin ơn Trên ban cho con gái tôi sự bình an, để một ngày nào đó tôi còn được gặp lại con tôi.-

Nguyễn Thế Hoàng

Thêm bình luận Tháng Bảy 10, 2007

Dính Chàm

(Tên các nhân vật trong truyện đều do sự tưởng tượng, nếu có trùng hợp, hoàn toàn ngoài ý muốn của người viết)

Tràng điên đầu với mấy tờ giấy bổ túc, ngày chạy đôn chạy đáo, đêm mất ngủ cả tháng nay nhưng vẫn chưa đi vào đâu. Hồ sơ xuất cảnh theo diện HO vẫn gặp khó khăn về phía chính quyền Việt Nam. Các bạn cùng cấp bậc cũ và cùng chung thời gian “nín thở qua sông” đã có đủ giấy tờ, đang hân hoan tiệc tùng từ giã bạn bè người thân để lên đường định cư sang Mỹ. Thủ tục đầu tiên, Tràng không biết lý do gì, đã làm đi làm lại đến lần thứ ba, đúng nguyên tắc và đường đi nước bước yêu cầu từ phường quận cho đến thành phố, nhưng các giấy tờ cần thiết để bổ túc cho phía chính phủ Mỹ vẫn bị làm khó dễ, công an yêu cầu Tràng làm lại cả chục lần.

Thiếu tá, cấp bậc cũ trong quân đội miền Nam cộng thêm tám năm đi tù từ Nam chí Bắc, như vậy quá đủ điều kiện để ra đi dễ dàng theo chương trình nhân đạo, nhưng không hiểu lý do gì Việt Nam làm khó trong việc chuyển hồ sơ qua cơ quan thẩm quyền của Mỹ để cấp chiếu khán nhập cảnh. Đồ đạc trong nhà đã bán sạch, từ chiếc máy truyền hình cũ, tủ giường bàn ghế, áo quần cho đến những vật dụng cần thiết nhà bếp cũng ra chợ trời để gom góp tiền bạc lo tiếp hai đợt tiền giữa và tiền cuối, mới hy vọng được nhận giấy xuất cảnh. Những người đi trước cho biết, bình thường không dễ dàng gì để xin giấy tờ một cách nhanh chóng mà phải qua ba lần cửa ải. Việt nam đứng hàng đầu thế giới với nghệ thuật móc tiền của những người sắp bỏ nước ra đi. Một HO trước khi lên máy bay thường bị lột sạch những gì trên người, may mắn lắm, giữ lại được bộ áo quần che thân. Ba giai đoạn trong quá trình, từ cung cấp giấy tờ khai báo, bổ túc những thiếu sót giữa chừng, đến lúc hoàn chỉnh hồ sơ, chặng nào cũng phải làm lại bằng những thủ tục đầu tiên. Các cựu sĩ quan cũ muốn ra đi nhanh chóng, ai cũng đành nhắm mắt đóng góp để thoát sớm được ngày nào hay ngày đó.

Một hôm được công an thành phố kêu lên làm việc, Tràng cứ yên chí rằng hồ sơ đã được thông qua, nhưng không ngờ sau khi ngồi xuống, viên công an đẩy chồng hồ sơ đến trước mặt Tràng:

– Hồ sơ ông có sự cố! chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và không thể chuyển qua chính quyền Mỹ.

Tràng tái mặt, run người hỏi lại:

– Dạ thưa ông… vì lý do gì?

Viên công an cười khỉnh:

– Ông nhớ lại trong thời gian cải tạo ông đã viết những lời khai thế nào?

– Dạ thưa ông, cách mạng biểu khai gì thì tôi khai cái đó.

Viên công an nhìn thẳng vào Tràng:

– Biết vậy, nhưng nếu người Mỹ đọc hồ sơ của ông thì…

– Thưa thì sao ạ?

– Dù có lòng nhân đạo cao độ nhưng chẳng một ai muốn chứa chấp một người phản bội ăn cháo đá bát như ông. Hãy về đi và nhớ lại những gì ông đã viết tự thú cả chục lần trong thời gian cải tạo thì ông sẽ rõ.

Chân tay bủn rủn, đâu óc quay cuồng, thế là hết mộng ra đi, Tràng không can đảm về nhà nhìn cảnh vợ con đang nóng lòng ngồi chờ tin. Tràng vào một quán ăn nhỏ kêu chai bia, uống một hơi rồi ôm đầu suy nghĩ.

***

Mang cấp bậc thiếu tá, Tràng đâu còn ngây thơ tin vào miệng lưỡi cộng sản khi chúng cam kết mười lăm ngày học tập cải tạo. Khăn gói lên đường, Tràng cũng đoán lờ mờ ít nhất vài ba năm trở lên so với một sĩ quan cấp tá. Với chính sách nhồi sọ, quản giáo và chính trị viên trại tù ngày đêm nhét riết vào lỗ tai rằng, phải thành tâm với cách mạng, khai báo thật tình tội lỗi của mình và biết ăn năn hối cải sẽ được cách mạng ân xá trở về đoàn tụ với gia đình. Thời gian học tập lâu hay mau đều do các anh tự định đoạt. Nghe mãi nhập tâm, trong bản khai lý lịch đầu tiên Tràng đã tự buộc mình đủ thứ tội, ăn bám, mù quáng, cúi mình làm tay sai cho đế quốc, bắn phá và giết hại cách mạng. Tràng cũng không quên moi trong đầu, tìm xem trong họ hàng nội ngoại cũng như bên gia đình vợ, ai đã có công với cách mạng để kê khai vào mục đích đánh bóng cho tấm thân tù tội của mình, hy vọng sẽ lọt vào mắt quan tòa xét xử. Tràng đã ghi một dọc từ trên xuống dưới những liên hệ của gia đình với Việt Minh trước kia, các phong trào cứu quốc cũng như Mặt trận giải phóng sau này. Nhưng chờ mãi chẳng thấy kết quả, Tràng đổi kế hoạch, làm việc cho các quản giáo bằng cách theo dõi tất cả hành động, lời ăn tiếng nói của bạn tù trong trại để báo cáo lên trên. Ban giám thị trại giam nhiều lần gọi riêng lên khen thưởng và động viên tinh thần hăng say của Tràng. Về đoàn tụ đâu chưa thấy, Tràng được chuyển trại liên tục với những chỉ thị rõ ràng, đến các trại mới phải thi hành bổn phận hăng say hơn để khám phá thành phần lười biếng lao động, đầu óc ngoan cố và có ý đồ trốn trại cũng như chống đối cách mạng. Sau nhiều năm thi hành chỉ thị của quản giáo, âm thầm tố giác hành động đồng đội nhưng Tràng vẫn không thấy gì sáng sủa.

Ngược lại các quản giáo vẫn thường xuyên nhắc nhở Tràng nên thành khẩn khai báo với cách mạng để được khoan hồng sớm. Không còn con đường nào để rút ngắn giai đoạn tù tội của mình, Tràng đánh bạo dựng lên nhiều chuyện với đầy đủ chi tiết trong các đợt làm lại lý lịch và khai báo trong năm. Tràng hy vọng đây là lá bài chót lập công với cách mạng với hy vọng sẽ được cứu xét cho về đoàn tụ với gia đình sớm.

Tràng nhớ lại rõ những lời khai đã viết liên quan đến người Mỹ rằng, Tràng trong lúc hành quân hỗn hợp, đã âm thầm liên lạc với cách mạng, cung cấp chính xác tọa độ nghỉ đêm của một tiểu đoàn bộ binh Mỹ đang tham dự hành quân với quân cộng hòa, để cách mạng quay các họng pháo tiêu diệt nguyên đơn vị này. Sau lần khai báo nặng ký, Tràng ngày đêm trông đợi cách mạng cứu xét nhưng chuyện ân xá lại càng kéo xa thêm. Kết quả, sau tám năm đi tù mới được phóng thích cùng một lượt với những đồng đội đã bị Tràng bán đứng nhiều lần.

Đêm nằm không chợp mắt, nếu đúng như lời viên công an cho biết, Tràng không còn một hy vọng mỏng manh để nắm trong tay tờ hộ chiếu nhập cảnh của Mỹ. Tràng ân hận đã đánh sai con bài, bây giờ dưới mắt người Mỹ, nếu chuyện có thật, Tràng là một người phản bội đồng đội, phản bội người bạn đồng minh đã đem xương máu để bảo vệ vùng đất tự do. Trong trường hợp người Mỹ kiểm chứng lại và khám phá ra rằng đây chỉ là chuyện bịa đặt, thì dưới mắt họ, Tràng là một người láu cá tráo trở không thể xứng đáng hưởng những ân huệ của chính phủ Mỹ đã ưu ái dành cho sĩ quan thuộc chế độ cũ.

Đang thất vọng nằm nhà, Tràng nhận được giấy gọi lên làm việc. Lần này viên công an yêu cầu Tràng đọc lại những lời khai đã viết nhiều lần cách đây vài năm. Tràng không ngờ ngày trước đã phịa ra những chuyện động trời. Bây giờ bút sa gà chết, làm cách nào để tẩy xóa vết những chứng tích phản bội do mình đã dựng lên lập công với cách mạng.

Đang phân vân, viên công an nhìn Tràng lắc đầu:

– Như vậy ông chẳng còn hy vọng gì ra đi.

Trả lời thế nào bây giờ, đàng nào cũng kẹt, nếu thú thật ra, không mang tội phản bội với người Mỹ thì cũng bị ghép vào tội khai gian với cộng sản. Im lặng là cách tốt nhất, thà không được Mỹ chấp thuận hồ sơ vẫn còn nhẹ hơn khi bị cộng sản khép tội lừa dối cách mạng. Nếu bị đưa vào trại cải tạo một lần nữa xem đi tù lãnh án chung thân khổ sai. Tràng gục đầu ngồi chết trân trên ghế.

Viên công an từ từ đọc lại các lời khai của Tràng, gật đầu thích chí, hỏi thẳng Tràng:

– Gia tài ông còn gì nữa không?

Tràng nhìn lên thành thật trả lời:

– Thưa anh, đâu còn gì, đồ đạc trong nhà đã bán sạch, bây giờ ăn bốc nằm đất đợi ngày lên đường…

Viên công an cười lớn tiếng:

– Lên đường đi đâu? Chỉ còn cách đi xuống âm phủ, ông biết không?

Tràng năn nỉ:

– Dạ thưa anh, còn cách gì cứu vớt được không?

– Nếu anh còn tiền còn vàng thì có thể kiếm được đường chạy.

Tràng phân trần:

– Anh nghĩ xem, tám năm trong trại cải tạo, vợ bắt ốc hái rau nuôi con, nhà cửa bán hết…

Viên công an nói nhỏ với Tràng:

– Ông về chạy một số tiền, may ra hồ sơ của anh mới được thông qua. Ngoài ra không còn phương cách nào khác.

– Thưa anh, tôi muốn đi nhưng thú thật, tiền của thì chẳng còn đồng nào. Ngay chiếc xe đạp cũng mượn của anh em để chạy lo giấy tờ.

Viên công an đứng dậy khoát tay:

– Ông về đi, suy tính, lúc nào có tiền hãy trở lại gặp tôi. Đừng nói nhiều.

Tràng cố vớt vát hỏi thêm:

– Thưa anh cho biết chừng bao nhiêu tiền thì tôi có thể gặp được anh?

– Lấy rẻ, năm cây!

Không còn gì để hỏi thêm Tràng đứng dậy ra về.

Tràng đem chuyện này hỏi một người bạn thân cũng đi tù mới về, hồ sơ anh ta đã được thông qua, chỉ còn chờ khám sức khỏe và lên máy bay. Tuy kể hết ngọn ngành câu chuyện nhưng Tràng vẫn giấu kỹ làm mật báo viên cho quản giáo trong tù:

– Tôi vô tình bịa chuyện ra khai bậy có liên hệ với người Mỹ, bây giờ công an chúng nó đem chuyện này ra làm tiền tôi.

Thuận, người bạn hỏi lại:

– Sao anh dại thế, đi tù đúng là nín thở qua sông cho qua ngày, chỉ cần khai vớ vẩn nhưng đầu đuôi phải ăn khớp, trước sau như một cho qua chuyện. Chúng nó chẳng biết gì ngoài việc hù dọa, anh nào yếu bóng vía khai bậy ra là chết.

– Đâu biết trước chương trình nhân đạo của Mỹ đối với anh em sĩ quan chế độ cũ. Cứ tưởng vào tù là xong cuộc đời. Nếu được thả về cũng phải nhắm đường kinh tế mới mà bước. Nghĩ đến vợ con, tôi đã khai liều để kiếm điểm, mong được lọt sổ tù tội sớm, ai ngờ phút chót Mỹ quay trở lại cứu vớt chúng ta thế mới kẹt. Nếu biết trước thì nín thở qua sông cho yên thân, đâu tin được tụi nó. Bây giờ bể chuyện ra, mới thấy được cái thâm độc của cộng sản, tôi hối hận việc đã làm, nhưng làm được gì bây giờ?

– Nhưng anh khai chuyện gì?

– Thì khai ghét cay ghét đắng tụi Mỹ, trong cuộc hành quân hỗn hợp tôi thông báo mục tiêu để chúng nó tấn công bằng pháo tiêu diệt trọn một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.

– Ồ, chuyện đó quan trọng chứ không phải đùa đâu. Bây giờ mấy tên công an muốn sao ?

– Đòi năm cây vàng để chạy chọt.

– Chạy cái gì, Mỹ đâu ăn hối lộ. Chỉ có bọn công an bày vẽ ra để ăn của anh.

Tràng gải đầu:

– Nhưng cũng kẹt khi chúng chuyển hồ sơ này đến tay người Mỹ.

– Kể ra năm cây vẫn còn nhẹ để gỡ rối hồ sơ của anh.

– Nhưng đào đâu ra vàng bây giờ!

– Anh xem lại có ai ứng trước cho anh, qua Mỹ lãnh tiền trợ cấp hay làm việc trả lại sau.

– Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.

Tràng không thể nói quanh, dối vợ con năm cây vàng đút lót để thông qua hồ sơ, nên buộc lòng nói hết sự thật. Bà Tràng mau mắn đứng ra mượn trước bên gia đình vợ và bắt Tràng viết giấy nợ hứa trả trong vòng một năm sau khi đặt chân đến đất Mỹ.

Cầm năm lượng vàng trong tay, ngày hôm sau Tràng hân hoan xin gặp nhân viên phụ trách hồ sơ. Viên công an vui vẻ bắt tay và đặt câu hỏi ngay:

– Ông đã đem đến số vàng theo yêu cầu của tôi ?

– Thưa anh vâng.

– Như vậy tốt. Bây giờ ngồi xuống đây chúng ta làm việc.

Đếm đủ năm lượng vàng, gói lại cẩn thận, kéo hộc bàn để vào xong viên công an nhìn Tràng:

– Như ông đã biết, lời khai của ông trong thời gian cải tạo trước sau gì người Mỹ cũng từ chối việc nhập cảnh.

Tràng hốt hoảng:

– Thế làm sao bây giờ?

– Phải ngụy tạo lại hồ sơ của ông bằng cách xóa bỏ các phần liên quan đến việc ông khai báo là đã bán đứng một tiểu đoàn bộ binh Mỹ.

– Dạ, cũng nhờ anh giúp đỡ xóa bỏ hẳn tì vết này.

Viên công an mở tròn đôi mắt:

– Đâu có dễ dàng vậy.

Tràng lo lắng:

– Thế, thưa anh phải làm sao.

– Ở đây không có quyền xóa bỏ vết tích trong hồ sơ, việc này phải do trung ương.

– Vậy xin anh chuyển lên giùm.

Viên công an cười:

– Anh tưởng chuyện động trời như vậy chỉ đáng giá có năm cây?

Tràng tái mặt, năm cây vàng đã vào túi nó bây giờ trở mặt đòi thêm, Tràng ngập ngừng:

– Bây giờ phải thế nào thưa…

– Đưa lên trung ương thì cả trăm cây chứ vài ba cây ăn nhằm gì.

Không còn bình tĩnh, Tràng đáp liều:

– Sao lúc đầu anh cho biết chỉ cần năm cây? Bây giờ tôi không còn cách nào khác. Anh giúp được thì giữ số vàng tôi đã đưa, nếu anh không giúp được thì anh vui lòng trả lại vàng cho tôi. Tôi chán nản quá, chẳng còn ham muốn chuyện ra đi nữa.

Viên công an mở hộc tủ lấy gói vàng ra đút vào túi quần, đứng dậy:

– Ông ngồi chờ, tôi vào thỉnh ý cấp của trên tôi.

Năm phút sau viên công an trở ra mang theo một xấp hồ sơ khác, trước khi ngồi vào bàn anh ta không quên khép kín cửa phòng. Vừa để xấp hồ sơ xuống, viên công an cười thật tươi:

– Ông phải thưởng tôi cái gì mới được, tôi đã đề nghị cho ông một giải pháp rất tốt.

Tràng sung sướng ra mặt :

– Bây giờ chẳng có gì đáng giá, tôi hứa một khi qua được bên đó, tôi không bao giờ quên ơn anh.

– Nhớ đấy nhé !

Viên công an xoa hai tay vào nhau, tiếp tục :

– Cấp trên sẽ chấp thuận làm lại toàn bộ lời khai của anh với một điều kiện.

– Dạ thưa điều kiện gì ?

– Ông phải hợp tác với chúng tôi hay nói rõ hơn hợp tác với chính phủ.

Tràng bối rối hỏi lại :

– Hợp tác như thế nào ?

Viên công an cười :

– Thì đại loại cũng như hồi ông làm lúc còn trong các trại cải tạo !

Tràng ngây thơ hỏi lại :

– Anh nói làm “ăng ten” bên Mỹ ?

– Đâu có thể nói như vậy.

– Xin anh cho biết rõ.

– Chính phủ sẽ giao cho anh công tác đặc biệt và quan trọng chứ đâu vớ vẩn như trong thời gian qua.

Không đợi Tràng thắc mắc, viên công an tiếp :

– Nghĩa là anh làm việc cho chính phủ, len lỏi vào các tổ chức chống đối, thừa cơ hội gây rối, phá hoại, ly gián, gây cho cộng đồng chúng rối loạn lên.

Nghe qua đây Tràng lắc đầu :

– Thưa anh tôi không thể làm những việc đó.

– Trước đây ông đã thi hành nhiệt tình lệnh các quản giáo..

– Trước khác bây giờ khác.

– Vết tích ông vẫn còn đây, nếu không chấp thuận làm việc cho nhà nước, chúng tôi sẽ bạch hóa vấn đề này chẳng những đối với người Mỹ mà còn phổ biến sâu rộng trong cộng đồng các ông ở nước ngoài. Lúc đó các bạn tù của ông ngày trước sẽ xẻ thịt ông ra…

Tràng giật mình, nếu cộng sản phổ biến rộng rãi việc phản bội của mình trong các trại tù đã đi qua. Chưa biết trả lời thế nào, viên công an đứng dậy :

– Tôi cho ông suy nghĩ. Trong ba ngày sau trở lại đây để ký giấy hợp tác, nếu không đến xem như ông từ chối, chúng tôi sẽ làm việc theo chỉ thị của cấp trên.

Cứ mỗi lần tiếp xúc với công an Tràng càng đau đầu thêm, kế hoạch làm việc của chúng như vết dầu loang, Tràng càng ngày càng bị bủa vây trong kế hoạch thâm độc của chúng. Tràng biết rằng, với cộng sản một khi đã dính vào thì không còn cách nào tách ra mà phải cúi đầu làm việc cho chúng. Với những thủ đoạn bắt chẹt, hù dọa để biến những người nhẹ dạ trở thành những công cụ nằm vùng, tuyên truyền, phá hoại và phục vụ theo chỉ thị đưa ra. Bây giờ năm lượng vàng và hồ sơ đen đã nằm trong tay chúng nó, Tràng chưa tìm được cách giải thích với vợ con nhưng đàng nào cũng phải bàn bạc với gia đình để đi đến một quyết định chung.

Tràng đem sự việc kể rõ đầu đuôi, vợ Tràng ngẫm nghĩ một lúc, gật đầu :

– Anh phải đi nước đôi, vì không còn con đường nào khác.

Tràng chưa có ý kiến thì bà vợ nói thêm :

– Đó là con đường tốt nhất của anh. Muốn sống phải theo thời, trong lúc Việt Nam đang hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc, một vài thành phần đón gió ở nước ngoài đang trở cờ hy vọng trở về hợp tác với cộng sản qua chương trình đổi mới. Anh chỉ là một cựu tù cải tạo, không tài cán gì, không tiếng tăm nhưng anh sẽ thành công bằng con đường tắt. Trong một sáng một chiều có thể nổi tiếng rùm beng, bằng cách nhảy ra làm chính trị như đa số Việt kiều bên Mỹ, đang mượn con đường này để đánh bóng cho bản thân mình. Biết đâu thời cơ đến, khi chính phủ hòa hợp hòa giải thành lập, anh trở nên nhà lãnh đạo nằm vùng, sẽ trở về trong vinh quang. Cũng ông này ông nọ với chính phủ mới chứ đâu phải tứ vô danh tiểu tốt.

Nghe vợ nói nực cười trong bụng, Tràng đã sáng mắt trước xảo quyệt của cộng sản nhưng làm gì bây giờ, trong thế chẳng đặng đừng chưa có lối thoát, Tràng lặng thinh. Bà vợ say sưa tiếp :

– Anh xem như thằng Vách, chỉ có nghề bán chạp phô bên Cali, nổi danh như cồn trong nháy mắt bằng cách treo cờ đỏ và hình ông Hồ trong tiệm. Để rồi xem, mai kia nó cũng “ngựa chàng đi trước võng nàng theo sau” vinh quang trở lại quê hương. Đó là những người biết thời biết thế, anh không nghe người ta thường nói “đi với Bụt thì mặc áo cà sa, đi với ma thì mặc áo giấy”. Hay nhất trong thời buổi bây giờ phải bắt cả hai tay, vuột tay này còn tay kia chứ đứng hẳn một bên coi chừng sa lầy đấy anh ! Anh có thấy con đường tiến thân của anh được chính phủ bên này đề nghị ngắn và gọn không ? Phải chấp nhận làm bất cứ gì để được nổi tiếng vang danh. Anh xem các minh tinh màn bạc, muốn nổi danh, phải chịu cởi truồng hoặc đóng phim con heo trước khi leo lên đỉnh danh vọng. Anh đâu phải làm gì cực khổ. Tiền trợ cấp của Mỹ, tiền lương, tiền bồi dưỡng của chính phủ bên này anh cất đầy túi, ăn xong đi uống café, lâu lâu nhảy ra phá thối, thọt gậy bánh xe một vài lần, tiếng tăm sẽ nổi như cồn mà còn lập được công trạng lớn với cộng sản bên này, anh còn đòi gì nữa !

Tràng cười mỉm :

– Anh đã sai lầm trong lúc đầu, bây giờ mắc nghẹn rút chân ra không được. Em xem chẳng những không có cách gỡ mà còn ngậm đáng nuốt cay tuân theo mệnh lệnh của chúng nó. Còn em, đã trắng mắt gần mười năm nay mà vẫn chưa tỉnh. Lúc này vẫn còn mơ tưởng viển vông vào cái bánh vẽ của chúng đưa ra, nào là sửa đổi chủ trương đường lối cộng sản, thành lập chính phủ hòa hợp trong nay mai, mở rộng vòng tay đón anh em ruột thịt về xây dựng quê nhà…

Bà Tràng vẫn cố cãi :

– Chính quyền Việt Nam thường lặp đi lặp lại hàng trăm hàng ngàn lần, họ đâu có thể đơn phương nuốt lời.

Quá bực mình nhưng Tràng vẫn nói ra để khỏi ấm ức trong lòng :

– Em hãy nhớ lại, các hiệp ước quốc tế về đình chiến, ngưng bắn, toàn vẹn lãnh thổ, chúng có tôn trọng không ? Các anh cường quốc to đầu đóng vai sen đầm quốc tế cũng vòng tay đứng ngoài xem cộng sản xua quân qua biên giới nuốt trọn miến Nam và đô hộ còn tàn bạo hơn cả trăm năm của Tây và ngàm năm của Tàu. Có ai phản ứng lên tiếng gì đâu ? Huống hồ gì những lời láo khoét mới đây để bịp quốc tế và moi tiền của “đồng bào ruột thịt”. Biết quá nhiều nhưng bây giờ anh phải nhắm mắt chấp nhận tiếp tục làm tay sai, trước tiên để được qua Mỹ, sau đó cũng cầu may, tương lai giữ được cái lon thiếu tá trên cổ áo như em mong muốn. Bây giờ nghe anh hỏi, chấp nhận hay không là việc quan trọng, cho anh biết ý kiến của em để quyết định.

Bà vợ Tràng xuống nước nhỏ nhẹ :

– Thôi đã lỡ mất năm lượng vàng, mình cần qua Mỹ sớm kiếm tiền trả nợ. Cứ âm thầm làm việc theo chỉ thị bên này. Biết đâu gặp vận may, mai kia trở về nếu không được ông này bà nọ thì cái lon thiếu tá của anh cũng còn trên vai. Ráng lên, nghe lời em.

***

Trở lại xác nhận việc hợp tác, ký một số giấy tờ cam kết xem như phó thác cho số mệnh đẩy đưa, Tràng được đối đãi ân cần bằng nước ngọt, thuốc lá và những cái bắt tay nồng nhiệt :

– Hồ sơ của ông chúng tôi sẽ chuyển gấp qua tổ chức của người Mỹ. Trong thời gian chờ đợi khám sức khỏe, ông sẽ được theo học một khóa huấn luyện trong một thời gian ngắn.

– Địa điểm ở đâu anh ?

– Ngay trong thành phố.

Thoát được những khó khăn kéo dài từ lâu về hồ sơ HO và kết quả ngày hôm nay sẽ đem lại nguồn vui cho gia đình, nhưng Tràng vẫn bận tâm về những suy tư lo lắng đang bắt đầu chớm nở. Ngày đến trình diện theo khóa học đặc biệt, Tràng ngạc nhiên khi lớp học tổ chức cho một người độc nhất. Thầy là một cán bộ chính trị, niềm nở bắt tay khi vừa gặp Tràng :

– Thân chào anh. Theo chỉ thị cấp trên, anh sẽ theo học với tôi trong một thời gian vài tháng để anh thông suốt đường lối, chính sách của chính phủ ta, địa bàn hoạt động, đánh giá đối phương, phương pháp làm việc, tình hình của từng thời điểm một và nguyên tắc báo cáo đột xuất cũng như định kỳ lên cấp chỉ huy trực tiếp của anh.

– Thưa anh, tôi sẽ làm việc đơn độc một mình hay tập hợp thành nhóm ?

– Độc lập một mình, chung quanh còn nhiều đồng nghiệp hoạt động song song nhưng anh không có quyền biết hoặc liên lạc trực tiếp với họ. Sẽ có người chỉ huy và ra lệnh cho anh. Khi qua đến Mỹ anh sẽ gặp cấp chỉ huy trực tiếp.

– Thưa, tôi muốn biết môi trường và địa bàn hoạt động.

– Trong chương trình học, anh sẽ thông suốt tất cả các vấn đề, nhưng tôi có thể vắn tắt cho anh hay một cách tổng quát. Địa bàn hoạt động là nơi định cư đông nhất của người Việt trên đất Mỹ, còn thành phố nào trong tiểu bang California thì do cấp chỉ huy của anh phối trí.

– Còn môi trường ?

– Anh đâu phải là một người tầm thường để sắp anh vào trong đám buôn bán kinh doanh cò mồi như anh Vách. Một cựu tù cải tạo rất có uy tín với nhóm người chống đối chế độ ta. Dĩ nhiên bên ngoài anh sẽ nhân danh một người chống cộng, len lỏi vào trong hàng ngũ cựu tù nhân, giựt giây, ném đá dấu tay rồi một lúc nào cần thiết, sẽ ra mặt lôi kéo các anh em đồng đội cũ.

Tràng gật đầu tỏ vẻ thông suốt những lời hướng dẫn căn bản của anh chính trị viên trung ương.

– Anh phải len lỏi và gia nhập nhiều các đoàn thể đồng thời hoạt động thật đắc lực, nhất là những tổ chức có phương tiện truyền thông trong tay.

– Xin anh cho biết rõ mục này.

– Truyền thông chính là phương tiện hữu hiệu nhất để thông tin quảng bá trong đại chúng. Chỉ một hành động nhỏ trên các phương tiện này nhưng có hiệu lực gấp trăm lần những biến cố khác. Anh không thấy chính phủ ta luôn luôn cảnh giác bọn làm báo, làm thơ, viết văn, dù cho chúng viết thật hay lếu láo đi nữa cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quần chúng. Hiện nay nhà nước đăng chú trọng đến bọn này. Bây giờ anh phải khắc phục tìm cách xâm nhập vào cơ sở có phương tiện truyền thông để tuyên truyền, bôi nhọ, phá thối chúng nó. Hành động phải khôn khéo như con cắc kè, tùy cơ ứng biến, đổi màu sắc thật nhanh chóng cho thích hợp với hoàn cảnh, môi trường…

Trong buổi học cuối cùng, chính trị viên vui vẻ bắt tay hứa hẹn :

– Anh phải phấn đấu thật nhiều trong nhiệm vụ giao phó, lập thật nhiều thành quả tốt. Chính phủ lúc nào cũng tưởng thưởng xứng đáng. Quân hàm cũ trên vai chắc chắn vẫn nằm trong tay anh khi bọn Ngụy chống cộng yếu thế, chấp nhận một chính phủ liên hiệp do ta giàn dựng ra như Mặt trận giải phóng miền Nam ngày trước. Biết đâu với khả năng của anh, ngày anh trở về quê huơng trong vinh quang như một người hùng có chức phận có công với nhân dân, với chính phủ và đất nước!

***

Vừa nhận giấy tờ nhập cảnh, Tràng được công an thông báo, một tổ chức bảo trợ sẵn sàng đón tiếp và giúp đỡ ngay sau khi gia đình Tràng đặt chân đến phi trường Los Angeles và tổ chức này đã lên kế hoạch đưa gia đình Tràng về định cư tại quận Cam.

Đinh Lâm Thanh

Thêm bình luận Tháng Bảy 9, 2007

Rau Đồng Quê

Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông tôi trúng tuyển kỳ thi vào đại học khoa học xã hội và nhân văn tại Saigon. Tôi là một cô gái đồng quê. Ngoài giờ học, quanh năm tôi miệt mài ruộng vườn rẫy bái giúp cha mẹ, ít được đi đây đi đó. Bây giờ lên đại học tôi phải xa nhà để đến thành phố trọ học. Đối với tôi, Saigon có những xa lạ, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và lo lắng. Con đường tiến thân tôi buộc lòng xa nhà, mạnh dạn bỏ tất cả mọi quen thuộc, mang niềm tin tuổi trẻ nhiều mơ ước xây dựng tương lai sự nghiệp cho bản thân và phục vụ xã hội.

Mẹ tôi lo lắng nhiều cho tôi nơi xứ lạ quê người. Không những bà lo lắng tiền bạc chu cấp hằng tháng mà còn lo cho tôi đau ốm bệnh hoạn, lo nơi ăn chỗ ở và nhất là không có ai bên cạnh chỉ dẫn, nhắc nhở và trông chừng tôi hằng ngày.

Mẹ đang nghĩ tôi còn non người trẻ dạ rất có thể vấp ngã trước cuộc sống phồn hoa đầy cạm bẫy nơi đất lạ. Mẹ rất cưng con gái ruột của mẹ nên đã lặn lội tìm nhà người bạn quen thân để gởi gấm tôi. Tôi thưong mẹ hơn tất cả mọi người và hứa chắc nịch với mẹ là sẽ chăm học, vài năm sau con sẽ chiếm được mảnh bằng mang về cho mẹ.

Tại Saigon hằng ngày đi học tôi mặc quần tây áo sơ mi, cỡi chiếc xe đạp cà tàng, tóc kẹp thả dài xuống lưng. Nhìn dáng vẻ bề ngoài của tôi trông quê quê gì đâu ! Đôi lúc tôi mặc cảm ngượng ngùng với bản tính rụt rè cố hửu. Trong lúc đó thì bạn bè dân thành phố chúng nó đi học bằng honda, cúp đời mới, đeo đồng hồ xịn, mặc thời trang, xài điện thoại di động có camera, máy nghe nhạc đeo tai, tóc cắt uốn theo người mẫu, tài tử, diễn viên. Tan giờ học chúng kéo vào nhà hàng ăn chơi, đến các tụ điểm giải trí, vào quán internet tìm bạn bốn ohương, chat … hoặc có đứa dợt le bằng những xế hộp bóng nhoáng vi vút trên đường phố, nhìn mà ham.

Mặc cảm thân phận thấp hèn, tôi ít tiếp xúc thân thiện với tụi nó, và chỉ biết chơi với mấy con nhỏ nhà quê như tôi. Dù sao trong lòng tôi cũng gợi lên những ước muốn những cái mà mình chưa có. Xin thêm tiền gia đình là điều tôi không nên làm. Cha mẹ tôi đầu tắt mặt tối để có chu cấp cho tôi hằng tháng bằng số tiền cố định. Ước muốn cho tôi vươn lên như bạn bè đâu phải là chuyện dễ. Chính là sự ray rứt và thường xuyên suy nghĩ của tôi.

Qua năm học thứ hai, tôi đã dần dần thích nghi với hoàn cảnh mới, bớt dần sự ngượng ngùng rụt rè. Cuộc sống đã giúp tôi những hiểu biết khôn ngoan hơn. Đầu tiên tôi muốn tách rời nơi nhà trọ mà mẹ tôi đã gởi gấm. Họ kiểm soát tôi chặt chẽ, theo dõi sinh hoạt hằng ngày của tôi. Họ đã thực hiện những gì mẹ tôi đã nhờ cậy họ. Còn với tôi, tôi cảm thấy hơi khó chịu như đang bị giam lỏng mất tự do.

Tôi nói dối mẹ là có sự không hợp tính giữa tôi với gia đình đang ở trọ. Chuyện này có thể ảnh hưởng đến sự chăm chỉ đèn sách của tôi. Nghe tôi than thở, mẹ đồng ý để tôi dọn đến ký túc xá ở chung phòng với mấy đứa bạn và ăn cơm tháng. Thế là tôi được chút không khí tự do của đời sinh viên.

Tôi đem ý nghĩ thua sút của mình tâm sự với mấy đứa bạn cùng phòng. Có đứa bảo kệ nó, hơi sức đâu mà lo, tụi mình làm gì theo kịp chúng nó. Có đứa bảo muốn có tiền ăn xài chưng diện cho nở mặt thì đi làm thêm ngoài giờ học. Chúng nó nhìn bề ngoài tôi, tấm tắc khen tôi vượt quá tiêu chuẩn sắc diện, lợi khí hái ra tiền. Có đi làm nhà hàng như chúng nó vào mỗi buổi tối chừng thời gian là khối tiền để mua sắm, nhưng mà coi chừng bản thân để không hối hận.

Tôi nghe lời chúng nó trong tâm trạng náo nức để nhập cuộc. Tôi xin vào làm cho một nhà hàng lớn ngay giữa Saigon, cho dù tại đây tôi đã nghe xảy ra những chuyện không tốt trong công việc phục vụ khách. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, tùy lúc xử sự. Còn do ở mình, nên hư do mình, cứ cố gắng giữ, nếu quá lắm thì rút lui. Đi làm để kiếm tiền trang trải cuộc đời, không phải đi làm để sa ngã hư hỏng tấm thân. Tôi mang tâm trạng đã xác định vị trí để an tâm làm việc.

Như lời chúng bạn nói, bước chân vào nhà hàng được vài hôm tôi là người được tiền típ nhiều nhất. Không nói cũng hiểu được rằng tôi là người mới ra nghề, sắc diện hấp dẫn, cơ thể nở nang đầy đặn, dân đồng quê sạch sẽ bảo đảm, ăn nói có duyên, thêm cái mác sinh viên nên đã thu hút được những vị khách giàu có sang trọng của nhà hàng. Họ đến với tôi nhiều lần và đã dành cho tôi những ưu đãi đặc biệt. Họ vồn vập bao quanh tôi với ánh mắt thèm khát, những lời nói ngọt ngào nóng bỏng. Họ bỏ tiền ra để mua lấy vài giờ ở bên tôi sau khi nhà hàng đóng cửa. Tôi khôn khéo tìm mọi cách trì hoãn, giữ lòng chừng mực giao tiếp. Tôi đã nhìn thấy điểm khởi hành sa vào cạm bẫy đang bắt đầu từ đây. Những lời ong tiếng ve, ánh mắt đưa tình, sự săn đón niềm nỡ, những tờ giấy bạc hấp dẫn là bình phong che khuất bên trong sự manh tâm gian trá của người đời chực chờ quyết chiếm cho bằng được thể xác mình để thỏa mãn thú tính nhục dục bằng mọi giá. Bao nhiêu đàn bà con gái đã bị dụ dỗ và sa ngã đến tan nát cuộc đời. Cũng đã vô số những cô gái vô danh đang từ bùn đen một sớm một chiều muốn ngoi lên thật nhanh trên nấc thang danh vọng và giàu sang, hãnh diện với đời vẫn phải kinh qua những mặc cả ghê tởm và hèn hạ. Tôi hiểu điều đó và cũng đã hiểu những biến đổi trong môi trường đang sống.

Từng đêm đi làm về nhìn những bộ quần áo thời trang đắt tiền vừa mua sắm, các món nữ trang quí giá lấp lánh đeo trên người cùng những sấp tiền dày cộm tôi cảm thấy vừa lòng và còn tự biết khen cho chính mình, rồi đôi lúc thờ ơ hoặc lãng quên những điều hiểu biết trước mắt.

Qua ba tháng làm nhà hàng tôi đã có sự thay da đổi thịt từ một cô sinh viên miệt vườn đang trở thành một nàng sinh viên thành phố biết chưng diện và ăn chơi. Thời điểm này là vàng son. Tôi là một bông hoa biết nói giữa bao nhiêu cánh hoa khác. Bao nhiêu ong bướm dập dồn vây chung quanh để tranh nhau vờn hoa hút nhụy. Tôi đang quen biết được nhiều người từ sang đến hèn, những đại gia, những khuôn mặt lớn thời đại lắm quyền nhiều thế. Sự quen biết vì cần đồng tiền bỏ túi, không vì tình cảm. Tôi chưa thỏa mãn điều gì cho ai bằng những tình cảm riêng tư.

Lúc này tôi đang chú ý đến một người. Ông là một vị khách đặc biệt của nhà hàng. Hằng ngày ông đến và đặc biệt ông yêu cầu tôi phải tiếp ông trọn những giờ ông có mặt. Thường là những bữa ăn sáng, ăn chiều, những bữa tiệc đãi bạn bè, những tiếp xúc cho công việc làm ăn của ông, ông buộc tôi luôn bên cạnh ông. Ông không bao giờ trả tiền chi phí ăn uống này nọ, cứ mỗi cuối tháng có nhân viên của ông đến thanh toán cho nhà hàng. Tôi ngồi tại bàn với ông, cần điều gì tôi phải lo cho ông. Thỉnh thoảng ông hỏi tôi vài câu về cuộc sống. Ông tỏ ra đứng đắn, lịch sự, sang trọng và nghiêm nghị. Ông lớn tuổi vào hàng chú bác đối với tôi. Ông ăn mặc chỉnh tề đi xe hơi có tài xế riêng. Ông là tổng giám đốc dưới tay có nhiều kẻ hầu người hạ.

Hằng ngày ông luôn cho tôi tiền đôi khi kèm theo những món quà đắt giá. Ông ân cần nhắc nhở tôi việc học hành. Ông dặn dò tôi trong việc tiếp xúc với khách hàng phải luôn thận trọng. Ông hỏi tôi về lý lịch, quê quán, gốc gác. Tôi thật thà nói cho ông nghe không dấu diếm một điều gì. Ông ngọt ngào nói với tôi là ông thương tôi, thương một cô gái đồng quê vừa xinh đẹp vừa chăm chỉ học hành.

Vài tuần quen nhau ông đưa tôi đến một cửa hàng mua tặng tôi một chiếc Dylan cấu cạnh mà ông gọi là quà kỷ niệm ngày quen nhau. Tôi xuýt xoa không dám nhận món quà quá lớn vì nghĩ rằng tôi mang tiếng lạm dụng chăng ? Tôi cảm thấy nghi ngờ tấm lòng tốt của ông mà bên trong như đang có một ý đồ nào đó. Nhưng rồi tôi phải nhận vì ông nài nỉ tôi, và vì tôi cũng đang đạt ước mơ đã ấp ủ trong lòng từ lâu. Ông bảo chỉ là chuyện nhỏ chẳng có gì đáng phải quan tâm. Ông giúp tôi như ông đã giúp mọi người vậy thôi.

Ông bỏ tiền thuê dài hạn một căn phòng đầy đủ tiện nghi ở tầng ba của một cao ốc lớn nằm giữa trung tâm Saigon dành riêng cho tôi. Ông nói ở chung đụng với nhiều người trong một căn phòng nhỏ ở ký túc xá là không tốt cho sức khoẻ, vã lại không yên tỉnh học hành ôn luyện bài vở cũng như bất tiện khi ông muốn đến thăm tôi. Trước đề nghị thật tình và rất mượt mà của ông tôi nào từ chối được. Nhưng mà làm sao từ chối được nhỉ ? Tiền, xe, nữ trang, chỗ ở, quần áo…là những thứ tôi đang cần. Cần cho nhu cầu cuộc sống thăng hoa. Cần và thèm mà không tiền mua. Đợi chừng nào mới có tiền mà mua. Dường như tôi cảm thấy mình đang rơi vào dòng định mệnh mà bề Trên đã dành sẳn cho tôi mà tháng trước tôi đã đi xem bói đã ứng rằng tôi sẽ được quới nhân giúp đở, nhưng phải thận trọng đừng để gì xảy ra. Điều ấy tôi không giải thích được mà cũng không thể tài nào quay lưng từ chối. Trót bước chân vào đành chấp nhận sự rủi may, dù vinh dù nhục, chuyện gì đó vẫn còn thì giờ suy tính lại và hạ hồi phân giải. Tôi biết và tôi hiểu lắm. Tôi như con thiêu thân đang chờn vờn gần vùng lửa nóng đang đâm đầu vào mà chưa cảm nhận cái chết gần kề. Cũng chưa chắc chắn rằng những điều không tốt xảy ra, nếu may ra tôi vẫn còn có qưới nhân phù trợ. Tôi bấu víu để tạo một niềm tin mà bước tới.

Ông đến căn phòng tôi ở vừa dọn về một tuần lễ. Ông đảo mắt nhìn căn phòng, quan sát tính toán gì đó, rồi gọi điện thoại người làm đến sai họ đi mua chở về tủ, bàn, giường, ghế, một số vật dụng cần thiết trong căn phòng. Ông không hỏi han gì ý kiến của tôi. Ông cho rằng mọi việc ông toàn quyền quyết định. Tôi như con chim nhỏ xinh xinh đang được ông đặt vào chiếc lồng son, như con búp bế đẹp đặt trong lồng kính trong suốt đem trưng bày giữa căn phòng xinh xắn đầy hương hoa. Ông có thể đang va chạm tự ái của tôi, còn có thể xem nhẹ tôi.

– Em cám ơn lòng tốt của ông. Ông đã bao trọn gói cuộc sống của em như hiện nay, không lẽ ông không có một ý định nào đó đối với em ?

Ông lịch sự trả lời nhỏ nhẹ : – Vì tôi thương em ! Lài ạ ! Thương em như thương mọi người ! Tôi cũng đã giúp nhiều người như thế. Chỉ như vậy thôi, không có gì khác hơn.

Nghe ông nói tiếng thương, tiếng giúp, lòng tôi se lại. Tôi lo ngại, e sợ như bao e ngại lo sợ mà tôi đã từng nghe bạn bè kể. Ngay bây giờ tôi đang là gì trước mặt ông ? Tôi bâng khuâng lo nghĩ đến một chỗ đứng, không lẽ thiên hạ chi tiền để rồi không được gì ?

Ông nhìn tôi trìu mến, nói như rót mật vào tai tôi :

– Tôi muốn Lài nghỉ việc nhà hàng kể từ hôm nay. Tôi không muốn hằng đêm em miệt mài ngột ngạt với khói thuốc, men rượu nồng nặc bên cạnh những tên đàn ông sàm sỡ không tư cách. Em cần sự yên ổn lo chuyện học hành. Tôi chỉ muốn em phải như thế.

– Ông độc quyền sở hửu em ?

– Em cũng đã hiểu rồi đó. Em giỏi lắm.

Ông lại ngọt ngào với tôi :

– Lài ạ ! Tôi muốn em làm việc với tôi tại công ty ngoài giờ học của em bắt đầu hôm nay. Tôi giao em nhiệm vụ kiểm soát viên tài chánh kế toán của công ty, làm việc bên cạnh tôi. Công việc thật dễ dàng, lúc nào rảnh em đến công ty vài giờ kiểm soát lại các bản chiết tính tài chánh mà nhân viên đã làm. Một công việc có tính cách hình thức để em được ở cạnh tôi yên tâm học hành. Việc học của em là chính.

Tôi đem chuyện kể với bạn bè. Tụi nó chúc mừng bảo tôi có số đỏ, đẻ bọc điều hãy cố bám lấy, nhưng cẩn thận coi chừng vấp ngã vào cạm bẫy của những tên nhà giàu quyền thế. Không ít những đại gia thích của lạ bao gái tơ mơn mởn, bồ nhí, lập phòng nhì, phòng ba…để hú hí. Khi chán thì sang tay từ đại gia này đến đại gia khác trong quyền lực đồng tiền. Bao nhiêu cô gái sa chân, những mảnh đời tan nát vỡ vụn. Họ chẳng bao giờ thương tiếc cành hoa đã tàn úa dưới tay mà họ đã vùi dập chán chê. Nghĩ được, hiểu được mà lòng tôi không kiềm chế được. Bao nhiêu bộ quần áo đắt tiền, các món nữ trang sang trọng, tiền bạc rủng rỉnh đang hấp dẫn quyến rũ tôi mãnh liệt. Tôi đang có được tất cả. Tiền lương hằng tháng ông chi trả cho tôi do nhân viên của ông mang đến quá nhiều chẳng xứng công sức tôi làm. Ông để tôi hoàn toàn tự do trong công việc của tôi. Mà có làm việc gì cho cam. Tôi chỉ nhỏng nha nhỏng nhảnh cho hết thì giờ tại công ty rồi về. Khi nào thích thì đến công ty vài giờ vào những buổi tối không có bài học, xem xét qua loa vài tập hồ sơ mà nhân viên của ông đã làm xong. Làm để có mà làm. Đúng, sai chẳng cần thiết. Tôi có văn phòng riêng, bàn giấy riêng thật tự do và riêng tư. Tôi đi làm không ngoài mục đích ăn mặc chưng diện theo sự thèm khát của tôi trong tâm trạng một người đang như có chút thế lực trong công ty.

Thường khi tôi đang ở nhà, ông gọi điện thọai di động, hoặc những buổi tối tại công ty, ông bảo tôi sửa soạn để đi với ông. Đi ănuống tại các nhà hàng với những cặp đại gia khác. Đi tham dự tiệc tùng tại các nhà giàu có quyền lực. Tôi như một mệnh phụ phu nhân và luôn được niềm nỡ nghênh đón như một nữ hoàng. Tôi hãnh diện đi bên ông trong những bộ quần áo thời trang đắt tiền ông sắm cho tôi trên chiếc xe hơi bóng loáng có tài xế riêng lái đến những nơi ấy. Tôi là một bông hoa khả ái, hiếm quí đang tô thắm cuộc đời ông.

Thỉnh thoảng những ngày nghỉ cuối tuần ông tự lái xe đưa tôi du ngoạn Dalat, Nhatrang, Vũng tàu …cư ngụ trong những khách sạn sang trọng. Không nói cũng thừa biết tôi đương nhiên đã ngủ với ông nhiều lần thật hạnh phúc tại các nơi ấy. Chính ông đã đưa tôi vào chuyện đó thật nhẹ nhàng và lịch lãm mà tôi chẳng có thể nào từ chối hoặc cưỡng lại được. Tôi không ân hận việc tôi đang làm, nhưng tôi chưa cảm nhận đó có phải là tình yêu thật sự mà ông đã có với tôi không ? Trái lại, tôi vẫn thích và ước muốn ông luôn bên cạnh, được ông che chở và chiều chuộng, và được ông yêu. Ông ngọt ngào lịch sự những lúc tôi nằm trong vòng tay ông :

– Lài ạ, những lúc ở cạnh bên em, anh cảm thấy dễ chịu và hạnh phúc.

Tôi trề môi nhõng nhẽo và hỏi khích ông:

– Ông thật sự nói đúng ý nghĩ mình hay chỉ nghĩ là món rau đồng quê tươi mát, bảo đảm an toàn cần có khi cần đến để được ăn bửa ăn ngon miệng ?!
Ông trợn mắt nhìn tôi chúm chím cười :

– Em đã hiểu được nguyên lý của vấn đề rồi đó. Trong cuộc trao đổi có sòng phẳng chẳng gì là thiệt thòi. Nếu so lệch chưa chắc em phải chịu thiệt.

Tôi khởi sự hiểu được bối cảnh sau hội trường ông đang dàn dựng. Tôi càng hiểu thêm cái logic của ông mỗi lần ở cạnh tôi, khi ông nhận điện thoại nói chuyện với vợ con ông nghe thật ngọt ngào, dễ thương và quí trọng họ rất mực. Ông ôn tồn xác nhận :

– Với Lài là con chim quý bé nhỏ của anh mà anh đang cưng chiều là điều kiện ắt có trong anh. Nhưng vợ con anh phải là tất cả, là gia sản quý hiếm anh trang trọng gìn giữ một cách nghiêm túc.

– Ông nói với em như thế được nhỉ ?

– Không có gì khác hơn ngoài qui luật, Lài ạ.

Đó là sự thật gây đau khổ và niềm ân hận nhen nhúm trong lòng. Tôi hiểu suốt nhưng phải nhẫn nại chịu đựng vì con đường mình đang đi đã trót lại còn hấp dẫn vô cùng.

Một hôm vô tình ông đưa tôi trở lại nhà hàng cũ để ăn tối. Mọi người trong nhà hàng đã không còn nhìn ra được tôi. Tôi đang lột xác. Lớp áo sinh viên của cô gái đồng quê dân dã vừa mới đó trông quê mùa ngếch ngác, giờ đã thay da đổi thịt trong cốt cách quý phái sang trọng. Tôi đã không còn là chính tôi của những ngày đi xe đạp cà tàng đến xin việc làm thêm tại nhà hàng này do viên quản lý thu nhận. Anh ta chúc mừng tôi, khen ngợi tôi không tiếc lời. Nhưng tình cờ tôi được nghe trộm cuộc đối thoại giữa ông và viên quản lý nhà hàng. Ông bảo chính đó là thú chơi tao nhã mà ông đã có được. Thời đại này biết đem món rau tươi mát tinh sạch và an toàn của đồng quê biến thành nữ hoàng lộng lẫy, và đặt nó trong chiếc đĩa kiểu sẽ trở thành món ăn thời thượng quý hiếm cho giai cấp giàu sang thế lực và để sở hửu cho mình.

Tôi choáng váng trước sự ví von lố bịch của ông. Lòng tự ái của tôi đang tổn thương. Ông cho rằng sự qua lại, gần nhau giữa hai người chỉ là trò chơi tiêu khiển. Tôi chỉ là món đồ chơi nhất thời của ông không hơn không kém. Có thức ăn nào ăn mãi một lúc nào đó rồi cũng phải chán. Rồi cũng phải thay đổi để hợp khẩu vị. Tôi hiểu nhiều rồi nhưng cứ lăn xả vào.

Chán nản, tôi bảo ông đưa tôi về nhà lấy cớ đang bị mệt trong người, không còn muốn ngồi lại tại nhà hàng này một giây phút nào. Ông tỏ thái độ không vừa ý :

– Em không có quyền quyết định một điều gì khi chưa có ý kiến của anh. Em hoàn toàn thuộc về anh và phải tuyệt đối vâng phục.

Tôi im lặng mím chặt môi kiềm giữ sự tức tối đang muốn bật thành tiếng khóc. Về tới nhà, ông bỏ tôi xuống và lái xe đi thẳng không nói một lời. Tôi nằm vật xuống giường khóc cho đã cơn giận. Suốt đêm tôi không ngủ với suy nghĩ mình chỉ là món đồ chơi, một món rau dân dã an toàn của ông nhà giàu.

Đầu óc tôi mụ mẫm vì những vật chất hấp dẫn mà tôi có được trước mắt. Học hành dần trễ biếng theo thói đua đòi đang trở thành hư hỏng. Tôi như đã quên lời hứa với mẹ lúc rời khỏi nhà là sẽ cố gắng học hành, đoạt mảnh bằng đem về cho mẹ. Hơn hai năm qua tôi đã làm khác đi những điều mẹ mong muốn. Thời gian gần đây gia đình tôi ở quê bắt đầu sa sút đã không còn đủ sức cấp dưỡng cho tôi. Mẹ thường đau bệnh trong tuổi già. Tôi phải gởi tiền liên tục về cho mẹ để điều trị và trang trải chi phí sinh hoạt trong gia đình. Mẹ mừng lắm khi biết tôi vừa đi học vừa đi làm ra tiền. Mẹ đâu có biết đồng tiền đó do đứa con gái yêu của mẹ bán thân mới có được.

Buồn quá, tôi bỏ căn phòng sang trọng về ký túc xá với mấy đứa bạn và nằm lỳ với tụi nó gần tuần lễ để cho tâm hồn thư giản bớt. Ông tìm tôi cùng khắp và khi gặp được tôi, ông đã không ngần ngại tát vào mặt tôi mấy cái tát khiến tôi tối tăm mày mặt và bảo rằng tôi là sở hửu của ông. Muốn đi đâu, làm gì tôi phải gọi điện thoại xin phép ông trước.

Tôi phản kháng, nói thẳng :

– Ông không có quyền đánh đập tôi. Ông không có quyền ngăn cấm tôi. Đừng hủy diệt món đồ chơi sau cuộc chơi của ông. Ông cũng đã nhận đó là một thú vui tao nhã của kẻ giàu tiền lắm bạc như ông kia mà.

Ông ôn tồn lịch sự : – Tôi xin lỗi em. Tôi muốn biết em đã suy nghĩ gì trong cuộc chơi này ?

Tôi trả lời nhát gừng : – Không nghĩ gì hết. Ông hãy trả lại sự trong trắng và hồn nhiên của tôi ngày trước. Tôi đang là kẻ nhận những thiệt thòi, ông biết chưa ?

Ông cười biếm nhẻ :

– Em lầm rồi. Những gì em đang có trong tay là do từ đâu ra để em được hãnh diện ? Tôi nghĩ rằng giữa chúng ta đã có sự sòng phẳng rồi đó.
Sự tức giận sôi sục trong lòng, tôi chỉ vào mặt ông :

– Ông im đi. Ông chớ quá tàn nhẫn với tôi. Ông đã bỏ tiền ra mua lấy sự ngây thơ khờ dại của tôi và chiếm đoạt tôi. Ông chẳng mất gì. Kẻ mất mát thiệt thòi là tôi.

Giọng ông kênh kiệu :

– Em hãy hiểu rằng nếu tôi coi đồng tiền của mình lớn, có nghĩa là em có lời. Tôi nhận phần lỗ. Tuy nhiên, tôi đã đánh giá cao sự an toàn và trinh tiết của em, tôi đã trả cho em thật xứng đáng và sòng phẳng trong cuộc chơi này. Giữa chúng ta không ai thiệt thòi vì ai. Em còn đòi hỏi gì nữa ?

Tôi điên lên và để trả đủa, tôi tát những tát tai nẩy lửa vào gương mặt béo phệ nung núc của ông, gằn từng tiếng :

– Tôi trả lại tất cả cho ông. Tôi không cần. Ông hãy dọn tất cả mọi thứ ông trưng bày trong căn phòng, và trả lại phòng cho chủ nhà.

Ông mở cửa xe, rồ máy, nói vói :

– Công việc như em nói tôi đã cho gia nhân thu dọn xong xuôi trong mấy ngày vắng em, em chớ lo. Đó là qui luật trong cuộc chơi mà. Chúc em có nhiều niềm vui mới. Ráng mà học hành đi.

Tôi bủn rủn tay chân nhìn theo chiếc xe của ông mất hút trên đường phố. Tất cả đã không còn gì. Món ăn lâu ngày ăn mãi sẽ chán, và thiu mốc phải vứt đi. Ông đã chán sau khi hưởng thụ đầy đủ. Ông đang vứt bỏ tôi như vứt một cây tăm đã sử dụng bên lề đường. Đó là cách chơi của bọn nhà giàu, những tên có máu mặt. Biết bao nhiêu con gái nhà lành đã sa chân như tôi ? Có không ít bạn gái không vì cần tiền để bớt đi cái nghèo mà chỉ cần danh vọng để được lăng xê trở thành ca sĩ, người mẫu, diễn viên…phải nở đem “cái ngàn vàng”đánh đổi nó để mà có. Phải chịu nát ngọc tan vàng để có được cái mác mà mình mong ước. Có bao nhiêu cô gái sinh viên, học sinh, các cô nhan sắc miền quê cả những ca sĩ, người mẫu, diễn viên…vì cần tiền, vì đua đòi…đã trót đem thân làm bé, làm bồ nhí, làm gái bao…cho những đại gia lắm bạc nhiều tiền, kẻ quyền cao chức trọng để một sớm một chiều sa cơ thất thế, bị đánh ghen, bị tạt át xít, bị bỏ rơi, bị sát hại nguyền rũa… !! Tôi sợ lắm !! Sợ mà vẫn lăn xả vào. Lòng tự ái không để tôi dừng lại. Xã hội nhiễu loạn đảo điên, đạo lý suy đồi đang chấp vào tôi đôi cánh để tiếp tục bay. Tôi quyết trả thù ông bằng mọi cách.

Năm đại học thứ ba tôi đang dần dần bỏ rơi. Đã trót sa cạm bẫy, thân tôi đâu còn gì để phải gìn vàng giữ ngọc. Cuộc sống vật chất trước mắt lung linh muôn màu sắc cám dỗ, thật quyến rũ thèm khát. Tôi tìm bạn trai, tập uống rượu, hút thuốc, thỉnh thoảng làm vài điếu cần sa cho quên sự đời.

Ban ngày ôm mấy thằng con trai bụi đời mà tôi thích để ngủ vùi. Đêm về thì đi vũ sexy, hầu bàn, chuốc rượu, đi lắc. làm gái bao, gái dù…hoặc nhập nhò vào những canh bạc đỏ đen…

Tôi trả thù ông say sưa để cho ông biết rằng tôi không hẳn là kẻ chỉ biết dựa vào những tên nhà giàu, quyền thế như ông. Nhưng thực tế tôi càng trả thù ông tôi càng cảm thấy mình vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Cứ thế tôi lao theo như chiếc xe tuột dốc. Đến khi nhìn lại mình, cơ thể tôi héo hon, suy sụp, mất dần sinh lực.

Đến lúc tỉnh lại, tôi nghiệm ra rằng khi chưa có tiền thì bằng mọi cách để có tiền. Khi đã có tiền trong tay, có những thứ mình không mua được bằng tiền. Suy nghĩ cho tôi thấy hãy sống những gì tôi đang có trong tầm tay, nếu muốn vươn lên tôi phải thích nghi trong khả năng đang có.

Tôi lại nhớ về mẹ. Tôi đang có sự hối hận. Tôi trở lại cố gắng học. Tôi đang sợ mẹ tôi hơn bao giờ hết. Tôi là đứa con gái hư của mẹ. Xin mẹ tha thứ. Con đã không ngờ con lại hư thân mất nết như thế này ! Cũng do từ đâu hả mẹ…!?

Nguyễn Thế Hoàng

Thêm bình luận Tháng Bảy 2, 2007

Made In Vietnam

Lẽ ra bữa nay bác sĩ Lê không nhận bịnh nhân vì là ngày nghỉ trong tuần của ông. Nhưng hôm qua, trong điện thoại, nghe giọng cầu khẩn của người bịnh ông không nỡ từ chối. Người đó – ông đoán là một cô gái còn trẻ – nói chuyện với ông bằng tiếng Mỹ. Cô ta hỏi ông nhiều lần :

– Có phải ông là bác sĩ Lee không ?

Tên ông là Lê. Cái tên Việt Nam đó ở xứ Mỹ này người ta viết là ” Lee “, nên ông được gọi là ” ông Lee ” (Li ).

Ông ôn tồn trả lời nhiều lần: – Thưa cô, phải. Tôi là bác sĩ Lee đây.

– Phải bác sĩ Lee chuyên về châm cứu và bắt mạch hốt thuốc theo kiểu á đông không?

– Thưa cô phải.

– Có phải phòng mạch của bác sĩ ở đường Green Garden không ?

Bác sĩ Lê, đã ngoài sáu mươi tuổi, tánh rất điềm đạm, vậy mà cũng bắt đầu nghe bực ! Tuy nhiên, ông vẫn ôn tồn :

– Thưa cô phải. Xin cô cho biết cô cần gì ?

Giọng cô gái như reo lên :
– Vậy là đúng rồi ! Con Cathy bị bịnh suyễn nói bác sĩ chữa bịnh hay lắm. Cả nhà nó, kể luôn ba má ông bà nó đều đi bác sĩ hết.

Đến đây thì ông bác sĩ già đó không kềm được nữa, ông xẵng giọng :

– Cám ơn cô. Bây giờ xin dứt khoát cho tôi biết coi cô muốn cái gì ?

Giọng bên kia đầu dây như lắng xuống :
– Tôi xin lỗi bác sĩ. Xin lỗi. Tôi muốn xin bác sĩ cái hẹn cho ngày mai. Tôi bịnh…

– Mai là ngày nghỉ trong tuần, phòng mạch không có mở cửa. Ngày khác vậy.

– Ngày mai cũng là ngày nghỉ của tôi nữa, bác sĩ à.

– Cô đã bịnh thì cứ xin nghỉ để đi bác sĩ, ngày nào lại không được !

Một chút im lặng ở đầu dây bên kia rồi giọng người con gái bỗng nghe thật buồn :

– Họ đâu có cho nghỉ, bác sĩ. Họ nạt vô mặt : ” Mầy muốn nghỉ thì mầy nghỉ luôn đi. Thiếu gì đứa muốn vào làm chỗ của mày. Mày biết không ?”

Giọng nói như nghẹn ngang ở đó, rồi tiếp :
– Không có việc làm là chết, bác sĩ à…

Ông bác sĩ già làm thinh, suy nghĩ. Đầu dây bên kia, cô gái van lơn :

– Xin bác sĩ thông cảm. Tôi sợ bịnh nặng hơn, không đi làm nổi nữa là mất việc. Xin bác sĩ thông cảm. Xin thông cảm.

– Ờ thôi, để tôi ráng giúp cô. Sáng mai, chín giờ. Phòng mạch của tôi ở số…

– Cám ơn bác sĩ. Cám ơn ! Con Cathy có chỉ phòng mạch của bác sĩ rồi.

– Xin lỗi. Cô tên gì ?

– Kim. K, I, M.

Bác sĩ Lê vừa ghi vào sổ hẹn vừa nghĩ : ” Tội nghiệp ! Chắc lại đi làm lậu nên mới bị người ta hâm he như vậy. Theo cách phát âm thì cô này có vẻ là người á đông. Tên Kim chắc là Đại Hàn. Để mình phải phone lại cô Cathy hỏi cho chắc ý kẻo gặp thứ lưu manh thừa dịp ngày nghỉ không có cô phụ tá, nó ”su” mình thì khổ ! “

Đúng chín giờ, chuông cửa phòng mạch reo. Ông bác sĩ già bước ra mở cửa. Đứng trước mặt ông là một cô gái á đông còn trẻ, ăn mặc theo kiểu ” punk ” : quần áo có tua có tụi, tóc dựng đứng hỗn loạn như con gà xước, đeo nhiều vòng sên bằng bạc to như dây lòi tói, đầy cổ đầy hai cườm tay, mang cái xắc đỏ cũng có tua có tụi. Bác sĩ Lê, quá đỗi ngạc nhiên, chưa kịp hỏi gì, thì cô gái nói bằng tiếng Mỹ rất lưu loát :

– Chào bác sĩ. Tôi là Kim, bịnh nhân đã gọi điện thoại cho ông hôm qua. Tôi có làm cho bác sĩ chờ không ?

Bác sĩ Lê chưa hết ngạc nhiên, trả lời một cách máy móc :” Không ! Không !”. Rồi ông bước tránh qua một bên :” Mời cô !”

Vào phòng mạch, ông đưa cho cô cái áo blouse trắng ngắn tay :

– Cô đến phía sau bình phong bỏ hết quần áo chỉ mặc quần lót thôi, rồi khoác ngược áo blouse này, lưng áo nằm về phía trước.

Trong lúc cô gái loay hoay làm theo lời dặn, ông bác sĩ già gọi phone về nhà, nói bằng tiếng Việt :

– Bịnh nhân của anh tới rồi, đang thay đồ. Chắc một giờ nữa là xong. Em đợi anh về rồi mình đi chợ.

Cô gái bỗng ló đầu ra khỏi bình phong mỉm cười nhìn ông, gương mặt thật rạng rỡ, định nói gì nhưng rồi không nói, thụt đầu vào tiếp tục cởi quần áo.

Một lúc sau cô ta bước ra, mắt ngời lên sung sướng, nói bằng tiếng Việt, giọng như reo lên :

– Bác sĩ là người Việt mà con cứ tưởng là người Tàu ! Tên ” Lee ” nghe Tàu trân !

– Ủa ! Vậy mà tôi cứ nghĩ cô là người Đại Hàn chớ !

Rồi cả hai cùng cười, cái cười rất sảng khoái. Tình đồng hương trên đất khách bỗng thấy thật ấm, thật đầy…Ông bác sĩ già nhìn cô bịnh nhân trẻ mặc áo blouse trắng đứng trước mặt ông mà không còn thấy cô gái ” punk” hồi nãy nữa !

Ông đưa cho cô cái đĩa, rồi vừa chỉ cái giường cao vừa nói : – Cô cởi hết đồ nữ trang để vào đây, rồi lên nằm trên này để tôi chẩn mạch.

Cô gái làm theo như cái máy.

Phòng mạch được trang trí rất đơn sơ, nhưng thật yên tịnh. Trong không khí có mùi thơm dìu dịu của moxa ( ngải cứu, đốt lên để hơ huyệt ). Cái giường khám bịnh cao ngang tầm tay của bác sĩ. Ở một đầu giường có gắn thêm một vòng bằng da để chịu cái đầu của bịnh nhân, và khi bịnh nhân nằm sấp để châm cứu trên lưng thì mặt người bịnh nằm trọn trong vòng da. Như vậy, người bịnh không cảm thấy khó chịu nhờ khoảng trống ở giữa vòng da giúp người bịnh vẫn thở đều đặn và mắt được nhìn thoải mái xuống sàn nhà.

Bác sĩ đặt hai bàn tay lên cánh tay trần của cô gái, ôn tồn hỏi : – Cô bịnh làm sao ? Nói tôi nghe.

– Con ngủ không được, đêm nào cũng trằn trọc tới khuya. Hay bị chóng mặt. Đang đứng làm việc, tự nhiên muốn sụm xuống làm sợ toát mồ hôi. Con lo quá, bác sĩ. Mất việc làm chắc con chết quá, bác sĩ !

Ông Lê bóp nhẹ cánh tay bịnh nhân :
– Cô yên tâm. Có tôi đây. Mà…cô có uống rượu không ?

– Không. Dạ thưa không.

– Cô có hút thuốc không ?

– Dạ thưa có. Hút cũng nhiều…

– Cô có xì ke ma túy gì không ? Nói thiệt tôi nghe.

– Mấy thứ đó con không dám rớ. Hồi ở bên nhà thằng anh con chết vì ba cái thứ ôn dịch đó, bác sĩ à. Vì vậy, con sợ lắm !

– Cô le lưỡi tôi coi.

– Ùm. Được rồi. Bây giờ cô nằm yên, để hai tay xuôi theo thân mình, nhắm mắt, thở đều đặn.

Ông bác sĩ già đứng cạnh giường đặt mấy đầu ngón tay lên cườm tay cô gái, chăm chú bắt mạch. Một lúc sau, ông bước vòng qua phía đối diện bắt mạch tay bên kia. Bộ mạch nói lên một sự rối loạn tâm thần. Cô gái này chất chứa quá nhiều ẩn ức nên sanh bịnh. Ông nhìn cô gái đang nhắm mắt thở đều : gương mặt Việt Nam đó, bỏ đi món tóc “punk”, vẫn toát ra nét nhu mì dễ thương. Ông cảm thấy tội nghiệp cô bịnh nhân trẻ này và thắc mắc không biết hoàn cảnh nào đã đưa đẩy cô ta trôi qua xứ Mỹ để có một cuộc sống mà ông đoán là thật bấp bênh, qua cuộc nói chuyện trong điện thoại. Ông nói :

– Bây giờ, cô nằm sấp xuống để tôi châm trên lưng.

Cô gái mở choàng mắt nhìn ông, mỉm cười, một nụ cười đầy tin tưởng. Ông bác sĩ nói tiếp :

– Cô đừng sợ. Châm không có đau. Còn nhẹ hơn kiến cắn nữa.

Cô gái trở mình nằm sấp, hai vạt áo blouse rớt xuống hai bên, bày ra cái lưng thon thon với nước da ngà ngà. Theo thói quen, trước khi châm, bác sĩ vuốt lưng bịnh nhân vài lần để bịnh nhân đỡ bị stress. Lần này, khi vuốt xuống thắt lưng, ông để ý thấy dưới làn vải mỏng của quần lót có một vết bầm nằm vắt ngang phía trên của mông. Ngạc nhiên, ông hỏi :

– Cô bị ai đánh hay sao mà bầm vậy ?

Cô gái cười khúc khích :

– Bác sĩ coi đi !

Ông già kéo quần lót xuống một chút, thì ra không phải vết bầm mà là hàng chữ xâm màu chàm : Made In VietNam ! Ông bật cười, vừa kéo lưng quần lót lên vừa nói :

– Cha…Bạo quá há !

Cô gái hơi rút cổ cười khúc khích vài tiếng nữa rồi im. Chắc cô đang sống lại với một vài kỷ niệm nào đó. Ông bác sĩ già áp hai lòng bàn tay lên lưng bịnh nhân, nhưng bây giờ sao ông không còn thấy cười được nữa. Hàng chữ ” Made In VietNam” nhắc cho ông rằng con người nằm đây là sản phẩm của quê hương ông, cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn ” Made In VietNam “, từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh…Chao ơi ! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắc thẻo đến muốn trào nước mắt…

Ông bác sĩ vuốt lưng cô bịnh nhân thật chậm để cho niềm xúc động lắng xuống tan đi. Ông có cảm tưởng như ông đang sờ lại được quê hương, có chỗ cao chỗ thấp, có phù sa đất mịn…Tự nhiên, ông muốn nói lên một tiếng ” cám ơn “. Ông muốn cám ơn cô bịnh nhân đã mang quê hương đến với ông bằng hàng chữ nhỏ xâm trên bờ mông, chỉ vỏn vẹn có một hàng chữ nhỏ. Và ông cũng muốn nói với cô, nói một cách thật tình, không văn chương bóng bẩy, nói như ông nói cho chính ông, vỏn vẹn chỉ có một câu thôi :” Tôi cũng made in đây !”. Nhưng rồi ông làm thinh tiếp tục vuốt lưng người bịnh. Ông biết rằng cô gái không thể nào hiểu được ông, một bác sĩ già vừa quá sáu mươi, đã gần nửa tuổi đời lưu vong trên xứ Mỹ, có đầy đủ tiền tài danh vọng mà cũng xâm hàng chữ ” Made In VietNam”, xâm ở trong lòng…

Bác sĩ im lặng dò huyệt châm kim. Bỗng cô bịnh nhân nói, giọng buồn buồn, làm như cô vừa xem lại hết một đoạn phim đời nào đó :

– Thằng bồ của con xâm cho con để làm kỷ niệm hồi tụi này còn ở Louisiana . Ảnh là thợ xâm…

– Ủa ! Rồi sao bây giờ cô ở đây ?

– Con theo ba má con dọn về Cali , ổng bả nói ở Cali bạn bè nhiều làm ăn dễ.

– Ờ…người Việt mình thích ở miền nam Cali lắm.

Ngừng một chút bác sĩ lại nói, trong lúc hai tay vẫn tiếp tục châm kim : – Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà…ba má cô làm gì ?
– Ở Cali khí hậu tốt hơn nhiều tiểu bang khác. Mà…ba má cô làm gì ?

Cô gái làm thinh một lúc mới trả lời, giọng ngang ngang : – Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing, còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.
– Qua đây rồi ổng bả đá đít nhau. Bả lấy thằng Mễ chủ pressing, còn ổng thì chó dắt ổng ôm được một bà Mỹ goá chồng có tài sản.

– Vậy rồi cô ở với ai ?

– Với ba con. Bà Mỹ cho con đi học college, ba con lái xe đưa rước.

– Vậy mà sao hôm qua, trong phone, cô nói cô đi làm ?

Giọng cô gái như nghẹn lại : – Khổ lắm bác sĩ.
– Khổ lắm bác sĩ.

Cô ngừng một chút để nén xúc động rồi nói tiếp :

– Ba con ỷ có bà Mỹ nuôi, không chịu đi làm. Tối ngày cứ đi nhậu với bạn bè, rồi nay đổi xe, mai đổi xe…Con nói ổng, chẳng những ổng không nghe mà còn chửi con: “Tiên Tổ mày ! Tao đem mày qua đây đặng mày dạy đời tao hả !”

Lại ngừng một chút mới nói được, nói như trút hết ẩn ức còn lại :

– Có lần ổng xáng cho con mấy bạt tay đau điếng…

Rồi nghẹn ngào : – Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…
– Lần đó, con bỏ nhà đi hoang…

Nói xong, hít một hơi thật sâu rồi thở hắt ra một cái như vừa làm xong một việc gì thật khó !

Ông bác sĩ im lặng, tiếp tục châm, mà nghe thương hại cô bịnh nhân vô cùng. Cô ta cỡ tuổi con gái út của ông. Con gái út của ông đang học đại học, còn cô này thì đang sống trong hoàn cảnh quá bấp bênh. Cả hai đều Made In VietNam hết !

Châm xong, ông đặt tay lên cánh tay trần của bịnh nhân, vuốt vuốt như vuốt tay một đứa con đang cần được vỗ về an ủi :

– Cô cứ nằm yên như vầy độ mười lăm phút, nghen.

Tiếng ” dạ ” bỗng nghe như đầy nước mắt.

Sau khi gỡ kim, ông bác sĩ bóp tay bóp chân bịnh nhân một lúc rồi nói :

– Bây giờ thì cô mặc quần áo vào được rồi.

Cô gái ngồi lên nói “cám ơn” mà đôi mắt vẫn còn mọng nước. Cô bước vào sau bình phong, chậm rãi mặc quần áo, làm như cô muốn những xúc cảm hồi nãy có thời gian để thấm sâu vào lòng…

Khi cô bước ra, gương mặt cô đã trở lại rạng rỡ. Cô mỉm cười nhìn ông bác sĩ, rồi, vừa mở cái xắc đỏ vừa hỏi :

– Bao nhiêu vậy, bác sĩ ?

– Không có bao nhiêu. Chừng chữa xong rồi cô hãy trả.

– Bác sĩ cho con trả mỗi lần, chớ đợi hết bịnh, tiền đâu con trả. Cái thứ đi làm lậu như con…

– Cô yên tâm. Rồi mình tính.

Ông bác sĩ đưa dĩa nữ trang : – Cô đừng quên mấy thứ này.
– Cô đừng quên mấy thứ này.

Cô gái phì cười, không đeo vào người mà trút hết vào xắc, rồi hỏi :

– Chừng nào con trở lại nữa, bác sĩ ?

– Tuần tới, cũng ngày này giờ này.

Bác sĩ mở tủ thuốc, chọn lấy ra hai chai có dán nhãn sẵn, trao cho bịnh nhân :

– Trên nhãn có ghi liều lượng: mỗi ngày, cô uống sáng trưa chiều, mỗi thứ hai capsule.

Ra đến cửa phòng mạch, ông bác sĩ già cầm bàn tay cô bịnh nhân trong hai bàn tay của ông, lắc nhẹ :

– Bớt hút thuốc đi, nghen ! Từ từ rồi tôi sẽ chữa cho cô vụ ghiền thuốc nữa.

Ngập ngừng một chút rồi ông nói, giọng ôn tồn : – Tôi muốn nói với cô điều này…
– Tôi muốn nói với cô điều này…

Cô gái chớp chớp mắt chờ. Chắc là lần đầu tiên cô được một ông già cầm tay một cách ân cần như vậy. Bác sĩ nói :

– Mình là người Việt , ăn mặc theo ” punk ” không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm ! Mình phải xứng đáng là Made In , chớ cô.

Cô gái nhìn vào mắt ông bác sĩ, không nói gì hết, chỉ siết tay ông già một cái thật mạnh, rồi bước ra xe, một chiếc xe hơi cũ mèm phải đề tới bốn lần mới nổ máy !

* * *

Ông bác sĩ Lê ngồi uống cà phê với tôi ở khu Phước Lộc Thọ ( Orange County – Nam Cali). Ông kể tiếp :

– Anh biết không, lần sau cô Kim đến phòng mạch, ăn mặc chải gỡ rất dễ thương. Chẳng có chút gì ” punk ” hết ! Lần khám bịnh đó, tôi có hỏi cổ sao không về sống với thằng bồ ở Louisiana có phải hơn là sống cù bơ cù bất ở Cali . Cổ nói như mếu :” Ảnh có vợ rồi “. Tôi biết : như vậy là cổ kẹt thiệt. Tôi đem chuyện này kể cho vợ tôi nghe. Bả cảm động lắm nên đề nghị giúp tiền cho cổ học một cái nghề gì đó, uốn tóc, làm nail chẳng hạn, để có công ăn việc làm vững chắc hơn là đi làm lậu tầm bậy tầm bạ.

Tôi nói chen vào :
– Chắc gì cổ chịu. Nghe anh kể, tôi đoán chị này cũng tự ái lắm.

– Anh nói đúng. Cổ từ chối hoài. Sau nhờ vợ tôi mời cổ về nhà khuyên nhủ, coi như là trong thân tình, cổ mới chịu. Hôm đó, cổ ôm vợ tôi vừa khóc vừa nói :” Con cám ơn ông bà. Cám ơn ông bà “.

– Sau đó cổ có đi học thiệt không ?

– Có. Học làm nail. Học giỏi nữa là khác.

– Cổ bây giờ ra sao rồi ?

– Mới đầu làm thợ, làm công cho người ta. Bây giờ vừa làm thợ vừa làm chủ. Khá lắm !

– Mừng cho cổ, há !

– Cổ xách đồ nghề tới làm nail cho vợ tôi, con út và hai con dâu tôi thường lắm. Làm không lấy tiền. Cổ cứ nói với mấy con tôi :” Tôi chịu ơn ông bà bác sĩ biết đời nào mới trả cho hết, mấy cô biết không ? Tôi không dám nói ra, chớ mỗi lần tôi cầm bàn tay của bà bác sĩ để làm nail, tôi vẫn nghĩ không có bàn tay này thì làm gì tôi thoát ra khỏi hoàn cảnh của tôi hồi đó để có những gì tôi có hôm nay…”

– Dễ thương quá !

– Noel, ngày Tết…cổ đều mang quà đến tặng vợ chồng tôi.

– Con người ở có tình có nghĩa quá, anh há !

– Đã hết đâu ! Cổ còn nhớ đến ngày giỗ của ba má tôi nữa. Mấy ngày đó tụi con tôi có đứa quên chớ cô ta không bao giờ cô ta quên. Ngày đó, cô đem đồ tới cúng và ở lại phụ vợ tôi nấu nướng dọn giẹp nữa. Cho nên vợ tôi quí cô ta lắm !

Nói xong, bác sĩ Lê vỗ vai tôi, cười :

– Anh thấy không ? Cô ta mới đúng là “Made In VietNam” đó ! Còn nguyên chất, hè !

Ông Lê vui vẻ cầm tách cà phê vừa nhâm nhi vừa nhìn quanh. Người Việt Nam đi đầy trong thương xá. Cung cách có hơi khác nhưng nói năng thì y hệt như ở bên nhà. Một vài tiếng chửi thề rớt rơi đâu đó, nghe rất tự nhiên. Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng :

– Không biết ở xứ Mỹ này, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình “Made In VietNam “, không ?

– Có chớ anh ! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu ” Made In USA ” nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều !

Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…

Tiểu Tử

Thêm bình luận Tháng Sáu 28, 2007

Cảm Xúc Tình Yêu


Anh !

Thế là mình không được gặp nhau như đã hẹn. Bây giờ thì em đã hiểu bí ẩn của tình yêu, có thể giải thích nó bằng những lời giải thích, và chuyện gì đã xảy ra cho em ! Thật khó mạnh miệng khi nói về chuyện này. Chuyện tình yêu xưa như trái đất, nó cứ được lập đi lập lại như vấn đề thời sự. Nhưng chắc chắn chuyện đã xảy ra, với những người cao ngạo lạnh lùng, mà lúc nào họ cũng cho rằng, khó có thể xảy ra, việc quan hệ tình cảm với giới tính, là một quan hệ không tốt đẹp.

Khát vọng của con người khó lường, nó thích nghi với biến đổi của cơ thể, đem lại sự yên bình, và cũng sẽ đem lại những căng thẳng hiểm nguy…Anh, trong thời gian này em đang nhớ về anh, về tích tụ những khích thích tố có liên quan đến chiến đấu hay khuất phục, làm tăng nhịp đập của tim anh. Em hoang mang…tất cả năng lượng được dự trữ trong con người anh, đang được luân chuyển, hay đang tiêu hao dần trong một mục đích duy nhất, mà trong người ai cũng có.

Quan hệ tình yêu là tuyệt đối, cần thiết cho chúng mình phải không anh ! Em biết hiện giờ ở một góc xó nào đó, anh cũng đang nghĩ đến em. Hai bên nỗi nhớ đang tỏa hương tình yêu, bao quanh lớp da chúng ta, tạo thành làn sương phủ cánh đồng hoa. Có phải là em đang âu yếm dí mũi vào nách anh không ? Có phải là anh đang thủ thỉ, vuốt ve hôn hít em…Giúp cho nhau cảm giác ngất ngây, thay đổi một lớp biểu bì mới, đủ sự nối kết đồng điệu nơi xa! Tình yêu của mình là đầu, là cuối, là duy nhất, của mùi hương “cảm” nhận, qua những lá thư, nhất là cử chỉ đầu tiên và cái nhìn thiện cảm, dịu ngọt, mượt mà, dữ dội, quỷ quái, mâu thuẫn, bí ẩn…Chính là chiếc chìa khóa, còn khóa giữ lại trong khứu giác mùi hương đặc biệt, để biểu hiệu tình yêu.

Bây giờ thì anh hiểu rồi, tình yêu không phải là chuyện nhảm, mà nó là điều quan trọng hàng đầu, đối với sinh hoạt xã hội, khi đặt nó nằm ở bất cứ phạm trù nào của cuộc sống, nhất là đạo đức…Mỗi khi nói đến tình yêu, là em cứ mơ mộng viển vông, dịu dàng của tuổi trẻ cuồng nhiệt, rừng rực trong mắt, làm tâm hồn cảm thấy nhẹ nhàng an ủi…Vì tình yêu là đề tài muôn thủa, trước hết dành cho người biết yêu: để dò hỏi, nghi ngờ, khám phá, hứa hẹn, đam mê, ghen tuông, mơ ước, tưởng tượng, giận hờn rồi qua…

Giờ này anh đã xa em, mà có khi nào chúng mình gần nhau đâu…Nên anh ở bất cứ đâu, đối với em như anh đang gần em. Em nhớ sau buổi gặp gỡ tại Paris, rồi chia taỵ Rồi gặp lại nhau. Lần này mình gặp lại nhau, trên mạng vi tính. Chỉ đọc được tâm hồn, yêu nhau qua dòng chữ trên màn hình, bắt được cảm xúc qua giọng nói, và sau đó anh dự trù lên phi cơ trở lại Paris. Còn em thu xếp để gặp gỡ nhau. Đi mua tấm trải giừờng còn thơm mùi vải mới, hai chiếc gối êm và tấm chăn trắng tinh…

Nhưng vào lúc 5 giờ sáng ngày…tháng…năm em còn nhận được một thông điệp mới của anh, qua mạng vi tính chuẩn bị hành động…và kèm theo với những lời âu yếm, hứa hẹn nồng nàn, từ bên kia Thái Bình Dương gởi sang. Cho em nỗi nhớ nhung vụng dại, trong cõi mênh mông bất động…Để rồi hôm sau tan như mây khói…Tất cả đã xảy ra như trong tiểu thuyết lãng mạn. Giây phút trôi qua, hàng giờ, hàng ngày cứ trôi quạ Nhưng vẫn có chút an ủi, nhẹ nhàng vào lòng. Phần anh cứ để lặng lẽ trầm tư mặc tưởng, thanh thản đáy lòng. Vượt qua những cơn mưa cô đơn, men theo hình bóng đã vắng, là hương vị thần tiên của tình yêu, mà ta cảm thấy xa nhau, càng buộc tình cảm thêm bền chặt, tình yêu càng thêm nung nấu…

+++

Để trái tim được dịu dàng trở lại, sau những ngày mưa dầm gió bấc. Em nằm nghe nhạc, và thè lưỡi liếm những lớp đường, trên miếng bánh chocolat, nghe hương vị ngọt ngào tan dần trên đầu lưỡi. Mơ hồ đọc lại những lời thơ anh, khi trái tim còn những tầng cảm nhận, với những đam mê tình yêu nhất thời cháy bỏng…Ở thời gian nào, lứa tuổi nào con người cũng chịu đựng, những thử thách ghê gớm của tình yêu. Phải không anh ?…

Tối nay em nhận thêm được một mẩu tin về anh, do cô bạn gái từ Mỹ gởi sang. Anh có biết lòng em lúc ấy ra sao không ? Em đang lúng túng, sợ hãi, hốt hoảng. Động mạnh trong trái tim một hình ảnh, tiều tụy xanh xao, với tay chân xiềng xích. Nhưng khối óc lại khát khao vươn lên, cùng ánh mắt toát lên ánh lửa dữ dội, của kẻ đang quyết đấu, không bao giờ chịu bó tay trong lãnh vực nào. Nhất là lãnh vực máu thịt của con người. Tất cả cho em lạc vào thế giới, ngày nhớ đêm mơ, sẽ mang đem tới cho anh ký lô gam sinh lực mỗi ngày, cùng chia cho nhau cảm giác thân thiết, đam mê, và sự quả quyết dấn thân …

Có phải hạnh phúc yêu đương, ta cùng hiểu ý nghĩ nhau, khi hai người đang ở một nơi xa, với ngàn nỗi nhớ để dành hơi. Này ! con ong chúa…em đã bắt được tín hiệu từ nơi anh, vì cùng một lãnh thổ của em. Trước khi bước thêm một bước lý tưởng vĩ đại cuộc đời, với tất cả sự nhiệt tình chắn, thuần thục nơi anh. Nhưng mỗi việc đều có thời của nó. Và anh đã hứa gì với em ! Nói gì với em? Em không muốn thấy có dấu hiệu suy sập chất năng tim. Em biết anh tự vệ bằng những cái bướng bỉnh, lạnh lùng, kênh kiệu, khó ưa…Nhưng anh còn có trái tim đa cảm đa mang, đang dồn nén tình yêu còn lại đã quạ Anh ạ ! duyên cảnh đổi thay, tùy thời linh động, và trong rủi có cái may, trong đau thương có điều an ủi.

Tình yêu lóe lên được chút màu hồng, làm rạo rực trái tim, gắn bó với hạnh phúc cuộc đời. Nhưng mỗi người có những diễn tiến khác nhau. Màu hồng của tình yêu, biến thành màu xám xịt, vì nhiều lý dọ Tình yêu màu hồng của em vô hình phức tạp, chằng chịt như trong địa đồ trái tim em. Ôâi ! em đang mang trái tim tím ngắt, khi anh chốn đêm đen không cạn đáy. Đang giãn ra trong giấc ngủ sau bao đêm trắng. Tình yêu bao giờ cũng có những thử thách, khi đã vượt qua khỏi, ta sẽ sống với tình yêu lâu dài, dù cho thử thách đang chờ…

Hình ảnh đẹp về một tình yêu chân thật, cho em cảm nhận được mọi biểu hiện khác. Nhất là những ước muốn chát bỏng, mà em có thể thủ thỉ với anh rằng cảm xúc tình yêu da diết, chắt chiu, từng phút còn lại dành cho nhau. Tình yêu và niềm hy vọng, dù là những câu đôi khi vô hồn, nhừng lời tắc tị. Nhưng đây là bức điện tín dài không dứt, kết tinh của tình yêu gởi đến anh. Thể xác sẽ thăng hoa, không còn bị chia rẽ. Vấn đề còn lại giữa anh và em, là việc hiến tặng sở hữu cho nhau của tha nhân…

Cả ngày em trông trời mau chiều, mau tối mau khuya. Khi biết sẽ liên lạc với anh đêm naỵ Kẻ bên này, người bên kia…Bên này là bên tự đọ Bên kia là bên tường đá vắng hiu, xác xơ vạn dặm…..Mười hai giờ 28 phút, em bắt đầu nhấn những con số chờ đợi. Đúng mười hai giờ 30 giữa đêm. Hai bên đầu giây điện thoại, lần lượt ngân lên tiếng nói. Hai mươi lăm phút chấm dứt. Em rung lên hạnh phút xoáy vang….

Anh nói : Không có tin tức gì về em, từ khi anh vào đây. Con nhỏ kỳ cục ! Ngày Saint Valentine không một tấm thiệp, không một bông hoa ? Anh nguyền rủa…Thắc mắc chờ đợi, rồi anh lẩm bẩm cười mỉa. Ừ ! cười đi, cười một nửa cho đỡ mệt nhoài. Hy vọng mỗi ngày, hy vọng dù cụ thể mơ hồ…Em tính nhẩm hơn trăm ngày anh bị tống giam. Khi nào anh về ? Tháng tư lõm trắng, hay tháng sáu ngây ngây ! Em cũng như anh, cũng trông tin, cũng lăn lộn, nằm ngửa bất động mâu thuẩn. Trạng thái ngu ngơ, trăm ngày hoang dại….

Mưa rơi anh ạ, chắc anh không nhìn được mưa, và mây baỵ Anh đang trong một góc tối tăm, phía sau bức tường nhỏ hẹp là tình yêu. Em như mơ hồ nhìn thấy anh, đi qua đi lại. Trái tim sắt lại theo từng bước, rạng rỡ tin vào ngày mai. Dĩ nhiên rồi. Và em, cũng rạng rỡ tin vào ngày mai, cũng dĩ nhiên nữa. Ôi! anh cao ngạo và đầy ước vọng. Em yêu anh chờ đợi nhưng thỏa mãn.

Mưa đã tạnh rồi anh ạ. Chiều đông êm như nhung. Những con đường chưa đầy bóng tối, mà em đã bắt đầu, cựa quậy nỗi nhớ bên trong, cuồng nhiệt nhưng khép kín. Tâm hồn em nẩy nở như cây đợi nước mưa. Ký ức vụt nhanh, miền ngực nóng hổi, nâng đỡ vỗ về những phút yếu mềm, để vơi bớt những gì thể hiện qua lời phóng túng. Cảm xúc của tình yêu, của cái đẹp, của đau khổ, của hạnh phúc, của lãng mạn…nó sẽ để lại dấu ấn trong cuộc tình. « Tôi » ngôi thứ nhất số ít, nhấn mạnh về em. Từ « nhớ » ám chỉ tình yêu, niềm hạnh phúc riêng tư nằm sẵn trong vô thức nay nó vùng dậy. Từ « Anh » là nỗi đam mê, là ngọn nến lung linh hư ảo, đầy màu sắc háo hức của yêu đương, cho sự thăng hoa trở lại bản thân, như muốn đốt cháy nữ tính mình. Dì em từ phòng bước ra, hỏi thăm anh bao giờ về ? Em lắc đầu. Dì lườm yêu một cái rồi bỏ đi. Dì là mẹ, là chị là bạn. Dì vào bàn thờ thắp hương, em cũng đi theo Dì vào bàn thờ thắp hương. Nhắm mắt khấn vái ba mẹ phù hộ cho… Trăm năm chỉ có một người. Và rằng người đang đọc thư em hôm qua trời ạ !

Em qua nước Mỹ rộng lớn, chỉ thèm mỗi một thứ về « người », mà không làm sao biết. Em ôm tràn ngập, cảm giác yêu thương về phòng, để mùi hương bay khắp gần xa… Đêm qua ba giờ sáng mới chợp mắt. Sáu giờ lò mò ngồi dậy. Cả ngày thẩn thờ vì mất ngủ, vì nhớ con số 12 giờ 30 trong đêm. Em ghét thứ nhớ nhung, ray rứt kiểu này. Khó chịu lắm !…Em gái bảo ra ăn cơm, em lười biếng không muốn ăn. Tự dưng đầu em cứ phừng phựt thế này ! Lại câu chuyện hai đứa, khiến em mất ngủ nữa rồi. Chán !….

Em còn nhớ chuyện hẹn hò với anh. Nhớ như nhớ mùa xuân không quên cánh én. Sông nước thân yêu, như anh thân yêu, giữa dòng sông đồng lúa, khắc khoải vang lên nghe thương yêu trở về. Tự nhiên em… giận. Buồn, em đi chơi lung tung… Chán quá ! em đáp máy bay đi San Diegọ, rồi từ san Diego về lại Dallas nằm chèo queo….

Dallas tháng ba rồi, mà cả tuần nay vẫn mưa và lạnh. Mưa như nức nở, như rạn nứt trái tim. Tình cảm phức tạp vỡ oà theo một viễn chinh đẹp trong chiều hư ảo, mang theo niềm hạnh phúc lẫn nỗi buồn. Em ngồi bất động…Ngồi chán đi ra bếp tìm nước uống. Cô em gái đang lục đục trong bếp quay nhìn lại lo âu nói : Em sợ chị khổ. Em cười : Chị bình yên và dễ chịu…. Trong tâm linh trú ngụ, là sự bình yên trong sáng, thì cái cảm giác vo tròn định mệnh, nghèn nghẹn, xót xa, cũng sẽ từ từ tuột dốc…

Dì em đọc những bài văn, Dì nói đoạn kết buồn, là cuộc đời sẽ theo vận buồn. Buồn ! cũng là thứ hạnh phúc hiến dâng trọn vẹn, cho một cái gì đó không huỷ diệt…Phải không anh ? Em không muốn anh nằm nhìn trần nhà ? Chim phải bay về tổ ấm mình, và không bao giờ muộn. Khi nghĩ về những ngày cuối trọn vẹn. Cuối cùng bao giờ cũng nhất, cũng tuyệt mỹ…Em sắp về lại Paris có những con đường bâng quơ mà vẫn đẹp. Nơi đó em sống vui, buổi tối như xưa, ban ngày bóng gió đầy tim, tận đầy ngõ chờ đón em về. Em phải về cũng như anh cũng sẽ phải về…

Em được nhìn rõ hình ảnh anh. Giữa khoảng trong xanh mây trời ve vuốt, anh trong bộ áo quần màu vàng nghệ, bước ra khỏi trại giam. Anh gầy đi nhiều, nhưng rắn rõi cương quyết, ánh mắt bình thản, tự tin. Cảm giác cỏn con của em ở chỗ… biệt ly, là chỗ gặp lại nhau. Em tưởng là em đã gặp anh lúc đó, với đôi mắt đỏ hoe, trong sự cảm động êm ái rất thường, mà bao hàm một ý nghĩa, vừa đẹp vừa sâu sắc kín đáo. Em lại trở về cảm giác ái tình, của một tiểu thuyết cảm động, đối với một hoàn cảnh thích hợp với em nữa rồi. Một khi ái tình đã thấm vào lòng, lời nói có kín đáo, cũng đủ phơi bày ra hết qua sự nồng nàn. Cảm xúc từng ngày nẩy nở bắt nguồn từ những dư vị tình yêu, nó là sự kết tinh của thương nhớ mong chờ, đã đem đến cảm tình riêng, mà mình đã dành cho nhau. Để ca ngợi, để trực tiếp quan hệ sống với tinh thần, nhiều khía cạnh, nhiều màu sắc, nhiều vẻ đẹp trong đó có quê hương êm mát của chúng ta…

Từ Canada em bay sang Hoa Kỳ, với niềm tin sẽ gặp lại anh. Niềm tin đã cho em lẻ sống trong tâm hồn. Những ngày ở đây em sẽ làm gì ? Trước hết nó gợi cho em nỗi niềm man mác, đồng thời nó cũng trỗi dậy, một cái gì đó trong tương lai. Trong cái bốn bề, có những luồng ánh sáng lành mạnh, của mặt trời rực lên nơi đây ( San Diego ). Cỏ cây hoa lá thơm lành, mát dịu dưới bóng mát. Em đang tỉnh táo mà sao nghe xúc động thế này !. Anh, em đang cần bóng mát, để cuộc sống cân bằng và nhịp nhàng hơn.Và, cái hình ảnh tù đày, nó đối lập với hình ảnh tự do, cho em mãn nguyện này. Là hình ảnh của một cái gì đẹp đẽ trong sự thực, không phải lúc nào cũng mơ màng yên lặng, một đời ăn no, mặc ấm an nhàn. Nó cho em biết, cái hình ảnh nào thật là của em.

Em đến ở với bà Dì ruột của em tại đây, trong ngôi nhà yên tĩnh, dẫn vào thế giới hoài niệm khuất lấp trong hồn người. Đôi khi nó đưa đến niền nhớ thương vô hạn… Anh ơi, Em nhớ anh quá ! Nhớ anh trong mênh mông cõi dân gian, chênh vênh giữa sáng và tối, trong bình yên mà xôn xao, gợi mãi buổi đầu gặp gỡ, hẹn hò thoáng mơ qua rồi mất hút…Chỉ còn lại niềm an ủi trong ảo tưởng mà thôi. Anh, em không nghĩ dòng đời lạnh lùng đến thế ! em sẽ san sẻ hơi ấm tình người trong gió lạnh đầu mùa, lưu tồn thấm qua ngõ cuộc đời, trong đêm có ánh mắt trông chờ.

Tình anh và em, không đến đâu. Nhưng cũng đã một tình yêu mong nhớ và sâu xa, dù chỉ vài nét chân dung chấm phá. Đó ! em lại dao động tưởng tượng lù mù, qua cái mộng ảo méo mó ở thực tại. Ui, em nói nhảm…bâng quơ quá phải không anh ? mình chưa có ngày rực rỡ đầy đủ, mà em đã nói những lời như người điên.
Anh ạ, em đang ngồi trước máy vi tính, viết thư cho anh. Một trăm phần trăm nhớ anh, thu nhập vào đấy. Thật là kỳ dị với cảm giác rờn rợn, khe khẽ rung động bên trong…Có lẽ là sự cám dỗ những khích thích tố nhớ nhung, dồn hết vào chỗ đỏ thẩm nổi lên giữa…bầu vú. Rồi con tim nhảy thì thụp dưới ngực áo, và em quên hết mọi chuyện trên đời, chỉ còn duy nhất một hình ảnh ngự trị đó là…Ui, viết thư cho anh như thế này là không hợp lý tí nào…Coi như giấc mộng ngọt ngào đã qua, giấc mộng của con cò nhỡn nhơ tìm lúa lúa rụng về đêm. Cảm tưởng trong chốc lát, ít ra cũng như đã trao đổi tâm tình, hai tâm hồn đang đoa. lạc hai nơi, mà tư tưởng bản thân chỉ một người.

Anh à, em nhớ anh, nhớ anh…đủ thứ, nên em viết chẳng có đầu, có đuôi chi hết trơn, lộn xộn quá chừng ! Anh đừng cười em nghe…mà anh có cười em cũng được đi, vì đối với anh có gì mà em phải dấu ! phải giam hãm những chí khí bồng bột, mãnh liệt dưới lớp da lành mạnh tráng cường ? Nói nghe như tình vật dục dữ dằn vậy đó, chứ thật ra em rất là Việt không có buông thả đâu anh ! bằng cớ là khi gặp anh em vẫn còn dè dặt, “chưa” dám “thử” cái hương vị tình yêu, để anh nhiều lần phải thét lên “Mau với chứ vội vàng lên với chứ. Em ơi em tình non sắp già rồi” Lúc đó em tinh nghịch : “Em khờ khạo lắm ngu ngơ lắm . Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì” ? Anh, mình nhớ nhau, là mình như tiên anh nhỉ ? Tình yêu màu nhiệm quá phải không anh ? Nhất là ai đó đã chi phối nhưng suy nghĩ bồi hồi, tâm trạng kẻ đang yêu một cách đậm đà như em. Anh, đêm nay em đang nghĩ đến anh bên bàn rượu, kề bên góc ngọn đèn hoa kín mít mà nghe rất ồn ào trong em “cơn say suốt sáng, trận cuồng thâu đêm”.

Bích Xuân, Paris
(Viết theo tâm sự của Limcheng)
bichxuanparis@yahoo.com

Thêm bình luận Tháng Sáu 26, 2007

Ba Người Đàn Ông KV


KV Thứ Nhất

Một người đàn ông diu dàng, hết sức dịu dàng. Ông ta làm tôi nhớ một đứa con gái làm biếng trổ mả. Một đứa con gái 28.50kg. Một đứa con gái tràn đầy mơ màng tuổi mười sáu, nhú nhít chút chít tuổi mười bảy, thòm thèm tuổi mười tám, xa ngái tuổi mười chín, và aurevoir vĩnh viễn Nói Với Tuổi Hai Mươi Nhất Hạnh. Khi tưởng tượng về thân xác và tâm hồn ông, tôi thường nghĩ về sự mảnh mai của đứa con gái Huế thập niên 1960.

Ông ta thả lềnh bềnh những bè thanh âm vào đời. Nhân gian bấu víu, giành nhau, kiếm chút hơi hướm trinh nguyên của con gái và tiếng hát hao gầy của Nghệ Thuật. Nghệ Thuật của ông ta là cõng con gái đồng trinh lên vai và băng qua cuộc đời như một kẻ sơ tán trong một xứ sở chiến tranh điên loạn.

Nghệ thuật của ông ta là biến những người đàn ông chó sói thành những đứa con gái dẹ dàng phút giây.

Tình yêu của ông là nụ hôn dịu dàng lên trán ấm. Nụ hôn tràn trề sung mãn năng lực tinh thần. Nụ hôn mặc khải những tình yêu mơ hồ. Hôn vào trong tim. Hôn không nước miếng. Hôn một lần sống một đời.

Ông ta có khả năng nẩy bật những xuồng bè mong manh lau lách tâm hồn. Ngôn ngữ của ông ta rất sương khói giấu trong chăn len. Thứ ngôn ngữ phù phiếm vô nghĩa được che bọc bởi một loại nhạc điệu bạc nhược đại bại xứ Huế. Ông ta là nhà ngôn ngữ đại tài ru hồn người Nam Âm suốt một triều đại. Kẻ nào bị ngôn ngữ của ông ta huyễn hoặc sẽ kểnh chân, sẽ được nhấc bổng, và đi bềnh bồng.

Bửu bối của ông là cái chân của một đứa con gái đồng trinh lớn lên và tìm đường thủ dâm bằng bàn tay và trí nhớ của một đứa con trai nằm cạnh, và bà mẹ của hắn thì đang ở phòng ngoài. Phải, ông này bị chứng đùn đụt tâm hồn vì tình yêu với một bà mẹ. Người đàn bà mạnh mẽ xứ Huế ấy là cái bóng phủ trùm hết những sáng tác của ông. Những bài ru mẹ của ông là những bài hát hay nhất.

Còn lại thẩy là những câu hát thủ dâm thời đại. Len lén thủ dâm. Đóng cửa phòng chiều chủ nhật mà thủ dâm. Đấy là một người đàn ông ích kỷ. Chỉ nghĩ đến mình. Chỉ yêu mình. Say mê tự sướng đã khiến ông ta không vợ không con. Những bài hát của ông trống vắng hạnh phúc thân xác. Chả bao giờ ngủ với người đàn bà nào để bước xuống cuộc đời, để biết yêu một thân xác thì đớn đau và hạnh phúc, khác xa thế nào với cu cu ka ka “con tinh yêu thương vô tình chợt gọi”.

Và cứ thế ông ta lãng đãng sương khói thủ dâm cá nhân chủ nghĩa suốt một thế hệ.

Thử tưởng tượng ở một xứ sở rất cách ly với khái niệm “sở hữu chủ”, ổng vẽ vời ra một “Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu”, khiến cho bọn tôi lúc đó ai cũng mơ tưởng đến việc được sở hữu một căn phòng riêng để nằm một mình hay hai mình đìu hiu chiều chủ nhật. Đấy là một mơ ước qúa sang trọng trong một xứ sở đang nghèo kiết xác gia đình mười con ở một căn nhà tôn và đang chiến tranh. Mặc cho thế giới ngoài kia đã trù phú nhà lầu xe hơi đến đâu. Xứ sở tôi đang sống lúc ấy thì “sở hữu chủ” tình yêu, sở hữu chủ một khoảng không gian riêng, sở hữu chủ cái tôi riêng biệt là một điều gì nằm trong giấc mộng. Cuộc chiến thắng của cái “tôi” là lá cờ vinh quang trong những bản nhạc của ổng. Để làm gì, để mơ tưởng một tình yêu thánh thiện không cần chỗ cho hai thân xác quằn quại tìm nhau và mò nhau. Để làm gì, để tương tư “mây góp nhặt về trời”, để reo vui “ươm nắng cho mây hồng”, để hạnh phúc “âm thầm qua phố nhớ nhớ tên em” … Thứ hạnh phúc gặt hái được thoả mãn bởi bộ tưởng của trí não chứ không phải môi thèm hôn và thân đòi tình. Ông ta bóp chết dái thân của chúng tôi. Ông ta để thân xác đồng trinh của chúng tôi đùn đụt còi cụt. Và như thế, chúng tôi nằm ngoan trong vòng tay âu yếm của ông.

Và cứ thế phần đời ấy của tôi được hương hoả hạnh phúc bởi thú vui tinh thần. Thật may mắn với thứ ân sủng của ông ban tặng. Tôi đã từng đê mê nghiện ngập thứ tình yêu tinh thần ấy. Trong một xứ sở chiến tranh triền miên, thân xác đớn đau và mất mát vì đạn bom, ông ta như một vị cứu tinh mở ngỏ cho mọi người tìm được món hạnh phúc tinh thần, tình yêu ảo, mối tơ tưởng với đời sống, hạnh phúc thăng hoa bằng trời, nắng, mùa thu, hè phố, tàn cây cùng một mụ mẹ vĩ đại: Mẹ ngồi ru con. Đong đưa võng buồn. Đong đưa võng buồn. Mẹ ngồi ru con . Mây qua đầu ghềnh. Lạy trời mưa tuôn …

KV Thứ Hai

(kịch ca múa một màn)

(Phông tường là một chiếc giường tre treo chúc đầu xuống đất. Có thế là hình vẽ chiếc giường. Có thể là giường thật gắn hàng thật. Hàng tre có những thanh mảnh mai. Đầu giường bờ cao trổ long phượng uốn éo. Giường trải chiếc chiếu cói màu mè. Hai chiếc gối đầu cói tranh mục đồng chăn trâu)

(Nhân vật là một người đàn bà trẻ, nhí nhảnh, để tóc thẳng cắt ngắn, mặc một bộ đồ bà ba nâu hơi cụt ống tay và ống chân để khoe tay và đùi. Chân trần không giày dép. Khuôn mặt lại trang điểm thời trang nhất. Người đàn bà trẻ mang tất cả dáng dấp của một người đàn bà trẻ thông minh. Giọng cao, trong và vang xa)

(Người đàn bà trẻ di chuyển trên sân khấu tùy tiện. Khi thì chỉ trỏ vào chiếc giường treo trên tường, khi chỉ trỏ vào khán giả, khi thì chỉ trỏ vào không gian. Người đàn bà trẻ nên biết múa)

(Nhạc tùy nghi. Có những lúc nhạc theo điệu múa, và người đàn bà trẻ múa theo một điệu như đang khiêu vũ trên giường. Với tất cả sự chật hẹp của nó)

(Khi màn kéo, người đàn bà trẻ từ phía hậu trường bước ra)

(Người đàn bà trẻ nói:) Thưa qúi vị, qúi vị biết bên dưới chiếc giường là cái gì không. Đố quí vị biết có gì không? (ngoảnh tai chờ đợi khán giả trả lời). Cám ơn qúi vị. Qúi vị trả lời sai hết rồi. Tí nữa tôi sẽ bật mí cho qúi vị biết điều hấp dẫn nhất là bên dưới chiếc giường là cái gì. Đừng tưởng tượng dưới này dấu lò than đâu đó. Qúi vị nhìn tui đây. Tôi nhảy nhót như chim sáo. Chưa có con bao giờ qúi vị ơi. Sắp có, sẽ có, nhưng chưa bao giờ có.

(Nhạc trổi lên, người đàn bà trẻ bắt đầu một điệu nhảy)

(Nhạc tắt)

(Người đàn bà trẻ nói:) Qúi vị ơi chiếc giường xinh đẹp này đó. Mỗi đêm tôi ngủ với ông. Thú vui nhất của tôi là tắm rưả sạch sẽ, xức nước bông xong, leo lên giường. Tôi nằm nghiêng nghiêng. Tôi nằm ngửa ngưả. Tôi nằm thò hai chân ra. Tôi kéo chăn đắp lên ngực. Hai tay tôi đang rờ rẫm. Hai tay tôi bận vắt lên trán. Hai tay tôi bóp bóp. Hai tay tôi ôm nách và nằm cong như con tôm hùm. Có khi mắt tôi mơ màng. Có khi mắt tôi nhắm tịt. Có khi mắt tôi len lén mở. Có khi mắt tôi lim dim chờ đợi

Tôi thích nhất là giây phút chờ đợi. Chờ đợi ông từ từ đi vào buồng ngủ Tôi thích nhìn cái tướng lùn lùn mập mập của ông . Ngực ông đeo một cây thánh giá giây chuyền vàng y. Hình như nó nặng nửa lạng. Vàng thì thật mà tượng thánh giá thì bằng vải. Nghe nói vải áo của ông thánh Benêdito ở bên La Ma lận. Ông thường choàng một cái khăn xanh phía dưới. Nước da ông đen. Mà tóc ông còn đen hơn. Tôi thương nhất là chỉ những lúc ông tắm xong và đi ra thì mới có vài sợi tóc rơi loà xoà trên trán ông. Còn bình thường thì mái tóc ổng hả. Nó cứng ngắc bởi keo xịt tóc đầy đặc. Ông là hình bóng của một papa ghét vợ bỏ con, chỉ trung thành với ba chữ “Quân Sư Phụ” của ông Khổng Tử. Một người cha đạo lẫn cha đời điển hình nơi các xứ ăn phải bánh bao của Tàu Khựa.

Để xem. Ổng đi lại. Ổng ngồi từ từ xuống giường. Ông vừa ngồi lên giường là cả cái giường như có một giòng điện mát. Ông làm cho cả vùng không gian quanh ông hưởng thái bình. Ông hay ngồi khoảng này nè ( người đàn bà chỉ vào khoảng khúc bên mép giường). Ngồi từ từ, nghiêng người, nhìn chung quanh một phát. Từ từ tháo cái khăn ra. Từ từ rút đôi chân ra khỏi đôi guốc mộc. Đưa chân lên giường. Ngồi hoàn toàn lên giường. Thẳng lưng. Cúi người vuốt hai chân một cáị Làm dấu thánh giá. Lâm râm đọc “Lạy cha chúng tôi ở trên trời. Chúng tôi nguyện danh cha cả sáng. Nước cha trị đến. Vâng ý cha dưới đất cũng như ở trên trời. Xin cha cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ. Và tha nợ cho chúng tôi. A men.

(Trong khi người đàn bà trẻ ngồi xếp bằng, lâm râm đọc kinh. Đèn có thể tắt. Hoặc trên tường thay chiếc giường bằng những phim hình của người đàn ông đang biểu diển tư thế của người đàn bà trẻ diễn. Nhạc gõ mõ tụng kinh kiểu nhà chuà)

(Người đàn bà trẻ đứng dậy, đến sờ vào chỗ ngồi của người đàn ông và nói:) Tôi yêu cái khoảng không gian ông tạo dựng. Nó rất êm đềm. Có ông lên giường một cái là tôi thấy tim mình bớt đánh thình thịch. Tôi thích lắm. Vì cả con người ông toát ra một sự lờ đờ, lành, và cô độc. Sự cô độc không làm phiền người khác. Không năn nỉ lòng ghen tị hay thương xót của người khác. Mà là sự cô đơn của một người hiền hậu đạo đức. Tôi thích ở cạnh một người đàn ông như thế này. Một người đàn ông đạo đức luôn luôn là nỗi niềm mơ ước của tôi.

Ông ta thường nằm thẳng người trên giường. Và ông ta bắt đầu thở ra thở vào, thở ra thở vào, thở ra thở vào, khoảng 30 phút. Khi ông ta bắt đầu ngáy. Là tôi biết ông ta bắt đầu đi vào giấc điệp. Tôi phan phái, hì hì.

(Người đàn bà trẻ cười, rồi bắt đầu múa. Nhạc trỗi lên là loại nhạc đơn chỉ một giây kiểu đàn nhị. Nhạc vui và trầm. Nhảy múa biến thiên theo điệu thời đại)

(Nhảy múa xong. Người đàn bà trẻ tiếp:) Hì hì tôi thích nhất lúc ông khò xong. Là lúc tôi tha hồ. Bắt đầu là tôi ngo ngoe cái chân. Rồi tôi len lén nhìn sang ông. Mắt ông đóng khép như pho tượng ông thánh Phê rô treo tường. Ông ta ngáy phù phù bằng hai lỗ tai chứ không phải bằng miệng. Trông ông ta như một bức tượng đẹp.

Tôi chỉ muốn hôn chụt lên miệng của ông một cái như thế này nè. Mà chưa bao giờ. Chưa bao giờ nhe qúi vị. Chưa bao giờ tôi được làm điều ấy. Tôi yêu ông ta thật lòng. Tôi yêu ông ta vì tôi là vợ ông nhưng chưa bao giờ ông chạm đến thân xác của tôi. Tin tôi đi. Nếu người đàn bà được quyền tự do chọn lựa giữa hai người đàn ông, một cuồng dâm một không dâm, tôi sẽ chọn người đàn ông không dâm. Tôi yêu ông vì ông không dâm.

Rồi tôi bắt đầu làm gì qúi vị biết không. Tôi bắt đầu thò tay xuống giường. Móc chúng ra. Kẹo. Qúi vị biết không. Dưới giường ngủ toàn là kẹo sô cô la của Mỹ. Hì hì. Một kho kẹo. Tôi biết sẽ có một ngày tôi móc đúng nó. Nhưng tôi thèm kẹo qúa. Làm sao một người như tôi có thể cầm được cơn cám dỗ của những viên kẹo ngọt ngào dưới chiếc giường. Phải. Tôi biết có ngày, tay tôi sẽ chạm vào nó. Tôi biết điều này, vì ông ta đã nói với tôi điều ấy. Ông ta nói, em đừng thò tay xuống bốc những viên kẹo dưới giường vì trong ấy có giấu một quả mìn. Mìn Made In America. Người Mỹ họ đóng cho tôi cái hòm này ngày họ đưa tôi lên vai tổng thống xứ Nam Yêu. Em phải biết như thế. Hễ tay người chạm đến nó lập tức chiếc giường này sẽ nổ tung. Chỉ có tôi là biết mật nã phía dưới chiếc giường. Khi cần, tôi phải sờ vào quả nổ ấy. Em lên giường này chỉ nằm ngủ thôi. Đừng đụng đậy gì phía dưới giường cả.

(Bùm. Bùm. Một tiếng nổ lớn)

(Đèn tắt. Sân khấu chiếu màn ảnh người đàn bà trẻ bay lên chiếc giường. Chiếc giường được phủ bởi lá quốc kỳ. Người đàn bà trẻ múa lượn trên lá quốc kỳ. Nhạc tùy nghi)

(Đoạn cuối chấm dứt bằng bài nhạc: “Ai bao năm vì sông núi quên thân mình. Cứu đất nước thề tranh đấu cho Tự Do. Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống. Ngô Tổng Thống. Ngô Tổng Thống Muôn Năm. Toàn dân Việt Nam, nhớ ơn Ngô Tổng Thống …”)

(Và một đoàn lính hùng binh cắp súng bước theo điệu quân hành, hô to theo nhịp: 1,2,3. Mỹ Diếc. 1,2,3 Mỹ Diếc. 1,2,3, Mỹ Diếc, Mỹ Diếc, Mỹ Diếc ….)

KV Thứ Ba

Người ta nói già đầu rồi mà còn ngu là vậy. Không biết ở Ổng có cái gì kia chứ. Một cái khuôn mặt teo. Một đôi mắt ác và một cái miệng hô.

Sau năm Thân với cuộc đổi đời kinh khủng ấy, tôi phải bám vào những mảnh bè nào có thể bám được. Tôi có đến bảy đứa con để nuôi. Nuôi con là cái cớ. Nói thiệt trong máu tôi đã có din làm đĩ bảy mươi hai đời cố tổ cao tằng nào rồi. Đĩ từ đời trước đến đời sau. Đĩ từ thời bà cố võ vẽ “nị hao ma” cho đến đời con Tây ngố “pạc le phăng xe” đời cháu bị Mỹ đè “ô kê xe đạp”.

Ổng là một cán bộ tập kết. Nghe nói gốc Ổng từ Thuận Hóa ra Bắc rồi đi sang Tây làm ăn với một ông Tây tên là Kặc Mát. Ổng đi buôn lậu súng ống ba năm thì giàu sụ. Trở về đất Ăn Mắm lập hãng bán súng được mười mấy năm nay. Sau đấy ông ta lập ra một cái Đảng kêu là Đảng Hồ Chí Minh Muốn Nam.

Ở nhà thương trị bệnh lậu xong. Tôi may mắn gặp Ổng ở một cái động Đai Nát Ty. Cái con phố đằng sau lưng Nhà Chung. Nam Mô A Di Đà. Tôi thường đến đấy để hút bồ đà. Tôi còn lai vãng nơi này để kiếm tiền. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ Ông Thầy Tu. Lần này mà gặp lại một người như ông Thầy Tu thì tôi nhất định sẽ hoàn lương.

Ai xô tôi trở lại nếu không vì tiền. Ai đó nói rằng nằm ngửa đếm tiền là đúng. Tôi chỉ muốn nằm ngửa và có tiền.

Ổng là một tay chơi bủn xỉn. Ổng có cái kiểu hành rất lâu. Mỗi lần như vậy là đến năm bảy giờ. Vậy mà xong rồi là cứ nói anh tè anh tè rồi.

Ổng hành hạ tôi nhiều nhất. Tiền cho cũng ít nhất. Nhưng trong thời buổi khó khăn giặc Còng mới chiếm làng chiếm xóm đó, hắn là đảng trưởng trong làng. Hỏi ai còn hơn Ổng.

Con của tôi được vô học trong hợp tác xã giáo dục khỏi tốn tiền. Mọi chuyện có bàn tay Ổng rờ đến đâu là gút thắt rối tò vò cỡ nào cũng được tháo gỡ. Tôi phục Ổng ở điểm này nhất. Ổng là thần là thánh quyền thiên biến hóa như thế và tôi chỉ là một con đĩ may.

Có những lần Ổng bắt tôi vào phục dịch ở nhà riêng. Ổng vừa bắt tôi hầu miệng tay vừa cầm điện thoại. Đến những đoạn căng thẳng, Ổng ra ngồi ghế bắt tôi hầu tợn hơn, nhất là những lúc Ổng lặp đi lặp lại câu mệnh lệnh: “Cho nó đi gặp anh Chín” Thái độ của Ổng trong những lúc ấy thật kỳ lạ. Vừa khóai lạc vừa hung ác kinh. Tôi chỉ còn biết ru rú làm theo tia nét mặt của Ổng mà tôi chỉ đóan mò là phận mình phải lo mà phục dịch. Tôi nghe và biết được ngay là Ổng ra lệnh cho đàn em thủ tiêu Anh Chín. Chín là chín suối chớ còn gì nữa.

Thế là y chang. Ngày hôm sau cả làng cả nước thất kinh sợ hãi loan truyền Đảng của Ổng vừa thanh toán một mạng người ở cửa Việt.

Thời kỳ cực mạnh của đảng Hồ Chí Minh Muốn Nam là thời kỳ mà người người phải treo hình mấy ông thần hộ mệnh của Ổng là hình Kặc Mát và Mao lên trên mọi cái vách. Từ ngày có Đảng Ổng đến thì trong làng hết còn Đảng nào khác. Uy danh Ổng lẫy lừng là diệt trừ được tất cả mọi Đảng khác. Tôi là con đĩ ké. Nhờ làm bé hầu hạ Ổng mà mấy con mụ bán hàng quán ngoài chợ thay đổi thái độ với tôi. Tôi biết họ chẳng kính trọng gì tôi. Nhưng thân đến nước này tôi cần gì ai kính trọng. Tôi chỉ muốn không bị dân chúng chửi là “đĩ”. Tôi chỉ không muốn nghe họ chửi ngay trước mặt tôi thôi. Chứ sau lưng tôi biết thế nào họ cũng gọi tôi thứ đĩ già. Sự ra vào của tôi với Ổng ít ra làm cái bọn người không làm đĩ phải câm họng lại trước mặt tôi. Với tôi vậy là được rồi. Cả làng biết tôi là con đĩ nhưng làm đĩ cho băng đảng của Ổng thì không ai dám đụng. Tôi đi ra ăn hàng bún bò của chị Tư Huế ở cái ngõ Hàng Trắng, chị Tư Huế còn hỏi tôi cô ăn cái chi tui bỏ vô chéng cô. Cái bà này thật kinh. Ngày trước tôi chưa chơi với Ổng tôi đi làm đĩ dấu dấu giếm giếm, bà ta không thèm nói một câu chào hỏi. Hồi đó tôi đã phải chửi vào mặt bả: “Tôi có tiền tôi ăn chớ tôi có ăn vạ bà không mà mặt bà sưng sưng”. Thế mà bây giờ bà ta lại gọi tôi là “cô”. Thiệt đời hết biết cái nào hay cái nào dở cái nào may cái nào rủi. Làm đĩ mà cặp với đảng trưởng một đảng ăn cướp thì cũng được người đời tôn thờ. Xem ra lòng kính trọng của con người ta thường là do sợ hãi và hèn yếu.

Trên đây là ba người đàn ông KV* đã đi qua đời tôi.

Lê Thị Huệ
2001

* KV là “Không Vợ”

Thêm bình luận Tháng Sáu 26, 2007

Mất Trắng


Đêm về sáng thật yên tỉnh. Hồng trở mình thức giấc. Nàng cảm thấy trong người ê ẩm mệt nhừ. Căn phòng vắng, chìm sâu. Chiếc quạt trần chạy vù vù, đều đặn trên trần nhà nhìn như muốn chóng mặt. Đồng hồ trên tường phía trước mặt đã hơn 4 giờ sáng. Hồng kéo chiếc mền len lên kín toàn thân. Trong giây phút nàng thoáng chút ngỡ ngàng. Toàn cơ thể không một mảnh vải che thân. Bên cạnh Hồng, gã đàn ông đang ngủ vùi, cơ thể co quắp, trần truồng phát tởm. Giấc ngủ của gã hồn nhiên, say sưa, thỏa mãn. Bất giác Hồng rùng mình khi ngỡ rằng gã đàn ông này là chồng ! Chồng à !!? Sao lại là chồng được nhỉ ? Trông gã già đáng tuổi cha chú mà ! Gương mặt gã béo phệ, chảy dài. Các bắp thịt trên cơ thể gã un lên, cùng cái bụng to tròn lẵn đang rung rinh theo hơi thở đều đặn. Trông thật gớm ghiếc trước đống thịt ung úc biết cử động đã chiếm đoạt hồn xác của nàng thật thô bỉ. Hồng nhớ rất rõ đã hai lần gã làm tình với nàng trên chiếc giường ngủ này trong căn phòng của khách sạn lúc đầu hôm và giữa khuya. Hàng rào ngôn ngữ đã làm tê liệt những cảm giác ân ái. Gã chỉ hành động theo lớp lang, theo dục vọng sôi sục từng cơn trong cơ thể úc núc của gã. Gã hung hãn, táo bạo và ào ạt như con hổ vồ mồi khiến cho Hồng hết sức đau đớn vừa tủi nhục, chỉ biết chịu đựng và chết lịm từng hồi trong bắt buộc và chấp nhận lần đầu tiên trong đời bên cạnh một người đàn ông xa lạ.

Hồng như muốn khóc và cảm thấy ghê tởm, uất hận. Nàng xoay mình ra phía ngoài không còn đủ can đảm nhìn gã. Hồng cần một sự yên tỉnh. Sự thật rất phũ phàng không như Hồng tưởng, đã được những gì khi đã mất hết. Những gì đã diễn tiến quá nhanh, không báo trước, không có sự chuẩn bị cũng vì sự nghèo hèn cơ cực. Gia đình Hồng rất nghèo, nghèo lắm. Mảnh vườn nhỏ là nguồn sống duy nhất của gia đình cũng đã bán. Hai công đất trồng hoa màu đã được cầm thế hai tháng nay để lấy tiền chạy thuốc cho mẹ đang mang căn bệnh ung thư đến hồi nguy kịch. Giờ chỉ còn mái nhà nhỏ nằm sâu trong vùng quê Tiền Giang và cũng có thể sẽ mang đi cầm thế để lo cho mẹ.

Hồng may mắn vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, không tiền học thêm, đành ở nhà kiếm việc làm. Nàng đã mất một số tiền lớn để có được một chân thư ký ngân hàng trong thành phố. Với đồng lương khiêm tốn ít oi vẫn chưa đủ hai bữa ăn no trong gia đình.

Ông Năm, cha Hồng đã lớn tuổi già nua, đất, vườn đã không còn, hằng ngày phải đi làm thuê cho người dân trong vùng, ngày có, ngày không. Đứa em gái của Hồng đã phải nghỉ học để làm đủ mọi thứ việc phụ giúp. Hai đứa em trai cắp sách đến trường, tiền sách vở, đóng góp này nọ cho nhà trường không tìm đâu ra nên việc học dở dang, đành ở nhà hái rau, bắt ốc, hoặc rong chơi lêu lổng đầu thôn đến cuối xóm.

Mẹ Hồng nằm liệt giường đã hơn năm nay, mỗi ngày một gầy yếu, xanh xao. Tiền thuốc, tiền bác sĩ là một vấn nạn, nên bà nằm đó hàng ngày để chờ đợi cái chết từ từ đến.

Hồng may mắn có đuợc nhan sắc khả ái, cơ thể tròn lẳn, đầy đặn của tuổi xuân. Nàng vẫn đang có những ước mơ của người con gái đang trưởng thành. Hằng ngày nàng phải gò lưng trên chiếc xe đạp từ trong quê ra thành phố để làm việc. Giấc mơ có được một chiếc xe gắn máy như bạn bè để làm phương tiện di chuyển cho đở bớt cực nhọc, nhưng thật xa vời ngoài tầm tay. Giờ rảnh, Hồng nhận may gia công, thêu máy và cặm cụi hằng đêm để thêm thu nhập cũng chẳng thấy khá hơn. Căn bệnh của người mẹ ngày thêm trầm trọng. Trước những khó khăn trong gia đình, Hồng vẫn đang có một niềm tin mãnh liệt bằng công sức mình và tin tưởng số mệnh và cơ trời có thể một lúc nào đó sẽ khá hơn. Hồng nghĩ rằng cuộc đời không có gì là khổ mà cũng chẳng có gì là sướng, tất cả, con người phải gánh vác để hoàn thành trách nhiệm trong danh dự. Hồng suy nghĩ để tạo một niềm tin và sức mạnh nghị lực hầu chịu đựng trước hoàn cảnh gia đình trong lúc khó khăn.

Nhưng ông Năm, cha nàng lại nghĩ khác. Ông quá đau khổ nhìn người vợ đã bao năm chung sống đang nằm thoi thóp trên giường bệnh. Ông ước ao có được một số tiền lớn để đưa vợ đi Saigon chữa trị. Làm thế nào và bằng mọi cách để có tiền là điều ray rứt triền miên trong tâm trí ông.

Một hôm sau bữa cơm chiều, ông tỏ bày suy nghĩ của mình với con gái :

– Hồng à ! Mẹ mày không được đưa đi Saigon chữa bệnh, tao nghĩ bả sẽ chết mất. Mẹ mày chết tao làm sao sống nổi hả Hồng ?

Hồng buồn rầu khi nghe cha than vắn thở dài : – Biết làm sao bây giờ ?! Con nghĩ ai thương cho mình vay một số tiền rồi mình làm kiếm trả lại. Nghĩ cũng khó..

Ông Năm hậm hực : – Không dễ gì…ai mà cho mượn. Bệnh của mẹ mày cần một số tiền lớn mới mong được con ơi !

– Vậy thì đào đâu ra. Con nghĩ chẳng còn cách nào nữa cả.

Ông Năm lại thở dài thườn thượt, nét mặt đăm chiêu tư lự. Hồi lâu ông đã thấy như đã đến lúc bày tỏ ý định với con.
Ông Năm nhìn Hồng đang ngồi, hai tay ôm mặt gục trên đầu gối trông dáng vẻ bất lực thảm hại. – Hồng à, mày nên lấy chồng để có tiền chữa bệnh cho mẹ mày. Mày biết không ?

– Lấy chồng là sao ba ?- Hồng ngạc nhiên – Con lấy chồng gia đình bỏ cho ai. Má con đang bệnh nặng cần phải có con trong gia đình.

– Lấy chồng Đại hàn – Ông Năm nói nhanh – Lấy tụi nó sung sướng, giàu sang. Đầu trên, xóm dưới cũng đã có mấy gia đình có con gái lấy chồng Đại hàn, Đài loan, mày không thấy sao ? Nghe lời tao để cho mẹ mày được sống thêm vài năm nũa. Mày phải lấy chồng. Mọi việc tao đã suy tính đâu vào đó rồi.

Hồng lắc đầu từ chối, van xin nhiều lần, nhưng ông Năm gằn giọng ra lệnh :

– Mày không được cãi lời cha mẹ. Mày có thấy mẹ mày đang rên la và đau đớn từng cơn hằng ngày đó không ? Làm con phải thương cha thương mẹ chứ. Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần. Mày hiểu chưa ? Tao đã quyết định phải cứu nguy gia đình này. Mày ừ một tiếng là tao có hai ngàn đô la trong tay để đưa mẹ mày đi chữa bệnh. Nghe chưa con ?

Hồng chẳng biết phải làm thế nào trước quyết định tối hậu của gia đình đã làm cho nàng hụt hẫng chới với. Dịch lấy chồng Đài loan, Đại hàn, Miên, Lèo, Tàu, Nhật, Ma cao, Hón kóng gì đó… mà Hồng đã từng nghe thấy đâu có tốt lành gì đâu. Mười người hết chín người phải chuốc lấy ân hận, nhục nhã, thân tàn ma dại. Nàng cảm thấy gớm ghiếc, chua xót và xấu hổ cho thân phận người phụ nữ Việt Nam trong cái xã hội nhiễu nhương đảo điên hôm nay. Hồng cố tránh không muốn nghe, không muốn biết, không muốn nhìn thấy hiện trạng đồi bại của thời đại. Vậy mà bây giờ Hồng lại không tránh khỏi. Căn bệnh trầm trọng đang sắp kết thúc cuộc sống của người mẹ già thân yêu, cảnh nghèo khó của gia đình và quyết định tối hậu của người cha đang làm cho Hồng phân vân không còn lối thoát. Không muốn cũng không được. Mà muốn thì…ôi thôi..!! mười hai bến nước chẳng trong trẻo gì, đều vẩn đục, dập vùi tan nát những ước mơ của tuổi xuân.

Hôm sau, ông Năm giục Hồng làm đơn xin nghỉ việc để chuẩn bị lấy chồng, cho dù Hồng vẫn van xin nhưng ông Năm không lay chuyển ý định. Cuối cùng thì Hồng đành chấp nhận trước sự cưỡng bách không một lý giải của gia đình đang trên đà suy sụp.

Vài ngày sau đó, một buổi trưa bà Tuyết chẳng ai xa lạ cũng là dân trong thành phố này chuyên nghề môi giới dịch vụ lấy chồng nước ngoài đã đến nhà Hồng dẫn theo một lão đàn ông Đại hàn lớn tuổi, béo phệ xưng Yoonun Sacomoki. Cùng đi còn có thêm một người đàn bà Hàn quốc lớn tuổi Misano Hoon. Ông Năm vui vẻ tiếp ba người khách đến nhà với mục đích xem mặt “cô dâu”. Hồng được gọi ra trình diện với mọi người. Vừa thấy nàng, Yoonun Sacomoki cười đắc ý và chấp nhận ngay.

Bà Tuyết xin gia đình cho Hồng đi Saigon chơi với mọi người ngay buổi chiều nay. Bà hứa với ông Năm chừng vài hôm sau công việc xong xuôi là sẽ giao tiền cho ông như đã bàn tính tháng trước. Mọi việc để bà lo, gia đình phải an tâm và tin tưởng ở bà. Bà Tuyết lại khuyến dụ Hồng là nàng hết sức may mắn gặp được chồng giàu. Ông Yoonun là một đại thương gia Hàn quốc độc thân đang có những dịch vụ làm ăn lớn giữa Việt Nam và Hàn quốc. Rồi con sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, nhà cao cửa rộng, tiền vào tiền ra, gia đình nở mày nở mặt. Kể từ giờ phút này dì nói điều gì là con phải nghe và làm theo dì, đừng có cãi lại.

Đến Saigon ngay buổi chiều trong ngày, Hồng được đưa đi mua sắm một số quần áo hợp thời trang, giày dép, son phấn, và cổi bỏ ngay lớp y phục quê mùa dân dã, để khoác vào lớp trang phục, trang sức rực rỡ. Hồng đẹp lồng lộng quyến rũ. Sau đó Hồng được đưa đi ăn tối tại một nhà hàng sang trọng. Lúc này Hồng có vẻ như bớt lo sợ, dù sao họ cũng đối xử tốt và bên cạnh còn có bà Tuyết người cùng quê quen biết.

Sau bữa cơm tối thịnh soạn và ngon miệng, lão Yoonun biến mất. Bà Tuyết và Misano đưa Hồng đến một khách sạn và bảo nàng :

– Đêm nay con phải ngủ với Yoonun Sacomoki, chồng con, vì ông ấy đã bằng lòng lấy con làm vợ rồi đó. Con thấy không ? Ông Yoonun rất tốt bụng, chưa chi đã lo cho con từng thứ. Rồi con sẽ sung sướng bản thân. Dì và bà Misano ở phòng bên này, không sao cả, đừng sợ. Con hãy tập làm vợ với đại thưong gia giàu có Yoonun ngay bây giờ đi.

Hồng dảy nảy van xin : – Con không chịu đâu…Chưa gì mà…nhanh vậy ?…ai lại làm như thế. Tội nghiệp con mà dì. Con xin dì thương…con van dì…

Bà Tuyết bổng đổi sắc mặt, quắc mắt ra lệnh : – Con phải ngủ với Yoonun ngay đêm nay. Ông ấy cần biết con có còn trinh hay không rồi ông ta mới quyết định làm đám cưới. Không được cãi lời.

Hồng tiếp tục van xin nhưng vô vọng.Cuối cùng bà Tuyết đẩy Hồng vào phòng ngủ :

– Mày đừng ươn ngạnh cứng đầu con à ! Muốn sung sướng tấm thân phải nghe lời bà. Cứ cố giữ cái “ngàn vàng” để được ích gì hả con..?

Vừa lúc ấy lão Yoonun xuất hiện bước vào phòng và khóa cửa lại. Gã vênh váo nhìn Hồng trong ánh mắt sòng sọc một cách thèm khát trước cơ thể no tròn đầy khiêu gợi của Hồng.và rất thản nhiên, gã khởi sự trình diễn tấn tuồng nham nhỡ đang băng hoại giữa một xã hội đảo điên biến loạn. Hồng cảm thấy nhức nhối tinh thần tột độ.Thể xác trinh trắng giờ sắp phải bị hoen ố trước nỗi bất lực của cuộc sống. Lúc đầu Hồng đã có những cử chỉ từ chối, thối thoát, tránh né, nhưng trước sức cưỡng bức thô bạo của lão già Đại hàn, Hồng đã không còn đủ sức, đành phải xuôi tay… Thôi hết rồi ! Hết rồi ! Tấm thân trong trắng ngọc ngà đời con gái…đang phải bị vùi dập, phó thác theo định mệnh. Cuộc đời là một thử thách không ngừng trong nhiều ngõ ngách không ai lường trước được. Hãy buông xuôi và tìm quên để được sinh tồn vì bản thân và cho gia đình người thân.

Tiệc cưới đơn giản gấp rút được tổ chức tại nhà hàng sau một tuần lễ Hồng phải ép mình ăn nằm với Yoonun từng mỗi đêm tại khách sạn. Lão già Đại hàn dữ dội và táo bạo kinh quá. Từng đêm Hồng đến phải ngất ngư với lão. Cơ thể mệt nhừ ê ẩm, có hôm Hồng không còn ngồi dậy nổi. Lúc nào lão ta cũng huênh hoang với bà Tuyết rằng lão đã chiếm được chữ trinh của Hồng thật trọn vẹn. Chính đó là điều hên cho cuộc đời làm ăn của lão. Lão khoác lác hứa hẹn đủ điều.

Bà Tuyết và Misano tổ chức tiệc cưới theo qui định của Yoonun.Thực khách tham dự hạn chế, vỏn vẹn chưa tới ba mươi người. Gia đình Hồng gồm có ông Năm, mấy đứa em và vài người thân thuộc. Hồng được trang điểm lộng lẫy trong y phục cô dâu trẻ măng bên cạnh chú rễ già nua, béo phệ để được quay phim chụp hình. Mọi người ăn uống cười nói trong tiệc cưới vô cùng thỏa thích trước nỗi chua xót của Hồng để chúc mừng lão già Đại hàn chiếm được gái tơ Việt Nam.

Yoonoon cười híp mắt sau khi đã đeo vào cổ Hồng sợi dây chuyền bằng vàng tây có mặt hột xoàn lớn, chiếc nhẫn nạm bốn hột xoàn óng ánh, đôi bông tai cũng hột xoàn và một đồng hồ mạ vàng sáng bóng. Lão ghì chặt và hôn Hồng say đắm trước tiếng vỗ tay ào ạt của thực khách. Hồng như biến mất trong vòng tay và cơ thể phì nộm của Yoonun phũ lên người.

Ông Năm tỏ ra rất vui và bằng lòng việc con gái của ông lấy chồng ngoại quốc. Ông thầm cám ơn bà Tuyết và ông con rễ cũng bằng tuổi ông sẽ mang hạnh phúc đến cho gia đình ông. Ông cảm thấy phấn khởi cho sự thành công mà gần tháng nay ông đã dự tính. Thỉnh thoảng ông nói chuyện lia thia với bà môi giới đã giúp cho con gái ông từ chỗ nghèo khó trở thành giàu sang trong nháy mắt. Con gái ông rồi sẽ cai quản tài sản của chồng, thế nào gia đình ông cũng được chia chát chút ít. Mai mốt lão chàng rễ già nua kia qua đời, con gái ông sẽ sở hửu khối tài sản của chồng để lại. Rồi ông thầm suy tính số nữ trang Hồng đang có trên người cũng đã là một số tiền rất lớn, mà cuộc đời ông chưa bao giờ nghĩ đến để có được. Rồi sau tiệc cưới ông sẽ có trong tay hai ngàn đô la nữa, hơn ba mươi triệu đồng Việt Nam theo như lời hứa của bà Tuyết. Ông nghĩ rằng bà Tuyết cũng sẽ có một số tiền mà ông con rễ của ông trả công. Có tiền ngày mai ngày mốt ông sẽ đưa vợ đi chữa bệnh. Cuộc sống gia đình nghèo khó vất vả sẽ không còn. Ông không phải còn đi làm thuê cơ cực ngày có ngày không. Mấy đứa nhỏ tiếp tục đi học. Nhất định là con gái của ông sẽ cung cấp tiền bạc, sẽ xây nhà, sẽ mua lại ruộng vườn và còn nhiều thứ nữa một khi nó là vợ của đại thương gia Yoonun. Ông Năm mĩm cười mãn nguyện nhìn mọi người trong giữa bữa tiệc với ánh mắt rạng rỡ tràn trề niềm vui trước viễn tượng cuộc đời đang chuyển hướng tốt.

Ông vẩy Hồng đến bên cạnh : – Mày thấy chưa hả Hồng ? Tao tính đâu là ra đó. Trước đây mày cứ khăng khăng từ chối. Bây giờ thì có ai bằng được như mày lúc này hả con ?

– Hồng lại phân trần : – Ba chỉ nhìn thấy đó rồi nói đó. Chứ con thấy thế nào đãy. Ông ấy già bằng tuổi ba, ông ấy ghê lắm ba à ! Trời ơi ! con tởm ổng quá.

Ông Năm thầm hiểu ý con gái muốn nói gì rồi và tỏ ý thương xót : – Thôi, thì mày cứ ráng đi, có chết chóc gì đâu mà sợ, già với trẻ. Có tiền là có hạnh phúc, có được tất cả. Cả nhà đang trông vào mày đó Hồng ơi. Mày nghĩ coi, tụi trai tráng ở dưới quê làm gì cho ra hột xoàn để mày đeo. Nghìn đời cũng chưa có nổi. Lúc còn con gái má mày cũng ước hột xoàn làm gì có mà đeo. Tao đâu có tiền sắm cho bả.

Hồng chống chế : – Con là con gái mới lớn lên mà ba, con chỉ thích lấy chồng đồng trang lứa. Hơn nữa, con không thích lấy chồng nước ngoài, lại quá lớn tuổi. Thanh niên Việt Nam đâu có thiếu gì, bạn bè rồi chúng cười chê con là ế chồng, đi đâm đầu lấy Đại hàn, Đài loan, Trung quốc, Hồng kông, Kampuchia…toàn là bọn già nua, đui, què, mẻ, sứt, bất lực, ngu dốt, nghèo hèn, đần độn, cụt tay, cụt chân, mất năng lực…

Ông Năm nạt ngang : – Mày có im cái mồm không Hồng ? Ông Yoonun là đại thương gia đâu phải dân nghèo. Đại thương gia nhất định là giàu có. Cứ lải nhải mãi chuyện gì đâu không. Người ta khác, mình khác con ạ.

Vừa lúc Yoonun bước đến nắm tay Hồng kéo đi. Ông Năm muốn nói một điều gì đó với ông con rễ mà nói không được, ngôn ngữ bất đồng. Thôi thì cứ ngậm miệng ăn tiền. Ông chỉ cười, nụ cười vừa gượng gạo vừa sượng sùng. Hồng cũng không nói được gì, quay mặt đi như muốn tránh những ánh mắt soi bói nhìn nàng. Yoonun cười lớn nhìn ông Năm với ánh mắt khinh miệt, lão ta xổ một tràng tiếng Hàn dài ngoằn ngoèo nghe chói tai rồi lại ôm choàng lấy Hồng hôn say sưa truớc mặt những người trong gia đình ông Năm. Ông Năm quay mặt đi trước cảnh lộ liễu ấy. Thực khách lại vỗ tay ầm ỉ lẫn tiếng dô ! dô ! nham nhỡ. Bàn tiệc đậm đặc mùi rượu, thuốc lá, pha trộn những giọng cười hô hố của những tên Đại hàn, Đài loan xa lạ. Hồng nghe rờn rợn cả người. Thật ghê tởm, như muốn nôn mửa…!

Tiệc cưới tàn dần sau những ngày tháng kế tiếp Hồng bị giam hãm trong một ngôi nhà ở ngoại ô Saigon. Ngôi nhà có nhiều phòng riêng biệt. Ngoài căn phòng mà Hồng bị nhốt trong đó, bà Tuyết và Misano có một phòng khác. Họ thực sự không ăn ở tại đây, nhưng họ luân phiên có mặt để coi ngó và canh chừng những cô gái lấy chồng Đại hàn, Đài loan cũng đang bị nhốt tại đây.

Hằng ngày Hồng bị bắt buộc học tiếng Hàn do Misano hướng dẫn. Cơm nước ăn ở ngay trong phòng. Hồng cũng như các cô gái ở đây không được ra khỏi nhà, không được tiếp xúc với nhau. Cần điều gì chỉ được hỏi Misano hoặc bà Tuyết, không được tự ý làm bất cứ điều gì mà không xin phép. Lão chồng già Yoonun thường đến ban đêm chỉ để thỏa mãn dục vọng với Hồng cho đến sáng hoặc đến nửa đêm rồi chuồn mất. Có khi lão đến bất ngờ ban ngày nồng nặc mùi rượu và Hồng phải chịu đựng những giờ phút làm tình của lão. Những lúc kề cận bên nhau, chồng nói chồng nghe, vợ nói vợ nghe vì hàng rào ngôn ngữ bất đồng. Hồng thường bị ăn đòn vì những thái độ không vừa ý với Yoonun. Càng ngày Hồng càng bị đối xử tồi tệ.

Hằng tuần Hồng chỉ được nói chuyện điện thoại với gia đình ở quê năm mười phút dưới sự giám sát của bà Tuyết. Những lần đó ông Năm nhắc Hồng nhờ bà Tuyết hỏi số tiền mà Yoonun hứa sau tiệc cưới để đưa mẹ đi chữa bệnh. Bà Tuyết trả lời là ông Yoonun đang kẹt tiền, chịu khó chờ. Chờ rồi chờ mà thôi. Có những lúc Hồng phân vân suy nghĩ về thực tại trước mặt. Trước sau là điều duy nhất nàng đã phải cam tâm bán rẻ tấm thân để mong cứu vớt gia đình, cứu mạng người mẹ. Không lẽ họ lừa dối, dàn cảnh để dụ dỗ chiếm đoạt nàng. Không lẽ họ chia nhau hưởng thụ không những trên thân xác mình mà ngay cả người thân trong gia đình đang trở thành những nạn nhân nghèo đói bần cùng.

Một tháng trôi qua, đột nhiên lão chồng già không đến với Hồng như thường lệ. Hồng cảm thấy có điều gì bất thường đang xảy đến. Hồng lo sợ, quyết gặp bà Tuyết hỏi cho ra lẽ :

– Ông Yoonun bận việc gì mà không thấy đến hả dì ?

– Ông ấy về nước được tuần rồi. Mà con hỏi làm gì, nhớ ông ấy rồi hả ?

– Chừng nào chồng con trở lại Việt Nam để đưa con về bên ấy ? Sao dì không nhắc ông ấy về dưới quê ký giấy kết hôn mà trong tiệc cưới ông ấy đã hứa, dì còn nhớ chứ ?

Bà Tuyết giọng đanh đá : – Mày ngu lắm Hồng ơi ! Lấy thì lấy, mà bỏ thì cứ bỏ. Có ký mười lăm hai mưoi giấy kết hôn cũng bằng thừa con ạ. Mày chẳng có quyền đòi hỏi điều gì. Đúng là mày đồ ngu.

Hồng sửng sốt trước lối nói hàng hai, phách lối : – Dì nói thế nghĩa là thế nào hả dì ?

Bà Tuyết quắc mắt, sừng sộ : – Đồ ngu ! Vậy mà cũng hỏi. Chờ lão chồng già qua mà hỏi.

– Chừng nào ông ấy qua hả dì ?

– Không biết.

– Còn số tiền hai ngàn đô la ông ấy hứa chừng nào mới có hả dì ? Má con đang bệnh nặng cần tiền chữa bệnh, dì biết chứ ?

Bà Tuyết nổi nóng, gầm lên : – Mẹ mày bệnh thì mẹ mày bệnh đâu can dự gì đến tao hả con kia. Còn chuyện gì thì hãy chờ lão chồng già của mày trở qua mà hỏi. Công việc làm ăn của bọn tao coi như đã trọn gói với mày rồi theo hợp đồng với Yoonun.

Hồng cảm thấy choáng váng chóng mặt. Nàng muốn bật khóc trước sự gian ác của người đời. Hồng bậm môi cố dằn cơn tức giận và nước mắt đang trào ra. Vừa lúc ấy bà Misano bước vào phòng nói nhỏ điều gì với bà Tuyết.

Chập sau, bà Tuyết dịu giọng với Hồng : – Này Hồng, dì nói con nghe nhé. Dì cho con trở về dưới quê tìm vài bạn gái dẫn lên giới thiệu cho dì. Thành công, dì sẽ lo cho con lấy số tiền hai ngàn đô la, lo giấy tờ kết hôn, và lo cho con về với chồng ở Hàn quốc.

Hồng nghĩ thầm, à ra chúng nó lại đang dụ khị mình đây. Giờ thì Hồng chẳng còn tin những lời hứa đầu môi chót lưỡi của mấy mụ môi giới này nữa. Nàng uất người nói xối xả :

– Bà đừng có hòng tôi làm điều đó. Chẳng bao giờ và không bao giờ tôi để cho một người con gái nào khác sẽ phải đau khổ lọt vào cái ổ nhền nhện này. Xã hội này đang băng hoại và đảo điên tột cùng bởi những bàn tay nhơ nhớp bẩn thỉu của các bà. Tôi sẽ đi thưa để công lý xét xử.

Bà Tuyết trề môi, kênh kiệu : – Đừng con ạ, thưa với kiện mà làm gì. Ai cũng như ai, ăn thì ăn đồng loạt, có trên có dưới, lấy ai mà xét xử. Tiền mà, ai lại không ham. Đụng đến là tan xương nát thịt đó con ạ.

– Được rồi, bà không thách tôi cũng làm cho bà coi.

Hồng vừa dứt tiếng nói liền bị bề hội đồng, đấm, đá, tát vào mặt mày nàng liên hồi. Hồng không kịp chống đở. Nàng ngã quỵ xuống sàn nhà bất tĩnh. Văng vẳng bên tai tiếng nói của bà Tuyết :

– Bà sẽ nhốt mày trong phòng này cho mày chết rục xương để xem mày làm gì cho biết. Đồ phản chủ !

Tiếp theo là giọng cười chát chúa nghe thật rùng rợn.Tiếng khóa cửa bên ngoài lắc cắc và im lặng.

Suốt buổi chiều và đêm hôm qua Hồng tỉnh dậy và cảm thấy nhức nhối ê ẩm toàn thân. Bụng đói, đôi môi khô cứng. Lại thêm một ngày nữa đi qua, không được ăn uống, không được làm vệ sinh, không ai hỏi han, tứ bề vắng lặng thật ghê rợn. Hồng như đang bị cách ly với đời sống bên ngoài. Trước thực tế này không lẽ nằm chờ chết, và nàng đang suy tính tìm cách trốn thoát. Nhìn quanh quẩn chung quanh phòng để tìm một tia hy vọng nhỏ nhoi tự cứu bản thân nhưng vô phương. Kêu la, cầu cứu chẳng ai nghe mà còn có thể bị đòn roi, đấm đá. Chắc chắn họ không còn đối xử tình người với nàng trước món đồ mua bán, trục lợi và hưởng thụ.

Hồng quyết liệt liều mạng bằng tất cả sức lực để trốn thoát khi có cơ hội. Phải rời khỏi nơi này ngay để đem số nữ trang mà Yoonun đã đeo vào người Hồng trong tiệc cưới để bán đi chữa bệnh cho mẹ. Số nữ trang đem bán, gia đình sẽ có một số tiền lớn giải quyết mọi chuyện cần thiết. Sau đêm tiệc cưới Hồng đã cẩn thận gói tất cả số nữ trang vào một mảnh vải nhỏ và luôn luôn cất giữ trong người. Nàng biết rằng đó là của riêng mà Yoonun đã tặng cho mình. Thường lệ những lần kề cận với lão già Đại hàn, Hồng chỉ lo ngại Yoonun để ý hỏi đến số nữ trang trong tiệc cưới. Nhưng tuyệt nhiên chuyện ấy không bao giờ xảy ra kể cả hai bà môi giới đang canh chừng kiềm kẹp Hồng. Họ không mảy may chú ý hỏi han, Hồng càng an tâm và vững tin số của có được đã như đánh đổi cuộc đời con gái trong trắng thật rẻ mạt. Thôi thì được gì, mất gì đều do sắp đặt của định mệnh. Thoát khỏi nơi này rồi tìm cách liên lạc với chồng, dù sao một ngày gần nhau cũng là tình nghĩa.

Bảy giờ tối. Hồng miên man trong những suy nghĩ chập chờn thì cơ hội đã đến. Tiếng mở khóa lách cách bên ngoài cửa phòng. Hồng vụt ngồi dậy tiến nhanh tới cửa vừa lúc bà Tuyết bước vào phòng. Hồng vận dụng tất cả sức mạnh bất ngờ xô mạnh bà ta té ngã chúi nhủi vào góc phòng, rồi thoát nhanh ra ngoài, đóng mạnh cánh cửa và khóa lại. Tiếng thét gầm của bà Tuyết vọng ra nghe thật khủng khiếp. Hồng chạy vút ra đường lộ và lẩn nhanh vào đêm tối ẩn mình, lần mò tìm phương tiện về Saigon.

Sau hai ngày Hồng mới về đến quê. Ông Năm và cả nhà mừng rỡ khi thấy Hồng trở về sau gần hai tháng xa nhà. Đến lúc nhìn sắc diện tiều tuỵ của con gái, người gầy rạc, quần áo thốc thếch cả nhà đâm ra lo lắng, xót xa hỏi nàng tới tấp. Những người hàng xóm tò mò kéo đến, ông Năm đóng cửa ngõ và xua đuổi họ về nhà.

Hồng nằm vật xuống giường khóc thãm thiết. Nàng lần lượt kể rõ mọi chuyện. Cuối cùng nàng đưa số nữ trang cho ông Năm và tức tưởi nói trong tiếng khóc:

– Cuộc đời của con chỉ còn có bao nhiêu đó. Ngày mai ba đem bán chữa bệnh cho má con. Nếu dư ra thì lo cho gia đình.

Ông Năm buồn buồn cầm gói nữ trang từ tay Hồng và mở ra. Đôi mắt ông sáng lên khi thấy sợi dây chuyền có mặt hột xoàn, chiếc nhẩn nạm bốn hột xoàn nhỏ óng ánh, đôi bông tai cũng hột xoàn mà trong buổi tiệc cưới hơn hai tháng qua ông đã nhìn thấy. Ông cũng đã ước tính nếu bán đi sẽ có được một số tiền lớn ngoài sức tưởng tượng mà suốt cuộc đời ông chưa bao giờ nhìn thấy. Ông Năm đang có suy nghĩ rất nhanh cho những gì sẽ phải làm.
Trên chiếc giường tre ọp ẹp phía bên trong, bà Năm với thân hình gầy đét, vừa nghe nói đến hột xoàn bà cũng ráng gượng ngồi dậy lê từng bước mệt mỏi đến bên cạnh chồng chộp lấy số nữ trang trong tay chồng rồi đưa lên tận mắt để quan sát, nhìn cho rõ.

Tiếng Hồng nghe mệt mỏi : – Ba à, bây giờ con cảm thấy lo sợ. Bà Tuyết dám đến đây làm giặc với gia đình mình. Chắc chắn như vậy,

Nghe con gái than thở, ông Năm trấn an : – Có gì phải sợ con mẹ đó. Bà ấy mà đến đây hả, tao báo công an xã đến còng đầu nó về tội hành hung và lường gạt.

Bà Năm ngập ngợ nhìn ông Năm và Hồng : – Sao tui thấy hột xoàn…kỳ cục quá nè ! Dám hột xoàn giả lắm ông ơi ! Cả sợi dây chuyền, chiếc nhẩn và đôi bông nữa.

Ông Năm hứ một tiếng trấn áp vợ : – Bà biết gì giả với thiệt. Cả đời bà có nhìn thấy nó đâu mà dám cho nó là giả. Không lẽ ông ấy lại đi lường gạt…mình.

Nghe cha mẹ phân bua hột xoàn giả, thiệt, Hồng giựt mình phân vân. Thật ra thì cả nhà chẳng có ai cả đời nhìn thấy được hột xoàn bao giờ. Hồng như chợt nhớ ra điều gì, nàng nói nhanh :

– Chính bà Tuyết đã nói với con trong tiệc cưới là ông Yoonun đã nhờ bà và Misano đi mua số nữ trang này.

Ông Năm bật ngửa người hốt hoảng : – Thôi rồi !..mà chắc gì…có thể họ dở trò ma giáo….mà không biết ai đây.

Ông Năm vội lấy chiếc lá đội lên đầu, réo Hồng : – Đi ! đi với tao để rõ thiệt hư. Tao nóng lòng muốn biết ngay.

Tại tiệm kim hoàn, người chủ tiệm sau khi xem xét kỹ đã bảo với cha con ông Năm số nữ trang này là đồ giả. Bây giờ ông Năm mới cảm thấy choáng váng. Miệng ông há hốc, đôi môi run run, mắt nhìn trân trân vào số nữ trang mà ông đã đặt hết kỳ vọng. Ông lảo đảo bước ra khỏi tiệm như người mất hồn bên cạnh đứa con gái đáng thương đang khủng hoảng tinh thần không còn nói được lời nào. Trước mặt hai người cảnh vật mờ ảo, lung linh…

Những ngày sau đó, bầu không khí trong gia đình hết sức nặng nề và ảm đạm. Hồng bắt đầu oẹ mửa, triệu chứng có thai, kết quả của một chịu đựng miệt mài từng đêm với lão già Hàn quốc chỉ cố mong sao có được tiền cứu vản gia đình. Trước thãm cảnh gia đình đen tối suy sụp, Hồng hoàn toàn bất lực . Ông Năm mỗi ngày càng ít nói, lầm lì. Hằng ngày ông lặn lội làng trên xóm dưới tìm việc làm. Những lúc rảnh rổi ông uống rượu liên miên giải sầu. Ông tự cảm thấy bất lực trước gian kế tinh vi của người đời. Ông mặc cảm tội lỗi đã trót tiếp tay hãm hại đời con gái của ông cũng chỉ vì cái nghèo, vì luân lý suy đồi của xã hội nhiễu nhương, điên đảo đã nảy sinh những tệ trạng hư hỏng chỉ có dân nghèo hứng chịu triền miên.

Cái thai mỗi ngày mỗi lớn dần làm cho Hồng càng mệt mỏi. Hằng ngày Hồng đạp xe đi khắp các vườn mua góp trái cây chở ra chợ bán. Hồng cố gắng dành dụm tiền để lo sinh nở. Đôi lúc Hồng có suy nghĩ lên Saigon tìm hai bà môi giới hỏi thăm tin tức của chồng xin họ giúp đở vài điều cần thiết, nhưng chỉ suy nghĩ mà không dám thực hiện.

Hồng mướn người gọi điện thoại bằng tiếng Hàn, mướn người dịch thư ra tiếng Hàn gởi cho chồng yêu cầu Yoonun qua Việt Nam ký giấy kết hôn, lo đứa con sắp sanh và đưa vợ con về Hàn quốc. Thế nhưng đã mấy lần gọi điện thoại, đã mấy lá thư gởi đi nhưng không được hồi âm. Đã không kết quả gì mà còn phải chi mất một số tiền lớn Hồng phải vay mượn người khác. Có người chỉ dẫn ông Năm và Hồng làm đơn tố cáo, nhưng đơn gởi đi nhiều tháng cũng chưa thấy Nhà Nước hỏi han cứu xét.

Trước cảnh khốn cùng mất trắng của gia đình và bệnh tật trầm trọng không thuốc men, bà Năm qua đời khi Hồng gần đến ngày sanh.

Quá đau đớn cho những cơn uất hận dồn dập phũ chụp xuống gia đình đã không kiềm chế được, vừa nghe tin bà Tuyết từ Saigon về, ông Năm tức tốc tìm đến nhà để vấn tội bà dụ dỗ rồi đánh đập Hồng, vụ nữ trang giả, và nhất là số tiền hai ngàn đô la mà Yoonun hứa cho gia đình ông có thể bà ta cuỗm mất để tất cả đã làm cho gia đình ông mất trắng.

Thấy cha đi một mình, Hồng tất tả chạy theo. Vì sức yếu thế cô, ông Năm đã bị bọn lâu la của bà Tuyết bề hội đồng một trận ngã sấp xuống đất bất tỉnh , mặt mày bê bết máu, thương tích đầy người. Hồng nóng lòng bênh cha, cũng bị bọn chúng đánh đến sẩy thai phải đi nằm bệnh viện.

Kết quả giấc mơ đổi đời đã hoàn toàn mất trắng. Giờ đây giữa khu xóm nghèo tăm tối, cứ vào khoảng nửa đêm, dáng ông Năm như một bóng ma trơi, ông ngồi bệch giữa sân nhà gào thét chửi bới. Ông chửi lũ quan to quan bé chăn dắt dân chỉ biết ăn trên ngồi trốc vơ vét đầy túi tham mà không bao giờ đếm xĩa giải quyết những khiếu cáo, khiếu kiện của người dân thấp cổ bé miệng, không ngăn chặn trừng trị và không can thiệp khi người dân bị áp bức khủng bố. Ông chửi cái chế độ mục nát đã dung túng bao che những tệ nạn xã hội, bán trôn nuôi miệng đang tràn lan cùng khắp như một dịch bệnh. Ông chửi lũ cai trị bất lực không ngăn chặn, nghiêm trị và còn toa rập tệ trạng buôn bán, dụ dỗ phụ nữ Việt Nam đi làm nô lệ tình dục ở nước ngoài. Ông chửi ….và ông chửi….một cách vô vọng, vô tội vạ….tiếng chửi bới, gào thét của ông vang vọng trong màn đêm tăm tối, rồi chìm sâu vào bóng đêm, nào ai có biết. Chỉ có Trời biết mà thôi !

Nguyễn Thế Hoàng

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

THƯƠNG TỘI ÐỜI NHAU


đêm đông sầu sao rơi xuống mau
như linh hồn ai than khóc lâu
vất va nhung nhớ người dương thế
thiên thu còn thương tội đời nhau
(TTBG)

Khi lật xong các lá bài đang bày trên bàn, bà thầy bói nhìn thẳng vào tôi, nói ngay:

“Cô có một người âm theo đuổi từ khi còn rất trẻ. Vì vậy, cuộc đời cô long đong không dứt.”

Bà cúi xuống, ngẫm suy theo những con chuồn, con bích… xong, miệng mồm lưu loát:

“Người âm này rất thương yêu cô, vừa theo phù trợ và cũng theo mà phá. Cô cứ ngẫm lại trong đời, xem có phải rằng, khi cô lâm vào cảnh đau khổ thì tự dưng bạc tiền, danh vọng ào ào đưa đến? Còn khi gặp một tình yêu nào đó và nhất là yêu đáp trả đối tượng, không bao giờ cô hưởng thụ được trọn vẹn hạnh phúc của cô?”

Tôi ngồi im. Xưa nay tôi vốn rất tin tử vi, nhưng lại xem môn bói bài là cái trò dị đoan vớ vẩn. Bữa nay, tâm tư tuyệt vọng quá theo sự ra đi của chồng tôi, tôi như kẻ chết đuối vớ được mảnh ván tàu, tìm đến nhà bà thầy bói dưới sự hướng dẫn của một người bạn.

Bà thầy bói vẫn cúi xuống mặt bàn, ngón trỏ của bàn tay phải có chiếc móng nhọn màu đỏ, chỉ chỉ đếm đếm trên từng lá sắp thành hàng thẳng. Một lát bà hỏi:

“Cô thử nhớ lại trong thời tuổi trẻ có từng làm khổ ai để người ta phải chết?”

Tôi không đáp, trí óc đảo nhanh ý nghĩ: “Người âm nào đây? Anh Chàng, anh Thùy, hai người đàn ông chết trẻ, đã từng yêu tôi khi tôi vừa mới lớn?” Tôi không biết được.

Tiếng bà thầy bói ra tuồng khẳng quyết:

“Cái số rất đào hoa. Chẳng những người sống theo đếm không hết, mà cả người chết cũng cứ mãi còn theo ám ảnh.”

Bà cúi xuống, rồi ngẩng lên nhìn thẳng tôi:

“Đôi mắt rất đẹp, hắc bạch phân minh. Vì vậy, dẫu đào hoa mà vẫn giữ được tâm hồn đoan chính. Nhờ có người âm theo, nên từ trước, gặp nhiều tai nạn, cô vẫn được bất ngờ cứu sống, trong khi với kẻ khác sẽ không thoát nổi cái chết đâu.”

Những lời bà thầy bói không hẳn rằng sai. Xưa nay trong đời tôi, quả có thế thật. Ba lần bể đầu vì ba nguyên nhân khác nhau, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Ba lần tự sát. Năm bảy lần bị những vết thương không gọi là nặng nhưng cũng phải thời gian dài cơn đau mới dứt. Lại còn những mối tình của đàn ông dành cho thì nhiều vô số! Ôi! Chuyện tình yêu đối với ai là hoa là mộng, còn với tôi chỉ là sự ghép liền những mảng tâm hồn tan nát, trở nên một ấn tượng đậm nét, đến nỗi tôi đâm sợ mỗi lần nghe ai đó ngỏ với tôi lời nói yêu đương!

“Người âm này tướng tá rất đẹp, uy nghi lẫm liệt. Đây này, cái con Coeur Vua nói lên điều ấy. Cô nhớ lại đi, có ai từng yêu cô và đã chết?”, bà thầy bói không nhìn tôi, nhận định và đặt câu hỏi tiếp.

Tôi vẫn không đáp. Bỗng dưng như không còn nghe và hiểu gì nữa những lời người đàn bà trước mặt cứ huyên thiên lưu loát; trong ký ức tôi, thật bất ngờ như một bóng ma, hình ảnh người đàn ông gần ba mươi năm xưa sừng sững hiện ra.

I.

Anh gốc người Chàm, là bạn thân của ông anh cả, trọ học trong nhà mẹ tôi một thời gian dài, khi tôi còn bé. Dáng anh cao lớn, da màu đen sẫm, vẻ đường đường quắc thước. Thuở nhỏ, tính nết tôi vốn trầm buồn khép kín, vì vậy, khác với ba cô em gái, tôi gần như không bao giờ muốn nhờ anh giúp cho bài làm hay trò chuyện thân mật cùng anh.

Sau khi xong Đại Học, anh rời nhà tôi.

Bẵng vài năm, một buổi chiều, thời gian tôi 18 tuổi, đi học về, nhìn thấy anh đang ngồi trong phòng khách. Nhận ra tôi, anh đứng lên, mừng rỡ:

“A Thu Vân đây sao? Lớn quá!”

Và anh giơ cả hai tay đặt lên vai tôi, lắc nhẹ. Thốt nhiên tôi nghe toàn thân tê dại. Lần đầu tiên trong đời có bàn tay đàn ông lạ chạm vào thân thể, hệt như luồng điện giật. Tôi ngước nhìn anh. Dáng anh đã cao lớn, bấy giờ lại càng cao lớn hơn trong bộ quân phục Nhảy Dù với lon Trung úy trên vai, màu vàng đục ẩm. Anh rút tay về, vòng trước ngực, lùi lại một bước ngắm tôi, mỉm nụ cười ấm áp:

“Xinh quá! Nhưng cô bé có hay khó chịu như ngày nhỏ?”

Mẹ tôi xen vào lời đáp:

“Bây giờ giỏi lắm, nấu ăn ngon và đàn cũng rất hay!”

Tôi xấu hổ bước nhanh vào nhà trong, trái tim đập mạnh. Một tình cảm bất ngờ rung lên như điệu nhạc cuồng trong cơn lốc.

Suốt buổi chiều hôm ấy, tôi không dám nhìn anh, cũng không nói gì, dù rằng tôi được xếp ngồi cạnh anh nơi bàn ăn có trải khăn màu trắng. Những câu chuyện vang lên vui vẻ giữa anh và người anh lớn. Tất cả gia đình tôi đều tỏ ra hân hoan đón chào anh, như thể với một đứa con vừa trở về từ chiến trận xa xôi.

Đêm đến. Những ngọn đèn trong phòng khách được bật lên hết. Màu ánh sáng tỏa ra nỗi niềm ấm áp. Mấy chị em tôi vây quanh, nghe anh kể chuyện. Thuở xưa khi còn bé, chúng tôi vẫn thường được anh làm cho điều ấy. Cả bọn như uống từng câu nói về các cuộc hành quân, các lần vào sanh ra tử của anh trên nhiều chiến trường sôi động miền Trung. Các cô em đua nhau đặt ra nhiều câu hỏi. Còn tôi chỉ im lặng nhìn anh.

Có một lúc, anh bỗng dưng ngưng tiếng, bật lên câu ngợi khen, pha phần sửng sốt:

“Thu Vân có đôi mắt buồn và thu hút quá!”

Tôi cảm nghe một luồng khí nóng bao trùm nhanh thân thể. Anh cười, tiếp:

“Mấy thằng bạn anh đứa nào cũng độc thân vui tính. Có thằng con nhà rất giầu mà vẫn mồ côi, chưa đào địch. Hôm nào anh đem cuốn album khóa 20 Võ Bị đến, Thu Vân nhìn mặt, xem vừa ý đứa nào, anh sẽ làm ông mai, tha hồ anh em mình chia nhau quà đút lót.”

Và cười to, anh tiếp:

“Mấy thằng đó mà mết em gái anh, mết luôn tiếng đàn thì chỉ có nước cúc cung trà nước cho anh!”

Tôi xấu hổ, cúi đầu cười mỉm.

Khuya hôm ấy, trọn căn nhà lắng im trong giấc ngủ, chỉ mình tôi thức nơi bàn học. Ngoài hiên, hai người bạn cũ đang ngồi với nhau. Chen lẫn giữa tiếng guitare trên tay anh khẩy nhẹ từng âm thanh mỏng là giọng nói Phan Rang ấm áp của anh và cái giọng Huế pha Sàigòn của anh tôi, khề khà vui vẻ. Câu chuyện hai người bạn vô tình lọt vào tai khi tôi đang cúi mình nơi bàn học.

Tiếng anh tôi hỏi:

“Tại sao mày bỏ học ngang để vào lính?”

Anh đáp nhỏ:

“Thứ nhất, nhà tao nghèo quá. Thứ hai, có một lẽ quan trọng như một mối tâm huyết từ bé tao đã cưu mang: ”Khôi phục lại đất Chàm!””

Tôi chợt nghe lòng bâng khuâng vô cớ.

“Mày có nghĩ đó là một điều khó thể thực hiện?”

Tiếng anh trầm hẳn:

“Tao biết! Nhưng đã thế trong tao, quyết không thay đổi. Giờ đây, chỉ gia nhập binh chủng Nhảy Dù mới mong mau lên tướng. Nếu không có quân trong tay, làm sao thi hành được ước vọng riêng?”

Tiếng guitare lại vang lên, làm át đi tiếng thì thầm trò chuyện. Các dòng chữ trên quyển sách trước mặt tôi đâm thành rối beng, thừa thãi. Tôi nhìn ra ngoài trời. Bầu trời tối như đêm 30 Tết. Tôi hơi nghiêng người về hướng hành lang, chăm chú lắng tai.

Giọng anh cố làm cho nhỏ:

“Đúng! Tao vẫn biết, dành lại đất Chàm không phải là điều dễ dàng thực hiện. Nhưng, từ hàng trăm năm qua, dân tộc tao chìm đắm quá sâu trong khốn khổ. Người dân xứ tao phải chịu sống kiếp tha hương ngay trên chính cái nơi đã chôn nhau cắt rốn. Tao may mắn được ăn học tới nơi tới chốn, kiếm ra đồng tiền bằng sự hiểu biết của mình. Nhưng còn vô số những người mù chữ, bao người lớn, con nít hằng ngày không biết lấy gì mà ăn, hằng đêm không đủ tấm chăn đắp cho ấm bụng?”

Trong giọng nói anh, tôi nghe ra một nỗi u trầm đặc biệt. Cái u trầm trong các điệu hát của những người Hời, tuy chưa từng một lần trực tiếp thưởng thức, nhưng tôi có thể tưởng tượng được qua những dòng sử sách viết về dân tộc Chàm. Trong tiếng hát có pha điều thống hận. Phải gọi là tiếng khóc nhiều hơn, phát sinh từ đôi môi của những con người đúng như anh nói: “Đi tìm vùng đất quê hương ngay trên chính cái nơi mình đã sinh ra.”

Anh tiếp:

“Mày là bạn chí cốt của tao, hẳn cũng hiểu tao. Sở dĩ tao đạt được thành quả dẫn đầu suốt trong nhiều năm còn đi học là bởi tao có con đường riêng, không dám chút nào xao lãng. Bây giờ, việc lao vào Nhảy Dù cũng không ra ngoài cái chí hướng ấy.”

Tôi hình dung khuôn mặt chữ điền với cái cằm bạnh, đôi mắt rực sáng khi thốt lên câu trên bằng lối nói pha chút chua cay nhưng cũng đầy hùng tính.

“Tao là một thằng tuổi trẻ, sống trong đất nước Việt Nam đạn bom liên tục. Tao cũng có những suy nghĩ như mày, như mọi thằng tuổi trẻ về tất cả những gì chung quanh đang nhìn thấy, rồi đây sẽ trở thành lịch sử. Nhưng khác mày, khác mọi thằng, trong tao còn có niềm ray rức riêng cho chính những điều dân tộc tao đang hằng ngày chìm đắm. Làm sao tao có thể sống yên với những gì đạt được trong niềm toại ý tầm thường vị kỷ? Cách nào tao tự thỏa thuận với ý nghĩ đem dâng hiến tài năng cho một dân tộc kẻ thù đã từng tiêu diệt dòng giống tao từ hàng trăm năm qua?”

Nghe câu cuối cùng, toàn thân tôi đột nhiên rúng động. Mười tám tuổi mà tôi đã nhận thức được rằng, hoài bão anh rõ ràng vô vọng. Trong óc hiện nhanh hình ảnh tưởng tượng theo cái máy chém bổ xuống trên cổ 13 vị anh hùng Việt Nam Quốc Dân Đảng thời thực dân cai trị. Thời buổi này không còn máy chém. Nhưng, cái pháp trường xử bắn ở gần trường đua Phú Thọ, và cái án khổ sai chung thân nơi Côn Đảo liệu có buông tha nếu một ngày anh thực hiện không thành ước vọng vô cùng của anh?

Đồng thời, một tình cảm rất lạ bất ngờ len lỏi vào trên từng sớ da lớp thịt tôi buổi khuya hôm ấy. Tôi tưởng như vừa bắt gặp được cái gì rất thân yêu từ tiền kiếp nào quá khứ. Từ lâu, khi nhìn thấy những người Chàm ngồi bán buôn rải rác nơi đầu phố chợ khu Hòa Bình, Dalat, trên khuôn mặt tỏa nét buồn chịu đựng, luôn luôn tôi vẫn không rời thoát nỗi niềm xót xa thương cảm. Nỗi xót xa giống như khi đứng trước điều bất hạnh của một người thân mà mình không cách chi xẻ chia cụ thể. Tôi không nghe sợ theo tiếng đồn về những con ma Hời mẹ tôi thường kể. Trái lại, tôi nghĩ, giữa tôi và những con người mất nước ấy, có nhiều điểm tương đồng chưa được dịp tìm ra.

Buổi khuya vô tình nghe lọt tâm sự anh, cái điểm tương đồng này đột nhiên ló mặt, như thể, nếu đưa tay ra, tôi dễ dàng nắm bắt. Chỉ thoáng chốc, tôi thấy mình tự dưng biến đổi. Trái tim co thắt theo một cơn đau bất ngờ phủ chụp. Mối hờn vong quốc của dân tộc Chàm, tôi từng thấm cảm qua các dòng thi ca Chế Lan Viên, bấy giờ càng nồng đượm hơn trong tiếng nói anh chứa đầy u uất. Một thoáng, tâm hồn tôi chợt như rủ xuống. Sự cảm phục về anh nẩy sinh nhanh chóng trong tôi.

*

Từ đó, tôi âm thầm nghĩ đến anh. Hoài bão của anh được tôi đem hòa nhập vào trong từng giấc mơ mỗi tối. Tôi tìm đọc trong các cuốn Sử để nhận biết xót xa ngày càng nhiều hơn số phận đau thương của dân tộc Chiêm Thành. Những chiều tan học, lang thang trên phố Lê Lợi, tìm mua được quyển sách nào có liên quan đến vùng đất một thời lừng lẫy nay đã vĩnh viễn trở thành dĩ vãng, tôi vui mừng như vừa tìm ra của quí. Ôi! Những con ma Hời theo anh, len lỏi vào trí não tôi những đêm trằn trọc. Tiếng gươm tiếng giáo trong các cuộc binh đao xưa lắc quay cuồng giấc điệp. Tiếng gào thét kêu la từ cổ đại, mơ hồ văng vẳng, nhiều đêm khiến tôi khó ngủ. Những khi ấy, đầu óc tôi chỉ tưởng nghĩ đến hình ảnh cái pháp trường Phú Thọ, một ngày nào anh sẽ phải bị bịt mắt trói mình trước những họng súng đang cất cao chĩa thẳng vào anh.

Một buổi chiều tháng 2, từ Mã Lai trở về sau ba tháng tu nghiệp khóa tình báo đặc biệt, anh tìm đến nhà mẹ tôi. Vẫn nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt chữ điền với làn da đen xạm, anh đưa ra chiếc hộp có bọc giấy hoa đẹp đẽ, nghiêng mình trước tôi theo dáng cách một nhà quý tộc:

“Tặng em, để dùng trong dịp trình diễn sắp tới!”

Tôi mở nắp hộp. Một chiếc áo dạ hội bằng lụa màu xanh nước biển bung ra dịu dàng dưới bốn đầu ngón tay tôi đang chụm lại. Mùi vải thơm quyện nhanh nơi mũi. Bỗng dưng tôi thốt rùng mình vì búp hoa hồng màu đen rộng bản có hai giải băng dài, đính ngay ngực áo. Cái màu ghê rợn nói lên điềm gở nào không biết. Tôi cứ vậy mà ngẩn ra, đôi mắt không rời thoát được cái màu đáng sợ kia.

Tiếng anh trầm ấm:

“Chính tay anh chọn nó bởi anh biết em rất yêu màu xanh.”

Rồi anh hát nhẹ:

“Anh mong chờ mùa thu,

Màu áo xanh hiện về với giấc mơ…”

Xong lại mỉm cười:

“Trong cái tên em, có mùa thu. Màu xanh lại là màu em yêu mến. Sao? Chiếc áo có làm em thích?”

Tôi gật:

“Dạ, áo đẹp lắm, nhưng em nói thật, cánh hoa hồng làm em sờ sợ.”

Anh bật tiếng cười:

“Cô bán hàng đưa cho anh chiếc áo trắng có hoa màu đỏ, nhưng anh thấy màu đen nổi bật làm chiếc này trội hẳn.”

Giọng anh vỗ về:

“Em không nhớ câu chuyện Bông Cúc Đen ngày nhỏ? Bây giờ không phải bông cúc, mà bông hồng đen mới là đặc biệt.”

Tôi cố nở nụ cười theo điều anh vừa nói mà thật thì tâm tư lửng lơ nghĩ ngợi. Rồi không dám nhìn lâu chiếc áo, tôi đem treo nhanh nó vào trong tủ, lòng tự nhủ “sẽ không bao giờ dùng đến”, cho dù trong ngày trình diễn như ý muốn của anh.

Sau buổi cơm, anh ngồi lại trò chuyện với riêng tôi. Từ lâu nay, đôi lần về phép, anh vẫn ghé nhà tôi. Dấu nét tình cảm nào đó ẩn hiện trên anh -và cả trên tôi- là bằng chứng cho những người thân lịch sự rút lui nơi khác, dành lại cái không gian ấm áp của căn phòng khách cho hai chúng tôi phô bày nhiều câu chuyện. Ánh mắt anh rạng rỡ:

“Bao giờ em ra trường?”

“Khoảng đầu tháng 6.” Tôi đáp:

Và nói thêm:

“Sau đó, sẽ phải làm một buổi độc tấu nếu như em đoạt thủ khoa trong kỳ tốt nghiệp.”

Anh gật:

“Anh tin em đoạt được. Anh sẽ cố lấy cái phép về Sài- gòn trước ngày em trình diễn.”

Vẻ thật tươi, anh tiếp:

“Nhưng anh chẳng có áo quần nào lịch sự ngoài vài bộ áo hoa rừng, không biết có làm em xấu hổ?”

Tôi ngước nhìn anh, im lặng. Anh bật cười to, điệu hào sảng:

“Đó! Cô bé lại khó chịu y như ngày nhỏ. Anh sẽ về mà! Về để nghe em đàn! Trên sân khấu, em hãy nhớ rằng, có một người lính Dù đang đứng trong góc tối, lắng nghe tiếng đàn em một cách thật trang trọng…”

Ngừng một nháy, anh tiếp:

“… Trang trọng hơn bất cứ vị khách lịch sự nào trong các bộ complet!”

Kể về cuộc sống liên miên các trận hành quân dữ dội, anh tâm sự:

“Anh rất ghét chương trình Dạ Lan, truyền thanh mỗi tối trên đài Quân Đội. Với anh, đó chỉ là một kiểu tâm lý chiến làm lũng đoạn tinh thần người lính, hoàn toàn không đem lợi ích gì cho họ. Trong trung đội anh, tên nào bị bắt gặp đang nghe đài Dạ Lan là anh buộc đi ứng chiến ngay.”

Rồi giải thích:

“Ứng chiến có nghĩa là không được động đậy, chỉ nằm mai phục một xó giao thông hào, bọn Việt Cộng chẳng thể tìm ra địa điểm. Vì vậy, làm sao còn nghe radio cho được?”

Anh vẫn tự nhiên cười nói -các câu chuyện của anh thường rất sống động- và tôi vẫn tính nết nhu mì khép kín. Giữa hai chúng tôi chưa hề tỏ cho nhau thấy chút gì quá đà trên giới hạn giao thiệp. Tôi chẳng một lần nghe anh buông lời suồng sã. Cũng chưa hề bao giờ anh dám nắm lấy tay tôi. Luôn luôn, trong mọi lời nói, cử chỉ, anh đều tỏ nên một sự tôn trọng vô cùng đặc biệt. Nhưng, tự âm thầm đâu đó trong tiếng đập của trái tim, cả anh và tôi đều biết rằng có một tình yêu vừa độ lên ngôi.

Những câu chuyện buổi tối hôm ấy làm loãng tan dần trong đầu tôi nỗi ám ảnh theo cánh hoa hồng màu đen ghê rợn. Đêm đang độ mùa trăng. Ánh trăng rằm vằng vặc trải kín trong sân những luồng sáng màu bạc, nhẹ nhàng hư ảo. Tôi kể cho anh nghe những điều vẩn vơ trong cuộc sống học đường đầy tính lãng mạn. Đổi lại, anh không giấu tôi các sinh hoạt bạn hữu và cuộc sống chiến chinh.

Tuy nhiên, có nhiều khi, một giây thật ngắn, anh chợt ngừng lại, nhìn mông lung ra ngoài cửa sổ. Những khi ấy, khuôn mặt anh đột nhiên biến đổi, đôi mắt lắng trầm trong cái hố cùng suy tưởng. Trông anh thật xa, xa đến chừng như không thể nào vói tới. Trong ý thức mờ tối của một đứa con gái ngây thơ, tôi thốt nhiên sợ hãi. Con người yêu dấu trước mặt không phải sinh ra để dành cho tôi. Anh thuộc về đại đồng của một dân tộc giờ đây đã vĩnh viễn bị xóa tên trên bảng đồ thế giới. Cái tâm sự riêng, anh không ngờ tôi đã tỏ. Và đó chính là điều vừa như thắt chặt tấm tình tôi, lại cũng vừa tạo nên trong tôi cái ấn tượng mạnh mẽ rằng “cho đến cuối đời, tôi và anh vẫn chẳng thể đi trên cùng một con đường với nhau.”

Tiếng anh cơ hồ phấn khởi:

“Anh còn bà mẹ già và một người chị, lớn hơn hai tuổi. Nhà anh nghèo lắm, cái nghèo lồ lộ như nàng con gái không có gì che thân cho ấm.”

Tôi nghe chừng giữa trái tim có luồng suối ngọt chảy qua trong ấy. Nét mặt anh tươi cười:

“Ngày mai anh trở ra Quảng Trị. Ba tháng tu nghiệp qua đi nhanh quá. Nhưng anh hy vọng sau chuyến hành quân sắp đến, anh sẽ có được cái phép dài hơn, về đây thăm em.”

Giọng anh đột nhiên chớm phần ngần ngại:

“Trong dịp này, anh sẽ xin phép mẹ đưa em đi chơi Phan Rang một chuyến. Anh sẽ hướng dẫn em từng nơi từng chốn trong vùng đất khốn khổ để em thấy rõ thế nào là cái nghèo của quê hương anh, như anh nói vừa ban nãy.”

Ánh nhìn anh bao trùm khuôn mặt tôi, thật sâu và tha thiết:

“Em có muốn làm điều ấy không?”

Tôi cúi đầu đáp nhỏ:

“Em mong được như thế. Mong có ngày tìm đến tận nhà thăm mẹ và người chị của anh.”

Khi từ giã tôi dưới giàn bông giấy, trông anh rõ ràng luyến lưu như có điều muốn nói. Tôi đứng im chờ đợi. Tần ngần một lát, anh cỡi lên chiếc honda, hai chân bỏ thõng trong thế ngồi chuẩn bị. Quay nhìn tôi, anh nói thật nhanh:

“Anh sẽ trở về. Em hãy chờ anh!”

Xong, chiếc xe được rồ máy, phóng vào đêm tối.

*

Một đêm đầu tháng 5, mưa rơi tầm tã. Vào mùa hè, trời Sàigòn vẫn thường có những trận mưa dầm như thế. Ngồi nơi bàn học nhìn từng chuỗi mưa liên tiếp đổ màu trắng xóa, tôi nghĩ nhanh đến bãi chiến trường có anh đang đồn trú, lòng chợt như thắt lại thật xiết. Một cách máy móc, tôi bật lên chiếc radio, lạ lùng sao lại rơi đúng vào giờ phát thanh của chương trình Dạ Lan. Tôi giơ tay định vặn nút tắt, nào dè, giọng nói nũng nịu của người nữ xướng ngôn viên rõ ràng từng chữ làm tôi khựng hẳn:

“Cố Thiếu Tá Lê Văn Huệ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 Nhảy Dù vừa tử trận trong cuộc hành quân Lam Sơn, đêm… tại chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị. Chúng tôi, sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính trong Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù xin chia buồn cùng gia đình Thiếu Tá và cầu nguyện cho vong linh Thiếu Tá chóng phiêu diêu nơi miền cực lạc.”

Nỗi thảng thốt vô cùng đổ ập nhanh khiến như làm nghẹn trái tim tôi đang rung lên từng cơn sợ hãi. Tiểu đoàn 9 là tiểu đoàn có anh tham dự và Thiếu Tá Lê Văn Huệ là tiểu đoàn trưởng của anh. Tôi chụp giấy bút, viết cho anh vài dòng vội vã:

“Anh,

Em vừa nghe đài Dạ Lan để biết rằng Thiếu Tá Lê Văn Huệ đã tử trận. Còn anh thế nào? Sao em lo sợ quá. Anh hãy cố giữ gìn thân thể, trở về với em như lời đã hứa. Em chờ đợi để được một lần theo anh về thăm vùng quê hương nghèo khổ của anh!”

II.

Trước một hàng quan tài độ chục cái trong nhà nghĩa tử đường nghĩa trang quân đội, hai bàn tay tôi và cô bạn gái đan vào nhau thật xiết. Tôi nhìn thẳng tấm ảnh anh đặt trên cái nắp hòm thứ ba tính từ bên trái. Khuôn mặt chữ điền, đôi mắt sáng quắc, nụ cười rất tươi đưa ra những chiếc răng đều đặn; trên đầu, chiếc mũ Nhảy Dù đội lệch sang một phía. Trong óc tôi vang vang lời nói anh một ngày không xa trước đó: “Anh sẽ cố lấy cái phép về Sàigòn trước ngày trình diễn của em.”

Âm giọng dịu dàng cũ chưa kịp hội tụ thành hình ảnh kỷ niệm trong một đêm trăng có những luồng sáng lung linh chiếu qua cửa sổ căn phòng khách đẹp, đã bị lấn át và loãng tan theo sự gợi nhớ cuộc hiện hữu bất ngờ của người Trung sĩ Nhảy Dù mới vừa ban trưa trước ngưỡng cửa nhà mẹ tôi. Giọng ông la lớn:

“Cho tôi gặp cô Thu Vân!”

Tôi và người anh lớn từ trong nhà bước vội ra. Trái tim tôi đập mạnh. Một nỗi bất an lan tràn cơ thể. Tiếng nói chắc nịch bằng giọng Quảng Trị, hệt như tiếng tuyên án của Tử Thần, vang lên tàn nhẫn:

“Trung úy Thuận Văn Chàng đã tử trận trên chiến trường Khe Sanh đêm 27/5.”

Anh tôi hỏi nhanh:

“Sao?”

“Một viên đạn bay đến, ghim suốt qua trán Trung Úy.”

Hai tai tôi lùng bùng, cả thân hình cơ hồ sắp ngã. Viên trung sĩ thản nhiên nói tiếp:

“Chúng tôi liên lạc mãi, chẳng thấy người nhà nào của Trung Úy đến nhận xác. Quan tài đang quàn ở nghĩa tử đường nghĩa trang quân đội. Nhờ lá thư này trong túi áo Trung Úy nên theo địa chỉ mà đến báo tin. Đây, xin trả lại nó cho cô!”

Và ông chìa lá thư ra.

Đó là lá đầu tiên, cũng là cuối cùng tôi viết cho anh một đêm tháng 5 từ trường Nhạc trở về, vừa cách đây đúng ba tuần lễ. Tôi cầm tờ thư trên tay, ngẩn ngơ tâm trạng. Viên trung sĩ nói thêm nhiều điều với anh tôi, nhưng tôi không còn hiểu gì nữa. Tôi bước vội vào phòng riêng. Hai cánh cửa tủ áo mở ra, chiếc soirée có búp hoa hồng màu đen đập nhanh vào mắt, giống hệt cái cười của Tử Thần vẫn thường nhìn thấy trên các bức tranh trong chuyện cổ tích. Tôi rùng mình sợ hãi; rời căn nhà như ma đuổi, tìm đến cô bạn gái, đáp xe lam lên nghĩa trang quân đội Biên Hòa ngay.

Buổi xế trưa chuyển dần sang màu trời chiều ảm đạm. Nghĩa trang âm u, cỏ mọc cao chung quanh các hàng mộ chạy dài thành những đường thẳng tắp. Tôi đứng lặng trước dãy quan tài trong nhà nghĩa tử đường sáng choang ánh bạch lạp, cố tập trung tất cả những gì gọi là kỷ niệm của anh, gom thành một khối… Tuy nhiên, rõ ràng một điều là trí óc tôi lạc trôi đâu mất. Các hình ảnh cũ như rời ra thành từng mảnh nhỏ…

Thật lâu, người bạn gái lắc nhẹ tay tôi:

“Thôi mình về! Trời sắp tối rồi. Ở muộn đây, nguy hiểm lắm!”

Tôi nhìn ảnh anh, rồi lại nhìn tờ thư trên tay, âm thầm ngỏ lời vĩnh biệt. Lá thư của tôi được gửi theo địa chỉ KBC 4804, sau cùng đến kịp tay anh trước khi tử trận. Anh đã đọc nó. Đã hiểu lòng tôi. Tấm lòng của một đứa con gái ngây thơ lần đầu biết yêu và cũng lần thứ nhất nếm mùi tuyệt vọng từ tình yêu đưa lại. Khuôn mặt Định Mệnh hé lộ trong cuộc đời tôi rất sớm. Mười tám tuổi, tâm tư còn hoàn toàn trong sáng; vậy mà không ngờ một lúc thật nhanh, tôi thấm cảm được hai chữ “vô thường” theo mọi thứ chung quanh một cách thật rõ rệt đắng cay.

III.

Gần 10 năm trôi đi, cuộc đời tôi trải qua rất nhiều thống khổ. Bấy giờ hình ảnh anh không còn là mối buốt nhức dữ dội trong trái tim mỗi lần nghĩ đến, mà nó trở nên dìu dịu mang mang, nhưng cũng không kém phần thương cảm xót xa.

Một lần theo đoàn cải lương Sàigòn III lưu diễn Phan Rang, ban ngày không hát, tôi tìm vào tận ấp Mường Khai xa tít, vùng quê hương anh nghèo nàn khốn khổ. Hai bên con đường trồng hai hàng cây sao, cành lá tỏa ra rậm rạp. Những người Chàm bên trong các dãy nhà san sát lụp xụp, ngó tôi đi qua bằng ánh nhìn chịu đựng. Tôi phải hỏi thăm mãi mới tìm thấy căn nhà lợp bằng mái lá, vách đất, có bà mẹ già anh cư trú, nằm đầu bìa một cái xóm nhỏ, sát ngay biển. Trước sân, một đám con nít áo quần bẩn thỉu, chơi đùa ầm ĩ. Tôi tự giới thiệu mình là ai. Bà cụ khoảng 70 tuổi, dáng hom hem còm cõi, và cả người chị gái giống anh như đúc, đều không biết tiếng Việt, nên không hiểu tôi muốn nói gì. Tôi đứng ngẩn ngơ. Bỗng dưng, một người đàn ông từ trong bước ra, tự nhận là anh rể anh. Ông mời tôi vào nhà.

Khoảng không gian rất hẹp theo chiều ngang, chia thành hai gian, chạy dài ra khoảng đất trống phía sau. Gian ngoài -được ngăn cách với gian trong bằng một bức vách ván- có kê chiếc bàn và bốn chiếc ghế lắc lư chân cẳng. Cái kệ thờ anh đặt trên mặt tủ nhỏ, kề sâu trong góc. Tôi ngồi nhìn quanh nơi chốn anh từng chào đời và lớn lên trong thời niên thiếu. Rõ ràng “cái nghèo lồ lộ” hiện hình ra trên từng góc cạnh. Nhớ lại câu chuyện nghe thầm đêm nào tại căn nhà màu hồng trên đường Yên Đỗ, trái tim tôi bất chợt chùng xuống trong một nỗi ngậm ngùi khôn tả. Bấy giờ là năm 1977, cuộc đổi đời vừa tròn hai tuổi! Hai năm ròng, tôi theo một đoàn cải lương lưu diễn khắp các chân trời góc bể của Việt Nam.

Một thoáng rùng mình, tôi bỗng nhìn ra rất rõ cái điều “Vì đâu tôi rung động tức thì theo những lời anh nói buổi khuya hôm ấy?” Mối sầu cố xứ, không chỉ riêng anh và dân tộc Chàm, mà ngay cả tôi cũng đang thụ cảm vô cùng sâu sắc. Tôi đi tìm đất nước tôi trên chính những vùng trời quê hương giờ đây đã đổi tên đổi chủ. Lịch sử đã sang trang! Một trang sử không chút oai hùng, nhưng cũng không chối rằng đã ghi dấu quá nhiều đau thương thống khổ. Và lịch sử lại tái diễn. Bấy giờ, không chỉ những người Chàm ngồi bán buôn rải rác nơi đầu phố chợ khu Hòa Bình, Dalat, mà còn biết bao chục triệu người Miền Nam phải mang bộ mặt u trầm chịu đựng trong căn nhà quê hương đã không còn là của mình sở hữu. Mối hờn vong quốc thuở nào từng xảy ra cho dân tộc Chàm, thì ngay chính lúc này đây, dân tộc tôi cũng phải gánh chịu, nhưng dưới nhiều khía cạnh khác càng bất hạnh thảm thiết hơn.

Tôi nhìn tấm ảnh anh. Mới đó mà đã gần 10 năm! Cái tuổi ngây thơ của tôi, theo thời gian, trôi nhanh đi mất. Thảng hoặc nhìn thấy các người Chàm, tôi cũng se lòng nghĩ đến anh, nhưng tình cảm chóng biến tan như cơn gió thoảng. Mọi thứ trên đời, dẫu kiên cố đến đâu, thảy đều bị xói mòn theo năm tháng. Tôi biết vậy. Tấm tình tôi cho anh cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhưng còn anh, tôi không tin rằng anh siêu thoát theo cái chết tức tưởi khi mái đầu còn xanh màu tóc. Và, dưới lòng mộ sâu, tôi chẳng thể nghĩ được điều linh hồn anh đã hết vấn vương hoài bão ngày xưa.

Tôi cứ vậy ngồi yên thật lâu, cúi đầu nhìn xuống sàn đất. Người anh rể ngồi đối diện. Sự tĩnh lặng của một buổi trưa nắng cháy bao trùm mọi thứ, bao luôn cả tiếng lòng tôi đang hồi đảo điên xúc động. Tiếng xạc xào từ những cành lá nơi bụi cây dương xỉ quanh sân, vang lên những âm thanh buồn buồn, rười rượi. Lúc bấy giờ, tôi tin rằng mình hiểu được chiều sâu nỗi niềm anh cưu mang thời tuổi trẻ. Lúc bấy giờ, tôi chợt thấy mừng cho anh khi so sánh cái cảnh “hai hàng lính nghiêm trang bồng súng, chào chiếc quan tài có phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ đang từ từ tiến về huyệt mộ”, với “một hàng súng giơ cao, nhắm thẳng vào con người đang bị bịt mắt trói chân nơi cột, trên cái pháp trường Phú Thọ, một buổi sớm tinh mơ!”

Nơi kệ thờ đặt chiếc ảnh anh có nụ cười rạng rỡ; tấm ảnh tôi từng nhìn thấy trên nắp quan tài nhiều năm trước đó. Tôi thoáng rùng mình vô cớ. Trời đang trưa nóng bức mà tưởng như vừa có luồng khí lạnh lan tràn mọi chỗ. Kỷ niệm đêm cuối cùng ngồi với anh trong căn phòng khách nhà mẹ tôi quay cuồng trong trí nhớ… Điệu cười sang sảng, ánh mắt tươi vui, những lời hứa hẹn, và nhất là cái ý nghĩ “trọn đời muốn được chia xẻ hoài bão cùng anh”… Tất cả… Tất cả…

Trong một giây thật ngắn, tôi tự kiểm với lòng câu hỏi:

“Nếu như ngày đó anh không lìa đời sớm, liệu tôi có cảm nghe hạnh phúc khi theo anh về chung sống với những con người xa lạ trong căn nhà bé như cái ổ?”

Câu hỏi cứ trở đi trở lại hoài làm tôi đột nhiên nghẹn thở. Tôi bước nhanh ra cửa, hít làn khí trời vào trong buồng phổi. Quay mặt lại, hướng về phía bàn thờ, thấy cái cười anh biến thành như giễu cợt, đôi mắt chiếu thẳng vào tôi ánh nhìn dò xét. Tôi chợt thấy mình buồn lả. Không phải tôi đang tự hỏi, mà chính là “anh đang muốn hỏi tôi.”

Tôi bỗng mỉm cười nhìn lại anh, bước tới cầm nén nhang người anh rể vừa đốt đưa cho, cúi đầu lạy anh, thì thầm trong miệng những lời chân thật:

“Anh đừng nhìn em cách cợt đùa như thế! Bây giờ anh đã là người thiên cổ, hẳn linh hồn có thể xuyên thấu trái tim em để hiểu rõ điều gì em từng nghĩ. Nếu anh không bỏ em mà đi sớm quá, giờ phút này, biết đâu chúng ta cũng đã có một đứa con cùng đang chạy nhảy trong cái lũ con nít ngoài sân kia?”

Trần Thị Bông Giấy
(San Jose, 24/3/1996)

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

Thằng Chó Đẻ Của Má


Má ơi ! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo . Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.

Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói: « Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên ! ». Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn : « Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực … ». Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt…Cuộc đời của má – theo lời tía kể – cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba …Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới « trụ hình » – vẫn theo lời tía kể – với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài…Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy ?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn – má nói : « Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa » ! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về …

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói : « Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn ».

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường : « Thưa bà cố, có khách ». Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm : « Đứa nào đó vậy ? ». Con nghẹn ngào : « Dạ, con… ». Chỉ có hai tiếng « Dạ, con » mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm ! Má nói : « Mồ tổ cha mầy ! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa ? Mà dìa sao không cho tao hay ?» Con ngồi xuống cạnh má: “ Sợ cho hay rồi má trông” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại: “ Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ ! ” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con … Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai…

Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó …vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên: “Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng ! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai !”

Đêm đó, má “đuổi” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi: “Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả ?” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói: “Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết !” Con nói chen vô: “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai” Má lại cười khịt: “Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma ? ”Ngừng lại một chút rồi má mới nói : “ Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng !”

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi: “ Thằng chó đẻ … ngủ chưa ?” Con trả lời : “Dạ chưa” Má tằng hắng: “ Tao tụng kinh một chút nghen” Con : “Dạ” mà nghe tiếng “Dạ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “Thằng chó đẻ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi: “Thằng chó đẻ, lại hun cái coi !”. Hồi đó, mổi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “ thằng chó đẻ” ! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “thằng chó đẻ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “thằng chó đẻ”, gọi tự nhiên như hồi còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “thằng nhỏ”,”thằng chó đẻ cưng”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya…

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói: “Ông ơi, Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suông sẻ trong công việc làm ăn…” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc !

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc: một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê thị Ráng. Con hỏi: “ Cái gì vậy, má ?” Má nói: “ Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây” Con cười: “ Vậy là họ hạ cấp má rồi” Má hỏi: “Sao mầy nói vậy ?” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa ?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền” Con đùa: “Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi !” Má khoát tay: “Ối …từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ !” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng” con thắc mắc: “Ụa ! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà !” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói: “Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng Việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “Ráng” !

Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói: “Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói: “Ồ phải ! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu ? Mầy lạy tao coi !” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má” Rồi con lạy ba lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không ? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu ? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

* * *

Má ơi ! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. « Thằng chó đẻ » của má vẫn còn « trôi sông lạc chợ », để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt !

Má thương con , xin má tha thứ cho con… tha thứ cho con ….

Tiểu Tử

Thêm bình luận Tháng Sáu 25, 2007

LAN RỪNG


Tiếng đàn violin của những ngón tay cứng mới tập, của cườm tay ngập ngừng đưa tới đưa lui, melodi lúc nhịp nhàng lúc đứt đoạn vì thỉnh thoảng sai note sai nhịp, vang từ lầu trên theo cầu thang len qua cánh cửa ngăn tiệm và phòng nghỉ ngơi, cẩn thận tràn vào cửa tiệm gần năm mươi mét vuông. Đứng coi tiệm chưa được mười phút, tiếng đàn văng vẳng làm Phi bực tức. Phi không bực vì tiếng đàn quá vụng về của người mới tập, anh bực vì nhận ra cái tâm địa của Kiều Lan.

Tiệm vắng khách chỉ làm cho đầu óc Phi rộng chỗ mà ngẫm nghĩ. Hừm… té ra cô nàng nhờ mình đến coi tiệm chiều nay để có thì giờ tập đàn. Ừm… dở thói học làm trí thức, học làm sang. Té ra cô nàng lợi dụng mối tình cảm ngày xưa, lợi dụng hoàn cảnh mới ly dị, một thân một mình với thằng con sáu tuổi, nay nhờ chuyện này mai nhờ chuyện kia. Đầu óc cô nàng sao mà ngắn ngủn, đục ngầu không lường được. Hừm… vợ chồng mình với vợ chồng cô nàng thân nhau mấy năm như vậy mà cô nàng không hiểu được tình bạn này hay sao. Hừm… ráng cư xử thẳng thắng có học dầu cô nàng đã ly dị với Dương thì cô nàng lại tưởng mình còn lưu luyến, còn tiếc nuối nên tìm cách dùng mình như tấm giẻ lau. Hừm… tội nghiệp Nga, chẳng phàn nàn một lời khi mình bảo sẽ lên phố coi dùm cửa tiệm Natiki vài tiếng đồng hồ. Nga biết mình ngày xưa có thời theo đuổi cô nàng. Nhưng từ khi quen Dương, quen luôn cô nàng, Nga hiểu mình chẳng còn chút lưu luyến, nên Nga chưa bao giờ cằn nhằn khi mình ra tay giúp đỡ cô nàng trong hoàn cảnh một mình với con với cửa tiệm. Hừm… tưởng nhờ mình coi tiệm để cô nàng lo cho thằng Nhân, té ra là gởi thằng con ở đâu đó để rảnh tay tập đàn. Nể Dương là bạn nên giúp, thương thằng nhỏ nên ráng đỡ một tay. Hừm… hèn gì cả tháng nay, hầu như chiều thứ năm tuần nào cô nàng cũng bảo sẽ đi công chuyện chừng một tiếng, nhờ mình đến coi tiệm. Hừm… một tiếng mỗi tuần để đi học đàn cho nên mới kéo đàn được đến trình độ đó chứ xưa nay cô nàng có biết đàn trống gì đâu. Đi làm về, cơm nước chưa ráo miệng, bị gọi lại nhờ coi tiệm, cực chẳng đã…

Càng nghĩ, mặt Phi càng nóng. Phi đứng phắt dậy, đi vào phòng trong, căn phòng vừa là nơi ngồi nghỉ trưa, vừa chứa hàng. Phi với tay dựt mạnh cái áo khoát, mặc vào, đứng dưới chân cầu thang, không giữ được giọng bình tỉnh, nói vọng lên

– Tôi đi về đây.

Không một lời giải thích. Không chờ trả lời. Không cần biết là Kiều Lan có nghe hay không. Không chờ Kiều Lan đi xuống để coi tiệm. Phi đẩy cửa bước ra ngoài. Khí trời tháng năm trong mát, nắng chiều sáu giờ vẫn còn nóng ấm, sự dễ tính của tiết đầu hè nơi thành phố Dramen làm lòng Phi dịu dần dần.

Tiếng đàn ngưng bất chợt khi nghe Phi nói lớn giọng. Tiếng chuông cửa reo vui nhẹ mỗi khi có khách hàng ra vô vang lên, ngắn gọn. Lắng tai. Không nghe Phi chào khách, im lìm không người. Kiều Lan đặt cẩn thận cây đàn lên giường, đi xuống ngay lúc cánh cửa ra vô khép lại phía sau lưng áo khoát màu cà phê sữa quen thuộc của Phi. Sửng sốt, Kiều Lan chạy ra đường, kêu to

– Anh Phi, anh Phi, anh đi đâu vậy?

Biết Phi nghe nhưng Phi không quay lại, cứ hướng nhà gởi xe mà tới, Kiều Lan vùng vằng đi vô tiệm, miệng lẩm bẩm: Tự nhiên trở chứng. Đi về bất tử kiểu này thì làm sao mà tới kịp giờ học đàn đây. Đồ cà chớn, chắc con Nga gọi giựt ngược về thay tả cho con đây. Thứ sợ vợ. Thứ đi thưa về trình. Điệu này chỉ có nước đóng cửa tiệm mà đi thôi, không bỏ giờ học đàn được, phí hai trăm bạc. Hừm… đóng cửa tiệm thì mất khách. Nhưng phải ráng học, lỡ khoe ẩu với Magnus… hừm… tưởng ráng được thêm vài tuần nữa cũng đủ… hừm…

Tiếng là ly dị chứ thật ra phải gọi là bỏ nhau mới đúng. Tiệc cưới của Kiều Lan và Dương được tổ chức khá long trọng có đầy đủ gia đình họ hàng nhà Dương, người cô của Kiều Lan, đầy đủ bạn bè Việt Nam, nhưng thiếu ba của Kiều Lan vì ông còn đang ở trại tị nạn, thiếu bạn bè Na Uy, thiếu giấy chứng nhận của phòng hành chánh quận. Địa chỉ Dương vẫn nằm ở nhà ba mẹ, ông bà thiếu tá hải quân Tôn Thất Hồng thì việc Dương ra khỏi căn nhà trên đồi Eider cũng không có gì là rắc rối. Còn giữ được cửa tiệm ở Sandefjord là Dương cũng may mắn lắm rồi, nhờ kế hoạch Kiều Lan đứng tên một tiệm, Dương đứng tên một tiệm để nhẹ thuế má.

Kiều Lan đẹp, đẹp từ vóc dáng dong dỏng cao biết ăn diện thanh nhã, đẹp ở gương mặt xương xương đều nét, đẹp cả ở cái lý lịch do Kiều Lan kể bố là phó quận đã ở vậy nuôi đứa con gái độc nhất từ khi vợ chết sau lần sanh Kiều Lan. Mười chín tuổi, qua Na Uy với người cô già không chồng nhưng khá dễ tánh nên Kiều Lan mặc sức lựa chọn trong đám thanh niên từ anh sinh viên sắp ra trường cho tới anh đang học lại để lấy bằng tú tài như Phi và Dương. Dương và Phi là đôi bạn thân từ những ngày bên trại tị nạn, cùng vỡn vờ tán tỉnh Kiều Lan như bao chàng trai khác. Nhưng rốt cục, cái gốc con ông thiếu tá hải quân dòng Tôn Thất đã làm xiêu lòng cô gái chuộng nơi có nguồn gốc môn đăng hộ đối. Phi chỉ là con trai thứ trong một gia đình công chức nghèo, không xứng đáng với cô con gái độc nhất của ông phó quận.

Dầu cho Dương và cả mấy người con của gia đình ông thiếu tá hải quân Tôn Thất Hồng không ai theo nổi cái bằng tú tài thì Kiều Lan chỉ cần kể cho bạn bè nghe về ông chú chồng Tôn Thất này đã du học ở Canada rồi định cư luôn, đến bà cô chồng Công Tằng Tôn Nữ kia đang là bác sĩ ở Mỹ… thêm vào ông bố cựu phó quận đã qua Mỹ và xin được ngay chức chủ sự phòng, phải cưới vợ theo sự năn nỉ của đứa con gái mong muốn bố mình tìm được an vui nơi xứ người, cũng đủ cho Kiều Lan tự đặt mình vào giai cấp danh giá. Mở cửa tiệm bán tặng phẩm chỉ là một cách để làm ăn tự do, làm nhiều hưởng nhiều, không bị nay làm hãng này mai thất nghiệp sở kia như nhiều người. Ở nước ngoài thì phải sống theo người ta, cái gốc sữa mẹ trung lưu nó nằm luôn mãi trong mỗi con người, Kiều Lan thường nói chuyện với bạn bè như thế.

Thật nhiều lợi điểm nếu khai con không cha. Vì Dương không đứng tên là cha trong khai sanh, không phải trả tiền nuôi con cho người mẹ nên Kiều Lan được hưởng vừa hai phần tiền có con nhỏ vừa hưởng tiền phụ cấp phụ trội. Không có giấy tờ hôn thú, không sống chung trên phương diện pháp lý cho nên khi mua nhà, Kiều Lan đứng tên nhà là tiện lợi đủ điều. Phụ nữ độc thân có con nhỏ, được sở Nhà Đất Tị Nạn cho mượn tối đa với tiền lời thật thấp và sở thuế má cũng thương tình hoàn cảnh một mẹ nuôi con. Mọi khẻ hở trong những luật lệ, điều khoảng trợ cấp, tương trợ ở một xã hội đặt sự an vui của từng người dân lên hàng đầu đuợc Dương và Kiều Lan khai thác tối đa. Khi tình yêu còn mặn nồng, không ai tính toán chi li. Vài năm, Dương nhận ra từ từ những yếu điểm của mình trong căn nhà do chính mình đóng góp, bỏ công tu sửa. Đến chừng Dương đề nghị mua nhà khác để cả hai cùng đứng tên và đề nghị ra toà hành chánh quận để làm hôn thú thì chỉ nhận trả bằng nụ cười mỉa mai thách đố của Kiều Lan. Dương cắn răng không than thở được với bạn bè một lời. Cả Dương và gia đình không dám đưa nội vụ ra tòa vì biết chắc phần thắng sẽ nghiêng về phía người đàn bà và đứa con nhỏ. Tốt nhất là giữ hòa khí để còn được Kiều Lan cho phép Dương thỉnh thoảng đưa cháu về thăm nội.

Thật ra, khi mới quen và một năm đầu sống chung, Kiều Lan rất hợp với gia đình chồng, với mẹ chồng và chị em của Dương, hợp cách lối ăn diện sang trọng, ngoại trừ ông thiếu tá hải quân Tôn Thất Hồng. Sau bảy mươi lăm, bà thiếu tá Tôn Thất Hồng đủ sức mang bốn giỏ xách nặng chỉu nuôi chồng ba tháng một lần là nhờ sự đua đòi ăn diện của một số nữ cán bộ cao cấp, phu nhân và tiểu thư cán bộ từ Hà Nội. Hột xoàn! Bàn tay dầu có thô kệch khô cằn vì quen cầm súng đạn, quen bầm rau nuôi lợn, quen kềm cứng cái ghi đong xe đạp lên dốc đổ dốc trong mưa nắng… suốt hai mươi năm hạt gạo cắn làm tư, chỉ cần nét lấp lánh trên chiếc nhẫn, trên đôi bông tai là các bà các cô có thể tự xếp mình vào tầng lớp trưởng giả mới. Buôn bán hột xoàn với các tân mệnh phụ, các tân tiểu thư rất thoải mái. Thứ nhất, khách hàng càng lúc càng giàu. Thứ hai, cứ bảo hột xoàn của chồng tôi ngày xưa là thiếu tá, trung tá, tỉnh trưởng… mua từ HongKong, từ Singapore là có giá ngay. Đã thế, lại được quen các “cựu mệnh phụ”, được truyền dạy cách thức ăn diện, học hỏi lề lối chuyện trò lịch sự của giới phụ nữ miền Nam. Thứ ba, các bà tân mệnh phụ, các cô tân tiểu thư suốt đời chưa bao giờ biết tin người, thế mà bây giờ lại tin từng lời tâng bốc của những “cựu mệnh phụ” vì sa cơ lỡ thế phải cắn lòng bán đi “quà kỷ niệm của chồng”. Buôn hột xoàn, dầu là hột xoàn lắm bụi lắm than từ Tàu, từ Thái Lan đưa vào, các bà “cựu mệnh phụ” vẫn còn giữ được nếp sống khá phong lưu nếu so với đa số ở miền nam. Con cái gia đình thiếu tá Tôn Thất Hồng có mòi ăn diện theo thời hơn trước bảy mươi lăm vì người cha nghiêm khắc đã vào tù. Với quan niệm quần áo, bề ngoài tạo nên con người, bà cựu thiếu tá và con cái ráng tu dưỡng cái gốc trung lưu qua cách chưng diện. Quả thật, đã thuộc lớp trung lưu trước bảy mươi lăm, biết dùng hàng La Coste, Channel… thì làm sao mất được nguồn gốc Tôn Thất.

Cái thế gia trưởng của ông cựu thiếu tá hải quân Tôn Thất Hồng không còn hiệu nghiệm từ khi phải sống nhờ lợi tức buôn bán của vợ, trong thời gian ở tù cũng như mãn tù. Nhất là khi sống đời tị nạn ở Na Uy. Thất chí, ông chỉ muốn an phận, thu nhỏ nên để mặc vợ con bương chãi với đời sống mới. Ông chỉ biết thở dài khi càng ngày càng nhận ra sự ăn diện đua đòi vượt khỏi địa vị ăn nhờ ở đậu của thân phận tị nạn. Và bây giờ thêm cô con dâu, như thêm một vũ công trong ban vũ có cả nam lẫn nữ đang diễn qua diễn lại trước mắt. Ông chán nản đến độ không muốn tham gia một hoạt động nào của cộng đồng người Việt, ngay cả hội đoàn cựu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà ông là một trong những người có chức vị cao nhất.

Tiếng chim ríu ra ríu rít tranh nhau những trái cherry tròn đỏ xậm bóng mượt còn sót lại trên cành cây ngay phía ngoài cửa sổ đánh thức Kiều Lan sau giấc ngủ no đầy. Ngắm nhìn toàn phòng ngủ, cảnh rừng sau chiếc cầu cong trên bức tranh Water Lily Pond của Claude Monet treo giữa bức tường sâu hun hút. Trên bức tường kế bên giường bức tranh Monet’s Water Garden và Water Lilles cũng của Chaude Monet càng thu hút trí tò mò của Kiều Lan. Mặt nước long lanh ẩn hiện cảnh vật trên cao, lá sen xanh mượt bên những đóa hoa sen trắng ngà ngà, Kiều Lan cố nhìn sâu, sâu, theo giòng nước, muốn được đi xa hơn nữa, phía sau bức tranh, muốn khám phá. Màu vàng nhạt hòa lẫn màu xanh tươi mát của những bức tranh trong căn phòng cũng mang toàn màu xanh rêu nhạt thật nhạt, tạo một cảm giác thật dịu dàng cho người vừa thức dậy. Xoa xoa cánh tay có lớp lông nâu xậm đang gát trên bụng, Kiều Lan nhấc nhè nhẹ… Cánh tay ghì chặt, giữ lại, giọng Magnus thì thào tinh nghịch: “Bạn không thoát được đâu.” Nương theo xiết tay, Magnus choàng lên nằm hẳn trên người Kiều, hai tay giăng hai cánh tay Kiều Lan thẳng ra, mặt áp vào mặt Kiều Lan. Nếu nhìn từ trần nhà, trông như hình thánh giá.

Cố đẩy thân hình khá nặng qua một bên, tay rời tay, người nghiêng người, Kiều Lan chu đôi môi hồng tươi không còn chút son, đòi hôn. Nụ hôn mềm ướt xoay trở nhiều chiều như ngọn lửa khơi nóng cả hai thân hình không có chút vải. Không một chỗ hở cho hình ảnh đứa con trai bảy tuổi đang ở nhà ông bà nội, Kiều Lan cong chân, dùng hai gót chân, ấn mạnh sống lưng, xiết người Magnus sát chặt vào. Mắt nhắm hờ, mặt ngửa cao khi đôi môi mềm nóng trườn xuống phần ngực trắng hồng căng cứng như con gái. Bàn tay mềm ấm vuốt ve làm da thịt Kiều Lan mịn màng hơn, làm vòng eo Kiều Lan thâu nhỏ lại, làm đùi Kiều Lan thon dài căng cứng hơn… Magnus đã biết khơi nơi Kiều Lan niềm hãnh diện của người nữ.

Nhìn mặt đồng hồ tròn nhỏ trên bàn, ánh nắng ban mai đã đi qua khỏi cửa sổ phòng ngủ, mười một giờ trưa, Kiều Lan mỉm cười vuốt mái tóc hơi quăn dài phủ gáy của Magnus khi nghĩ đến đôi mắt giương to trên gương mặt nhiều son phấn của bà Thiếu Tá Hồng. Đã gọi điện thoại báo trước là sẽ đưa Nhân về chơi với ông bà nội cuối tuần này, nhưng bà Thiếu Tá không lường trước là Kiều Lan có thể ngang nhiên đi với Magnus đến gia đình bà trên chiếc xe Mecerdes thể thao hai cửa màu xám đậm, chỉ sau nửa năm li dị với Dương. Bà càng khó chịu, nhíu mày khi Nhân ôm Magnus hun và chào tạm biệt, cử chỉ thân mật như Nhân thường làm với Dương khi Kiều Lan đến đón con. Kiều Lan nhủ thầm: “Cho bà thấy, cho bà hiểu rằng con trai bà chỉ đáng xách giỏ theo tôi đi chợ, đừng mơ mộng dựa hơi cái chức thiếu tá, cái tên Tôn Thất từ thời xa xưa mà coi thường gia đình tôi.”

Lần này không bị cánh tay xiết giữ lại, Kiều Lan đi nhè nhẹ vào phòng tắm. Nước ấm phun mạnh từ vòi sen trên đầu, từ hai vách thủy tinh trong suốt, như cơn mưa lớn vuốt ve thân thể no đủ. Ngữa mặt cho những tia nước vuốt mái tóc dài bóng mượt ra phía sau, Kiều Lan lắc đầu trong cái hài lòng kiêu hãnh, miệng lẩm bẩm: “Ông tướng mạnh thật, lần nào ở lại đây, phải ba trận thì ông tướng mới chịu cho mình rời giường. Chả bù… hừm… nhàm chán… cứ bổn cũ soạn lại, thuộc lòng từ đầu đến cuối… một tuần được cao lắm một lần là lăn ra há miệng ngáy mê mệt, không cần biết mình thức hay ngủ, không biết màn hậu… chán!”

Nghe tiếng vòi sen rào rào trong phòng tắm, Kiều Lan đánh ba cái trứng, dùng kéo cắt hành lá thành những khoang tròn li ti, thêm hai muỗng sữa tươi, chút muối, chút tiêu, khoáy nhẹ trên bếp lửa yếu. Ba phút sau, hỗn hợp trong xoong hơi đong cứng, Kiều Lan ép nhẹ tất cả trong cái chén. Úp lên dĩa men trắng lớn hơn miệng chén ba centimet bán kính, dỡ chén ra, một khối tròn như trái banh tenis cắt làm hai. Màu trứng chiên vàng tươi điểm lấm tấm những cọng hành lá xanh mướt trên dĩa men trắng bóng, chung quanh là những lát cá hồi hong khói màu hồng cam đã được khéo léo cắt mỏng thật mỏng. Đặt thêm vài lát chanh vàng, nghiêng đầu ngắm nhìn thành quả món điểm tâm Magnus thích nhất vào những ngày cuối tuần, Kiều Lan sung sướng nhận nụ hôn tươi mát nơi gáy, ngã người dựa vào thân thể khỏe mạnh đứng sau lưng.

Căn phòng lộng kính trong ba phía ngăn cái lạnh se sẻ nhưng vẫn thâu nhận được tất cả sức nóng mặt trời đầu tháng chín, kéo dài mùa hè thêm được chừng hai tháng. Dựa trên lưng đệm ghế, tay còn cầm ly nước cam tươi ngọt đậm, Magnus ngữa mặt tận hưởng những tia nắng đầu thu vẫn còn gay gắt đốt cháy từng tế bào trên gương mặt ưng ửng đỏ của tuổi cuối ba mươi. Bữa điểm tâm thật ngon miệng sau một đêm chăn gối nồng thắm, Magnus đắm chìm trong hạnh phúc tưởng chừng khó tìm lại được sau ngày Rita xé tờ hôn thú, đi theo tiếng gọi tình yêu mới. Hai tuần nghỉ ngơi thường năm, về Drammen tham dự kỳ đấu golf vòng bán kết vùng Đông với vài người bạn, tình cờ ghé tiệm bán tặng phẩm Nakiti. Lối nói chuyện với những câu ngăn ngắn mang âm hưởng miền Vestland pha lẫn giọng địa phương, nụ cười có một lún đồng tiền bên má phải, ánh mắt đen ướt của người thiếu phụ đã một con vẫn còn mang nét trẻ thơ đã khiêu dậy những niềm vui nho nhỏ, đã đưa bánh xe lăn về con đường Prins Oscars mỗi ngày. Đùa qua, giỡn lại, thế mà Kiều Lan nhận lời đi ăn tối, và đến hôm nay…

Magnus quay nhìn Kiều Lan cũng đang đắm mình hồi tưởng lại những ngày đầu tiên mới nhận đi ăn tối. Gương mặt không chút son phấn của người thiếu phụ gần ba mươi mà trông như thiếu nữ mười tám, tươi lên khi nhận ra ánh mắt chiêm ngưỡng của người tình. Dơ tay, Magnus nắm chặt bàn tay mềm mại cũng vừa với đến, anh hỏi:

– Em và Nhân về đây ở với anh luôn nhá.

Hơi ngạc nhiên vì lời đề nghị sống chung chỉ sau ba lần về đây chơi cuối tuần, không trả lời trực tiếp, Kiều Lan hỏi:

– Làm sao em giữ cửa tiệm, đường xa quá.

– Tìm người sang. Anh lo cho mẹ con em. Em không phải cực nhọc nuôi con nữa. Em coi, nhà rộng thênh thanh, vườn cây mênh mông mặc sức cho Nhân chạy nhảy.

– Thế còn nhà em, đồ đạc trong nhà em?

– Hoặc em cho mướn, hoặc em bán. Dùng số tiền đó để mua một căn nhà ở Oslo cho thuê thì có lợi hơn vì giá nhà Oslo, nhất là trung tâm đang lên và sẽ lên dài dài. Mọi lợi tức cho thuê tùy em sử dụng cho riêng em. Về đây, anh lo tất cả. Thế nào? Anh yêu em, anh muốn bảo bọc mẹ con em.

Đôi mắt Kiều Lan ươn ướt cảm động, cảm giác được cưng lo bao trùm mọi nghĩ suy, Kiều Lan đứng dậy, đến ngồi vào lòng Magnus, cúi xuống gương mặt si tình, thì thầm:

– Magnus bảo bọc mẹ con em nhá, em yêu Magnus. Mình sẽ sống hạnh phúc bên nhau Magnus nhé.

Magnus được thừa hưởng ngôi biệt thự của ông bà nội hơn ba năm nay, Bygdøy, khu dân cư nổi tiếng giàu có gốc của Oslo. Anh được thừa hưởng luôn chức vị phó giám đốc cơ sở sản xuất vững chãi mấy đời, trong đó cổ phần của ông nội chiếm hơn một phần ba cũng thuộc về tay Magnus, người con trai duy nhất của dòng họ Whillamsen. Việc lời lãi của công ty không ảnh hưởng nhiều đến đời sống kinh tế thật vững chắc của Magnus. Ở tuổi chưa tới bốn mươi mà Magnus không có nợ nhà, làm việc và hưởng lương của một công ty trù trị lâu đời của quận Bærum, Magnus bơi lội trong đời sống quá bình an đến độ nhàm chán cho đến khi gặp Kiều Lan. Ngôi nhà của ba mẹ Magnus, ông Odd Bjørn và bà Borghild cũng nằm trong cuộc đất của biệt thự, được chia hai. Hàng liễu tần nối liền hai biệt thự kết hòa tuổi thơ của Magnus, hai người em gái và ông bà nội. Với lòng yêu thương ông bà nội vô vàn, Magnus không muốn thay đổi nhiều trong ngôi biệt thự, cố giữ lại không khí ngày xưa. Ngay cả người giúp việc và người làm vườn của ông bà nội, đến hai lần một tuần, Magnus cũng muốn giữ lại.

Dọn về đây, Kiều Lan không mang được nhiều vật dụng riêng tư cũng vì lý do những vật dụng đó hoặc không có chỗ đứng hoặc không thích hợp với lối cách trang trí sang trọng trong mức giản dị tối đa làm Kiều Lan đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Mọi vật dụng trưng bày hay dùng thường ngày đều được lựa chọn thật chu đáo để hòa hợp nhau, thể hiện một nếp sống phong lưu chỉ những người trong giới phong lưu ấy mới nhận ra. Đã quen với nếp sống như đa số đàn bà Việt, tự tay thu xếp mọi sinh hoạt gia đình, tự tay mua sắm chưng bày nhà cửa, nay sống trong ngôi biệt thự to lớn vùng nổi tiếng giàu có, được nuông chiều, được thư thả ngủ lười mỗi sáng, không phải hồi hộp mỗi lần nhận biên lai điện thoại, nhưng Kiều Lan thấy thiếu thiếu, thiếu thiêng chức làm vợ. Lợi tức cho mướn căn nhà chung cư ở Majostua, Kiều Lan chỉ để dành riêng cho mình, ngân khoảng trong nhà băng mỗi năm mỗi dầy. Hàng tháng, Magnus chuyển một số tiền khá dư dã vào ngân hàng của Kiều Lan để Kiều Lan chi tiêu cho con cái nhà cửa. Magnus rộng rãi, nhưng tính toán đâu ra đó. Tiền bạc dư thừa nhưng Kiều Lan nhận ra từ từ là mình không có một chỗ đứng nào trong cái gia tài theo Kiều Lan đoán khá to lớn này.

Magnus hoàn toàn tránh không đụng chạm đến của cải riêng của Kiều Lan nên mỗi lần Kiều Lan tò mò, cự nự chuyện tiền bạc, Kiều Lan chỉ nhận được một phất tay dứt khoát từ Magnus. Ngoài miệng khoe với bạn bè về ngôi biệt thự ở Bygdøy mình đang sống, về gia thế giàu có từ ba đời của gia đình Whillamsen nhưng tự trong thâm tâm, Kiều Lan đã từ từ nhận ra chỗ đứng của mình.

Kiều Lan bực tức khi người hàng xóm phía bên kia đường, tình cờ đi chợ về chung, tò mò hỏi:

– Chị có thường về thăm gia đình ở Thái Lan không?

À há, bà này tưởng Magnus qua Thái, trả tiền cho cha mẹ mình để cưới mình như các cô từ Thái, từ Phi về làm người hầu không lương, sanh con đẻ cái cho dòng họ có cơ nối dõi. Các bà các cô Na Uy dựa vào cái thành kiến này để tự bào chữa nguyên nhân mà nhiều người đàn ông Na Uy muốn cưới vợ Thái hay vợ Phi.

Kiều Lan trả lời:

– Tôi là thuyền nhân tị nạn từ Việt Nam. Tôi ở đây hơn mười năm rồi.

– Xin lỗi, xin lỗi.

– Không có chi, có gì mà chị phải xin lỗi.

Và để đánh tan thành kiến đàn ông Na Uy cưới vợ Thái vợ Phi của người hàng xóm tò mò bất lịch sự cũng như đa số các bà các cô Na Uy, Kiều Lan hỏi lại:

– Chị biết ai giữ trẻ đáng tin cậy không? Tôi muốn tìm một cô trẻ tuổi để đưa đón các cháu, tôi định đi làm lại, ở nhà hoài chán quá.

Miệng thì nói thế, nhưng bụng lại lo lo, sợ cái bà hàng xóm này thóc mách nói chuyện với Magnus. Nhưng rồi Kiều Lan nhún vai: Đời nào Magnus đi chợ.

– Em cho Nhân, không, Lars-Erik học trường Rudolf Steiner chị ạ.

– Trường gần nhà không?

– Không chị, em và Magnus phải thay nhau đưa đón mỗi ngày.

– Sao không ghi tên Nhân học trường gần nhà cho tiện đường?

– Chắc chị không biết trường Rudolf Steiner. Đây là trường tư, cha mẹ phải đóng tiền trường mỗi tháng.

– Trường tư? Ở Na Uy này dại gì cho con học trường tư chi cho tốn kém. Con Na Uy sao thì mình vậy, có thua ai đâu. Hình như chỉ có một vài trường tư vì lý do tôn giáo thôi. Trường Steiner này của đạo nào?

– Không đạo nào cả chị. Trường có chương trình dạy khác hơn trường công.

– Từ con bộ trưởng đến con công nhân, ai cũng học trường công, cùng lớp, cùng hưởng mọi quyền lợi như nhau, không hề có sự phân chia. Con vua còn học trường công như con mình. Học chi cho xa, vừa tốn tiền, vừa mắc công, vừa không có bạn cùng lớp gần nhà cho con chơi… Mà chương trình dạy ở trường… trường Rudolf Steiner khác như thế nào?

– Thày cô được trả lương cao hơn, đa số cha mẹ thuộc giới văn nghệ sĩ…

Kiều Lan cố giấu nỗi bực tức vì chị bạn không chịu nhìn ra cái danh giá khi có con học trường Rudolf Steiner, lòng than với lòng… Hừm… mấy người Việt Nam quê mùa, không biết trường Rudolf Steiner là gì. Ở Anh, ở Pháp… chỉ những gia đình khá giả mới có khả năng cho con học trường tư… Thật ra thì Kiều Lan không cần hiểu sâu chương trình và đường lối giáo dục của trường Rudolf Steiner, chỉ cần nghe vài người bạn của Magnus nhắc tới, chỉ biết đó là trường tư phải đóng tiền, Kiều Lan chọn ngay trường này cho con.

Trong khi người bạn lớn tuổi chưa hiểu được lý do chọn trường Rudolf Steiner của Kiều Lan thì tiếng điện thoại reo to. Thoát khỏi sự tra hỏi của chị bạn, Kiều Lan mừng rỡ vói tay lấy cái điện thoại vô tuyến để trên mặt kiếng bàn salong. Tay xoa xoa lớp vải mịn bọc quanh chiếc gối dựa lưng dầy êm, ngã lưng, đặt đôi chân lên ghế đẩu bọc vải màu vàng kem, tay cầm điện thoại hờ hững cách xa miệng, trong tư thế thật trang nhã, Kiều Lan nói chuyện với Magnus:

– Em đang làm gì đó?

– Em mời chị Thanh đến chơi, tụi em đang tán dóc. Chút anh nhớ đón Lars-Erik dùm em nghen.

– Không được, hôm nay anh về trễ, lại phải ghé mua thêm chai rượu vang.

– Em còn phải đi đón bé Kristine. Thôi, cũng được. Em gởi Bjørnar qua ông bà nội. Ừm không biết ông bà có nhà hay không đây. Nhà còn nhiều rượu mà anh mua thêm chi nữa?

– Anh không thích mấy hiệu rượu đó, định mua vài chai Masi Grandarella. Em nhớ làm món gì để chiều nay nướng thịt ăn chung với mấy người bạn.

Thở dài, biết không thể từ chối được, Kiều Lan hỏi:

– Ai tới

– Stephansen, Solheim và Larsplassen, có thể có cả Hagen.

– Sao không nói sớm để em lo liệu. Rồi còn phải đón cả hai đứa. Hôm nay không phải ngày Ranhild đến, ai giúp em đây?

– Thì em chỉ ướp thịt thôi, để anh về anh dọn bàn cho. À, nhớ đừng ướp nước mắm như mấy lần trước nha.

– Sao vậy?

– Nướng lên có mùi hôi lắm, khói bay sang hàng xóm.

– Mấy lần trước có ai than thở gì đâu.

– Người ta không than nhưng mình phải tự hiểu, tự nhận biết. Cũng đừng trộn ngò vô rau sống. Em làm món rau trộn ngon ai cũng thích, nhưng em không để ý là tụi bạn anh, họ lén khưi mấy cọng ngò, bỏ vô thùng rác.

– Có ngò mới thơm ngon chớ.

– Ngon thơm là theo miệng em. Em phải nhớ là khẩu vị người Na Uy khác với người Việt. Khi em làm thức ăn cho người Na Uy, em phải suy nghĩ theo người Na Uy. Họ khen, chưa chắc là họ thích thật tình. Chỉ khi nào họ ăn món đó nhiều thì mới gọi là họ thích. Em ghé chợ mua bánh mì Paris nóng luôn nghen. À, nhớ làm món hành sống cắt lát mỏng trộn với dấm đường, ngon lắm đó.

– Giờ này anh mới gọi điện thoại để báo có bạn đến ăn cơm chiều. Rồi anh không đi đón Lars-Erik dùm được, rồi còn đòi món này món kia.

– Lâu lâu mà em. Tại tụi Solheim mới từ London về, vừa gọi điện thoại cho anh.

– Lâu lâu gì mà lâu lâu. Hầu như tuần nào cũng vậy. Sao không làm ở nhà mấy người kia?

– Thì em ở nhà, em có thì giờ. Ai cũng bận rộn hết. Chịu khó chút đi cưng.

Người bạn gái lại gần khung cửa kính, nhìn ra khu vườn rộng bao quanh biệt thự được chăm sóc thật mỹ thuật, thật kỹ lưỡng. Không cố ý nghe nhưng mẫu đối thoại của Kiều Lan với Magnus vẫn đi vào tai, người bạn hiểu sơ sơ nội dung, định ra về để Kiều Lan có thì giờ vừa đón con ở vườn trẻ, vừa đón con ở trường học, vừa đi chợ, vừa lo chuẩn bị cho bữa cơm chiều.

Đặt điện thoại xuống, gương mặt không được vui, Kiều Lan than với người bạn gái lớn hơn mình năm tuổi, như than với chính mình:

– Ăn uống khó tánh, mệt.

– Bộ chút nữa có khách hả? Sao mời bạn đến nhà ngay giữa tuần?

– Khách gì chị. Mấy người bạn của Magnus, thế nào cũng có thêm vài đứa nhỏ theo, tụi con em có bạn chơi.

– Nhiều người không? Thôi mình về cho Kiều Lan đi chợ nha.

– Ba, bốn cặp vợ chồng, thêm vài đứa con. Tại vườn nhà em rộng nên thưòng kéo về đây. Những ngày nắng hè kéo dài cho đến chín, mười giờ, bạn bè Magnus thường tụ họp khi ở vườn nhà em hay Stephansen để nướng thịt ăn chiều. Mỗi gia đình tự đem theo thức ăn, thức uống. Nếu làm ở nhà người nào thì người đó chỉ nấu cơm hay luộc khoai tây nhưng em thì không quen cái kiểu mạnh của mình, mình ăn. Em thường làm thêm nhiều để mời tất cả. Chắc tại vậy nên hay thích về đây. Những người bạn từ thủa tiểu học, trung học, sau một thời gian bay nhảy ngoài đời, nay không hẹn lại trở về khu phố xưa sinh sống. Toàn là con nhà giàu có gốc không đó chị.

Câu chuyện dòn dã chuyển lưu không dứt. Từ chuyện ông họa sĩ Odd Nerdrum khùng khùng ngược đời, chuyên vẽ tranh khỏa thân cho tới quyển sách mới ra của bà văn sĩ Anne Holt chuyên viết chuyện trinh thám mà lại được mời làm bộ trưởng bộ tư pháp thời đảng Lao Động nắm chính quyền, giữ chức được vài tháng là bứt. Kiều Lan ngóng nghe chuyện này, chưa thấu hết toàn đề tài thì ai đó đã chuyển sang đề tài khác. Thỉnh thoảng có người chợt nhớ đến Kiều Lan ngồi lẻ loi ngóng chuyện, tìm cách gợi chuyện.

Nói chuyện với Kiều Lan, đề tài chỉ quanh quẩn về Việt Nam, về Á Đông. Và nhất là hình thức hỏi đáp, thiếu bàn cãi, thiếu so sánh, thiếu nhận định nên đề tài thường tắt nghẹn sau vài phút. Khả năng tiếng Na Uy của Kiều Lan đủ để mở một cửa tiệm nhỏ, giao tiếp với khách hàng. Kiều Lan không thường xuyên đọc sách báo, đọc những mục xã luận nên những câu chuyện bạn bè Magnus thường đem ra bàn thảo đi xa tầm mức suy nghĩ của Kiều Lan, Kiều Lan không theo kịp. Với Kiều Lan, những tin tức cướp dựt, tung xe, cháy nhà… mới kêu gọi trí tò mò khi lơ đãng lật nhanh tờ báo Dag Blad hay VG. Cho nên những người bạn của Magnus vô tình dáng giá tầm suy tư của Kiều Lan như mặt nước xanh mướt phủ lớp bèo non, quơ cái lưới vớt vài dạo là mặt nước trơ trơ không còn gì để tìm kếm. Chỉ năm ba phút chuyện trò, Kiều Lan trở lại vai trò ngóng chuyện, cười theo và lơ đãng ngắm nhìn cây cảnh xung quanh, mong cho mau tối, mong cho bữa cơm tàn.

Lars-Erik, Kristine và Bjørnar là cứu cánh cho mẹ. Lấy lý do bận rộn với con cái, Kiều Lan vào nhà, ngồi xem chương trình thiếu nhi với với sáu đứa trẻ, vừa con mình vừa con bạn. Không ai để ý đến sự vắng mặt lâu của người chủ nhân món rau trộn vừa miệng, món bánh mì thơm mùi bơ tỏi nóng hổi… Mắt nhìn màn ảnh TV, tay ôm bé Kristine đang say mê theo dõi phim bộ Lille Fot, đầu óc lang bang từ chuyện này sang chuyện khác… Kiều Lan thở dài….

Có với nhau hai đứa con, Magnus vẫn chưa đề cập đến vấn đề cưới hỏi. Lần này thì Kiều Lan muốn có hôn thú, muốn tình trạng vợ chồng đâu ra đó. Khó lắm, ngượng miệng lắm khi nói chuyện với mọi người, nhắc tới Magnus, biết gọi là gì đây, không thể nói “chồng tôi”. Với người Na Uy, Kiều Lan dùng chữ “sambor” để chỉ người sống chung như vợ chồng như không có giá thú và không làm đám cưới. Nhưng với người Việt thì rất khó vì tự điển Việt Nam không có từ ngữ này. Không thể dùng chữ “ông xã”, ngượng quá, chẳng lẻ dùng chữ dài thườn thượt ông-sống-chung, Kiều Lan phải dùng trống không: Magnus. Nhớ lần đầu tiên khi bé Kristine mới được một tuổi, Kiều muốn tình trạng sống chung được chính thức hóa. Gương mặt Magnus không chút thay đổi, trả lời một cách dửng dưng:

– Mình sống như thế này không là vợ chồng sao? Tờ giấy hôn thú chỉ là tờ giấy lộn, muốn xé lúc nào lại chẳng được. Anh không bao giờ muốn dự vào cái màn hứa nhau trước mặt Chúa diễn ra một lần nữa. Em biết anh không bao giờ bỏ mẹ con em, tại sao em còn nghĩ đến tờ giấy giá thú? Bộ em tưởng tờ giấy đó bảo đảm rằng mình sẽ sống đời với nhau sao?

Kiều Lan hiểu tính Magnus, rất dứt khoát, không thể dùng nước mắt để thuyết phục, Kiều Lan câm lặng ngậm nỗi ấm ức không biết kể với ai và cũng không muốn ai nhắc đền chuyện này. Đôi lúc gây nhau tưởng phải bỏ nhau, Kiều Lan lạnh người khi nghĩ đến cảnh có thể Magnus bắt con hoặc chia phần nuôi con và nhất là con trai mình không còn được sống trong nhung lụa. Magnus thương Lars-Erik, đã có lần nói chuyện muốn nhận làm con nuôi. Mặc dù hiểu tình yêu chân thật của Magnus nhưng bản tính “thủ” cố hữu của người đàn bà đã phải dùng mưu lược mới tạo được một gia tài riêng tư như ngày hôm nay, đã làm Kiều Lan nhiều đêm khó ngủ vì tự nhận thấy con đường đi chia phần trưởng giả rất chông gai.

Kiều Lan bực tức ném cái bóp lên bàn phấn, bảo với Magnus:

– Năm tới anh đi dự tiệc tất niên này một mình đi.

– Sao vậy? Toàn là hàng xóm láng giềng không mà. Bộ em không thích ai hả?

– Hàng xóm gì mà hàng xóm, em có quen ai đâu mà anh hỏi là thích người này, ghét người kia.

– Nhà Lindseth, Solheim, Hagen…mà em không quen sao? Ông bà nội cũng đến mà.

– Anh lo nói chuyện với bạn bè từ đời còn nhỏ mủi lòng thòng, có ngó ngàng gì đến em đâu. Mấy người đó quen anh chớ đâu có quen em. Ông bà nội có bạn bè của ông bà.

– Em phải cởi mở thì người ta mới dám chuyện trò với em chớ. Cả khu Bygdøy này, ai cũng biết mình sống chung với nhau, có với nhau hai mặt con, thì quen anh cũng như quen em vậy thôi.

– Anh nói nghe dễ lắm. Nếu không vì mấy đứa nhỏ, em chẳng thèm đi.

Giọng Magnus nửa an ủi, nửa đùa:

– Thôi, lần tới em kèm chặt cánh tay anh nghen, anh đi đâu thì theo đó để anh khỏi ham nói chuyện, bỏ em cưng một mình, em cưng giận lẫy, em cưng không thèm đi theo thì anh buồn lắm.

Như bao lần trước, không biết làm thế nào để giải thích cho Magnus hiểu được mình, Kiều Lan lẳng lặng sửa soạn đi ngủ. Vừa đặt lưng là Magnus ngủ mê ngay vì mấy ly cognac kèm với cà phê. Kiều Lan nằm yên lặng, nước mắt chảy dài… nhớ lại những lần tiệc tùng. Gia đình Magnus đông đảo, chức vị phó giám đốc, tiệc này tiệc kia phải lên sổ. Nhất là cứ mỗi dịp trước Giáng Sinh cả hai tháng là tiệc tùng liên miên, không bỏ sót một cuối tuần nào.

Kiều Lan nhận ra vị thế của mình ngay từ lần đầu dự tiệc chung với Magnus, mừng ba mẹ Magnus sống chung với nhau được bốn mươi năm, cũng là lần đầu Magnus giới thiệu Kiều Lan với đại gia đình. Chiếc áo dạ tiệc màu tím than bó sát thân hình thon đều nét, phủ kín đôi giày cao gần cả tấc, mái tóc bới cao, kẹp tay Magnus đi quanh phòng tiệc rộng chào mọi người. Chưa bao giờ Kiều Lan cảm thấy thiếu tự tin giữa đám đông như đêm nay. Từng nhóm đứng chuyện trò như họ đã quen nhau từ kiếp nào, đa số nói giọng miền Bắc, một số nói tiếng Anh. Thân mật bắt tay, vui vẻ hỏi thăm, được năm ba câu là Kiều Lan trở thành dự thính. Có những câu chuyện được nhắc lại mà Kiều Lan không có một chỗ đứng trong đó. Có những nơi chốn được kể tới mà Kiều Lan không biết ở đâu trên bản đồ thế giới. Có những nhân vật được đem ra làm trò cười mà Kiều Lan không hiểu nguồn gốc… Không dám góp chuyện, không dám hỏi khi không hiểu một câu nói đùa, gật đầu, lắc đầu, nghiêng người dựa vào Magnus nở nụ cười má lún đồng tiền thêm duyên dáng… và mong buổi tiệc tan nhanh.

Kín đáo ngắm nhìn những người đàn bà chung quanh, ngắm nhìn nữ trang, một ngạc nhiên cũng là một bài học trên đường đi vào thế giới trưởng giả Tây phương. Magnus rất ít khi tặng nữ trang, chỉ tặng theo đúng ước muốn của Kiều Lan trong dịp sinh nhật hay Giáng Sinh. Thế mà Kiều Lan nhận ra chỉ mình là có số hột xoàn trên người nhiều nhất, cảm giác ngường ngượng lan dần. Đa số trang điểm rất kín đáo, một dây chuyền bạch kim với viên ngọc safir ẩn sâu, chiếc lắc bạch kim lóng lánh trên cườm tay, chiếc nhẫn bạch kim châm trổ công phu… Bạch kim, Kiều Lan chưa bao giờ nghĩ đến.

Với tiệc tùng trong giới bạn bè Việt Nam, Kiều Lan vẫn thường được những ánh mắt chiêm ngưỡng từ mọi người vì cách lối trang điểm theo thời, vì dáng vẻ cao thon đều nét, vì giọng cười vang xa tự tin, vì lối đùa bỡn duyên dáng. Nơi đây, Kiều Lan thu mình trong vỏ ốc mỹ miều.

Nghĩ đến câu Magnus nói đùa khi nảy: “Thôi, lần tới em kèm chặt cánh tay anh nghen, anh đi đâu thì theo đó để anh khỏi ham nói chuyện, bỏ em cưng một mình, em cưng giận lẫy, em cưng không thèm đi theo thì anh buồn lắm”, Kiều Lan biết, biết rằng mình sẽ là cành lan rừng bám nhờ nhựa cây, sống nhờ bóng mát của tàn cây, suốt đời.

Võ Thị Điềm Đạm

Thêm bình luận Tháng Sáu 23, 2007

Bóng Ðêm Và Hạnh Phúc

Gió bên ngoài đập vào vách lá nghe xào xạc. Trong căn nhà nhỏ dưới ánh đèn neon màu trắng xanh, người vợ trẻ khom người trên chiếc giường trải chiếu hoa xanh đỏ. Cô đang mặc thêm cho đứa con nhỏ một chiếc áo dài tay. Cô bé với mái tóc đen mướt hơi quăn quăn xoà xuống trán đưa một cánh tay cho mẹ mặc áo, cánh tay kia bám vào vai mẹ nói bi bô những tiếng trong trẻo nhưng chưa rõ âm. Tiếng nói baby nghe chừng như ba ba hay má má. Nghe thật dễ thương.

Người mẹ mặc áo cho con xong rồi ôm con vào lòng nhìn ra cánh cửa trước nhà đang đóng hờ. Cánh cửa cũng làm bằng lá, không biết lá gì nhưng trông màu vàng vàng như những cọng rơm kết lại. Bên ngoài gió vẫn thổi mạnh. Gió chen vào cửa nghe như có tiếng con gì rên rỉ. Trên khuôn mặt cô vợ ánh lên vẻ lo âu.

Một lát lâu đứa bé ngủ ngoan trong tay mẹ cũng vừa lúc cánh cửa lá được ai đó đẩy sang một bên. Cô vợ lên tiếng liền:

– Anh . . . anh có bị ướt không? Em độ bên ngoài trời mưa lớn lắm!

Một thanh niên trẻ chừng như là người chồng lắc lắc cái đầu bung nước xuống ngay cửa rồi vừa hít hà vừa trả lời vợ:

– Mưa lớn thiệt. Không biết có bão gì không nữa đây?

Cô vợ trẻ nhẹ nhàng đặt con xuống giường, kéo tấm mền đắp đứa bé rồi lấy một chiếc gối tấn bên ngoài chắc là sợ con mình ngủ say lăn lọt xuống đất. Cô vừa quay lưng lại thì anh chồng cũng vừa trờ tới. Từ chiếc cửa bước đến cái giường chỉ có mấy bước. Cô vợ chạm tay chồng thấy tay anh lạnh và ướt. Cô nói:

– Ðể em lau cho. Ðầu cổ tóc tai ướt hết trơn rồi. Coi chừng cảm anh à!

Vừa nói cô vừa nghiêng người qua một bên đưa tay rút nhanh chiếc khăn lông trên thành giường, rồi cô lau cho chồng một cách sành điệu. Người chồng cúi xuống nói:

– Khoan, khoan . . . để anh cởi bộ đồ ra cái đã. Mưa ướt hết rồi em à!

– À há, cởi ra đi anh. Trời lạnh quá có muốn ra ngoài xối một miếng nữa không? Giờ này chắc chẳng có ai ngoài đó, không sợ hàng xóm ngó.

Nói tới đó, cô cười khúc khích. Anh chồng muốn cười nhưng bị ướt mưa hơi lâu nên không cười nỗi. Anh nói:

– Thôi không ra ngoài tắm như mọi bữa đâu. Anh tắm cả tiếng đồng hồ rồi!

Cô vợ cười:

– Có kỳ cọ sạch sẽ hôn đó?

Anh chồng trả lời:

– Mưa đổ xuống cả tiếng đồng hồ, rửa ráy sạch trơn rồi cưng à!

Cô vợ lại cười:

– Thiệt hả?

Người chồng trần truồng tồng ngồng trước mặt cô vợ mà không thấy mắc cỡ. Cô vợ thì vẻ như sợ chồng lạnh nên không để ý gì đến chuyện anh chồng đang phơi bày một tấm thân cường tráng trước mặt mình mà chỉ lo nhanh tay lau mình mẩy cho chồng trước. Cô lau cái ngực nở nang với những bắp thịt gồng cứng, rồi đến tấm lưng rộng. Bằng hai tay cô đẩy chiếc khăn lăn dài xuống hai bên bắp đùi của chồng. Bàn tay cô vô tình hay cố ý đụng vào hạ bộ của chồng khiến anh chàng hơi rùng mình khom lưng rồi kéo vợ sát vào người mình định hôn lên môi nàng. Nhưng cô vợ nói:

– Khoan khoan . . . tóc anh ướt mèm hà, coi chừng nhức đầu, để em lau cho khô.

Anh chồng ngồi xuống mép giường, kéo cô vợ ngồi lên đùi, đưa đôi bàn tay còn hơi lạnh luồn vào lớp áo. Anh xoa nhè nhẹ tấm lưng nóng ấm của cô vợ rồi bựt một cái hàng nút áo của cô vợ bung ra, anh chàng gục mặt mình vào bộ ngực no tròn của vợ hít hít không nói gì. Cô vợ ngồi trên đùi chồng hơi rùng mình, ngực và bụng rồi cả người cô nổi da ga, nhưng cô không nói gì. Cô im lặng thích thú. Hai chân dang hai bên, mặc cho chồng làm gì thì làm, cô không phản đối. Tuy vậy, một tay cô vẫn cầm tấm khăn lông ẩm ướt, chà mạnh để cho khăn hút hết nước trên tóc chồng, một tay kia cô đỡ sau gáy chồng hơi mạnh, khiến cho khuôn mặt anh chồng càng áp chặt vào ngực cô hơn. Cô vừa lau tóc cho chồng vừa cười khúc khích nói:

– Bữa nay massage đấm bóp mấy người rồi? Có cô nào trẻ bằng em không? Bà chủ có lộn xộn với anh không?

Anh chồng hơi giật mình nhưng vẫn cười cười trêu vợ:

– Năm cô, bảy bà lận. Sao? Cô vợ cưng của anh có ghen không?

Cô vợ gỡ tay chồng rồi đứng lên cái rẹt đi về phiá nhà bếp. Nhà bếp cũng cách cái giường chừng năm sáu bước. Cô đi qua một cái bàn nhỏ, tiện tay cầm một cái tách. Cô rót cho chồng một ly trà nóng, đi vòng lại đưa cho chồng rồi nói:

– Ghen chứ sao không? Ðể lát nữa tính. Bây giờ anh uống miếng trà cho ấm. Em dọn cơm, hai đứa mình ăn, đừng lớn tiếng con thức dậy đó.

Bưng ly trà nóng đưa lên môi, anh chồng vừa thổi vừa uống, vừa hít hà ra vẻ thích thú. Ðặt ly nước xuống bàn, anh trờ người vào phía trong hôn lên má con gái một cái thật nhẹ, anh nói:

– Trời lạnh con gái cưng của ba ngủ ngon quá hé!

Con bé nhắm nghiền đôi mắt, hai hàng lông mi cong vút, làn da trắng mịn màng thơm mùi sửa. Chắc là mẹ nó cho nó bú một bình sửa pha bột gạo lức với cà rốt xay hồi chiều. No nê nên nó mới ngủ ngon như vậy!

Mâm cơm nóng đã được dọn lên. Hai vợ chồng ngồi vào bàn. Người chồng nói:

– Bữa nay em nấu canh mướp với tôm khô phải không?

Cô vợ lại cười khúc khích:

– Giỏi quá ha? Húp thử một muỗng coi vừa miệng hôn?

Anh chồng múc một muỗng canh đưa lên miệng chấp chấp rồi khen:

– Ngon à nha, ấm cái miệng mà mát cái phổi. Canh vừa miệng lắm!

Cô vợ gắp một miếng cá rô kho bỏ vào chén cơm của chồng rồi tiếp tục mời mọc:

– Cá rô này có trứng, em mới kho hồi chiều đó!

– Bộ hồi chiều thầy Quang mang tới hả?

– Sao anh biết hay vậy? Thầy Quang nói có bà nào dưới chợ mang một rổ cá với rau cải lên tặng trường. Thầy xin nhà bếp mấy con mang lên đây biếu ba hộ lấy thảo. Em hỏi chị Thư với chị Ngọc làm món gì với mấy con cá rô. Mấy chỉ nói kho tiêu ăn hấp dẫn. Cô nói tới đây lại cười khúc khích:

– Tối nay mấy ông chồng trong xóm nhà lá này không hẹn mà được vợ cho ăn cùng một món hì. . . hì . . . cá kho tiêu!

Anh chồng phụ hoạ với vợ:

– Em đừng nói là mấy bà xúm nhau kho một nồi cá rồi chia ra ba nhà nha!

Cô vợ lại cười khúc khích:

– Anh nói đúng y chang. Không phải em kho cá riêng ở nhà mà tụi em xúm lại kho cá nấu canh mời thầy Quang ở lại dùng cơm. Tụi em làm cơm, còn thầy thì ngồi ngoài sân chơi với mấy đứa nhỏ. Cơm nấu chưa xong thì có người gọi thầy về. Ðằng trường hình như có chuyện gì gấp lắm, nên thầy không ở lại dùng cơm được. Thiệt tiếc ơi là tiếc. Lâu lâu thầy mới ghé thăm mà không ở chơi lâu được!

– Nhà còn tương chao gì không? Bộ em mời thầy ăn mặn sao?

– Ðâu có, tụi em có dĩa rau xào chay cho thầy mà!

Người chồng với giọng quan tâm hỏi vợ:

– Em nghe giọng nói của thầy có khoẻ không? Thầy có vui không ?

– Thầy khoẻ anh à! Mà thầy có bệnh thầy cũng chẳng bao giờ cho tụi mình biết. Tánh thầy là vậy, đâu có muốn tụi mình lo cho thầy. Anh biết tánh thầy mà!

– Ừ, từ hồi nào đến giờ thầy như thế, nhưng mình cũng phải để ý mà lo cho thầy em à!

– Tụi mình phải có trách nhiệm chứ, nhưng thầy nói tụi mình bây giờ phải lo cho đời sống mới, lo cho con cái của mình. Trước khi về thầy còn dặn, ở đây có mấy hộ hà, anh chị em phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Lúc này thầy rất bận, có nhiều em nhỏ bị bệnh thầy phải lo cho tụi nó. Có gì cần thì nhắn thầy xuống. Ðó, thầy nói như vậy đó! Anh đừng tưởng tụi em không lo cho thầy mà mang tội nghe!

Cô vợ nghe tiếng đũa khua là biết người chồng vừa ăn hết chén cơm. Cô đưa tay cầm lấy cái chén và xới vào đó một chén cơm vừa đầy. Cô đưa cho chồng rồi nói:

– Trời mưa, ăn cơm canh mướp cá kho, ngon anh há!

Anh chồng trả lời:

– Vợ anh hết xảy!

Hai vợ chồng ăn cơm xong. Cô vợ với tay tắt công tắc đèn. Trong phòng tối thui, nhưng hai vợ chồng vẫn vui vẻ nói chuyện với nhau. Anh chồng nói:

– Em ngồi nghỉ đi, để anh rửa chén cho.

Cô vợ nói:

– Có mấy cái, em rửa một phút là xong. Anh lên nằm với con đi. Nó nhớ anh lắm đó.

– Ừ, anh cũng nhớ mẹ con nó lắm. Anh đứng đây với em nghe.

Nói như vậy rồi anh chồng tiến đến sau lưng vợ. Hai tay vòng nơi bụng cô ôm nhè nhẹ, cạ nhè nhẹ. Cô vợ lại khoái chí cười:

– Cơm no, ôm như vầy, tức bụng lắm! Anh lại đằng ghế ngồi kể cho em nghe chuyện đấm bóp mấy bà đi.

Anh chồng nhớ chuyện massage bà chủ hồi chiều, nhưng không dám kể cho vợ nghe. Bà chủ thân thể mát rượi, mùi đàn bà và mùi dầu thơm đắt tiền còn phảng phất đâu đây. Nhớ khi bàn tay của anh rà trên hai bả vai thì bà cất tiếng rên khe khẽ rồi bà xoay người lại một cách bất thường, anh cũng hơi lung túng vì đúng ra bà chủ phải nằm yên ở tư thế úp chứ đâu có ai lại nằm ngửa ra bất ngờ như vậy, chiếc khăn phủ trên lưng bà rơi xuống đất đụng chân, anh cúi xuống lượm, nhưng bà chủ nói:

– Khăn rớt xuống đất, không nên dùng lại cho khách hàng.

Anh dạ nhỏ giọng trong khi bà chủ kéo bàn tay anh đặt lên đôi chân dài của bà rồi bảo:

– Từ bàn chân tôi trở lên, ở dưới thì hơi mạnh tay lên đùi thì sương sương một chút nhưng cũng đừng nhẹ quá không phê!

Khi bàn tay của anh vừa lên tới bắp đùi thì nó tự động dừng lại. Bà chủ lại hỏi:

– Giang à, bộ em xúc động hả?

Từ Giang bối rối không biết trả lời sao cho phải, thì bà chủ lại ngồi thẳng lên. Khuôn mặt bà chạm vào gò má của anh, hoảng hốt anh đưa hai tay về phiá trước, vô tình như ôm lấy bà chủ. May mà đôi môi của anh đang mím lại bằng không anh bị hiểu lầm là cố tình hôn bà chủ thì có nước chết!

Nhưng rồi một chuyện kỳ lạ khác lại xảy ra. Bà chủ nói:

– Giang, em nằm xuống, để tôi chỉ cách bấm các huyệt nơi cổ và vai, mai có người khách sộp đến, người này rất khó chịu, tôi giao cho em. Tiền típ bà ta cho hậu lắm!

Từ Giang lúng túng định từ chối, nhưng bà Yến đã đẩy anh ngồi xuống ghế. Trong lúc Từ Giang chưa kịp phản ứng thì bà Yến lại ấn Giang nằm xuống. Ðã nằm xuống rồi chẳng lẽ Giang ngồi dậy.

Bàn tay bà Yến như con rắn trườn qua trườn lại, xoa tới xoa lui, đầu mấy ngón tay của bà bấm nhè nhẹ dọc xương cổ. Hơi thở thơm tho của bà lại phà vào mặt vào tai Từ Giang. Bà nói nhỏ giọng như đùa giỡn như khiêu khích:

– Giang à, cưng thấy sao? Thích không em?

Giang ừ hử không trả lời, chàng biết nếu kéo dài thời gian này thêm chút nữa thì chính chàng sẽ vật bà ta xuống và nghiền nát bà ta ra trong căn phòng nhỏ với tấm thân đang hừng hực nóng của chàng. Từ Giang ngồi dậy nói:

– Tôi biết mấy cái huyệt ở cổ rồi, tôi có học qua!

– Nhưng cưng chưa có kinh nghiệm, mới vô nghề em chưa có những mánh khoé làm cho khách mê, dần dần chị truyền hết tay nghề cho em chịu không?

Từ Giang không nhìn thấy rõ mặt bà chủ như thế nào, nhưng chàng biết thâm tâm bà chủ đang muốn gì. Từ Giang thật cảm thấy tiến thoái lưỡng nan, không dám làm mích lòng bà chủ cũng không muốn bà ta đùa giỡn khiêu khích chàng như vậy. Với thân thể cường tráng đầy nhựa sống, Từ Giang sợ khó mà ngăn chận được cơn sóng lòng. Bà Yến đang chủ động tấn công chàng thấy rõ. Không khéo, chiếc ghế da này sẽ là nhân chứng của một cuộc ngoại tình bất đắc dĩ giữa Từ Giang và bà chủ khát dục.

Cũng may mà bà Yến dừng tại đó, nếu không thì chuyện gì xảy ra. Từ hồi chiều đến giờ hình ảnh bà chủ và những sự đụng chạm cố ý của bà ta làm cho Từ Giang vừa lo sợ vừa nghĩ tới hoài. Là người có gia đình, chuyện đụng chạm giữa đàn ông với đàn bà không phải là chuyện xa lạ không biết, nhưng phải thú nhận là cái cảm giác đê mê do bà chủ tạo ra không phải là không có trong Giang. Nó có đó, chỉ cần chàng vừa nghĩ tới là nó đã bắt đầu muốn bùng vậy rồi. Tội nghiệp Thiên Hương không hiểu những khúc mắc trong lòng của chồng, nàng cứ tự nhiên săn sóc chồng, tự nhiên hưởng thụ những mơn trớn của chồng trong khi tự đáy lòng Từ Giang cảm thấy mình đang giấu giếm vợ một sự nghĩ ngợi bất chánh, nó cứ chờ dịp mà trồi lên, hễ nó trồi lên thì sự tưởng tượng cứ duyên theo đó mà tiến xa hơn nữa. Nếu ngày mai, ngày mốt chuyện này tiếp diễn thì sao? Bà ấy xử dụng mình như một người tình hờ, còn mình thì sẽ phục vụ cho bà ta để giữ công ăn việc làm, hay là mình cũng sẽ thích thú cùng bà ta hưởng thụ những giây phút dục lạc tội lỗi rồi sau đó đổ thừa cho số phận. Khi chuyện xấu xa này bị phơi bày ra ánh sánh bà Yến sẽ xử sự ra sao? Còn chàng sẽ ăn nói như thế nào với Thiên Hương đây? Ðó là về phần chàng, còn về phần vợ chàng sẽ xử sự như thế nào? Có khinh bỉ chàng không? Nhưng mà chuyện khinh bỉ hay ghen tuông để hạ hồi phân giải. Bây giờ thì. . . cái bà Yến này ra sao nhỉ? Có đẹp lắm không? Từ Giang không biết nhưng không hiểu sao chàng lại nghĩ bà ấy đẹp! Bà ấy đẹp thì sao? Mắc mớ gì đến chàng. Hồi chiều chàng đã mạnh dạn đối chọi, mạnh dạn đè bẹp cái cảm giác rần rần trong người thì tại sao bây giờ lại nhớ. Mấy bữa trước đi làm về Từ Giang đâu có nghĩ ngợi gì đến ai. Cái nghề của chàng là nghề đụng chạm thân xác của khách hàng mà. Tại sao lúc trước không có gì phải quan tâm mà hôm nay Từ Giang lại bị ám ảnh và cứ nhớ bà chủ hoài. Như vầy là có chuyện rồi, xác thịt của chàng đã bị bà Yến trêu chọc và chừng như là nó đang kêu gào đòi hỏi đây. Bây giờ không có bà Yến bên cạnh nhưng có Thiên Hương vợ chàng. Chẳng lẽ Từ Giang lại muốn gần gủi ân ái với Thiên Hương bởi cơ thể chàng đang đòi hỏi vì bà Yến hay sao? Từ Giang thật hoang mang và cảm thấy bứt rứt vì câu hỏi này. Cảm xúc con người quả thật hay thay đổi, nó không bao giờ dừng lại một chỗ, tuỳ cảm xúc mà sinh ra ưa hay ghét. Bây giờ Từ Giang nhớ lại, chàng thấy mình không ưa cũng không ghét bà Yến chút nào. Lúc đó, Từ Giang chỉ lo sợ sẽ xảy ra chuyện không hay nguy hiểm cho chàng, cho bà Yến và cho tương lai của gia đình chàng. Nếu nghĩ như vậy, thì đây thật là một thử thách tình cảm, lòng chung thuỷ của Từ Giang đối với Thiên Hương, Từ Giang mà để cho tư tưởng của mình cứ duyên theo bà Yến không sớm thì muộn chàng sẽ rơi vào địa ngục trần gian lúc nào chàng không hay. Ái chà, Từ Giang ơi là Từ Giang, mi thật sự muốn gì hả Từ Giang?

Thiên Hương vừa bế con đặt sát vào bên trong thì đã bị Từ Giang kéo xuống. Nàng nằm xấp lên mình chồng. Hai đôi môi của họ đã quấn chặt vào nhau. Từ Giang không còn chịu đựng được nữa. Một phần vì những đè nén ban chiều, một phần vì trời mưa rỉ rả bên ngoài khiến cho người ta cảm thấy cần nhau hơn và vì giọng cười khúc khích của vợ càng làm cho Từ Giang muốn ngấu nghiến lấy nàng.

Tối nay Thiên Hương được chồng yêu thương dồn dập có phần hơi mạnh bạo, nàng thấy sự khác biệt trong chuyện chăn gối, nhưng điều khác biệt này lại thoả mãn được cơn thèm khát của nàng từ hồi lúc chồng mới về cho đến bây giờ. Sau một ngày mệt mỏi và sau cơn ân ái Thiên Hương chìm vào giấc ngủ ngon.

Từ Giang thì không, anh ngồi dậy kéo tấm mền mỏng đắp cho vợ, trong bóng đêm chàng vói tay qua thăm chừng coi con gái có bung mền ra không. Từ Giang bước xuống giường ra sân đi tiểu. Trời bây giờ đã tạnh mưa, hơi nước và gió làm chàng rùng mình. Ðóng nhẹ cửa rồi chàng lên giường nằm cạnh vợ. Từ Giang đưa đôi bàn tay sờ nhẹ lên đôi mắt của mình. Bất hạnh từ chỗ này. Bất hạnh từ chỗ không mẹ không cha, không bà con thân thuộc. Một chút nhói trong lồng ngực. Một cơn buồn nhè nhẹ kéo đến. Nhưng thôi. So sánh mong muốn làm gì khi mình không thể thay đổi được cục diện. Ánh sáng hay bóng tối đối với người mù thì cũng như nhau thôi. Mong mỏi và thèm thuồng cũng chẳng ích lợi gì. Cuộc đời của anh đã là như vậy. Không có đôi mắt nhưng anh có đôi tai rất thính, có hai bàn tay mạnh mẽ mà mềm mại, đôi bàn tay của người nghệ sĩ. Nghệ sĩ mù nhưng thừa sức làm cho người khác thích thú. Anh có thể đàn. Có thể hát. Có thể đọc chữ được bằng những ngón tay. Cuộc đời thiếu cái này thì có cái khác bù đắp. Trước kia có thầy Quang bây giờ có Thiên Hương là vợ và anh được may mắn làm cha. Anh đi làm, lấy sức lao động kết hợp với nghệ thuật massage để kiếm tiền phụ với thầy Quang nuôi các con của người, cũng như ngày xưa thầy Quang đã nuôi anh và Thiên Hương vậy!

Tâm hồn Từ Giang đơn giản và đôn hậu không nghĩ ngợi và ham muốn xa xôi, vậy mà ban chiều đã xảy ra chuyện đó. Chưa có gì. Nhưng những ngày sắp tới liệu bà chủ có để cho anh yên hay không?

Người ta thường nói “cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng”. Cuộc đời của anh vốn đã khổ cực bơ vơ từ thuở nhỏ. Nếu không được thầy Quang nuôi dưỡng cho học một cái nghề và gả Thiên Hương cho anh thì cuộc đời anh sẽ mãi mãi chỉ là một kẻ sống ngoài lề xã hội, cũng chỉ là một kẻ sống đói khổ lê lất như người ăn xin mà thôi! Anh mang ơn thầy Quang nên nguyện suốt đời sống sao cho phải đạo để đền đáp công ơn dưỡng dục của thầy. Anh yêu thương Thiên Hương không phải vì nàng có nhan sắc chim sa cá lặn mà chỉ vì nàng hiền lương thuần hậu và cùng một hoàn cảnh như anh, mồ côi cha mẹ. Và, đối với nàng, anh là một người chồng lý tưởng. Nàng nói như vậy trong đêm tân hôn. Ở bên cạnh chỉ cần nghe giọng cười khúc khích trong trẻo của nàng là anh cảm thấy hạnh phúc rồi. Cái hạnh phúc hết sức bình dị không mong cầu cao sang quyền quý. Mà thực sự anh cũng không dám mong cầu điều gì hơn nữa.

Mấy tháng qua, có người giới thiệu nên Giang được bà Yến nhận vào làm. Mỗi ngày thầy Quang cắt người đến rước và chiều thì đón Giang về. Tiền lương của Giang cũng được chia cho người bạn đó. Giang muốn góp hết phần tiền lương còn lại của chàng vào quỹ để thầy Quang có thêm chút ít xoay xở nuôi các em nhỏ như lúc trước, nhưng thầy nói:

– Gia đình của hai đứa bây giờ có thêm cháu Thiên Hà, kiếm được chút ít tiền nên để giành để lo cho tương lai. Không chắc gì có việc làm tốt hoài. Chừng nào cần thầy cho biết!

Nhớ hôm đám cưới hai người, thầy cũng có nói:

– Các con đừng lo ngại, cứ vui vẻ sống, ở đây còn có thầy và các anh chị em, mình giúp đỡ lẫn nhau. Ai có mắt thì giúp người không có mắt. Mình phải đùm bọc lẫn nhau mà sống các con biết không?

Rồi đến khi Thiên Hương có bầu. Không chỉ hai vợ chồng Từ Giang lo sợ mà thầy Quang và những người trong trường mù cũng lo âu lắm. Ðến ngày Thiên Hương nở nhụy khai hoa. Niềm vui lớn nhất của gia đình mù này là con bé không bị mù như ba má nó. Lúc đó, thầy Quang đã nhờ bà Năm một trong những người đảm trách công việc trong nhà bếp của trường mù đến ở hẳn trong ngôi nhà nhỏ này giúp đỡ và chăm sóc hai mẹ con cho đến ngày Thiên Hương hoàn toàn khoẻ mạnh. Bây giờ thì con bé Thiên Hà đã được bảy tháng tuổi, không ngờ nó bụ bẩm xinh đẹp như đứa bé sanh trong một gia đình giàu có. Thiên Hà rất dễ nuôi, nó sống trong tình thương của gia đình Khuyết Thị. Sau này lớn lên nó sẽ ngạc nhiên lắm vì nó được cha mẹ mù, cô bác mù chăm sóc nuôi dưỡng nó như người sáng mắt.

Thật vậy, một người lạ chân ướt chân ráo tới thăm Gia Ðình Khuyết Thị này nếu không nhìn thẳng vào đôi mắt của các em sẽ không biết là các em bị mù bởi vì các em đi đứng, dọn cơm, rửa chén, lau nhà, giặt giủ quần áo giống như người sáng mắt. Nhờ thầy Quang tổ chức huấn luyện dạy dỗ có phương pháp lại được sự thương yêu giúp đỡ của nhiều vị hảo tâm ở ngoại quốc cũng như trong nước mà cuộc sống của các em có phần nhẹ nhàng dễ chịu hơn. Các em lớn thì được thầy rước người đến dạy nghề, đan rổ, kết hoa, mài mực. Các em gái đan nón, đan vớ đẹp không thua gì người sáng mắt.

Cuộc sống tuổi thơ rồi cũng phải trôi qua. Ðể giải quyết những đòi hỏi sinh lý và tình cảm rất thực của những thanh niên thiếu nữ mù, thầy Quang đã tác hợp cho ba cặp và cất cho ba cặp này ba căn nhà lá sát bên nhau ở trong khu vực của trường mù. Cặp Từ Giang và Thiên Hương là cặp có con đầu tiên. Hai cặp kia thì chưa. Mọi người sống chung trong khuôn viên trường mù, làm việc chung, có người lo cơm nước, những em nhỏ được đi học, những đứa lớn ai có khả năng thì leo lên đại học, ai không thì tham gia công tác sản xuất, học nghề. Tất cả đều làm việc theo ý thích và khả năng của mỗi người, tiền bạc kiếm được thường là tiền của chung. Ăn uống thuốc men quần áo do Ban Từ Thiện của trường mù lo. Riêng những cặp đã lập gia đình thì thầy Quang thường cho riêng tiền để họ có thể tiêu xài vào những nhu cầu cần thiết riêng của người có gia đình. Thầy Quang định nếu các gia đình mù này muốn ra ngoài xã hội sống thì thầy sẽ cố gắng giúp phương tiện nhưng coi bộ không ai muốn rời cái tổ ấm mù này để ra đi. Mấy tháng qua Từ Giang được mời ra ngoài làm việc, lương của chàng so với những người khác được trả cao hơn. Thầy Quang đề nghị cho luôn để gia đình của Từ Giang-Thiên Hương thích mua sắm gì thêm cho gia đình riêng tư của họ thì được tự do, chứ thầy thì không đủ khả năng mua thêm bất cứ những đồ đạc xa xí phẩm nào khác cho họ bởi vì thầy còn hằng trăm đứa con mồ côi khác, đứa thì mù đứa thì liệt chân liệt tay cần sự chăm sóc.

Chuyện xảy ra ngày hôm nay giữa Từ Giang và bà Yến khiến cho chàng lo sợ. Nếu chẳng may mất việc làm tốt này không hiểu thầy Quang có buồn không? Nếu Từ Giang giữ im lặng, chuyện này kéo dài thế nào chàng cũng rơi vào vòng tay của bà Yến. Dù không nhìn thấy khuôn mặt bà Yến như thế nào nhưng Từ Giang cũng không ngu dại gì mà không biết bà Yến muốn gì? Từ Giang thật sự yêu thương và không muốn phản bội Thiên Hương.

Phải tìm một giải pháp. Từ Giang suy nghĩ hoài mà không tìm ra một giải pháp nào tốt ngay lúc này. Ngày mai là một ngày mới nhưng trong cái phòng nhỏ đó chàng và bà Yến sẽ diễn lại cái trò cũ, và rồi Từ Giang sẽ trở thành một người bất nghĩa phản bội vợ con. Nếu ngày mai Từ Giang không đi làm thì gia đình chàng sẽ là một gánh nặng cho thầy Quang, mặc dù Thiên Hương cũng đang là một cánh tay sản xuất hàng hoá rất giỏi cho trường. Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ, vì nhu cầu của các em nuôi trong trường mù ngày một gia tăng. Từ Giang có trách nhiệm giúp thầy nhiều hơn chứ không phải chỉ bao nhiêu đó.

Thiên Hương trở mình, nàng nhẹ đưa tay qua ôm lấy chàng. Từ Giang cũng quay lại ôm lấy vợ. Ðôi bàn tay chàng sờ lên khuôn mặt của Thiên Hương. Vợ chàng có cái trán cao, đôi mắt mù đang nhắm ngủ nhưng đôi mi cong dài, sóng mũi thon cao, đôi môi mọng đều. Bàn tay Từ Giang sờ tiếp xuống cằm, có một nốt ruồi. A,Ừ Từ Giang nhớ hôm đám cưới thầy Quang có nói:

– Từ Giang biết không? Thiên Hương vợ của con có làn da trắng, có nốt ruồi ở phía bên phải cằm. Theo thầy thì vợ con là hoa khôi của trường mình đó. Bữa nay cô dâu đẹp tuyệt vời. Từ Giang, con có phước lắm đó, phải hết lòng yêu thương và chung thuỷ. Hạnh phúc ở trong lòng mình chứ không phải ở ngoài, vì vậy sáng mắt hay không sáng mắt không còn là điều tối quan trọng của các con nữa!

Từ Giang xiết vợ vào lòng và hôn lên tóc vợ, chàng đã tìm ra một giải pháp rồi. Sáng mai nhờ bạn chở lên văn phòng gặp thầy, kể rõ cho thầy nghe chuyện hôm nay và xin thầy ý kiến. Chắc chắn là thầy sẽ bảo Từ Giang ở nhà làm việc khác, còn trăm ngàn chuyện thầy Quang cần có bàn tay của Từ Giang đỡ đần. Thầy sẽ là người liên lạc với bà Yến. Ðã từ lâu Từ Giang coi thầy Quang như là cha ruột của mình, không có chuyện gì phải giấu cha hết. Như vậy mình khỏi cần phải kể lễ dong dài phiền phức với Thiên Hương làm gì. Cô vợ xinh đẹp của chàng biết đâu là một Sư Tử Hà Ðông, khi nó yêu thì yêu dữ lắm, nhưng khi nó ghen thì phải biết. Quyết định như vậy được quá rồi. Bây giờ an tâm đi vào giấc ngủ. Từ Giang lại ôm chặt lấy vợ và hôn tới tắp vào mặt nàng. Thiên Hương tỉnh giấc, nàng vùi người vào ngực chồng hỏi:

– Nữa hả anh?

Từ Giang không nói gì, chàng quấn lấy vợ nói:

– Trong phòng tối quá nhưng anh thấy em rất rõ .

Thiên Hương định trả lời: “Từ Giang ơi, bữa nay sao anh xạo quá vậy? Lúc nào anh với em cũng ngập chìm trong bóng tối chứ đâu phải chỉ có bây giờ.” Nhưng Thiên Hương giữ lại câu nói đau buồn đó. Nàng đưa tay lên mặt chồng, làm y như Từ Giang đã làm với nàng hồi nãy. Cũng từ trán, xuống mắt, tới sóng mũi và đôi môi rồi xuống lồng ngực nàng rù rì nói nhỏ:

– Chồng của em đẹp trai lắm. Nước da ngăm ngăm nhưng có duyên hết sức.

– Sao em biết?

– Thầy Quang và các bạn nói, phải giữ chồng không thôi coi chừng người ta bắt cóc chồng đi mất.

– Giữ bằng cách nào.

– Bằng cách này!

Thiên Hương chồm lên cắn nhẹ vào vành tai của Từ Giang không nói. Từ Giang cười thầm trong bụng:

– Ghê nghe. Học ở đâu cái trò này!

– Mấy chị bạn sáng mắt trong phòng đan áo chỉ.

– Có mấy anh làm việc chung không?

– Có.

– Rồi có học cái gì từ mấy anh đó không?

– Bây giờ thì chưa?

– Vậy mai mốt có hả?

– Biết đâu chừng. Anh cũng vậy thôi. Ðã có gì với bà chủ chưa?

– Sao em hỏi vậy?

– Nghi lắm. Kể cho em nghe đi!

– Nhưng có ghen không?

– Tuỳ nơi anh.

Bây giờ Từ Giang thấy mình cũng chẳng có gì phải giấu giếm vợ, nên chàng kể lại hết những chuyện xảy ra hồi sáng. Kể luôn ý định sáng mai xin nghỉ việc để tránh trường hợp bị người ta tấn công tình dục và để giữ gìn chàng cho riêng Thiên Hương.

Con bé Thiên Hà vừa cựa mình, nó không khóc, nhưng mẹ nó hiểu ý thay cho nó tấm tả mới. Nó cong người một chút rồi ngủ tiếp. Con bé dễ nuôi và dễ ngủ làm sao.

Thiên Hương nằm xuống bên cạnh Từ Giang. Hai vợ chồng mù ôm lấy nhau, bây giờ thì cơn buồn ngủ đã kéo tới với họ nhất là với Từ Giang. Chỉ vài giây sau Thiên Hương đã nghe tiếng ngái đều đều của chồng vang lên. Sự lo lắng từ hồi đầu hôm đến giờ của Thiên Hương đã biến mất. Từ Giang thật dễ thương, nếu chàng không nói thật thì làm sao Thiên Hương biết là bà chủ đã tìm cách quyến rủ chồng nàng. Bất quá nàng chỉ nghi ngờ vu vơ là Từ Giang đã nói chuyện ởm ờ đẩy đưa làm vừa lòng mấy bà khách cho qua chuyện. Chỉ cần nghĩ đến hai bàn tay của Từ Giang vuốt ve thân hình mấy bà khách thôi, Thiên Hương cũng đã cảm thấy buồn trong lòng rồi nói chi đến chuyện Từ Giang suýt chút nữa bị lọt vào bẫy tình của bà chủ. Lợi dụng Từ Giang mù nên bà ta tấn công mà không cảm thấy xấu hổ. Vả lại Từ Giang đẹp trai lắm mà. Giọng nói của chàng cũng hấp dẫn người ta lắm, bảo sao bà chủ giàu có không muốn cùng chàng mây mưa . . .

Thiên Hương nghĩ chồng mình quyết định như vậy phải lắm. Lần đầu tiên trong cảnh mù loà đen tối nàng thật sự không còn sợ hãi nữa. Từ Giang đã đem lại niềm tin cậy cho nàng. Cuộc sống hiện tại và bây giờ trong bóng đêm cũng có cái hạnh phúc vô bờ của nó. Nàng thầm cám ơn thầy Quang, một vị tu sĩ vì người quên mình, một người cha già giàu lòng từ bi đã cứu vớt hằng trăm mảnh đời bất hạnh trong đó có nàng và Từ Giang. Cái gì cũng có nguyên do của nó chứ không phải tự nhiên mà Thiên Hương cảm thấy yêu chồng vô hạn đêm nay.

TRẦN KIM VY

Trích Tập truyện

“Ðàn Chim Bóng Nắng”

sắp phát hành

Thêm bình luận Tháng Sáu 23, 2007

GIỌT LỆ QUÊ NGƯỜI


(Viết cho những người Cha đã một đời vì con)

Anh em ơi! Đừng sợ cao bồi
Nó có súng mình có dao găm
Nó bóp cò mình nhảy mình đâm
Nó chết rồi mình có năm trăm…

Tiếng hát ồ ồ của bé Nguyên khiến cả nhà ai cũng bật cười. Bố cười xong rồi bảo:
– Nầy con trai của Bố, ai dạy cho con hát kỳ vậy?
Bé Nguyên đưa tay chỉ chị:
– Chị Uyển đó Bố!
Uyển nhảy nhổm la làng lên:
– Sao Nguyên nói gì vậy? Chị có biết bài hát đó đâu?
Bố ngạc nhiên nhìn Uyển, rồi nhìn bé:
– Nè, Nguyên không được nói dối nhé! Chị có dạy cho con không?
Bé ngập ngừng một lúc rồi lắc đầu. Uyển thở phào nhẹ nhõm. Bố bắt bé nằm xuống quất một roi vào mông thật đau, rồi bảo:
– Bài hát thì không sao, nhưng cho Nguyên chừa đi cái tật nói dối. Phải xin lỗi chị mau…
Nguyên thút thít khóc tới bên chị khoanh tay lí nhí nói với chị:
– Em xin lỗi, lần sau em không dám… nói chị dạy cho em bài hát Anh em ơi, đt “Anh em ơi, nữa…
Lời nói ngây thơ của bé khiến cả nhà phì cười, anh Trung đùa:
– Vậy thì Nguyên sẽ nói chị Uyển dạy em hát bài gì nào?
Bé Nguyên ngơ ngác, không hiểu anh Trung muốn nói gì…
Uyển kéo bé Nguyên vào lòng, ôm chặt bé nói:
– Bài hát đó không dễ thương nhưng em hát dễ thương lắm. Đừng hát nữa nha, nhớ hôm nay bị đòn vì em nói dối đó! Từ nay đừng nói dối nữa nha.

*

Uyển nói tới điều nầy là vì muốn nói đến lối giáo dục con cái của Bố, nghiêm khắc nhưng dịu dàng. Các anh chị em của Uyển ai cũng sợ Bố nhưng cũng rất yêu thương người. Bao nhiêu năm gia đình sống yên vui và hạnh phúc…
Khi miền Nam… được giải phóng, Bố đang là nhân viên lao công cho Bộ Canh Nông thì… mất việc, với lý do: Làm sạch sẽ cho… bọn Ngụy! Bố mất việc khi anh Trung và Uyển chưa đủ tuổi để đi làm. Mẹ thì từ xưa nay chỉ biết quán xuyến nhà cửa, chẳng làm gì ra tiền, gia đình bắt đầu đi vào vòng túợc quẫn.
Ba sau ba ngày… cải tạo, về nhà Ba bắt đầu chạy ngược chạy xuôi để tìm việc. Mẹ cũng cùng Trung bắt đầu ra Chợ Cũ (nơi tập trung mua bán bất cứ thứ gì bán được) để bắt chước người ta mua đi bán lại để kiếm đồng ra đồng vô về mua gạo, mắm muối phụ giúp gia đình. Ba của Uyển cuối cùng cũng tìm được việc làm, nhưng phải đến tận Cao Lãnh để nhận việc. Cuộc sống với muôn vàn khốn đốn, Bố lại phải đi làm ăn xa nên căn nhà vô cùng hiu quạnh.
Vài tháng, bố mới về Saigon thăm gia đình một lần, lần nào bố cũng đem về cho gia đình những trái ổi xá lị to như cái bát ăn cơm, ngọt và giòn rụm, cắn vào Uyển nghe thiệt ngon, nhất là nghĩ tới điều Bố đã đi chợ lựa từng trái mang về cho gia đình, một điều mà từ xưa tới giờ Bố không bao giờ làm…
Có một lần, Bố bận (hay sợ tốn kém Uyển không biết được), Bố không về thăm nhà như lời hứa, Bố gửi bác Tường -người bạn thân của Bố- ghé nhà trao tiền lương cho mẹ để lo chi phí trong nhà. Cả nhà rơi nước mắt khi nghe bác kể lại hôm nọ, khi được tin bé Nguyên bị bệnh nặng phải đưa và nhà thương, Bố quýnh quáng lo chạy tiền. Gặp tối hôm đó, nhà của một người bạn mừng con có việc làm, mời bạn bè tới chung vui… Bữa tiệc chỉ có khô cá thiều và rượu đế. Trong bữa nhậu, có lẽ một số người bị say nên ùn ùn thách đố nhau ăn ớt, 20 trái ớt hiểm, mỗi người bỏ ra 50$ … Tất cả 11 người tổng cộng số tiền coi như khá cao, nhưng ai cũng không dám ăn, cuối cùng Bố mạnh dạn xung phong… Cầm 20 trái ớt Bố nhai rau ráu, nước mắt nước mũi tèm lem… mặt Bố đỏ rực lên như mặt trời, cay quá, bố chịu không nổi, chạy lung tung, cuối cùng Bố nhảy ào xuống ao rau muống. Có lẽ lúc đó những người say như mới tỉnh ra, cuối cùng ai cũng hối hận khi biết Bố cần tiền để gửi về Saigon lo thang thuốc cho thằng con út, nên mọi người ngoài tiền đánh cuộc ra còn cho thêm mỗi người ít nhiều nữa. Mẹ thẫn thờ nói khẽ:
– Hèn gì hôm thằng Nguyên bịnh Bố mang thật nhiêu tiền về bảo là bạn bè giúp đỡ.
Nguyên khóc nức nở, bảo :
– Cũng tại Nguyên mà Bố mới khổ như vậy đó! Nguyên sẽ biên thư cho Bố, hu hu!!!
Bác Tường ngăn lại:
– Con đừng nói, Bố con sẽ biết Bác kể! Bác chỉ muốn các cháu biết sự hy sinh và thương con của Bố các cháu thôi!
Cuối cùng, mọi người đồng ý giữ kín chuyện nầy theo yêu cầu của bác Tường.
Cuộc sống mỗi ngày một cam go hơn. Rồi một đêm nọ, bất thần Bố về thăm nhà, Bố cho biết theo tin tức của một người bạn thân sẽ có những đợt động viên về nghĩa vụ quân sự sắp tới, và có một người sẽ tổ chức vượt biên vào tối hôm sau, họ đồng ý cho Bố gửi gấm anh Trung, Uyển và Nguyên với giá mỗi người một lượng vàng điều kiện khá dễ dàng là Bố trả góp mỗi tháng cho tới lúc hết (lúc đó vàng trị giá 350 dollars/lượng). Bố bảo Bố lo sợ nhất là anh Trung sẽ không thoát khỏi đợt nghĩa vụ đầu tiên, bố căn dặn gia đình phải giữ kín và khuyên: Các con phải ra đi! Vì tương lai, các con không thể nào sống mãi như thế nầy được. Bố đã di cư vào Nam khi ông bà Nội của các con vừa bị đấu tố, bỏ lại bà Nội cô đơn Bố cũng đau lòng lắm, nhưng đó là lời khuyên của ông Nội các con, thì ngày nay Bố hiểu thà Bố Mẹ xa các con hôm nay nhưng các con có một tương lai còn hơn gia đình mình mãi sống trong mịt mù tăn: “Các con nầy!.
Quá bất ngờ, anh Trung, Uyển và nhất là Nguyên cứ khóc òa lên, níu lấy Mẹ năn nỉ cho Nguyên ở nhà… lo cho Mẹ với Bố. Mẹ đầm đìa nước mắt, ôm chặt các con trong vòng tay như không muốn lìa xa… Bố rướm rướm nước mắt nói một câu khiến cả nhà như tỉnh mộng:
– Xa hôm nay, còn có ngày gặp lại trong hạnh phúc, còn hơn tới một ngày gia đình mình tan nát hết. Các con phải biết Bố đau lòng tới cỡ nào, nhưng phải chọn lựa vì cơ hội sẽ không bao giờ có được lần thứ hai với gia đình nghèo như mình đâu!
Qua đêm sau, Bố Mẹ cắn răng ôm các con trong vòng tay, mẹ giúi vào tay mỗi đứa một ít tiền. Cả nhà không ai dám khóc ngay cả bé Nguyên cũng im thin thít khi thấy Mẹ cứ đưa tay bụm miệng để ngăn tiếng nấc. Ôm hôn từng đứa vào lòng căn dặn, Uyển nhớ mãi câu dặn dò của Bố khi nói riêng với Uyển:
– Con là một đứa con gái giàu lòng can đảm, Bố tin tưởng con sẽ thành công, con ráng thay Bố Mẹ lo cho anh Trung và em Nguyên khi không có Bố Mẹ bên cạnh…
Từng câu nói tế nhị, ngọt ngào yêu thương của Bố đã khích lệ cho ba anh em mạnh dạn lên đường sau đó!
Cuộc vượt biên đầy sóng gió, nhưng cuối cùng cũng tới đích.
Qua tới Mỹ, cả ba anh em được một gia đình không con nhận nuôi, vì ông Kerr là một người đầy lòng nhân ái, ngày xưa ông từng bị người cha ghẻ ngược đãi, ông bỏ nhà đi hoang. Cho tới một buổi sáng tinh sương, ông đi lượm nhặt từng chiếc lon nhôm kiếm sống qua ngày thì cứu được một người đàn ông đang chạy bộ bị tên cướp cạn giựt cái máy walkman ông đang gắn vào tai nghe nhạc. Đầu ông bị đập vào đường máu me lênh láng, tên cướp vung chân đá ông lăn xuống đường mương, ông ta nằm bất tỉnh. May gặp lúc ông Kerr ngang qua, kịp thời gọi 911, thế là nạn nhân đưy “walkman” sống.
Về sau, người đàn ông kia đem cho về nhà, giao cho cai quản một vườn cam rộng lớn. Bấy giờ, ông Kerr mới biết ông Robert là một người giàu có ở trong vùng, một bên đền ơn cứu mạng, một bên mang ơn người đã cho mình cuộc sống sung túc, nên đã tận lực làm lụng khiến cho lợi tức của ông Robert càng ngày càng lên cao. Khoảng hai năm sau, ông Kerr lấy được một người vợ lại là… cháu gái của ông Robert.
Công việc nơi vườn cam mỗi ngày một phát triển, ông Kerr mua thêm đất và cứ khuếch trương mỗi ngày một lớn. Khi ông biết được ba anh em của Trung cần người bảo trợ, thế là ông lo thủ tục bảo lãnh, với điều kiện quá lý tưởng của ông nên chưa đầy bốn tháng là cả ba anh em được sang Mỹ. Ông Kerr nhớ lại những ngày khó khăn của mình nên rất yêu thương anh em của Trung, ông mua cho họ một căn mobile home. Điều đặc biệt nhất nơi ông Kerr là ông cho cả ba đứa tới trường, và ông chỉ cho anh em Nguyên ra phụ với ông hái cam cùng với nhân công cũng như một niềm vui và giải trí khi rảnh rỗi thôi. Anh em của Trung thay phiên nhau biên thư về cho Bố Mẹ ở quê nhà, thư của Nguyên hứa với Bố sẽ chăm lo học hành, sẽ ngoan nghe lời người bảo trợ cũng như anh chị để cho Bố Mẹ vui lòng. Còn Trung và Uyển hứa hẹn sẽ làm có tiền gửi về báo hiếu và trả nợ cho chủ ghe. Không may, lá thư đó bị kiểm duyệt. Bố bị ghép vào tội đồng lõa cho con vượt biên, khác với lời khai trong bản Kê khai lý lịch thế là Bố bị đưa vào tùc
Khi có một người bạn của Bố thương tình nhắn khéo với anh em Nguyên, cả ba anh em không khỏi xúc động lẫn ăn năn… và tự hứa sẽ cân nhắc từng câu mỗi khi thư về cho Bố Mẹ.
Chừng sáu tháng sau bố được tha về, nhưng sức lực của Bố không còn như xưa bởi chứng bịnh loét bao tử, phù thũng, đi lại thật khó khăn, nhưng thư nào cho anh em Nguyên bố cũng nói những lời vui vẻ, lạc quan…
***
Thấm thoát thời gian trôi qua, Trung tốt nghiệp đại học, chàng có ngay việc làm tại… hãng cam của Bố nuôi (tức ông Kerr). Còn Uyển vào năm thứ hai. Nguyên bắt đầu bước vào trung học. Ông Kerr rất hãnh diện với những người con nuôi nầy…
Trung vài tháng gửi về cho Bố Mẹ 100 dollars! Cũng nhờ vậy mà Bố lo thuốc thang trị dứt bịnh và cũng dần dần trả hết nợ cho gia đình người thân còn lại của người chủ ghe đã có lòng giúp cho anh em Trung ngày nào.

Gần tới ngày Father”s day, Trung mua cho ông Kerr một cái đồng hồ thật đắc tiền, ông rất cảm động, và ông cũng khuyên Trung nên gửi tiền về cho Bố Mẹ ở Việt Nam. Trung cũng thành thật cho ông biết là chàng cũng từng gửi tiền cho Bố Mẹ, và cũng vừa mới bắt điện thoại cho Bố Mẹ trong tháng vừa qua rồi.
Đúng ngày Father”s day, tức là sáng chủ nhật, tại Mỹ tức 8 giờ tối ở Việt Nam sau khi chúc mừng cho Bố nuôi xong, ông Bà chuẩn bị đi lễ nhà thờ. Anh em Nguyên quây quần bên nhau gọi điện thoại cho Bố Mẹ. Mẹ bắt phone, vì là lần đầu tiên gặp lại anh em Nguyên, giọng mẹ nghẹn ngào xúc động. Qua cơn xúc cảm rồi Mẹ mới hỏi được một câu :
– Sao Mẹ nói chuyện được cả ba đứa vậy?
Nguyên thao thao bất tuyệt kể về tiện nghi bên Mỹ cho mẹ nghe… Mẹ bỗng lên tiếng:
– Nè, Bố con cứ chực một bên này! Các con nói chuyện với Bố đi!
Đầu dây, anh em Trung nhao nhao chúc Bố một ngày vui, rồi Uyển nói cho Bố biết ý nghĩa của ngày Father”s day tại Mỹ.
Giọng Bố nghẹn ngào khi nói lời cám ơn các con. Sau đó, Bố nhắn nhủ thật nhiều với Trung và Uyển, cả hai cũng nói lại cho Bố Mẹ biết về sự thành công trong con đường học vấn của Ba anh em, Trung cũng thiết tha nói với Bố là ba anh em có ngày hôm nay cũng nhờ sự yêu thương dìu dắt của Bố Mẹ…
Bỗng dưng, Bố hỏi:
– Bé Nguyên của Bố có đầu dây không?
Nguyên nói như hét:
– Bố ơi ! Nguyên còn đây! Con nhớ Bố lắm… Con sẽ học giỏi, làm có tiền thật nhiều để gửi về cho Bố Mẹ trả nợ… Bố ơi! Con muốn nói với Bố chuyện nầy nha!
– Ừ, con nói đi!
– Hồi ở Việt Nam con biết vụ bố ăn ớt… vì con! Con cám ơn Bố, con thương bố lắm! Nhờ chuyện đó mà con mới chịu đi Mỹ với mấy anh chị đó Bố…!!!
Bố cũng như Trung và Uyển im phăng phắc trước câu nói bất ngờ của Nguyên. Giọng Bố nghẹn ngào đầu dây:
– Nguyên, Bố nhớ con lắm, Bố muốn nghe lại bài hát ngày xưa mà Bố đánh con, con còn nhớ không?
Giọng Nguyên cũng sũng đầy nước mắt:
– Anh em ơi! Đừng sợ cao bồi
Nó có súng mình có dao găm
Nó bóp cò mình nhảy mình…

Nguyên òa lên khóc… không hát tiếp được.
Trong điện thoại chỉ còn tiếng sụt sùi của mọi người…

ÁI KHANH

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

BÀNG BÁ LÂN VÀ BẢN GIAO HƯỞNG SỐ SÁU


Buổi trưa hè tịnh vắng dưới bóng cây hoàng lan xanh mát. Cái im vắng nghe nhịp đập của chính trái tim mình, tưởng chừng như đang nằm trên chiếc võng đu đưa đâu đó ở hiên nhà Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam, quê hương thuở nào chưa ngập tràn khói lửa chiến chinh:

Dưới gốc đa già, trong vũng bóng
Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai
Ve ve rung cánh ruồi say nắng
Gà gáy trong thôn những tiếng dài

Trời lơ cao vút không buông gió
Đồng cỏ cào phô cánh lược hồng
Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa
Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng

Quán cũ nằm lười trong sóng nắng
Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu
Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm…
Đứng lặng trong mây một cánh diều

Cành thưa nắng tưới chim không đứng
Quả chín bâng khuâng rung trước hè
Vài cô về chợ buông quang thúng
Sửa lại vành khăn dưới bóng tre

Thời gian dừng bước trên đồng vắng
Lá ngập ngừng sa nhẹ lướt ao
Như mơ đường khói lên trời nắng
Trường học làng kia tiếng trống vào
(Trưa Hè – Bàng Bá Lân)

Theo nhận định của Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam “Bàng Bá Lân chính thức đóng góp vào nền văn học nước nhà bằng tác phẩm Tiếng Thông Reo xuất bản năm 1934. Bàng Bá Lân là thi nhân tiền phong mở đầu cho phong trào thơ mới ca ngợi đồng quê…” Bàng Bá Lân sinh năm 1912 tại Phú Lang Thượng Bắc phần nhưng chính quán ở làng Đôn Thư, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ngoài thi tập Tiếng Thông Reo, Bàng Bá Lân còn in chung tập Xưa với nữ sĩ Anh Thơ, Sông Thương xuất bản tại Hà Nội năm 1941, Tiếng Sáo Diều xuất bản năm 1939, Thơ Bàng Bá Lân năm 1957 tại Saigon, Tiếng Võng Đưa do nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê ấn hành tại Saigon năm 1957… Những bài thơ mang tính chất mộc mạc, chứa chan hương đồng phấn nội của thi sĩ Bàng Bá Lân đã qua những thử thách trên sáu mươi năm đọc lại vẫn còn mới, nhất là đối với tâm trạng của chúng ta – lữ khách ngàn dặm xa cố quận – lại càng thắm thiết nồng nàn tình tự quê hương. Có thể những hình ảnh rất đơn sơ tầm thường như:

Quê tôi có lúa, có dâu
Có đàn cò trắng, có câu huê tình
Có cây đa, có mái đình
Có bầy thôn nữ xinh xinh dịu dàng
Mùa thu có những hội làng
Có cây đu buổi xuân sang dập dìu…
Gió vi vu tiếng sáo diều
Ru hồn mục tử chiều chiều trên đê…
Tiếng gà trưa lắng chơi vơi
Tiếng chim cu gáy: buồn ơi là buồn!
Ngày ngâu gió khép mưa đơn
Mái tranh rõ những lệ buồn vu vơ
Đêm dài nhịp võng đong đưa
Lời ru êm ả ngàn xưa vọng về…
Nhớ nhung sắc mắc lê thê
Xa xôi nghe dậy hồn mê não nùng!…
Chiều ấy, mưa rào ở xóm Đông
Cho người ủ dột đứng bên song
Xa nhìn đắm đuối tìm trong gió…
Chỉ thấy màn mưa trắng ngập đồng.
Ai biết mưa rơi nói những gì?
Lá buồn gieo lệ khóc lâm ly.
Lòng bâng khuâng quá, xôn xao nhớ
Cả một tình yêu buổi ấu thì,
Buổi một nàng qua dưới mái hiên
Đường mưa in một gót chân tiên
Ta nhìn theo bước đi ren rén
Bỗng cả lòng yêu náo nức liền…
Từ ấy trên đường loang loáng mưa
Tìm hoài đâu thấy gót chân xưa!
Đường mưa bao gót chân mưa bước,
Gợi mãi tình yêu buổi dại khờ!

Thật là ngu ngơ của chút tình thơ dại, dễ thương, nhưng cũng đủ hé lộ một tâm hồn lãng mạn tỏa ngát cả trời thơ trữ tình. Những bài thơ bây giờ tôi không tìm thấy ở hải ngoại. Đôi khi người yêu thơ Bàng Bá Lân ở viễn xứ bùng vỡ từ trong tiềm thức, cứ mơ hồ mong được tâm trạng như Trang Tử hóa bướm và không còn phân biệt bướm hay Trang Tử hiện hữu trong cuộc đời phàm tục này. Những hình ảnh tuy là chơn chất tầm thường trong thơ Bàng Bá Lân, chúng ta cảm nhận thấp thoáng mơ hồ như chỉ còn trong tâm tưởng của một thời thơ mộng hồn nhiên trong quá khứ. Khi những cái tầm thường đó đã thực sự rơi mất trong tầm tay như Lưu Nguyễn rời khỏi Thiên Thai thì sương khói mơ Tiên chỉ là ảo mộng, chỉ là nuối tiếc vu vơ…

Những giọt nắng rụng đầy trong vườn, đong đưa trong làn gió thoang thoảng mùi hương hoa cỏ dại. Giọt nắng gợi nhớ những buổi trưa ở Đông Hà, Ái Tử, Khe Sanh, ở Kỳ Sơn, Tiên Phước, Trà Mi, ở Vỹ Dạ, ở Hồ Than Thở, ở khu vườn Măng Cụt Lái Thiêu, trên bãi biển thùy dương reo ở Cửa Đại, ở cánh đồng hoa quỳ Đơn Dương, cùng bằng hữu uống rượu say ngất trời. Buổi trưa mùa hè im vắng mơ hồ thoảng đến khúc Giao Hưởng Số 6 của Beethoven, diễn tả cảm giác an bình khi ông hòa nhập với thiên nhiên. Trong thời gian hiện tượng rực rỡ nhất của thiên tài âm nhạc lỗi lạc của đầu thế kỷ 18. Hàng loạt tác phẩm của Beethoven đã ra đời như những bản Sonate cho đàn dương cầm, nhiều bản quator cho đàn dây, Oratorio của bản “Chúa Ngự Trên Núi Olive”, khúc dạo tuyệt vời cho vở kịch “Coriolan”, “Egmont”, những bản Concerto thứ 3, thứ 4. Bản giao hưởng số 5 diễn tả sự dũng cảm chiến đấu của con người trước những đàn áp về nhân bản, tự do. “Moonlight” đi dần về siêu thực. Và dừng lại với thiên nhiên rộng lớn như đi tìm sự an ủi chân tình. Lúc đó thực sự ông đã nhìn rõ chân tướng cuộc đời chỉ là hư ngụy giả dối, bản chất con người cũng chỉ là những manh nha áp bức lẫn nhau để mưu đồ danh lợi nhỏ nhen ích kỷ. Trong khi ông mải miết đi tìm chân lý yêu thương giữa con người với con người dưới chân Thượng Đế, dưới ánh sáng mặt trời từ ái bao dung. Cuối cùng người nhạc sĩ thiên tài chán nản, thất vọng, lặng lẽ quay về với người tình thủy chung đó là thiên nhiên an bình chân thật. Ở Vienna, ông trở thành bóng dáng đơn độc, lang thang trên những cánh đồng đầy cỏ hoa và hát rong với mây trời. Quê hương nguyên quán không chừng đã xa lạ đối với ông.

Thi sĩ Hạ Tri Chương thời Sơ Đường (659-744) tự là Quý Châu, người Quảng Đông, ngoài tài thơ văn, đàm thuyết, ông còn có biệt tài viết chữ thảo, chữ lệ rất xuất sắc. Tính tình phóng khoáng, thích uống rượu ngâm thơ thưởng nguyệt, bạn thân của Lý Bạch, Trương Húc, được người đời gọi là “Túy trung bát tiên”, đỗ tiến sĩ, được triều đình trao chức Bác Sĩ Quốc Tử Tứ Môn, làm Thái Tử Tân Khách Bí Thư Giám, được một thời gian rồi từ quan về làm đạo sĩ ở quê nhà. Điều đáng ngạc nhiên và đau khổ vì khi đã luống tuổi, ông mới có cơ hội hoài hương. Khi về đến quê nhà mọi cảnh trí và người đều thay đổi với thời gian. Ông như người khách lạ trên chính quê hương thân yêu của mình:

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
Hương âm vô cải, mấn mao thôi
Nhi đồng tương kiến, bất tương xứng
Tiểu vấn: “Khách tòng hà xứ lai”?
(Hồi Hương Ngẫu Thơ – Hạ Tri Chương)

Trẻ lãng du – già về cố xứ
Giọng không thay – pha tuyết mái đầu
Đám trẻ nhỏ thờ ơ không biết
Cười hỏi ta: Khách đến từ đâu?

Trẻ đi già trở lại nhà
Giọng quê vẫn giữ – tóc đà pha sương
Thiếu nhi gặp gỡ – lạnh lùng
Cười lơ đễnh hỏi khách phương mô về?
(Cảm Xúc Khi Về Làng – Ái Cầm)

Một ngày nào đó, quê hương chúng ta thực sự thanh bình tự do, khắp nơi trên thế giới sẽ rộn rã người kéo nhau về thăm nơi chôn nhau cắt rún, không biết bà con có còn nhìn ra nhau.

Mới đây vài tháng tôi có đọc mẩu tin đăng trên New York Times kể chuyện một Giáo sư người Nhật, dạy ở Havard, về thăm gia đình nội ngoại nơi một ngôi làng nhỏ ngoại ô Sakata. Khi xuống xe buýt ở đầu thành phố, ông ta ngơ ngác không biết phải đi về hướng nào bèn hỏi bằng tiếng Anh với người khách qua đường. Nhưng mọi người đều thờ ơ bước đi. Ông buồn quá không biết xử trí ra sao thì may có người Nhật biết chút đỉnh tiếng Anh giúp ông:

– Thưa ông, ông người nước nào?

– Cám ơn, tôi là người Nhật.

– Sao ông không biết tiếng Nhật?

– Vì tôi sinh trưởng ở New York và đây là lần đầu tiên tôi về thăm quê nhà.

– Song thân ông còn nói được tiếng Nhật?

– Đúng như thế. Cha mẹ tôi nói tiếng Nhật với nhau ở nhà và nói tiếng Mỹ với chúng tôi.

– Tại sao vậy?

– Vì cha mẹ chúng tôi bận đi làm nên cả ngày chúng tôi ở trường chỉ học và nói tiếng Mỹ thôi.

– Hiện ông là công dân Mỹ chứ?

– Sinh ra, tôi là công dân Mỹ rồi. Nhưng tất cả người Mỹ vẫn xem tôi là người Nhật, vì màu da vàng, mũi tẹt thực sự tôi là người Nhật. Mặc dù tôi không biết tiếng Nhật.

– Tội nghiệp cho sự cô đơn của ông quá. Có điều tôi nói thật với ông, khi nãy ông hỏi những người qua lại đều không muốn trả lời ông vì họ không muốn một người Nhật xử dụng tiếng ngoại quốc để hỏi chuyện với nhau nên họ không trả lời chứ những người ấy đều biết tiếng Anh cả đấy chứ. Và họ nghĩ tại sao ông không cảm thấy hổ thẹn vì sao ông không biết nói tiếng mẹ đẻ.

– Cảm giác đó chính tôi cũng vừa nhận thấy mới đây… nhưng tôi còn quá đủ thì giờ để học chữ và tiếng nói của người Nhật chúng ta trong thời gian sắp tới… tôi hy vọng sẽ đạt ý nguyện.

– Tại sao ông không nghĩ cách khác khỏi tốn thì giờ nhiều hơn là tự hậu có ai hỏi lý lịch, ông nên từ chối ông không phải là người Nhật là cách hay nhất…

– Cốt tủy máu huyết tôi là người Nhật. Chính tôi có muốn sinh ra ngoài đất nước thân yêu của mình đâu. Cả thế hệ chúng tôi đâu muốn như thế, lỗi đâu phải chúng tôi… Người Mỹ không nhận tôi là người cùng chủng tộc với họ, người Nhật hất hủi xem chúng tôi là người ngoại quốc… Tôi là ai bây giờ? Hay tôi đến từ một hành tinh khác chăng?

Vài năm sau, chúng ta hy vọng không còn nhìn thấy bóng dáng một Kiều Phong đứng trên đỉnh non cao mà than: “Đất trời thì quá mênh mông mà ta không có một mảnh đất để dung thân”

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Dở Chứng

Ông Cần đã góa vợ năm năm. Nay thì ông cũng đã thất thập cổ lai hy. Lứa tuổi xế bóng của ông nếu ở Việt Nam đã chống gậy nhìn cuộc đời sắp kết thúc trong chuỗi dài nuối tiếc quá khứ. Nhưng ở xứ này đời sống vật chất có dư thừa nên nom ông còn quắc thước lắm. Dáng ông dong dỏng cao, da dẻ có chút hồng hào, có điều dáng đi của ông mất vẻ khoan thai, đôi lúc bước chân như lún xuống khập khễnh bởi xương cốt trễ biếng mệt mỏi. Ông Cần cố gắng tập thể dục sáng chiều, chịu khó sửa dáng đi cách đứng cố níu kéo lại chút nào như thời son trẻ. Hàm răng thưa thớt chiếc rụng chiếc long ra không được thẩm mỹ cho lắm, khổ sở cho việc nhai thức ăn trệu trạo. Ông Cần đến nha sĩ lắp ráp bộ răng xương đều đặn nõn nà. Nhờ bộ răng ngà ngọc khiến nụ cười tuổi già héo hắt có thêm chút duyên già, ăn uống ngon lành trơn tru. Lởm chởm vài chòm tóc mây lưa thưa mong manh trên da đầu bóng lưỡng , ông Cần thấy chướng mắt, lặn lội tìm thuốc mọc tóc rị mọ xoa xoa nắn nắn đêm ngày không nản chí.

Ông Cần tốn công tìm tòi, thăm dò tìm mua nhiều loại dược thảo ngâm rượu đầy ắp chục hũ xếp hàng trong tủ chè. Sáng chiều ông siêng năng uống, cùng với những viên dược thảo, sâm nhung, tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn, lọc nhung tinh, mật gấu, thuốc sáng mắt, sáng tai, thuốc đen tóc…cho da dẻ hồng hào thêm, ăn ngon ngủ ngon, bồi bổ gân cốt, phục hồi sinh lực, cải lão hoàn đồng…Đâu chừng thời gian ông Cần như đang trên đà hồi xuân. Mà thật, ông Cần cảm thấy mình như hồi xuân thật đãy ! Lúc nào tâm hồn ông cũng phơi phới, gặp ai ông cũng muốn gần gũi trò chuyện râm ran, yêu đời, yêu thiên nhiên cây cỏ, yêu cảnh vật quanh mình, yêu giấc ngủ nồng nàn đầy mộng đẹp…yêu..và yêu…để cuộc đời đâu còn xế bóng. Ông được mọi người khen tuổi già của ông đang “lột xác”. Bạn bè đồng niên đồng tuế nhìn ông thèm muốn như ông. Những bà sồn sồn gặp ông ưa trêu chọc, cười duyên híp mắt, đấu hót vài câu bâng quơ. Cả lũ cháu ngoại của ông cứ xuýt xoa khi thấy ông, đứa nhỏ bá cổ bá vai, đứa lớn thì thầm khen ngoại lúc này đang độ hồi xuân trông đẹp lão lắm.

Từ ngày định cư ở xứ này, vợ ông, người đàn bà đảm đang tháo vát miệt mài cùng ông tạo nên cơ nghiệp. Ông bà tạo được ba ngôi nhà, trong đó hai ngôi đã trả dứt nợ, đang cho thuê. Một tiệm sách báo, băng nhạc, tranh ảnh, dụng cụ âm nhạc khá lớn, lợi tức hằng tháng vào cũng đậm. Hai ông bà sống đầy đủ thoải mái bằng lợi tức tiền cho thuê nhà, tiệm sách báo hằng tháng vẫn còn dư ra gởi vào ngân hàng cho đến nay cũng đã được đôi trăm ngàn.

Hai ông bà Cần sinh hạ ba người con. Hai cô con gái đem từ Việt Nam sang đã lập gia đình, có cơ sở làm ăn vững vàng với một lũ cháu ngoại hiền lành chăm học. Cháu ngoại lớn nhất cũng đã mười tám, nhỏ nhất cũng lên ba. Nay mai rồi ông cũng được lên chức Cố như bao nhiêu bạn bè cùng lứa. Thằng con trai duy nhất của ông nay đã hăm lăm, yên bề gia thất. Sau khi bà vợ qua đời, ông giao vợ chồng thằng con trai coi ngó tiệm sách báo dưới sự kiểm soát của ông hằng ngày. Tiền bạc mua vô bán ra ông Cần quản lý chặt chẽ. Ông trả lương tháng cho con trai con dâu theo qui chế công nhân. Ông lại còn giúp vợ chồng nó có nhà riêng đâu ra đó.

Hằng ngày rảnh rỗi ông lái xe loanh quanh trong thành phố. Đôi lúc tạt qua tiệm sách báo coi trong ngó ngoài, kiểm tra công việc. Năm khi mười họa ông ghé vào hai ngôi nhà đang cho thuê xem xét, hỏi han người chủ thuê đôi câu xã giao lấy lệ. Còn lại thì giờ ông quanh quẩn với mấy bạn già xế bóng vô công rỗi nghề đàn đúm tán dóc ở mấy quán cà phê qua điếu thuốc lá phì phèo, lâng lâng nụ cưòi lão giả an chi, xem đời như giấc kê vàng đã chín. Cuộc vui còn tiếp diễn bên ly rượu đĩa mồi tại nhà hàng tửu quán chiếm gần trọn thì giờ nhàn hạ của ông với nhiều người, già có, trẻ có. Chuyện trên ngàn dưới biển lia thia. Chuyện từ Đông sang Tây không bỏ sót một mảy may nào. Nhưng lý thú và hấp dẫn nhất thường ngày là chuyện đàn ông con trai kể cả những vị tuổi hạc gần đất xa trời, da mồi tóc bạc, tay chân run rẩy, mắt mờ răng sún đã và đang về Việt Nam cưới vợ. Ông Cần nghe ngóng từ nhiều phía, bàn bạc, góp ý, hỏi han thật hấp dẫn, xôm tụ.

Chính là một vấn đề thời sự nóng bỏng, sôi động đã và đang xảy ra bao nhiêu năm nay ở cái cộng động người Việt da vàng mủi tẹt. Nghe nhiều từ mọi nơi, nhập tâm, đã đánh động lòng ham muốn thèm khát của ông Cần. Thử bước thêm bước nữa có chết chóc gì ai, chứ tội gì phải chịu cảnh cô đơn chiếc bóng trong ngôi nhà lạnh lẽo từng đêm. Chả có gì là khó khăn, nhiêu khê, có tiền thì mộng ắt thành. Ông còn đủ sức phiêu lưu mà, chứ không phải như mấy lão già cọm rọm khi nghe ông hạ quyết tâm hành sự lại cười biếm nhẻ ông cho là ông thuộc loại già dịch, già mất nết, già bất lực, già dê…hết xí quách rồi mà còn ham.

Ông Cần oang oang trả đủa bốp chát : – Ai giỏi cùng tôi đọ sức nè. Gừng này càng già càng cay quắn khói. Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm mà lị. Mai mốt tôi mang về một thục nữ yểu điệu đào tơ thì mấy ông đừng có chép miệng thòm thèm đó nhen.

Một ông bạn già trong bọn cười ồ, chọc :

– Nè, già Cần, mấy mụ già trầu tèm hem đang chờ ông đưa võng lọng về rước…làm đám ma đó ông Cần, chứ gái tơ, sồn sồn thấy ông là thưa bác, thưa ông thì còn làm ăn cái nổi gì.

Ông Cần càng hênh hoang không kém :

– Đây này… cái mác Việt kiều ! lá bùa hộ mệnh xanh xanh ! bao nhiêu cũng lọt được hết. Cần này sẽ rước sang đây một em nõn nường tuổi vừa đôi chín xinh xinh như mộng…bảo đảm trăm phần trăm ăn chắc.

Dứt lời, ông cười hì hì khoái chí thao thao thuyết giảng cho đám bạn già đang nghểnh cổ ngóng nghe :

– Từ ngày bà má bầy nhỏ mất, nghe được chuyện này, tôi cũng đã nghĩ kỹ rồi. Thà cưới một cô trẻ đẹp nõn nà ở Việt Nam qua, dễ dạy, dễ sai khiến, còn dễ bắt nạt ăn hiếp, dễ làm tình làm tội, nó còn chiều chuộng hầu hạ hết mình, lại gái tơ thơm phức, ngon lành. Còn đàn bà ở đây hả ? thì như mấy cụ cũng biết, quả là ăn hiếp bắt nạt lên mặt hà rầm với chồng ghê gớm. Đâu có dễ gì khơi khơi cưới mấy bả được. Chằn ăn trăng quấn lắm các cụ ơi ! Phải có nhà nè, có xe xịn nè, tiền bạc đầy ắp trong ngân hàng họ mới chịu. Tôi hãi sợ tính kiêu kỳ hách dịch, vòi vĩnh, đua đòi, treo cao giá ngọc lên chín tầng mây của họ đó mấy ông ơi ! Thôi thì cho họ ế suốt đời nằm queo, rong rêu phủ kín là vừa. Ai biểu ?

Một ông bạn già mắt mủi hom hem lên tiếng phản đối :

– Già Cần nói tầm bậy. Người ta lấy nhau ào ào ông không thấy sao ? Nồi nào vung nấy. Tại cái vung của ông chụp không vừa, còn than thở cái nỗi gì. Ở đây chưa ai thấy cái nạn trai thiếu gái thừa. Trai thừa thì có. Nên mới xảy ra cái tệ nạn đàn ông con trai kể cả mấy lão tuổi hạc xế bóng hoàng hôn đang sắp hàng rồng rắn võng lọng nghênh ngang tiến mạnh về hướng Việt Nam rước nàng thục nữ về dinh hú hí. Thật là ngon ơ !

Nghe ông bạn già lẩm cẩm nào đó vừa mới nói chắc giọng, ông Cần như thấm ý quá chừng, miệng cười toe toét phô bộ răng xương vừa mới cấy cho bàng dân thiên hạ chiêm ngưỡng :

– Này này ông bạn già ơi, điều đó mới là thể hiện tấm lòng bác ái, xả thân cứu giúp. Bao nhiêu trăm ngàn đàn bà con gái Việt Nam mới tuổi mười bốn mười lăm trở lên bị bán đi làm đĩ, đi làm cô dâu nô lệ tình dục ở xứ người để cho bọn đàn ông xứ Đài, xứ Hàn, xứ Ma, Hồng Kông, Căm Bốt…gì đó, dày xéo nhớp nhơ bao tấm thân ngọc ngà trinh tiết…thật uổng thiệt, ông lại không biết. Mình làm ơn làm phước cứu giúp được người nào hay người đó. Tôi cũng đang là một thành viên đây. Có ông bạn già nào nữa làm kẻ đồng hành không ?

Cả bọn ngồi ngóng mặt nghe vỗ tay rôm rốp, tán thưởng cho cái mắc dịch dở chứng của ông già Cần độ tuổi thất thập hiếm hoi. Họ nhao nhao giễu cợt ông là loại già mất nết sắp chui xuống lỗ mà còn ham. Ông Cần không giận còn vui miệng bảo rằng còn sống còn thở là còn yêu, yêu cho đến giây cuối cùng chun vô hòm mới goodbye my love. Có ai cấm mình yêu đâu. Già thì già chân tay, già mặt già mày nhưng quả tim thì vẫn phơi phới xuân tình mấy ông ạ.

Ông Cần nói sao có đó. Ông mất hai đêm bóp trán thảo lá thư dài mùi mẫn, kể rõ sự tình, nỗi cô đơn góa bụa để gởi cho một người bạn già đồng niên tuế thân thiết cùng đơn vị ngày xưa đang ở Việt Nam tìm giùm mối hàng. Thư gởi đi ít ngày, ông ra dịch vụ chuyển tiền một ngàn mỹ kim làm quà ông bạn, và hứa hậu tạ bạn hiền khi công việc kết thúc.

Ông chờ đợi từng ngày kết quả lá thư gởi đi và hơn tháng sau ông mới nhận được tin vui. Thư người bạn báo đã tìm được đóa hoa hàm tiếu nõn nà. Nàng tên Hoa, vừa tròn mười chín xuân xanh phơi phới, nhan sắc óng ả như ánh trăng rằm. Dân miệt vườn miền Tây Nam bộ. Nhà nghèo lắm nên mới chỉ học đến lớp chín, nàng phải ở nhà phụ giúp cha mẹ công việc trong nhà. Ăn không ngồi rồi trong lúc cha mẹ đầu tắt mặt tối kiếm cái ăn cái mặc, nàng nảy sinh muốn lấy chồng xứ Đài cứu gia đình thoát cảnh nghèo đói và được cha mẹ chấp thuận ý định.

Người bạn già viết tiếp. Ông được người quen mách bảo ông tìm đến nhà Hoa, sau khi kể lể ý định cùng gia cảnh của bạn cho họ nghe, Hoa và cha mẹ nàng vui mừng chấp thuận ngay cuộc hôn nhân, miễn sao ông con rễ thương vợ và giúp đở gia đình thoát cảnh nghèo đói là được rồi. Ông già vợ tương lai hối thúc ông con rễ tiến hành việc cưới xin càng sớm càng tốt. Nếu chậm ông ta sẽ gả con gái mình cho Đại Hàn cũng đang có người đến mai mối.
Thư viết tiếp báo cho ông Cần là còn rất nhiều mối ngon hấp dẫn vô cùng tuổi mới tròn trăng hơ hớ dậy thì. Đề nghị ông có ai giới thiệu nhiều nhiều dẫn về Việt Nam cùng chuyến để rước các nàng về bên đãy mà hú hí tuổi già. Chậm chân là tụi Hàn, Đài, Nhật, Hón Kón…chúng nó bợ hết uổng lắm.

Ông Cần đọc đi đọc lại lá thư nhiều lần lòng mừng khấp khởi. Thế là bao nhiêu thục nữ Việt Nam đang ngóng chờ lấy chồng ngoại được sung sướng cuộc đời. Lòng ông đang trẻ lại như tuổi xuân được yêu. Tim ông rộn ràng thúc giục phải nhanh tay nhanh chân. Đời còn bao lăm mà chần chờ uổng phí, mau hưởng thụ, không thì chết đi lại tiếc hùi hụi. Ông Cần mơ mơ màng màng hình dung cô vợ trẻ đẹp tương lai của mình. Hoa ơi ! nàng ơi ! nàng kiều nữ xinh đẹp bé nhỏ của ta ơi ! Anh quyết sẽ rước em về ngự trị trong ngôi nhà hạnh phúc của chúng ta tràn ngập màu hồng.

Trong đám bạn già ông biết còn số các cụ cũng thèm của lạ, cũng thấp thỏm mơ về Việt Nam cưới vợ trẻ đẹp cùng giấc mơ như ông. Nếu ông vận động thì khối cụ tháp tùng cùng ông về cùng chuyến. Nhưng, thì giờ quá gấp, rũ rê bàn tính các cụ kéo sẽ dài thời gian lỡ mất cơ hội nghìn vàng. Ông Cần âm thầm đi một mình sau khi thu xếp công việc.

Về tới Saigon ông Cần tìm ngay đến người bạn mai mối ở tận ngã 5 Bình Hoà. Lâu ngày hai bạn già gặp nhau, ôm nhau mừng rỡ. Ông thúc bạn ông là ông Hàn ngày mai đi gặp cha mẹ vợ tương lai ngay, xem mặt cô vợ trẻ. Đêm đến, hai lão già gân khề khà tâm đắc bên mâm rượu thịt, chuyện trò râm ran kéo đến quá khuya.

Sáng hôm sau ông Cần thuê xe 7 chỗ ngồi cùng vợ chồng ông Hàn trực chỉ Mỹ Tho đến Chợ Gạo, tiếp tục đi sâu vào vùng quê Thanh Bình. Gần trưa, xe ngừng trước ngôi nhà tôn vách đất. Thấy có khách lạ đi xe hơi đến, vợ chồng chủ nhà bỡ ngỡ, nhưng khi nhìn thấy vợ chồng ông Hàn họ đoán biết ngay sự việc. Mọi người chào nhau vài câu xã giao trong lúc ông Cần đang sửa lại áo quần cho tươm tất. Hôm nay ông lên bộ veston màu than tím, cà vạt thẳng nếp, đi giày bóng, tóc tai cũng đã mọc thêm lún phún vài sợi chải ép ra sau, nét mặt núng nính vui, cúi đầu chào vợ chồng chủ nhà trông ông rất đởm dáng.

Chủ khách vào nhà an tọa trên những chiếc ghế mộc tróc sơn, chiếc bàn gỗ trầy vết loang lổ. Ông Hàn lên tiếng giới thiệu :

– Chú thím tư Ngàn, đây là anh Cần, đại thương gia từ Mỹ vừa về hôm qua. Hôm nay đến ra mắt chú thím để bàn chuyện hôn nhân của anh Cần đây xin cưới cháu Hoa con gái chú thím như tôi đã có lời với chú thím tháng trước.

Lời giới thiệu của ông Hàn như rơi vào thinh không nào ai có chú ý vì cả ba người đang lung túng trong suy nghĩ về cách xưng hô. Đối với chú thím tư Ngàn nay chỉ mới trên bốn lăm, còn vị khách trước mặt, chàng rễ tương lai của gia đình xấp xỉ bảy mươi tròn. Loay hoay vài giây, nhìn nhau ngượng nghịu không biết phải xưng hô sao đây. Ông Cần nghĩ có nên xưng con, hay tôi với cha mẹ Hoa. Cuối cùng bởi con tim mù quáng thúc giục, ông thưa :

– Dạ…thưa…thưa…anh chị Tư…đường xá xa xôi vạn dậm, công ăn việc làm, lần về lần khó…cuộc sống bận rộn cu ky một mình. Hôm nay được anh chị Hàn giới thiệu… tôi đến xin cầu hôn với em Hoa…làm vợ. Anh chị Tư chấp nhận và miễn thứ cho những sơ sót cũng như lễ lộc…cần gì, anh chị cứ nói để…tôi lo.

Ông Cần cố gắng chỉ nói được chừng ấy. Nói mà ngượng mồm thấy mồ. Mồ hôi rịn hai bên thái dương, trống ngực xập xình, quá ư là ngưọng ngùng, không còn tự nhiên trước mặt cha mẹ vợ chỉ bằng tuổi…con gái mình. Ông Cần đâu phải dân nhút nhát. Ông đã bao lần vào sinh ra tử trước bom đạn kẻ thù. Ông đã từng va chạm bao cú ””sốc”” trong cuộc sống. Ông đã từng là xui gia đàng trai, rồi đàng gái hênh hoang nói đạo lý, lễ nghi với mọi người. Vậy mà hà cớ gì hôm nay lại bấn loạn tinh thần trước mặt mấy người nhà quê chân chất.

Thím tư Ngàn và bà vợ lão Hàn bụm miệng cười khanh khách khi nghe lão chàng rễ tương lai mặt mày đỏ lưỡng, ngượng nghịu tỏ bày. Chú tư Ngàn nét mặt bình thản nghiêm nghị, đáp lời :

– Cám ơn …ông… anh Cần. Tháng trước hai vợ chồng bác Hàn đến đây đánh tiếng trước xin con Hoa nhà tôi về làm vợ anh. Vợ chồng tôi chấp nhận. Mọi việc thì nên giản tiện thôi. Anh lo tổ chức Tiệc Ra Mắt họ hàng, dòng họ, bà con thân quen. Đồng thời dẫn nhau ra Xã làm giấy kết hôn để anh mang về Mỹ lập hồ sơ bảo lãnh con Hoa về bên đó với anh. Vậy thôi.

– Mình làm gọn nhẹ như vậy là tốt phải không chú thím tư và ông bạn già của tôi ? Ông Hàn tiếp lời – Này anh Cần, dù gì anh cũng là con rễ cưng của chú thím tư rồi đó. Từ lúc này anh phải gọi chú thím tư là ba là má mới phải phép. Còn e lệ gì nữa. Muốn có vợ trẻ thì phải uốn lưỡi…uốn lưỡi cong thêm chút nữa…có được không ? Ông không nghe tôi là…mất vợ đấy.

– Được rồi. Tôi nghe ông. Ông Cần vừa trả lời vừa quắc mắt trừng lão già Hàn xí xọn lắm chuyện.

Ông rút trong túi áo xấp đô la năm ngàn dày cộm đặt trên bàn trước mặt cha mẹ vợ, lúng túng thưa :

– Thưa…ba,,má..! tôi có chút ít gởi… ba má. Còn Tiệc ra Mắt… tôi sẽ… chi trả.

Mọi người lại một phen cười nghiêng ngửa nhìn lão chàng rễ xế bóng ăn nói lập bập thấy mà thương hại. Ông Cần sượng chín người. Một lần trong đời con tim quái ác nó hành hạ ông khắc nghiệt quá. Ông nhìn qua lão Hàn như dọ hỏi là sao không thấy Hoa thì cũng vừa lúc Hoa từ sau nhà bước ra chào mọi người. Giây phút đầu tiên nhìn thấy mặt cô vợ tương lai son trẻ mà ông Cần đang mơ nghĩ đến. Ông sững sờ ngất ngây dáng sắc của Hoa. Ông nghĩ gái miệt vườn sao mà đẹp lồng lộng vậy kìa ! Tuy Hoa không son phấn, quần là áo lượt, chỉ quần vải áo thô sao trông quyến rũ lạ đời. Dáng nàng thon cao, đôi chân dài hấp dẫn ghê, nước da trắng như bông bưởi, cơ thể no tròn nở nang đầy đặn, suối tóc đen xõa dài quá thắt lưng, e ấp mấp mé khuôn mặt trái soan, đôi mắt to đen long lanh, đôi lông mày rậm đậm đà…ố là là ! đẹp ôi là đẹp..! ông Cần lâng lâng cảm giác thèm khát. Đúng là lão Hàn đã nói Hoa là hoa khôi của trường những năm còn học lớp 9 trung học cơ sở MP thành phố Mỹ Tho. Điệu này khi về bên Mỹ mà chưng diện vào, vợ ta sẽ làm cho bao nhiêu lão già dịch ngẩn ngơ nhảy đổng, rồi ùn ùn sắp hàng một về Việt Nam cưới vợ hết không ai cản nổi cho mà xem.

Ông Cần đứng dậy thập thò trước mặt kiều nữ miền sông nước Tiền Giang, chúm chím đôi môi run run : – Chào…em Hoa. Anh là Cần đến để xin ba má cưới em về Mỹ với anh.

– Dạ. Chào ông. Hoa cúi đầu lí nhí đáp. Ba má đã nói chuyện này.

– Em bằng lòng chứ Hoa ?

Cô gái mười chín xuân xanh mơn mỡn thơm như múi mít tố nữ chau mày lộ vẻ chẳng mấy thích thú trước lão già đáng tuổi ông ngoại, ông nội sẽ là chồng của mình trong suốt cuộc đời. Nàng hời hợt đáp :

– Chẳng biết nữa. Do ba má quyết định. Ông hỏi ba má.

Mọi người tiếp tục trò chuyện trong bầu không khí chẳng mấy tự nhiên. Ông Cần mời mọi người lên xe ra thành phố Mỹ Tho làm một chầu ăn tối giao hửu để cố tạo sự gần gũi thân mật. Ba ngày sau Tiệc Ra Mắt diễn ra với hơn ba trăm thực khách tại một nhà hàng sang trọng trong thành phố Mỹ Tho. Mọi người chúc tụng lão chàng rễ có duyên vớ được cô vợ quá trẻ quá đẹp, bên cạnh những lời dèm pha biếm nhẻ đôi đủa lệch chiếc vắn chiếc dài. Già mắc dịch, già dê xồm, già bất lực hết xí quách…Chồng già vợ trẻ là duyên. Mai kia ông chết của tiền về tôi… Mặc họ bình phẩm khen chê chẳng làm cho ông nhụt chí khí. Ông chỉ cần biết ông đã vớ được cô vợ trẻ nõn nà, và lâu đài hạnh phúc tràn đầy của ông ở cái tuổi xế bóng hoàng hôn. Có điều ông hết sức bực mình họ đã phung phí quá lố cho cái Tiệc Ra Mắt khiến ông đã phải trả hơn chục ngàn mỹ kim đau ơi là đau !

Làm giấy kết hôn xong, ông Cần xin ba má vợ đưa Hoa đi Saigon mua sắm nữ trang, quần áo, son phấn. Bà mẹ Hoa không muốn để con gái đi một mình, cứ bám sát Hoa làm lão Cần chẳng sơ múi gì được với cô vợ trẻ hơ hớ ngay cả cái nắm tay cũng chưa được, lại còn tốn thêm mớ tiền khá đậm sắm sửa cho bà mẹ vợ kỳ đà cản mủi.

Chỉ trong một tuần lễ ông Cần đã lo xong công việc cưới vợ. Ông trở lại Mỹ gấp lập hồ sơ gởi Sở Di Trú Hoa Kỳ bảo lãnh cô vợ trẻ. Ông cũng đã ủy thác lão Hàn lo giấy tờ dịch vụ cho Hoa tại Việt Nam, và hai người sẽ liên lạc khi cần thiết. Cũng phải chi mất một số tiền không nhỏ cho lão Hàn. Chưa chi ông Cần đã mất trọn ba mươi lăm ngàn mỹ kim mang theo. Ông ước tính cũng sẽ mất thêm một khoản tiền kha khá nữa và thời gian chờ đợi độ năm, vợ ông mới đến được với ông trên đất Mỹ.

Ông Cần thức giấc sau giấc ngủ chập chờn mệt mỏi. Khuya hôm qua ông phải thức suốt đón Hoa tại phi trường từ Việt Nam sang. Gặp lại Hoa, sự mệt mỏi và bệnh tật trong người ông tan biến. Ông vui mừng khôn xiết, nói cười huyên thuyên, vì từ đây Hoa đã thực sự ở trong vòng tay của ông. Nhưng khi nhìn dáng vẻ bơ phờ, đôi mắt nai tơ thờ thẫn vì say sóng ói mửa, vì mệt mỏi từng chặng đường, vì đã bị cảm thương hàn trước mấy ngày ra đi, ông lo lắng đưa vợ về nhà ngay, cạo gió, uống thuốc và nằm nghỉ ngơi trong phòng ngủ. Ông nằm bên cạnh trên giường với Hoa, vì bệnh hành ngất ngư, vừa mệt mỏi quá độ, ông lả người thiếp đi trong giấc ngủ.

Bây giờ thức dậy, Hoa vẫn còn ngủ mê trong chăn ấm. Ông Cần ra ngoài làm vệ sinh, đi bách bộ mươi phút, trở lại ngồi tại phòng khách uống ly sữa tươi. Ông suy nghĩ thân phận mình. Gần nửa năm nay sau khi ở Việt Nam về, ông bị bệnh tiểu đường hành hạ đến kiệt sức. Ông còn mắc thêm chứng đau bao tử mà bác sĩ bảo rằng ông uống quá nhiều các loại thuốc ngâm rượu, các loại thuốc viên bồi bổ sinh lực nên bao tử đã bị loát trầm trọng. Hai chứng bệnh mắc dịch này hành hạ ông Cần ngày đêm đau đến nỗi có lúc kêu trời không thấu. Tuổi già sức yếu, tiết trời thường thay đổi, ông hay bị cảm cúm, nhức mỏi rũ liệt cơ thể, đôi lúc ông nằm liệt giường không còn thiết gì nữa. Ông Cần đau khổ không ngờ sức lực ông độ này giảm sút trầm trọng, da dẻ nhăn nheo, chân tay thường khi lập cập run rẩy, giảm sút năng lực ham muốn như năm vừa rồi. Những bất hạnh dồn dập xảy ra trong lúc vợ ông vừa Việt Nam qua, ông cảm thấy buồn buồn tức tối cho mình không còn cảm thấy hứng thú bên cạnh cô vợ tràn trề sinh lực. Lúc gặp nhau ở phi trường Hoa đã ngỡ ngàng hỏi sao lúc này trông anh ốm và già dễ sợ.

Nghĩ vơ nghĩ vẩn rồi tự an ủi dù sao mình cũng có được cô vợ trẻ đẹp bên cạnh trong cuộc sống chấp nối cuối đời. Có điều chuyện về Việt Nam cưới vợ ông Cần giữ kín, con cháu và người ngoài chưa hề hay biết. Bây giờ công việc ông đã làm và sự có mặt của Hoa trong nhà này ông phải nói sao với lũ con cháu. Ông suy đi tính lại rồi gật gù cho cái lý thân già góa bụa, cần một người đàn bà sớm hôm kề cận chăm sóc nhau vui cảnh xế chiều, con cháu chấp nhận hay không rồi cũng đâu vào đó cả. Tuổi tác có chênh lệch là chuyện thường. Tình yêu đâu phân tuổi tác. Hai kẻ yêu nhau có sự đồng cảm bằng lòng là đủ. Luật pháp Hoa Kỳ chẳng bắt bẻ chuyện này. Ông bước thêm bước nữa là quyền của ông, ai có quyền cấm cản. Con cháu thông cảm lại nỡ làm tình làm tội ông sao ?!

Hoa từ phòng ngủ đi ra dáng bơ phờ mệt nhọc ngồi xuống ghế đối diện. Ông Cần hăm hở bước đến vồn vã vuốt mái tóc vợ chảy dài xuống lưng đen mướt :

– Em có khỏe được chút nào không ? Anh đưa em đi bác sĩ. Đi đường xa, thay đổi khí hậu, lại đang cảm thương hàn…anh lo lắm.

Hoa lắc đầu : – Em đem thuốc uống mỗi ngày đây. Em cần nghỉ ngơi vài ngày em khỏe lại hà.

Nói xong, Hoa vít đầu ông Cần hôn phớt trên gò má hóp của ông. Ông ôm ghì Hoa thật chặt vào lòng vuốt ve âu yếm. Cơn đau bao tử râm rang lại hành hạ khiến ông mất hứng thú lần đầu tiên trước cơ thể đầy đặn căng cứng, thơm phức của vợ đang thách thức cảm giác mời gọi. Mùi hương trinh nữ từ cô gái dậy thì thoang thoảng áp vào mặt mủi, khiến ông Cần đê mê chết cứng chịu không nổi. Ông ráng cả sức lực trong người ghì Hoa thật chặt vào lòng vuốt ve, mân mê, nắn bóp bấn loạn cùng khắp cơ thể săn cứng của Hoa để cố tạo sinh lực ham muốn thể xác… Nhưng sức lực của ông chồng già chỉ đến chừng đó…. chừng đó…ngưng lại… rồi giảm dần như quả bóng xì hơi, đến không còn tiếp tục làm ăn được gì khác nữa. Ông xịu mặt tủi thân cho sức khỏe tàn tạ với hai căn bệnh trời ơi của mình đã trên đà bất lực. Hoa thì đã nhìn thấy rõ nỗi đau khổ chán chường của lão già hết xí quách này. Đáng thương hại cho ông ta !

Mới chỉ một phút bên vợ mà ông đã muốn đứt hơi. Ông trở lại ghế ngồi thở hổn hển. Hoa nheo mắt liếc tình ông, nhõng nhẽo :

– Chưa chi anh đã phờ người rồi. Ráng sức không chừng đứt gân máu, em sống với ai đây ? Có muốn gì thì cứ thủng thẳng…khỏe khoắn trong người.

Ông Cần phác tay : – Đâu có sao. Anh ráng chữa dứt bệnh, bồi bổ lại sức khỏe là em sẽ “mệt” với anh dài dài nghe chưa ?

Hoa bụm miệng cười sằn sặc : – Được rồi. Em chờ anh. Coi ai mệt với ai cho biết.

Hoa rảo mắt nhìn quang cảnh nhà, buột miệng khen : – Nhà anh đẹp quá, ở Việt Nam làm gì có được nhà như thế này.

Ông Cần phồng mủi : – Nhà này là của em không phải một mà là ba ngôi nhà như vầy đều của em. Tiệm sách báo là của em. Tiền bạc trong ngân hàng là của em…và tất cả là của em. Tính ra cũng hơn triệu rưởi đô la đó cưng.

Nghe ông Cần đon hót, Hoa nghĩ thầm mai mốt ông chết của tiền về tôi, là cái chắc, khỏi cần ông phải giới thiệu. Cứ giữ cái giấy hôn thú cho kỹ là chắc ăn.

Hoa nói bâng quơ : – Anh nói thế. Em biết thế. Còn lũ con của anh nữa, phải chia cho chúng chứ ?.

Ông Cần khoát tay ngoài ngoạy : – Không. Không bao giờ. Ở Mỹ không có chuyện để của, chia của cho con cái. Ai làm nấy ăn, đâu như ở Việt Nam. Anh chết, anh viết di chúc giao toàn bộ tài sản này cho em. Anh muốn cho đứa nào tùy ý, không cho cũng được, không đứa nào có quyền tranh giành. Nếu em không nhận, anh giao cho Hội từ thiện.

Có tiếng xe hơi ầm ỉ trước nhà. Ông Cần nhìn ra hướng cửa sổ. Ba chiếc xe của ba gia đình ba đứa con đang đậu dọc trước nhà. Lũ chúng nó đủ mặt đang ào ạt xuống xe tiến vào nhà. Ông Cần sững sờ, mặt biến sắc… chợt nhớ ra…chết rồi..! hôm nay sinh nhật của ông. Tuần trước chúng nó hẹn đưa ông đi biển, đãi ăn nhà hàng, mua quà tặng…mừng sinh nhật thứ 72 của ông. Cứ mãi lo cô vợ trẻ ông quên khuấy đi mất. Hai tay giựt giựt, đôi môi run run, ông lắp bắp tiếng được tiếng mất với Hoa :

– Lũ…lũ…con cháu…nó đến đủ mặt. Hôm nay…sinh nhật của anh…chúng…chúng nó đến…dẫn anh đi mừng sinh nhật… luôn dịp anh…anh giới thiệu em…với tụi nó.

Lũ con cháu ùa vào đứng đầy phòng khách. Chúng thấy Hoa, nhìn trân trối. Hoa đang mặc bộ quần áo ngủ mỏng hở hang, nhầu nát, tóc tai lòa xòa.

Chúng thi nhau hỏi cha : – Ai vậy ba ? Ba đem cô này về làm gì vậy ? Bồ à, bồ của ba..?

– Cô nào đây hả ba ? Trông giống như…ở ngoài đường…

– Ba đem gái ăn sương về nhà đây.

Hai cô con gái lớn hỏi tới tấp. Lũ cháu ngoại chạy đến bá cổ ôm tay ông ngoại líu lo vòi vĩnh, hỏi han. Riêng Diễm, đứa cháu ngoại gái tuổi đã mười tám nhìn Hoa không chớp mắt, bĩu môi khinh khỉnh có lẽ nó nghĩ Hoa là gái điếm. Thằng con trai tên Mẫn và cô vợ cũng như hai chàng rễ cứ cười tủm tỉm nhìn Hoa rồi nhìn ông Cần với những ý nghĩ không mấy tốt.

Ông Cần lấy lại bình tĩnh, líu lưỡi : – Đây là…Hoa…là má…má…của các con. Ba cưới ở Việt Nam vừa sang. Các con mừng cho ba.

Cả bọn đồng ồ lên thảng thốt, bĩu môi khinh bĩ : – Má gì…mà trẻ măng ? Miệng còn hơi sữa…vậy ba ?

– Má chỉ bằng tuổi con Diễm cháu ngoại ba.

– Con không chấp nhận. Con phản đối…con phản đối.

– Già rồi ba lại dở chứng, không sợ thiên hạ cười.

– Còn cái cô này (Hoa) thèm đi Mỹ, dụ dỗ ông già hả ?

Cứ thế, đứa một câu ào ào như vỡ chợ. Hoa cảm thấy chóng mặt đến khiếp đảm những lời dèm pha chửi mắng và hỗn hào của lũ con cháu ông Cần, đôi mắt nai tơ thất thần nhìn ông Cần cầu cứu. Nàng bật khóc rấm rứt, rồi vụt chạy vào phòng. Mẫn dõi theo chân Hoa có ý để trấn an nhưng nàng đóng mạnh cửa phòng ngủ.

Thấy lũ con cháu phản ứng mạnh, ông Cần nạt : – Tụi bay im đi, không chấp nhận thì thôi. Đi, đi về hết.

Lũ con cháu đâu cần nghe, chúng cứ lầy nhầy câu này câu kia với cha già, hăm he đòi đuổi Hoa ra khỏi nhà tức khắc. Không thì chúng xởn tóc, rạch mặt, trùm bao bố thả sông, chặn đường bêu xấu cho biết mặt.

Mẫn lần bước sát cửa phòng ngủ, nghe tiếng khóc rấm rứt bên trong. Mẫn nói vọng vào : – Cô đừng khóc nữa. Chẳng có gì mà sợ.

Lũ con cháu ra rả một hồi chán chê, đồng kéo nhau ra xe. Kỷ niệm sinh nhật của ông Cần như hủy bỏ, chẳng ai nhắc đến vì tai ách dở chứng của cha già trái tai gai mắt. Ông bị cú sốc quá đậm, không còn nói được lời nào, ngồi chết trân trong lòng ghế như một pho tượng đá.

– Họ về hết rồi. Tiếng Mẫn giục. Mở cửa ra đi cô Hoa.

Hoa hé cửa nhìn ra ngoài rồi nhìn sững Mẫn cũng đang nhìn nàng. Hai ánh mắt chạm vào nhau như tia sáng phản hồi thoáng chút bâng khuâng ngỡ ngàng thẹn thùng. Mẫn đang bị cuốn hút trước nhan sắc rực lửa của cô gái xa lạ qua lớp áo mỏng dính sát, hở hang. Vừa lúc vợ Mẫn đến giục chồng đi về.

Bi hài kịch trình diễn được ông chồng thủ vai chính làm cho Hoa khốn đốn, mất ăn mất ngủ, khóc rấm rứt suốt ngày. Ông Cần đau đớn tột cùng thêm hai căn bệnh quái ác hành hạ liên miên, ông nằm liệt giường chẳng buồn ngồi dậy.

Ngày tháng đi qua, cứ đôi ba hôm lũ con ông thay phiên gọi điện thoại đến hăm he, nhiếc mắng cô vợ trẻ của ông, còn dọa ông không đuổi Hoa ra khỏi nhà là chúng sẽ từ ông, vì ông đã làm vẩn đục hưong linh người mẹ của chúng.

Ông Cần vẫn ngày ngày chữa bệnh, chăm chỉ bồi dưỡng sức khỏe hy vọng được tái phục hồi để một lúc nào đó đủ sức thỏa mãn nhu cầu với cô vợ trẻ hơ hớ. Cứ vài hôm ông lái xe đến bác sĩ khám, mua thuốc trị bao tử. Bác sĩ yêu cầu ông phải mổ, ông lại sợ không dám. Rồi ông đến đông y cắt thuốc trị tiểu đường. Cơ cực, càng uống thuốc, ông Cần vẫn cứ gầy rạc ra. Bệnh tiểu đường ngày thêm trầm trọng gần như tê liệt. Thời gian đó Mẫn vẫn thường canh chừng ông Cần lái xe ra khỏi nhà là ập vào tán tỉnh, hú hí với Hoa từng giờ.

Ông Cần cưng chiều Hoa rất mực. Ông đưa Hoa dạo phố, mua sắm, ăn uống, dự tiệc tùng, hội hè đoàn thể…Ông vênh vênh hãnh diện đi bên cạnh cô vợ trẻ đẹp duyên dáng. Những bạn già của ông Cần cứ trố mắt nhìn ông và cô vợ trẻ bàn tán, khen chê trước một pha thời sự quá “hot” đang xảy ra rất ư là hấp dẫn.

Ngày Hoa thi đậu bằng lái xe, ông Cần mua tặng vợ chiếc BMW láng cón gần năm chục xấp. Có xe Hoa lái một mình vào các chợ, mall, shop, nhà hàng để ăn uống mua sắm chưng diện theo ý thích, đồng thời có cơ hội tiếp xúc làm quen rất nhiều người. Nhờ thế, Hoa đang có được những cố vấn, những thầy đời bảo trợ tinh thần và tiếp nhận những hiểu biết mới trong cuộc sống. Hoa càng siêng năng học tiếng Anh lớp đêm, lớp ngày rút ngắn thời gian, tạo thế đứng tự lập không nhờ vã vào ai. Giờ thì Hoa đâu còn lo ngại lũ con cháu của lão Cần. Chúng mà hung hổn làm bậy là cứ gọi cảnh sát.

Một hôm ông Cần thấy vợ mình có sự khác thường, nhan sắc giảm sút, ói ọe, chê cơm chê cá. Ông sinh nghi vặn hỏi, Hoa trả lời là không biết tại sao nữa. Do kinh nghiệm, ông biết Hoa đang có thai. Ông bấn loạn xây xẩm khi nghĩ rằng từ ngày Hoa về với ông đến nay tròn năm chưa một lần ông “chăn gối” với vợ cũng chỉ vì sức khỏe sa sút, bất lực. Có chăng, ông chỉ ôm ấp, vuốt ve vợ bên ngoài…làm sao vợ mang bầu. Ông Cần đau khổ tức tối.
Bụng Hoa ngày un cao rõ nét. Ông Cần càng điên tiết. Ông dấu kín sự thể đâu dám phân trần cùng ai. Ông ôm Hoa vào lòng, đôi tay run run xoa xoa bụng vợ âu yếm than vắn thở dài :

– Anh chưa một lần ăn nằm với em mà, sao em lại có thai, nghĩ cũng lạ.

Hoa lắc đầu không biết. Ông nhẫn nại : – Em cứ nói thật cho anh nghe. Dù gì đi nữa, anh không làm tình làm tội em. Anh cưng chiều em hết mình. Anh lại đang lo cung cấp tiền bạc cho ba má ở Việt Nam, gởi tiền cho ổng bả cất nhà. Em là vợ của anh. Em thấy không ? Nói đi em.

Trầm ngâm một lúc, Hoa ứa nước mắt. Lòng cảm thấy tội nghiệp ông chồng già. Nàng không thể dấu được, đành nói :

– Thằng …thằng con trai của anh…đó anh. Nó luôn đến đây tán tỉnh và hãm em nhiều lần em ngất ngư, em sợ muốn chết. Nó làm dữ quá…không như anh đâu.

Ông Cần choáng váng mặt mày gần muốn xỉu. Ông gầm lên : – Trời ơi là trời ! Mẫn ơi là Mẫn ! Mày…mày là thằng trời đánh thánh đâm. Tao sẽ diệt mày. Thứ đồ loạn luân. Mày cả gan lấy vợ tao, cưỡng hiếp mẹ kế của mày….

Ông thả Hoa ra, ngồi ôm đầu bứt tóc,gầm thét tức tối thãm hại. Kiểu này thì đâu còn mặt mủi nào. Thiên hạ họ cười cho thúi đầu. Thôi thì hãy vục mặt xuống vũng bùn nhơ im hơi lặng tiếng chứ biết làm sao. Đổ bể ra thì ôi thôi chịu sao cho nỗi búa rìu dư luận kể cả lũ con cháu quỷ quái kia. Ông đành ngậm hột vịt ăn tiền. Ông hận thằng con khốn kiếp phỏng tay trên. Ông chưa làm gì là nó đã làm rồi. Khốn nạn ! Nhiều lần ông muốn tống cổ nó khỏi tiệm sách báo của ông. Ông căn dặn Hoa chuyện lỡ làng, đừng cho ai biết. Xấu anh thì xấu em. Thôi thì, cứ coi là con của anh.

Đến ngày sanh, ông Cần túc trực bên vợ mãi đến nửa đêm Hoa mới sanh một bé trai. Mặc dù trong người ê ẩm mệt mỏi, Hoa nhìn ông Cần chọc quê :

– Thằng nhỏ này là con trai của anh, hoặc cũng là cháu nội của anh đều đúng cả. Anh ráng mà nuôi nó để nối dõi.

Ông Cần cúi gầm mặt nhìn thằng bé đỏ hỏn thấy mà ghét, muốn bóp mủi cho nó chết phứt cho rồi. Nghĩ mà ông không dám làm.

Thằng bé ba tháng đã lật. Lúc này Hoa đẹp dữ dội, ai nhìn cũng trầm trồ mơ ước, đúng là gái một con trông mòn con mắt, đã thiệt. Hoa càng ăn mặc chưng diện, xài phí và thường lái xe đi rong nơi này nơi khác. Ông Cần thì chả còn ham muốn gì nữa vì bệnh già cùng hai chứng bệnh quái ác kia, đành chịu lép.

Một hôm Hoa tính nhẩm mình đã đến Hoa Kỳ tròn hai mươi sáu tháng rồi. Đến lúc này đã là thời điểm “giã từ quán trọ”. Hoa nhờ luật sư – cũng chính là người tình đở đầu của Hoa vừa quen được, đẹp trai, hào hoa, phong độ – đưa đơn ra Tòa án xin ly dị ông chồng già bất lực.

Ông Cần nhất quyết không ký đơn. Tòa phán quyết cuộc hôn nhân gượng ép, bất cân xứng, loạn luân, tác hại luân thường đạo lý cần giải tán. Tài sản chia hai. Đứa nhỏ giao Hoa nuôi nấng. Ông Cần trách nhiệm cấp dưỡng đứa bé đến 18 tuổi tròn. Truy tố Mẫn tội loạn luân, cưỡng dâm mẹ kế.

Đơn ly dị kết thúc. Hoa được nhận ngôi nhà ông Cần đang ở và Tiệm Sách Báo cùng với số tiền trong ngân hàng được chia đôi vào khoảng bốn mươi lăm ngàn mỹ kim.

Ông Cần vật vã mình mẩy, ngất xỉu chết đi sống lại. Ông dậm chân dậm cẳng, khóc lóc, nghiến răng, than thở, rên rỉ kêu Trời không thấu. Vợ với con, khốn kiếp ! Đang sống thảnh thơi an nhàn trong tuổi già xế bóng, vật chất đầy đủ, con cháu thương yêu…đâu còn thiếu thốn gì nữa…hà cớ gì dở chứng thèm khát để đến nông nỗi này. Ông bậm môi, đấm ngực, nghiến răng trèo trẹo hầm hè :

– Cũng tại…cái thằng nhóc ó đâm này..mà ra cả! Thằng nhóc con rững mỡ này, có làm gì được đâu. Đã bảo cứ ngủ yên cho thằng già này nhờ ! Mẹ kiếp ! Đồ mắc dịch..!

Nguyễn Thế Hoàng

Thêm bình luận Tháng Sáu 21, 2007

Phía Sau Khe Cửa


Tôi chuồi người ra khỏi vòng tay cứng cáp đang quàng chặt thân mình. Không chớp mắt, tôi nhìn ra khoảng sân mưa ngập trắng xóa qua ô cửa sổ bé buông hờ một nửa tấm rèm nhung đỏ như màu máu nơi phòng ngủ của ông. Hơi lạnh rùng lên từng đợt khiến tôi co mình, kéo chăn lên ngang bụng rồi lúc ấy phải giữ nguyên tư thế vì tôi chưa kịp nhỏm dậy thì ông đã vùi đầu vào.

Những sợi tóc bạc. Chúng nằm ngả ngớn lên nhau, hiếm hoi lắm mới thấy một sợi đen chen vào. Tôi nhớ mái tóc của bố tôi, sự liên tưởng tuyệt đối này khiến lòng tôi se thắt. Tôi không tin là, sau ngần ấy thời gian, ấn tượng về bố trong tôi chỉ là những sợi tóc bạc. Chúng khiến tôi đau đớn hơn những trận đòn dã man bố thường quất lên tôi và các em sau cơn say rời rã.

“Lũ khốn nạn!” Bố thường hực lên một tiếng chửi rồi mới giơ tay lên, ôi những vết lằn mỏng hằn sâu lên tuổi thơ không có mẹ.

Sau đó là những nếp nhăn.

Những nếp nhăn kéo dài từ khóe mắt, xuống cằm rồi kéo suốt dưới bụng thành lớp mỡ nhăn nheo chồng lên nhau. Nếu ông nằm quay qua tôi, co người với tư thế của một con tôm, thì tôi hay đưa tay chạm vào chúng với xúc cảm lạ kỳ như chưa bao giờ được nếm trải trong đời. Và mỗi khi ngón tay út của tôi nghịch ngợm, ông chỉ cười và không để tôi phải đợi chờ lâu hơn, ông hôn tôi chậm rãi, cẩn thận, từng chút một. Sự dịu dàng của ông có thể khiến tôi mềm người vào bất cứ lúc nào.

Tôi yêu ông, tuy không phải ngay từ giây phút đầu tiên khi tôi xuất hiện ở căn nhà hoang vắng rộng thênh thang này với bộ dạng lếch thếch và khốn khổ. Nhưng có thể tôi đã ấn tượng những nếp nhăn của ông, khi ông chào tôi bằng hai cánh tay dang rộng, tựa như nỗi cô đơn của ông sau bao nhiêu tháng ngày đè nén giờ mới có dịp sổ tung. Ông xa lánh cuộc đời bằng cách không chịu ngồi xe lăn. Với ông chỉ có ô cửa sổ nhìn ra đám mây mờ mịt trên không trung là khoảng rỗng duy nhất trong thế giới bưng bít của riêng mình. Tôi yêu những nếp nhăn của ông, cũng như tôi yêu nỗi cô đơn ấy, nỗi cô đơn quý phái và xa lạ mà tuổi thơ xám xịt vì đói nghèo cơ cực của tôi chưa bao giờ biết đến.

“Trời mưa thế này, chắc bà ấy không về…” “Vâng!” “Em đói bụng chưa? Tôi nghĩ em cần phải ăn một chút gì đó.” “Vâng.” “Em ngoan quá! Lại đây nào, cho tôi ôm em.” Tôi lại gần ông, ông đưa tay rờ lên tóc tôi mềm mượt non tơ và óng ả, ông vuốt ve kỹ lưỡng tưởng như từng sợi một không thoát khỏi bàn tay sần sùi ấy, khiến tôi nghẹn lại, nín thinh. “Em có thể nằm lên tôi, thế, tôi thích như vậy lắm.” Tôi leo lên ông, e dè đầy hổ thẹn. “Sao em lại quay đi, nhìn vào mắt tôi nào!” Tôi nhìn vào mắt ông, và lại thấy những nếp nhăn cũ kỹ. Tôi tập trung vào điểm nhấn đó, mắt mở to. Có lẽ tôi đã rất quyến rũ ông vào những khoảnh khắc thế này, hoặc ngược lại tôi bị ông quyến rũ, trong tư thế trần truồng. Đã quá lâu, rất lâu rồi, dưới bụng tôi, ông cứng cáp nhường nào, luôn luôn, không mệt mỏi và không thuyên giảm.

Nhưng tại sao ông không giải thoát cho tôi? Gần hai năm qua chưa bao giờ ông muốn? Hay ông cố tình không hiểu rằng cơ thể thiếu nữ của tôi đang khao khát ông với những cung bậc nổi trôi, cuồng loạn đầy hoang hoải? Tôi mịt mùng không lối thoát. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhớ đến công thức nấu ăn bà dạy tôi chiều qua…

Trong phút giây này, thế giới của tôi chỉ còn có em thôi, em từ một nơi xa xôi kỳ ảo mà ông trời đã ban tặng cho tôi, giữa tháng ngày dài đằng đẵng hoang lạnh và đau đớn xen lẫn nỗi sợ hãi triền miên, mê man mục nát trong tâm hồn già cỗi.

Cả cuộc đời lăn lộn vì vợ, vì con, đến cuối đời, sau một cơn tai biến, tôi chỉ còn chiếc giường làm bạn. Nó là vật vô tri, vô cảm cho dù tôi có úp mặt vào thành giường hay đập đầu lên nó, nó vẫn im lìm, nằm lù lù một chỗ. Còn bà ấy, nào có khác gì nhau? Mỗi lần đụng vào bà ấy, trong tôi chỉ còn dấy lên cảm giác gần như là ghê tởm, vì những ngón tay khô khốc, hay vì ánh mắt bà lạnh lẽo đầy thù hận, hay người đàn ông trong tôi đã chết dần theo chuỗi ngày cô đơn, khốn khổ vì đôi chân tàn phế không thể nào cử động và một trái tim thoi thóp yếu đuối. Có nhiều đêm, tôi không ngủ. Bà ấy cũng không ngủ. Tôi buông lơi cho ý nghĩ dọc ngang trôi nổi đến đâu thì đến, thậm chí có lúc cầu mong một là tôi, hai là bà ấy chết quách cho xong. Những cơn mộng mị của tôi sặc mùi nhang khói và buổi sớm tinh mơ, tôi nặng trịch bởi cánh tay bà, cánh tay phình to, bèo nhèo mỡ đè nghiến lên ngực mình. Tôi chỉ muốn gạt phăng đi, nhưng bực bội, tức tối đến tuyệt vọng khiến tôi xuội xuống, mắt nhắm nghiền để rồi lại chìm trong cơn mê mệt và uất ức. Bà ấy không có lỗi, chỉ cuộc đời có lỗi, chỉ cuộc đời đưa đẩy đến nông nỗi này đây, cái gọi là tình cảm vợ chồng ngày càng mối mọt hoen rỉ theo sự bào mòn của thời gian, khiến mọi cái trở nên khô ráo và cạn kiệt. Nhưng đời tôi. Một ngày kia. Đã có em.

Em xuất hiện bất ngờ khiến lòng tôi thảng thốt, tôi như chiếc lá vàng cuối mùa đang chờ ngày rụng xuống chợt thấy mình xanh lại. Em nấu nướng, giặt giũ, em bón cho tôi ăn, em nhìn tôi trìu mến, em hát cho tôi nghe, em bé bỏng dịu dàng, không hồn nhiên như mọi bé gái ngây thơ khác bởi tuổi thơ quê mùa thiếu thốn. Nhưng đôi mắt em thẳm sâu chất chứa đầy hoài niệm đã khiến cho cái tuổi năm mươi chín của tôi chết chìm trong đó.

Tôi, biết bao lần muốn dấn sâu hơn, nhưng đôi mắt em khiến tôi ngưng lại ở những vuốt ve âu yếm và chỉ thế thôi. Tôi muốn gìn giữ cho em sự trắng trong tinh khiết vì em là thiên thần đích thực. Dù cả hai chúng tôi đều chờ đợi lắm rồi điều gì đó ở phía trước, giống như một khoảnh khắc thiêng liêng chưa thể nào xâm phạm. Tôi tranh thủ từng giây từng phút được cùng em, sự ngọt ngào ngắn ngủi ấy đủ để tôi gặm nhấm suốt đêm dài lê thê bên cạnh người đàn bà già nua lạnh lẽo kia. Như hôm nay, khi chiều đã quá muộn màng. Chiếc váy hoa em tự tay tụt xuống tận đầu gối. Dường như em đã rất sẵn sàng, với tôi.

Xung quanh tôi là bóng tối…

Vì ngoài trời đã đen kịt lại từ lúc nào. Tôi rời rã, và họ, có lẽ cũng rời rã sau những cơn hoan lạc. Hoặc có thể là không, vì đối với một người đàn bà đã quá tuổi mãn kinh như tôi đây, chỉ cần động chân động tay chút thôi là các khớp xương giòn tan trong cơ thể sẽ trở nên nhức nhối.

Tôi tiếp tục nhìn qua khe cửa.

Ánh mắt tôi lạnh nhạt khi nhìn lên cái giường, tấm drap màu kẻ nâu, cái gối cũng màu nâu đầy bi thảm của tôi. Hàng ngày, khi tôi (hoặc là họ tưởng lầm) đi vắng, họ quần nát lên đó. Như hôm nay. Như bây giờ. Cái thân hình nảy nở của con bé chưa qua tuổi mười bảy đè nghiến lên ông ta, khuất lấp, chìm trôi, chỉ còn tiếng thở phì phò của ông ta vọng ra lẫn với tiếng thở gấp của con bé. Con ô sin khốn kiếp, đáng nguyền rủa nhất trên đời mà cách đây hai năm tôi đã tha về từ một trung tâm giới thiệu việc làm uy tín để cưu mang, để rồi chẳng kịp dạy dỗ điều gì, bằng cách nào đó nó đã leo lên được cái giường của vợ chồng tôi, chồm hỗm thế kia. Và ông ta, chồng tôi, người đàn ông liệt giường liệt chiếu kia đã trở nên hăng hái như chưa bao giờ thế trong suốt mười năm sinh hoạt nói cười một chỗ.

Hàng đêm tôi vẫn nằm cạnh ông, vẫn đưa tay ra cho ông gối đầu, vẫn ôm hôn ông trong sầu muộn, chỉ để nhận về sự im lặng. Tôi đau đớn không kinh ngạc. Đôi khi nửa đêm, tôi ngồi dậy quan sát ông trong giấc ngủ, say sưa trước thân thể của ông, vì tôi chẳng bao giờ quên được những ân ái nồng say giữa chúng tôi. Dù quá lâu, rất lâu rồi, nhưng nó như những đường rãnh ăn mòn ăn mỏi vào tâm hồn tôi, người đàn bà dại dột đã hăng hái rước về một kẻ xa lạ ngang nhiên tước đoạt hết thiên chức, quyền uy của một người vợ.

Một là tôi sẽ đạp cửa xông vào, la hét loạn xạ, sẽ xỉa xói, nhục mạ, lột hết váy xống của con ranh con đĩ thõa kia tống cổ ra đường, thậm chí là tôi có thể giết chết hai kẻ sa đọa đàng điếm kia rồi đâm một nhát vào tim mình cho tan cửa nát nhà, cho kết cục đẫm máu. Hai là tôi sẽ tiếp tục đứng đây, như một tên ăn cắp, nhớn nhác sợ bị bắt quả tang đang rình mò bí mật của người khác nhưng chính vì thế lại tràn đầy khoái cảm, thỏa mãn và đau đớn khi không bị ai phát hiện. Nhưng rồi, sau cùng, tôi lại kéo dài tình thế, để làm gì thì tôi chưa biết được. Hay tôi đã chai lì và bệnh hoạn theo họ mất rồi?

Con bé đang thì thào gì đó vào tai ông ta, nó ghé miệng day nhẹ những sợi râu lưa thưa ở trên cằm khiến ông ta ghì sát với một quyết tâm lớn. À thì ra là sắp sửa. Con bé tì sát vào ngực ông ta, chỏm tóc hoe vàng rung nhè nhẹ khi ông ta ra sức ưỡn cái bụng nặng nề của mình lên. Một tiếng kêu nghèn nghẹt phát ra từ cổ họng con bé, nghe như tiếng mèo kêu và sau đó, tôi nhìn thấy chồng tôi sau cái rướn mình lần thứ hai bỗng đổ gập xuống, như một tàu lá chuối sau cơn bão. Mắt ông ta trợn ngược, tay vồ lên ngực trái. Con bé cuống cuồng vật ông ta ra, tru tréo, lần này không phải là tiếng mèo kêu, mà tôi nghe thảm thương như tiếng chó con lạc mẹ.

Ông ta bất động.

Lạ thay. Tôi ngật đầu quay bước. Những bước chân nhẹ tênh, vô cảm không hoảng hốt. Sau lưng tôi hai cánh cửa tự nhiên khép lại bởi một cơn gió lùa qua khe. Như cơn chấn động nhỏ, khi có một người từ giã mà đi.

Nguồn: Rút từ tập truyện ngắn Khi nào anh thuộc về em của Cấn Vân Khánh, Công ty sách Bách Việt và Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản (sách sắp phát hành trong tháng 6.2007)

Thêm bình luận Tháng Sáu 20, 2007

Previous Posts

Trang

Chuyên mục

Khác

Meta

Lịch

Tháng Chín 2018
H B T N S B C
« Th7    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Posts by Month

Posts by Category